11.
Phân tích mối quan hệ giữa chính trị
-
quân sự
-
ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ (1965
1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính
trị-ngoại giao để chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao
chỉ mặt khi kết thúc chiến tranh để đi đến một hiệp định ghi lại mức thắng
bại của mỗi bên. Trái lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của
chúng ta mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn vai trò, vị trí, nhiệm vụ nặng nề.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng
Giêng 1967 về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ
sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến
công địch về ngoại giao bây giờ đúng lúc ta đã đang thắng địch, thế của ta
là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt
trận quan trọng, ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự phải tăng cường xây
dựng lực lượng, vừa phát huy thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến
trường. Trên chiến trường, ta đánh thắng được keo nào thì ngoại giao phải phát
huy, khuếch trương trên thế giới, đồng thời phải phục vụ phối hợp với đấu tranh
quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao hai nhiệm vụ
lớn. Nhiệm vụ thứ nhất tăng cường hậu phương quốc tế của ta m suy yếu
hậu phương của địch. Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao nhiệm vụ
thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề ra thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến
bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng tình với ta một
điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ nhằm mục tiêu
chung của loài người, của thời đại, từ mục tiêu cao chủ nghĩa hội, cho đến
mục tiêu thấp hòa nh, độc lập dân tộc. Ai đồng tình với ta trên sở chiến
lược đi tới chủ nghĩa hội đều bạn của ta. Ai chỉ đồng tình với ta chỉ
trên sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi bạn. Ta tranh thủ kết bạn với mọi
người từ mức thấp tới mức cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác
Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo
ta nhìn vấn đề với đầu óc rất sáng suốt thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn
hẳn như Mỹ, cuộc đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối
phương phải quy hàng mới kết thúc. Phải khái niệm thật thế nào là ta thắng,
thế nào địch thua thì mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức khi nào ta bảo
vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức Mỹ phải
rút hết quân, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc bản
của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên c sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu
Mỹ chịu nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho rút. Ngoại giao phải làm
sao đạt được thực chất vấn đề như vậy. Đthắng một kẻ thù cỡ lớn như thế ta
lại một nước nhỏ thì phải ngoại giao đóng góp vào đó, thực hiện phương
1
2
châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải ngoại giao để
giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc
về chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến
trên thế giới như vậy, điều tối cần thiết đối với ta phải tạo lập được một mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp luận lập Mỹ về
chính trị và tinh thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu
hướng vào bốn nội dung: thứ nhất nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai
nêu cao quyết tâm giành độc lập của Việt Nam, thứ ba nêu cao thiện chí hòa
bình của Việt Nam, thứ tố cáo tội ác chiến tranh vạch trần tính chất phi
nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn thế giằng co quyết liệt,
nhiệm vụ ngoại giao chủ yếu vẫn tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm
suy yếu rối loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai
1965) của Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về
Việt Nam”, song đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy
đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy đánh để ép địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh
lực lượng. Ngay từ những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã
chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các
nước hiểu đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải
quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi.
Trong một cuộc họp Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như
một trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực ợng quân sự, song tay trái cần
các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các
nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn
nữa. Họ muốn tiến xa hơn. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm
cái nữa.” tới hàng chục nước đủ các loại: các nước Không liên kết, châu Á,
châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản, Bắc Mỹ, đến các nhân vật như Tổng thư
Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí thức, nhà báo tên tuổi,... làm trung
gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ một phương thức tính chất
quá độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc
tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng trung gian đã được xem như một thủ đoạn
nhằm những mục đích khác như: thu thập tin tức về ý đồ chiến lược hoặc về lập
trường đàm phán cụ th đối phương, tung ra những tin thất thiệt làm cho đối
phương chập chững, hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve
vãn dụ dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ chuyển sức ép sang đối
phương; gây hiểu lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ.
3
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian.
Trước năm 1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không
những các nước đồng minh của Mỹ các nước thế giới thứ ba còn cả nước
hội chủ nghĩa nữa; không những nhân vật trong chính giới các nước cả
những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời
gian chưa cuộc đàm phán Paris, cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục
dùng trung gian. Thủ đoạn này thâm độc chỗ các nước trung gian khi nhận đề
nghị của Mỹ đã phải đồng tình hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ
truyền đạt ý kiến đó cho ta ta bác đi, như vậy nghĩa ta bác cả Mỹ lẫn nước
trung gian, mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng
loại “trung gian thân tín” các nước châu u đồng minh của Mỹ - vừa để gây
sức ép bên ngoài với ta vừa để thu thập nh báo chính trị, đánh giá tình hình tại
chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về khả năng ý chí của ta. Mỹ còn
thông qua Liên dùng “mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông u làm trung
gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ dùng các nước
hội chủ nghĩa làm trung gian với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết hội
chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức ép từ bên trong phe hội chủ nghĩa đối với
ta hòng tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ,
tội ác của Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, cho
họ biết đến lúc chín muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không
còn phải lo vừa đối phó với Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn bạn vẫn hiểu ta,
tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta chuẩn bị
cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực
hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính.Đảng ta
áp dụng phương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà
còn trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa cho Cách
mạng. Chính vậy giữa đường lối kháng chiến việc xây dựng chế độ mới
có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến kế tục
phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược;
giành thống nhất độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ một cuộc chiến
tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. tính chất toàn dân,
toàn diện lâu dài. một cuộc chiến tranh tiến bộ tự do, độc lập, dân chủ
và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - dân tất cả, Chtịch Hồ
Chí Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của
nhân dân. Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ người
4
Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân một
chiến sĩ, mỗi làng xóm một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới,
toàn thể nhân dân chính nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người
cùng nhau góp sức. Bất người dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn
giáo , tuổi tác…đều thể đóng góp công sức làm nên sức mạnh tập thể đất nước,
thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, ng cường
xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào
các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện trang toàn dân,
tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp công nghiệp quốc phòng.Về văn
hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về
ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế
độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt. Đó sự thay đổi xây
dựng trên mọi bình diện lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự,
ngoại giao…Chỉ sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước
tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng
nhanh của Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố
hậu phương vững chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc y
dựng chế độ mới. Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế
lưỡng, cẩn thận đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn
phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình chính nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi
mặt". Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức
người, sức của để xây dựng sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp.
Chỉ lao động mới tạo ra của cải vật chất. ta bị bao vây bốn phía, chưa được
nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí sức
mạnh nước nhà. Khi nào điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song
lúc đó cũng không được ỷ lại.
12.
tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn
1959-1964
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với
xu thế chung của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta phải đề ra được
đường lối đúng đắn, hợp lí. Trải qua nhiều lân nhóm họp tại các Hội nghị, Tháng
1-1959 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị
quyết về cách mạng miền Nam. Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay, cách
mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: ch mạng
hội chủ nghĩa miền Bắc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam.
Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu với
nhau... nhằm phương hướng chung giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất
nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa
Theo Unessco: Văn hóa phản ánh thể hiện một cách tổng quát, sống động
mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại; nó cấu thành
một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ lối sống trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của hội được thấm
nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát
huy qua các thế hệ , được vật chất hóa khẳng định vững chắc trong cấu trúc
5
hội". Nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam bạo
lực cách mạng thay chỉ đấu tranh dân chủ chính trị như trước đó, chuyển từ
giữ gìn lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15
ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam
tiến lên, còn thể hiện bản nh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong
những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Tiến hành cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc củng cố phát huy thắng
lợi đã giành được, xây dựng sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà.
Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa hội một mặt mục đích nâng cao không ngừng
đời sống của nhân dân miền Bắc; mặt khác tích cực gánh vác phần trách nhiệm
đối với phong trào cách mạng của cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng
phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc
phòng của miền Bắc ngày càng được vững mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của
cách mạng uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng thêm tin tưởng tính tích cực
cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc nửa
phong kiến miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà. Cách mạng miền
Nam hiện nay đang tiếp tục phát huy ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của
cả dân tộc Việt Nam. Phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ
vững phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để đánh bại
chính sách dịch, gây chiến chia cắt của Mỹ - Diệm, đi đến đánh đổ sự thống
trị tàn khốc của chúng, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập
và dân chủ.
Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển lực lượng để
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên
sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững đẩy mạnh phong
trào cách mạng miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước quá trình tích cực phát huy nh hơn hẳn của chế
độ hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời cũng quá trình tập hợp rộng rãi mọi
lực lượng yêu nước, tiến bộ miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên
làm thất bại các chính sách của đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình
Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
hội của từng dân tộc; dồng thời, tác động hàng ngày đến cuộc sống, tưởng,
tình cảm của mọi thành viên hội bằng môi trường hội văn hóa. Tóm lại,
văn hóa sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, làm nên sức
sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để phát triển.
vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời
sống hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội,
trở thành động lực phát triển kinh tế - hội. Đó cũng con đường xây dựng con
người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng đẩy lùi
tiêu cực hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tưởng văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp
tích cực cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh
cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,...
13.
Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công nổi
dậy Tết Mậu Thân (1968)
Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) một trong ba đòn Tiến
công chiến lược của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
đã gây “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của
Mỹ; làm rung chuyển không chỉ toàn bộ chiến trường miền Nam, còn gây chấn
động Nhà trắng, Lầu năm góc làm lay chuyển ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải cách chức Bộ trưởng Quốc phòng Tổng chỉ huy
quân viễn chinh Mỹ miền Nam Việt Nam; đồng thời, xuống thang chiến tranh,
chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình Việt Nam tại Pa-ri. Về nhân,
Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Cuộc
Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) về bản đã làm phá sản chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra khả năng cục diện mới cho quân
dân ta thực hiện quyết chiến chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho
ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân 1975.
Thắng lợi đó nhiều nguyên nhân để lại nhiều bài học quý. Xét về lĩnh vực
quân sự, đó bài học nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược,
nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.
Trước hết sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng khí trang bị. Đây điều kiện
tiên quyết để ta mở cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân với quy lớn
trên toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các thành phố, đô thị. thế, yêu cầu
đặt ra phải lực lượng quân sự tinh nhuệ, lực lượng đấu tranh chính trị hùng
hậu, rộng khắp khối lượng lớn khí, trang thiết bị quân sự... Thực hiện quyết
tâm của Bộ Chính trị, các đoàn chủ lực dự bị động chiến lược (308, 304,
320, 312) được gấp rút kiện toàn về tổ chức, biên chế, trang bị, đẩy mạnh huấn
luyện để sẵn sàng vào chiến trường khi lệnh. Các trung đoàn, đoàn bộ binh
các đơn vị binh chủng từ nhiều nơi trên chiến trường miền Nam mật hành
quân “ém sẵn” các địa bàn ven đô. Riêng khu vực Sài Gòn, Trung ương Cục
quyết định giải thể Quân khu 7 Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập Khu
trọng điểm” gồm nhiều phân khu (Tiểu đoàn mũi nhọn) được tổ chức trang bị
6
gọn nhẹ; trong đó, biên chế nhiều tổ, đội biệt động, đặc công, bảo đảm cho các lực
lượng vừa mũi nhọn, vừa chiều sâu tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào
Sài Gòn... Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm, khí, trang bị kỹ
thuật cho cuộc Tổng tiến công nổi dậy (từ miền Bắc chuyển vào) được chuẩn bị
hết sức chu đáo. Trong nội đô, nhiều tổ chức - sở cách mạng của ta đã sử dụng
các phương tiện vận tải tô, xuồng máy) hợp pháp, đêm ngày mật chuyển
lương thực, thuốc men ra vùng giải phóng nhận súng đạn đưa về nội đô... Với
chiến thuật “thiên biến vạn hóa” đó, chúng ta đã đưa một lực lượng bộ đội chủ lực
cùng với khối lượng lớn khí, trang bị quân sự vượt qua hệ thống trạm kiểm soát
mạng lưới mật vụ, biệt kích, thám báo chìm, nổi dày đặc của địch, vào “lót sẵn”
trong nội đô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, táo bạo của Đảng Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhân dân (thậm chí cả vợ, con của quan ngụy) trong các thành
phố, thị đã nhiệt tình ủng hộ, che chở, đùm bọc lực lượng cách mạng. Họ mật
đào những căn hầm chứa khí, trang bị kỹ thuật quân sự ngay dưới nền nhà của
mình; nhiều má, chị, em không quản gian khổ, hiểm nguy, hy sinh để vận
chuyển khí vào thành phố... Nhờ đó, các lực lượng của ta với đầy đủ khí,
trang bị đã “nằm sẵn” trong lòng thành phố, thị xã, quận lỵ sẵn sàng chờ lệnh nổ
súng tiến công tiêu diệt địch. Những việc làm trên được khắc ghi trong sử sách
minh chứng sống động về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại
Hồ Chí Minh, biểu hiện cụ thể của tạo bất ngờ cả về thế lực đối với
địch.
Tạo bất ngờ về thời điểm tiến hành cuộc Tổng tiến công nổi dậy. Chọn dịp Tết
Nguyên Đán thời khắc giao thừa1 đồng loạt nổ súng mở màn nét đặc sắc của
nghệ thuật tạo bất ngờ; bởi đây lúc địch hở chủ quan nhất. Cân nhắc,
nghiên cứu tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục tập quán Tết cổ
truyền của dân tộc trên đất phương Nam; việc “điều binh, khiển tướng” của Quân
lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi sự thống nhất giữa
quan chỉ đạo tối cao chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái quyết định chọn
thời điểm Giao thừa “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn cuộc Tổng tiến
công nổi dậy Tết Mậu Thân. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi
ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện
Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ huy quân sự học giả Mỹ cũng như phương Tây
đã xác nhận: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam
cộng hòa chỉ một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ Sài Gòn
cùng lúng túng trong việc ứng phó. Tthực tế đó, càng khẳng định: việc chọn thời
điểm Tết Nguyên Đán mở cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân ý
nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian - yếu tố quan trọng làm nên
thắng lợi của Xuân Mậu Thân. Vì thời gian là lực lượng.
Tạo bất ngờ về hướng mục tiêu tiến công chủ yếu. Vào thời điểm trước cuộc
Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân, địch còn rất mạnh cả về thế lực, nên
chúng ta không thể sử dụng toàn bộ lực lượng chủ lực để đánh vào các thành phố
lớn. Do vậy, chủ trương của Đảng ta căng, kéo, lừa địch trải lực lượng ra khắp
chiến trường miền Nam, nhất đến địa bàn lợi để dùng những quả đấm mạnh
đánh những đòn tiêu diệt lớn, bẻ gãy các cuộc hành quân “tìm diệt” của chúng.
Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương quyết định mở
7
t thời đại Hồ Chí Minh; sự sáng tạo, độc đáo, vượt trước của Đảng ta trong
hông tin
chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh2, nhằm dụ quân Mỹ lên để giam chân
tiêu diệt chúng tại đó, tạo ra kẽ hở, điểm yếu các đô thị. Trong khi đó, giới chức
chỉ huy quân sự Mỹ Sài Gòn cho rằng bộ đội chủ lực ta rất ít kinh nghiệm
tác chiến trong thành phố, lực chưa đủ mạnh để tiến công vào các quan đầu não
của chúng; bởi, đây những mục tiêu được canh phòng cẩn mật, với hệ thống
thiết bị cảnh giới tinh vi, hỏa lực ngăn chặn mạnh dày đặc nhiều tầng, nhiều
lớp. Từ đánh giá sai về ta, lại “tuyệt đối hóa” sức mạnh của khí, thiết bị chiến
trường, nên từ chỉ huy đến binh của quân đội Mỹ cũng như quân đội ngụy chủ
quan, mất cảnh giác. Do vậy, chọn đô thị hướng tiến công chủ yếu ta đã chọn
đánh vào điểm yết hầu, hiểm yếu của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày sự thất bại
về quân sự sự yếu kém của Mỹ và chính quyền ngụy. Lần đầu tiên trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị,
thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau vào “trung tâm đầu não” của địch; đồng
thời, khẳng định: với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng
thì mọi điều đều thể xảy ra, dù khó khăn, phức tạp đến mấy. Đó chính là duy
c
r
h
a
i
n
ế
h
n lược, chiến thuật của những bộo chỉ huy và trực tiếp điều hành chiến
cuộc đấu mưu, đấu trí sinh tử với kẻ thù. Sau thảm bại trong Tết Mậu Thân, với
tâm trạng hoang mang, dao động, nhiều giới chức quân sự chính khách Mỹ đã
tự hỏi: Tại sao nửa triệu nh Mỹ hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác,
ưu thế hoàn toàn trên không ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ được
trang bị những khí hiện đại nhất lại không khả năng bảo vệ được thành phố
khỏi bị đối phương tấn công! Chính nội dung câu hỏi đã lộ thừa nhận về sự
bị động bất ngờ của quân Mỹ - lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược
“chiến tranh cục bộ”.
Ngoài ra, nét độc đáo về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công nổi
dậy Tết Mậu Thân còn được thể hiện cách thức phát hiệu lệnh tiến công. Để bảo
đảm mật, bất ngờ tuyệt đối, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công Tết của ta
được ấn định vào thời điểm giao thừa, c Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc
mừng năm mới trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, một phương tiện t
đại chúng, độ lan tỏa rộng, nhanh và ít bị địch chế áp, theo dõi. thế, Lời chúc
Tết Mậu Thân của Bác trở thành một sự kiện gây bất ngờ đối với quân thù. Như
vậy, hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân cũng thực sự là
S
m
à
i
t
G
h
ò
i
n
n
.
tượng thật đặc sắc, góp thêm một bất ngờ nữa đối với Mỹ Quân đội
Tóm lại, nghệ thuật tạo bất ngờ đối với Mỹ Quân đội Việt Nam cộng hòa thực
sự một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc Tổng
tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân. Đây là “sản phẩm đặc biệt” của tầm cao trí tuệ
bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; nét đặc sắc đáng ghi nhớ nhất, hấp
dẫn nhất của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra cách đây 45 năm, trong hoàn cảnh
hết sức đặc biệt. Bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng
tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) nói riêng, trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước nói chung, vẫn mãi giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục
nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
8

Preview text:

11. Phân tích mối quan hệ giữa chính trị - quân sự - ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính
trị-ngoại giao để chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao
chỉ có mặt khi kết thúc chiến tranh để đi đến ký một hiệp định ghi lại mức thắng
bại của mỗi bên. Trái lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của
chúng ta có mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn có vai trò, vị trí, nhiệm vụ nặng nề.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng
Giêng 1967 về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ
sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến
công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng Tư 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt
trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây
dựng lực lượng, vừa phát huy thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến
trường. Trên chiến trường, ta đánh thắng được keo nào thì ngoại giao phải phát
huy, khuếch trương trên thế giới, đồng thời phải phục vụ và phối hợp với đấu tranh
quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vụ
lớn. Nhiệm vụ thứ nhất là tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu
hậu phương của địch. Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao có nhiệm vụ
thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề ra là thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến
bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng tình với ta một
điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ là nhằm mục tiêu
chung của loài người, của thời đại, từ mục tiêu cao là chủ nghĩa xã hội, cho đến
mục tiêu thấp là hòa bình, độc lập dân tộc. Ai đồng tình với ta trên cơ sở chiến
lược là đi tới chủ nghĩa xã hội đều là bạn của ta. Ai chỉ đồng tình với ta dù chỉ là
trên cơ sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi là bạn. Ta tranh thủ kết bạn với mọi
người từ mức thấp tới mức cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao là giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo
ta nhìn vấn đề với đầu óc rất sáng suốt và thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn
hẳn như Mỹ, cuộc đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối
phương phải quy hàng mới kết thúc. Phải có khái niệm thật rõ thế nào là ta thắng,
thế nào là địch thua thì mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức là khi nào ta bảo
vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải
rút hết quân, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu
Mỹ mà chịu nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm
sao đạt được thực chất vấn đề như vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế mà ta
lại là một nước nhỏ thì phải có ngoại giao đóng góp vào đó, thực hiện phương 1
châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải có ngoại giao để
giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc
về chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến
trên thế giới như vậy, điều tối cần thiết đối với ta là phải tạo lập được một mặt trận
nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu
hướng vào bốn nội dung: thứ nhất là nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai là
nêu cao quyết tâm giành độc lập của Việt Nam, thứ ba là nêu cao thiện chí hòa
bình của Việt Nam, thứ tư là tố cáo tội ác chiến tranh và vạch trần tính chất phi
nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn ở thế giằng co quyết liệt,
nhiệm vụ ngoại giao chủ yếu vẫn là tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm
suy yếu rối loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai
1965) của Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về
Việt Nam”, song đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy
đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy đánh để ép địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh
lực lượng. Ngay từ những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã
chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các
nước hiểu và đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải
quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi.
Trong một cuộc họp ở Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như
một trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần có
các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các
nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn
nữa. Họ muốn tiến xa hơn. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm
cái gì nữa.” Có tới hàng chục nước đủ các loại: các nước Không liên kết, châu Á,
châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản, Bắc Mỹ, đến các nhân vật như Tổng thư ký
Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí thức, nhà báo có tên tuổi,... làm trung
gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ là một phương thức có tính chất
quá độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc
tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng trung gian đã được xem như một thủ đoạn
nhằm những mục đích khác như: thu thập tin tức về ý đồ chiến lược hoặc về lập
trường đàm phán cụ thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt làm cho đối
phương chập chững, mơ hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve
vãn dụ dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức ép sang đối
phương; gây hiểu lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ. 2
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian.
Trước năm 1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không
những là các nước đồng minh của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn cả nước
xã hội chủ nghĩa nữa; không những là nhân vật trong chính giới các nước mà cả
những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời
gian chưa có cuộc đàm phán Paris, mà cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục
dùng trung gian. Thủ đoạn này thâm độc ở chỗ các nước trung gian khi nhận đề
nghị của Mỹ đã phải đồng tình hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ
truyền đạt ý kiến đó cho ta mà ta bác đi, như vậy có nghĩa là ta bác cả Mỹ lẫn nước
trung gian, và mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 và dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng
loại “trung gian thân tín” – các nước châu u và đồng minh của Mỹ - vừa để gây
sức ép bên ngoài với ta vừa để thu thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại
chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về khả năng và ý chí của ta. Mỹ còn
thông qua Liên Xô dùng “mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông u làm trung
gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ dùng các nước
xã hội chủ nghĩa làm trung gian với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết xã hội
chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức ép từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với
ta hòng tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ,
tội ác của Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, và cho
họ biết đến lúc chín muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không
còn phải lo vừa đối phó với Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn mà bạn vẫn hiểu ta,
tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta và chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực
hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta
áp dụng phương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà
còn trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách
mạng. Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ mới
có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và
phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược;
giành thống nhất và độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến
tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân,
toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ
Chí Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của
nhân dân. Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà
không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người 3
Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới,
toàn thể nhân dân chính là nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người
cùng nhau góp sức. Bất kì người dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn
giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên sức mạnh tập thể đất nước,
thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường
xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và
các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân,
tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn
hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về
ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế
độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt. Đó là sự thay đổi và xây
dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự,
ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước
tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng
nhanh của Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố
hậu phương vững chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây
dựng chế độ mới. Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế
kĩ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn mà
phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi
mặt". Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức
người, sức của để xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp.
Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được
nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí và sức
mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song
lúc đó cũng không được ỷ lại.
12. Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959-1964
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với
xu thế chung của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải đề ra được
đường lối đúng đắn, hợp lí. Trải qua nhiều lân nhóm họp tại các Hội nghị, Tháng
1-1959 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị
quyết về cách mạng miền Nam. Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay, cách
mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với
nhau... nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất
nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã 4
hội". Nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạo
lực cách mạng thay vì chỉ đấu tranh dân chủ và chính trị như trước đó, chuyển từ
giữ gìn lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15
có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam
tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong
những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng
lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà.
Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng
đời sống của nhân dân miền Bắc; mặt khác là tích cực gánh vác phần trách nhiệm
đối với phong trào cách mạng của cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng
phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc
phòng của miền Bắc ngày càng được vững mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của
cách mạng và uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng thêm tin tưởng và tính tích cực
cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa
phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà. Cách mạng ở miền
Nam hiện nay đang tiếp tục phát huy ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của
cả dân tộc Việt Nam. Phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ
vững và phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để đánh bại
chính sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ - Diệm, đi đến đánh đổ sự thống
trị tàn khốc của chúng, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển lực lượng để
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên
cơ sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh phong
trào cách mạng ở miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế
độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi
lực lượng yêu nước, tiến bộ ở miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên
làm thất bại các chính sách của đế quốc Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình
Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
Theo Unessco: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động
mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại; nó cấu thành
một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm
nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát
huy qua các thế hệ , được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã 5
hội của từng dân tộc; dồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng,
tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa. Tóm lại,
văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức
sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để phát triển.
Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội,
trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng con
người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi
tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp
tích cực là cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh
cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,...
13. Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Tết Mậu Thân (1968)
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một trong ba đòn Tiến
công chiến lược của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nó đã gây cú “sốc đột ngột”, làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến của
Mỹ; làm rung chuyển không chỉ toàn bộ chiến trường miền Nam, mà còn gây chấn
động Nhà trắng, Lầu năm góc và làm lay chuyển ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
Tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải cách chức Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy
quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam; đồng thời, xuống thang chiến tranh,
chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Pa-ri. Về cá nhân,
Giôn-xơn tuyên bố không tham gia ứng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 2. Cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) về cơ bản đã làm phá sản chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, mở ra khả năng và cục diện mới cho quân và
dân ta thực hiện quyết chiến chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, tiến tới “đánh cho
ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân 1975.
Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân và để lại nhiều bài học quý. Xét về lĩnh vực
quân sự, đó là bài học nghệ thuật tạo bất ngờ trên cả ba phương diện: chiến lược,
nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.
Trước hết là sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và vũ khí trang bị. Đây là điều kiện
tiên quyết để ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân với quy mô lớn
trên toàn miền Nam, trong đó tập trung vào các thành phố, đô thị. Vì thế, yêu cầu
đặt ra là phải có lực lượng quân sự tinh nhuệ, lực lượng đấu tranh chính trị hùng
hậu, rộng khắp và khối lượng lớn vũ khí, trang thiết bị quân sự... Thực hiện quyết
tâm của Bộ Chính trị, các sư đoàn chủ lực dự bị cơ động chiến lược (308, 304,
320, 312) được gấp rút kiện toàn về tổ chức, biên chế, trang bị, đẩy mạnh huấn
luyện để sẵn sàng vào chiến trường khi có lệnh. Các trung đoàn, sư đoàn bộ binh
và các đơn vị binh chủng từ nhiều nơi trên chiến trường miền Nam bí mật hành
quân “ém sẵn” ở các địa bàn ven đô. Riêng khu vực Sài Gòn, Trung ương Cục
quyết định giải thể Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập “Khu
trọng điểm” gồm nhiều phân khu (Tiểu đoàn mũi nhọn) được tổ chức và trang bị 6
gọn nhẹ; trong đó, biên chế nhiều tổ, đội biệt động, đặc công, bảo đảm cho các lực
lượng vừa có mũi nhọn, vừa có chiều sâu tiến công đồng loạt từ nhiều hướng vào
Sài Gòn... Bên cạnh đó, việc đảm bảo lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang bị kỹ
thuật cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (từ miền Bắc chuyển vào) được chuẩn bị
hết sức chu đáo. Trong nội đô, nhiều tổ chức - cơ sở cách mạng của ta đã sử dụng
các phương tiện vận tải (ô tô, xuồng máy) hợp pháp, đêm ngày bí mật chuyển
lương thực, thuốc men ra vùng giải phóng và nhận súng đạn đưa về nội đô... Với
chiến thuật “thiên biến vạn hóa” đó, chúng ta đã đưa một lực lượng bộ đội chủ lực
cùng với khối lượng lớn vũ khí, trang bị quân sự vượt qua hệ thống trạm kiểm soát
và mạng lưới mật vụ, biệt kích, thám báo chìm, nổi dày đặc của địch, vào “lót sẵn”
trong nội đô. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình, táo bạo của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhân dân (thậm chí có cả vợ, con của sĩ quan ngụy) trong các thành
phố, thị xã đã nhiệt tình ủng hộ, che chở, đùm bọc lực lượng cách mạng. Họ bí mật
đào những căn hầm chứa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự ngay dưới nền nhà của
mình; nhiều bà má, chị, em không quản gian khổ, hiểm nguy, hy sinh để vận
chuyển vũ khí vào thành phố... Nhờ đó, các lực lượng của ta với đầy đủ vũ khí,
trang bị đã “nằm sẵn” trong lòng thành phố, thị xã, quận lỵ sẵn sàng chờ lệnh nổ
súng tiến công tiêu diệt địch. Những việc làm trên được khắc ghi trong sử sách là
minh chứng sống động về nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại
Hồ Chí Minh, mà biểu hiện cụ thể của nó là tạo bất ngờ cả về thế và lực đối với địch.
Tạo bất ngờ về thời điểm tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Chọn dịp Tết
Nguyên Đán và thời khắc giao thừa1 đồng loạt nổ súng mở màn là nét đặc sắc của
nghệ thuật tạo bất ngờ; bởi đây là lúc địch sơ hở và chủ quan nhất. Cân nhắc,
nghiên cứu và tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục tập quán Tết cổ
truyền của dân tộc trên đất phương Nam; việc “điều binh, khiển tướng” của Quân
lực Việt Nam cộng hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi có sự thống nhất giữa cơ
quan chỉ đạo tối cao và chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái quyết định chọn
thời điểm Giao thừa là “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi
ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện
Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ huy quân sự và học giả Mỹ cũng như phương Tây
đã xác nhận: Vào những ngày Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam
cộng hòa chỉ có một nửa quân số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn vô
cùng lúng túng trong việc ứng phó. Từ thực tế đó, càng khẳng định: việc chọn thời
điểm Tết Nguyên Đán mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân có ý
nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian - yếu tố quan trọng làm nên
thắng lợi của Xuân Mậu Thân. Vì thời gian là lực lượng.
Tạo bất ngờ về hướng và mục tiêu tiến công chủ yếu. Vào thời điểm trước cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, địch còn rất mạnh cả về thế và lực, nên
chúng ta không thể sử dụng toàn bộ lực lượng chủ lực để đánh vào các thành phố
lớn. Do vậy, chủ trương của Đảng ta là căng, kéo, lừa địch trải lực lượng ra khắp
chiến trường miền Nam, nhất là đến địa bàn có lợi để dùng những quả đấm mạnh
đánh những đòn tiêu diệt lớn, bẻ gãy các cuộc hành quân “tìm diệt” của chúng.
Thực hiện chủ trương đó, cuối năm 1967, Quân ủy Trung ương quyết định mở 7
chiến dịch tiến công Đường 9 - Khe Sanh2, nhằm dụ quân Mỹ lên để giam chân và
tiêu diệt chúng tại đó, tạo ra kẽ hở, điểm yếu ở các đô thị. Trong khi đó, giới chức
chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gòn cho rằng bộ đội chủ lực ta có rất ít kinh nghiệm
tác chiến trong thành phố, lực chưa đủ mạnh để tiến công vào các cơ quan đầu não
của chúng; bởi, đây là những mục tiêu được canh phòng cẩn mật, với hệ thống
thiết bị cảnh giới tinh vi, hỏa lực ngăn chặn mạnh và dày đặc nhiều tầng, nhiều
lớp. Từ đánh giá sai về ta, lại “tuyệt đối hóa” sức mạnh của vũ khí, thiết bị chiến
trường, nên từ chỉ huy đến binh sĩ của quân đội Mỹ cũng như quân đội ngụy chủ
quan, mất cảnh giác. Do vậy, chọn đô thị là hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn
đánh vào điểm yết hầu, hiểm yếu của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày sự thất bại
về quân sự và sự yếu kém của Mỹ và chính quyền ngụy. Lần đầu tiên trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào đô thị,
thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau vào “trung tâm đầu não” của địch; đồng
thời, khẳng định: với đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sáng tạo của Đảng
thì mọi điều đều có thể xảy ra, dù khó khăn, phức tạp đến mấy. Đó chính là tư duy
c h i ế n lược, chiến thuật của những bộ não chỉ huy và trực tiếp điều hành chiến t r a thờ
n h i đại Hồ Chí Minh; sự sáng tạo, độc đáo, vượt trước của Đảng ta trong
cuộc đấu mưu, đấu trí sinh tử với kẻ thù. Sau thảm bại trong Tết Mậu Thân, với
tâm trạng hoang mang, dao động, nhiều giới chức quân sự và chính khách Mỹ đã
tự hỏi: Tại sao nửa triệu lính Mỹ và hơn 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có
ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được
trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố
khỏi bị đối phương tấn công! Chính nội dung câu hỏi đã lộ rõ và thừa nhận về sự
bị động và bất ngờ của quân Mỹ - lực lượng đóng vai trò chủ chốt trong chiến lược
“chiến tranh cục bộ”.
Ngoài ra, nét độc đáo về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Tết Mậu Thân còn được thể hiện ở cách thức phát hiệu lệnh tiến công. Để bảo
đảm bí mật, bất ngờ tuyệt đối, hiệu lệnh khởi phát cuộc Tổng tiến công Tết của ta
được ấn định vào thời điểm giao thừa, lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc
mừng năm mới trên Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, một phương tiệnhông t tin
đại chúng, có độ lan tỏa rộng, nhanh và ít bị địch chế áp, theo dõi. Vì thế, Lời chúc
Tết Mậu Thân của Bác trở thành một sự kiện gây bất ngờ đối với quân thù. Như
vậy, hiệu lệnh của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân cũng thực sự là
một hiện tượng thật đặc sắc, góp thêm một bất ngờ nữa đối với Mỹ và Quân đội Sài Gòn.
Tóm lại, nghệ thuật tạo bất ngờ đối với Mỹ và Quân đội Việt Nam cộng hòa thực
sự là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định thắng lợi của cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Đây là “sản phẩm đặc biệt” của tầm cao trí tuệ
và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; nét đặc sắc đáng ghi nhớ nhất, hấp
dẫn nhất của sự kiện Tết Mậu Thân đã diễn ra cách đây 45 năm, trong hoàn cảnh
hết sức đặc biệt. Bài học kinh nghiệm về nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) nói riêng, trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước nói chung, vẫn mãi giữ nguyên giá trị để chúng ta tiếp tục
nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. 8