



















Preview text:
PHẦN I. KHỞI NGHĨA ( TRƯỚC CMT8).......................................................................................
Câu 1. Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con
đường cách mạng vô sản?.................................................................................................................
Câu 2. Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng cộng sản
VN là một điều tất yếu?....................................................................................................................
Câu 3. Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo là cương lĩnh
đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, giai cấp, nhân
văn....................................................................................................................................................
Câu 4. Vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ( 1930 -1945)........................
Câu 5. Tính chất và ý nghĩa, kinh nghiệm của CMT8 năm 1945?....................................................
PHẦN II. KHÁNG CHIẾN ( 1945 - 1975 )........................................................................................
Câu 1. Vì sao nói CMT8 năm 1945 của VN rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc?........................
Câu 2. Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp ( 1946-
1954 là kết quả của cuộc chiến tranh nhân dân “ toàn dân , toàn diện, lâu dài và dựa
vào sức mình là chính” ?...................................................................................................................
Câu 3. Tại sao đại hội III( 1960) của Đảng được xem là Đại hội hoàn chỉnh đường lối
chiến lược cách mạng hai miền Nam - Bắc.......................................................................................
Câu 4 Hiệp định Paris (1973) là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ
hội lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến
của Anh/Chị về nhận định trên?........................................................................................................
PHẦN III. XÂY DỰNG (1975 - NAY)................................................................................................
Câu 1. Quá trình tìm tòi khảo nghiệm đường lối đổi mới kinh tế của ĐCS VN?..............................
Câu 2. Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới
về tư duy lý luận, sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng?..............................................................
Câu 3.So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ
đổi mới..............................................................................................................................................
Câu 4. Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững
đất nước............................................................................................................................................
Câu 5. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế................................................................................................
MỞ RỘNG...........................................................................................................................................
Câu 1. Phân tích vai trò của nghị quyết TW 15 đối với CMM Nam?...............................................
Câu 2. Vì sao ĐCS VN phải thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại theo phương châm đa
phương hóa, đa dạng hóa? Đánh giá các tác động đến hoạt động đối ngoại của VN
trong thời kỳ Đổi mới?......................................................................................................................
Câu 3. Vì sao ĐCS VN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN.............................
Câu 4. Trong nghị quyết trung ương 9 khóa 11 9( 2011), ĐCSVN đã đề ra quan điểm
“ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xh,.... đất nước” nêu ý kiến về quan điểm trên.........................
Câu 5. vì sao ĐCSVN tiến hành đổi mới là 1 điều tất yếu vào năm 1986.........................................
Câu 6.Trình bày quan điểm của Đảng về cnh-hđh 86- nay. Vì sao phát triển môi
trường là bước đi quan trọng trong thời kỳ cnh hđh.......................................................................... 1
Câu 7. Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối đấu tranh giành chính quyền của ĐCS
ĐÔNG DƯƠNG năm 1939 - 1945. Liên hệ đến bài học nắm bắt thời cơ của VN giai đoạn
này?............................................................................................................................................................
Câu 8. tại sao ĐCSVN lại xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
chuyển sang cơ chế thị trường...........................................................................................................
Câu 9. phân tích sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong cm t8..................................
Câu 10. Bằng những sự kiện lịch sử, hãy phân tích quá trình thực hiện chủ trương “
thay đổi chiến lược” của ĐCS đông dương trong năm 1939 - 1945..................................................
Câu 11. Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố
chính quyền cm 45-46.......................................................................................................................
Câu 12.Trong Đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế”, Anh/chị hiểu hội nhập quốc tế như thế nào? Theo Anh/Chị là sinh
viên, cần phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế..............................................................................
PHẦN I. KHỞI NGHĨA ( TRƯỚC CMT8)
Câu 1. Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản?
Nguyễn Ái Quốc được sinh ra trong gia đình nhà Nho, có truyền thống yêu nước, chứng
kiến cảnh đất nước bị đế quốc xâm lược, nhân dân bị áp bức, làm nô lệ, nhiều cuộc đấu
tranh của nhân dân nổ ra nhưng đều thất bại. Giữa lúc dân tộc ta đang khủng hoảng về
đường lối cứu nước thì năm 1911, người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc, trên cơ sở nhận thức sâu sắc những hạn chế
trong chủ trương cứu nước của những người đi trước (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh)
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc không chỉ nghiên cứu lý
luận cách mạng mà còn tổng
kết thực tiễn từ các cuộc cách mạng tư sản của Anh,
Pháp, Mỹ, và các quốc gia khác trên thế giới. Người đã đến và chứng kiến thực tế tại
nhiều quốc gia, từ các nước tư bản phát triển đến những nước thuộc địa từ đó rút ra một
kết luận quan trọng: Cách mạng tư sản, dù thành công về mặt chính trị, nhưng lại
không thể giải quyết triệt để vấn đề của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Sau các cuộc cách mạng này, dù giai cấp tư sản đã lên cầm quyền, nhưng công nhân và
nhân dân lao động vẫn bị bóc lột, sống trong xã hội đầy rẫy bất công và áp bức. Chính vì
vậy, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường cách mạng tư sản. 2
Nguyễn Ái Quốc cũng nghiên cứu cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và
đã đến nước Nga Xô Viết. Qua quá trình nghiên cứu, ông nhận thấy rằng chỉ có Cách
mạng Tháng Mười Nga mới thực sự là cuộc cách mạng "đến nơi", giải phóng dân tộc
và nhân dân khỏi cảnh áp bức, bất công. Sau cách mạng, giai cấp công nhân và quần
chúng lao động đã thoát khỏi sự bóc lột và sống trong một xã hội bình đẳng, không còn
sự phân biệt giai cấp. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tin tưởng vào con đường cách mạng vô
sản và khẳng định rằng cuộc cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường này. Ông nhận
thấy rằng, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài
con đường cách mạng vô sản.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên trong một xã hội thuộc địa nửa phong
kiến, nơi dân tộc ta bị áp bức, bóc lột nặng nề. Chính bản thân ông đã trực tiếp chứng
kiến và thấu hiểu nỗi thống khổ của người dân bị mất nước, sống trong một xã hội
đầy bất công. Trong hoàn cảnh đó, ông nhận ra rằng dân tộc Việt Nam không thể tiếp
tục chịu đựng mãi những áp lực này. Nếu đi theo những con đường khác, đất nước sẽ
không thể giải phóng được thực sự. Vì vậy, chỉ có cách mạng vô sản mới là con đường
duy nhất để giải phóng dân tộc khỏi gông cùm của thực dân và phong kiến. Sự tàn bạo
của chủ nghĩa thực dân đã tạo ra một mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa xã hội nảy mầm,
và nhiệm vụ của cách mạng là gieo hạt mầm ấy để giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc
nhận thức rõ rằng nếu đi theo con đường cách mạng tư sản, dân tộc ta sẽ không thể có
được sự giải phóng thực sự, vì chế độ thuộc địa và nửa phong kiến không thể mang lại sự
công bằng, bình đẳng cho nhân dân. Do đó, ông đã tìm thấy con đường đúng đắn trong
chủ nghĩa Mác-Lênin, và bắt đầu chuẩn bị mọi mặt về tư tưởng, chính trị và tổ chức. Đây
là nền tảng để dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm
1930. Trong Hội nghị thành lập Đảng, các đại biểu đã thông qua Chính cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt và Điều lệ vắn tắt, qua đó xác định rõ phương
hướng cách mạng Việt Nam, đó là thực hiện cách mạng tư sản và thổ địa cách mạng để
tiến tới xây dựng xã hội cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức
chấm dứt tình trạng khủng hoảng và mở ra con đường cứu nước cho dân tộc.
Câu 2. Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng cộng sản VN là một điều tất yếu?
Sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ đến lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc. Nguyễn Ái Quốc nhận thấy rằng trong các cuộc cách mạng tư sản, dù đã mang lại
quyền lực cho giai cấp tư sản, nhưng giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn chưa
được giải phóng hoàn toàn. Còn với Cách mạng Tháng Mười Nga, giai cấp công nhân và
quần chúng nhân dân lao động đã thực sự thoát khỏi sự áp bức bóc lột, tiến đến một xã
hội bình đẳng. Chính sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh cho
Nguyễn Ái Quốc rằng chỉ có cách mạng vô sản mới có thể giải phóng triệt để các dân tộc
khỏi áp bức và bất công.
Lý giải về sự thay đổi trong xã hội Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng, khi thực
dân Pháp xâm lược Việt Nam từ năm 1858 và thiết lập bộ máy cai trị vững chắc, xã hội
Việt Nam đã biến thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chính chính sách cai trị 3
của thực dân Pháp đã tạo ra sự phân hóa mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam, gây ra những
mâu thuẫn gay gắt. Những mâu thuẫn này không chỉ giữa các tầng lớp trong xã hội mà
còn trở thành mâu thuẫn cơ bản giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bọn
phong kiến tay sai. Những mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu cấp bách phải có sự đấu tranh
của nhân dân, giai cấp công nhân và quần chúng lao động để giải phóng mình khỏi sự áp
bức bóc lột của thực dân, đế quốc, phong kiến và các thế lực phản động.
Dù các phong trào yêu nước tại Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, điển hình là phong
trào Cần Vương và các
phong trào cứu nước của các chí sĩ như Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, cũng như sự ra đời của Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng tất cả đều
lần lượt thất bại. Những thất bại này đã khiến cho cách mạng Việt Nam rơi vào tình
trạng khủng hoảng, không tìm được con đường cứu nước đúng đắn. Chính trong hoàn
cảnh khó khăn này, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước và tiếp cận với chủ
nghĩa Mác-Lênin, tích cực truyền bá lý luận này vào trong nước. Ông đã chuẩn bị về mặt
chính trị, tư tưởng và tổ chức, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2 năm 1930.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đưa cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ cuộc Cách mạng
Tháng Tám thành công năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, giải phóng
miền Bắc, cho đến chiến thắng cuối cùng trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1975, giải
phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Đặc biệt, việc thực hiện công cuộc đổi mới từ
năm 1986 đã đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, tư tưởng và văn hóa.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vô cùng quan trọng, và trong điều
kiện hiện nay, để nâng cao vai trò này, Đảng ta phải tiếp tục khẳng định sự tự đổi mới và
tự chỉnh đốn. Đảng phải làm tốt vai trò lãnh đạo, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham
nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội, đồng thời phát huy tinh thần đoàn kết toàn dân tộc,
chống lại các âm mưu phá hoại, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch.
Một bài học quan trọng từ Liên Xô và Đông Âu là khi mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng,
chủ nghĩa xã hội ở các quốc gia này đã rơi vào khủng hoảng và dẫn đến sự sụp đổ. Chính
vì vậy, việc củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một
yếu tố quyết định để giữ vững nền tảng xã hội chủ nghĩa và tiếp tục phát triển đất nước.
Để làm tốt vai trò lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam cần mạnh mẽ cả về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, luôn kiên định và không ngừng đổi mới, phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân và đất nước.
Dự phòng: Sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Ái
Quốc. Ông nhận thấy rằng trong các cuộc cách mạng tư sản, dù đã mang lại quyền lực
cho giai cấp tư sản, nhưng giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn chưa được giải
phóng hoàn toàn. Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vô sản, giải phóng
triệt để các dân tộc khỏi áp bức và bất công. Chính sự thành công của cuộc cách mạng
này đã thuyết phục Nguyễn Ái Quốc rằng chỉ có cách mạng vô sản mới có thể giải phóng
các dân tộc thuộc địa. 4
Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam là một xã hội phong kiến, nhưng từ
khi Pháp xâm lược (1858), xã hội Việt Nam biến thành một xã hội thuộc địa nửa phong
kiến. Chính quyền thực dân Pháp đã gây ra những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội Việt
Nam giữa nhân dân và giai cấp thống trị. Các phong trào yêu nước, như phong trào Cần
Vương và các phong trào cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, dù có sức
mạnh lớn nhưng đều thất bại. Những thất bại này làm cho cách mạng Việt Nam rơi vào
khủng hoảng, không tìm được con đường cứu nước đúng đắn. Chính trong bối cảnh đó,
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước và tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin.
Sau khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng
và tổ chức, từ đó dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3 tháng 2
năm 1930. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin,
phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam
giành được nhiều thắng lợi quan trọng, như Cách mạng Tháng Tám 1945, chiến thắng
Điện Biên Phủ 1954, giải phóng miền Bắc, và cuối cùng là chiến thắng trong cuộc Tổng
tiến công Mậu Thân 1975, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Sau đó, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, đất nước đã thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986, đạt được
những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế và văn hóa.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu vì nó là kết quả của những mâu thuẫn
sâu sắc trong xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến và sự nhận thức đúng
đắn của Nguyễn Ái Quốc về con đường cứu nước và cách mạng giải phóng dân tộc.
Câu 3. Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo là cương lĩnh đúng đắn và
sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, giai cấp, nhân văn.
Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đây là Cương lĩnh cách
mạng đầu tiên của Đảng ta. Cương lĩnh có những nội dung cơ bản: về phương hướng
mục tiêu của cm Vn, các nhiệm vụ cụ thể của cách mạng vn, lực lượng cm, đoàn kết
quốc tế và về đảng.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc soạn
thảo, đã xác định rõ phương hướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam là chủ
trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để tiến tới xã hội
cộng sản. Mục tiêu là giải phóng dân tộc, mang lại quyền lợi cho người dân, đặc biệt
là quyền sở hữu ruộng đất, người cày có ruộng và các quyền dân chủ về chính trị,
kinh tế, xã hội và văn hóa. Cương lĩnh xác định các nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng
Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc đánh đổ chủ nghĩa thực dân Pháp và phong kiến tay
sai, giành lại độc lập cho dân tộc và lập chính phủ công nông, trong đó nông dân là lực
lượng chủ yếu, tổ chức quân đội công nông. Đây là điểm sáng tạo quan trọng trong cương
lĩnh vì phản ánh đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đồng thời đáp
ứng yêu cầu lịch sử của đất nước. Mâu thuẫn chủ yếu là sự đối đầu giữa dân tộc Việt
Nam với đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai, từ đó xác định rõ nhiệm vụ giải phóng
dân tộc.Tuy nhiên, trong luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, mâu thuẫn chủ yếu này 5
chưa được xác định rõ ràng, và do đó không đề cập đầy đủ tới mâu thuẫn giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai.
Cương lĩnh cũng xác định lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, trong đó nông
dân đóng vai trò nòng cốt, đồng thời liên kết với các tầng lớp yêu nước khác như tiểu tư
sản, trí thức, thanh niên để làm tiền đề cho cuộc cách mạng. Lợi dụng bộ phận phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa rõ mặt phản động. Bộ phận nào rõ mặt phản
động phải đánh đổ. Nguyễn Ái Quốc còn chỉ ra mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế
quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng
đầu, thể hiện tinh thần yêu nước mạnh mẽ.
Một điểm sáng tạo nữa trong cương lĩnh là việc xác định giai cấp công nhân giữ vai trò
lãnh đạo cách mạng, với sự liên minh giữa công nông để đảm bảo thắng lợi. Cương
lĩnh không chỉ chú trọng vào giải phóng dân tộc mà còn đề cao việc phát triển sức mạnh
dân tộc thông qua sự đoàn kết của các lực lượng yêu nước, khẳng định rằng công nhân
phải giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc cách mạng. Tư tưởng sáng tạo này của Nguyễn Ái
Quốc là nền tảng quan trọng trong việc xây dựng chiến lược cách mạng, giúp Đảng Cộng
sản Việt Nam vững bước trên con đường giành độc lập và xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ.
Những nội dung cơ bản trong chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự vận
dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện và hoàn cảnh của
Việt Nam, một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cương lĩnh đã giải quyết đúng đắn
các mối quan hệ cốt lõi trong cách mạng Việt Nam, đặc biệt là sự kết hợp giữa vấn đề
giai cấp và vấn đề dân tộc. Đảng cũng kết hợp truyền thống yêu nước, tinh thần cách
mạng của nhân dân ta với những kinh nghiệm của các cuộc cách mạng thế giới, tạo nên
một con đường cách mạng phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Đặc biệt, cương
lĩnh cũng thể hiện sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong
sáng, đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam
với tư tưởng cách mạng của Mác-Lênin. Đây là lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có
một bản luận cứ chính trị rõ ràng, phản ánh đúng đắn những nhu cầu cấp bách của xã hội
Việt Nam, đồng thời phù hợp với xu thế thời đại.
Dự phòng: Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là sự kết hợp
sáng tạo giữa tính dân tộc, giai cấp và nhân văn, đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách
mạng Việt Nam. Cương lĩnh xác định mục tiêu cách mạng Việt Nam là giải phóng dân
tộc, giành quyền lợi cho người dân, đặc biệt là quyền sở hữu ruộng đất và các quyền dân
chủ về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Đây là một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
yêu cầu dân tộc và yêu cầu giai cấp. Nguyễn Ái Quốc chỉ ra rằng trong hoàn cảnh Việt
Nam khi đó, mâu thuẫn chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và phong
kiến tay sai. Vì vậy, nhiệm vụ cách mạng trước mắt là đánh đổ thực dân Pháp và phong
kiến tay sai, giải phóng dân tộc và giành lại độc lập cho đất nước. 6
Cương lĩnh cũng nhấn mạnh giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, liên kết
với nông dân và các tầng lớp yêu nước khác như tiểu tư sản, trí thức, thanh niên, để tạo
nên một lực lượng cách mạng mạnh mẽ. Nông dân là lực lượng chủ yếu trong cách
mạng, nhưng cần phải liên kết với các tầng lớp yêu nước khác để giành thắng lợi. Cương
lĩnh sáng tạo này cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa chống đế quốc và chống phong kiến,
trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu. Đặc biệt, việc xác định
công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng đã thể hiện sự sáng tạo của Nguyễn Ái
Quốc, vì giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong có khả năng dẫn dắt các tầng lớp
khác trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngoài ra, Cương lĩnh cũng thể hiện sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
quốc tế, khi đề cao mối quan hệ quốc tế trong cuộc đấu tranh cách mạng. Cương lĩnh
không chỉ phản ánh đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ mà còn áp
dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tế của Việt
Nam, một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chính nhờ sự kết hợp này, Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra một con đường cách mạng đúng đắn,
phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và đạt được những thành công vang dội sau này.
Câu 4. Vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ( 1930 -1945)
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đối với sự thắng lợi
của cách mạng Việt Nam, vì nhiều lý do quan trọng. Trước hết, về cơ sở lý luận, sự lãnh
đạo của Đảng được xác định bởi yếu tố quyết định theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của Đảng Cộng sản trong mối
quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách
mạng Việt Nam cũng khẳng định rõ ràng điều này.
Để giai cấp công nhân thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, thì yếu tố quan
trọng hàng đầu chính là tổ chức một chính Đảng của giai cấp công nhân, và đảng chân
chính nhất, cách mạng nhất là Đảng Cộng sản. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào
năm 1930, đây là một mốc lịch sử vĩ đại, đánh dấu sự chuyển mình của cách mạng Việt
Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước,
và lãnh đạo cách mạng, đánh dấu sự chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh có tổ
chức và có đường lối chính trị rõ ràng của giai cấp công nhân. Sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành đủ sức lãnh đạo cách mạng
Việt Nam. Đảng Cộng sản đã mở ra thời kỳ đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của
Đảng, với đường lối đúng đắn, khoa học và phù hợp với quy luật cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Về cơ sở thực tiễn, lịch sử của Đảng và cách mạng Việt Nam đã chứng minh vai trò
lãnh đạo của Đảng qua hơn 90 năm đấu tranh .Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành
được nhiều thắng lợi to lớn và có ý nghĩa chiến lược, tạo ra những bước ngoặt quan
trọng cho dân tộc. Ngay sau khi ra đời, Đảng đã tác động mạnh mẽ đến các phong trào
đấu tranh, đặc biệt là Cao trào 1930-1931 và đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, giúp chấm
dứt thời kỳ thoái trào của cách mạng. Trong suốt các giai đoạn đấu tranh, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân thực hiện các cao trào yêu cầu dân chủ trong những năm 1936-1939, đấu
tranh đòi quyền sống, quyền tự do cho nhân dân. Đặc biệt, trong những năm 1939-1945, 7
Đảng đã đưa ra chiến lược và chủ trương đúng đắn để giải phóng dân tộc. Điều này bao
gồm việc xây dựng một đội ngũ lãnh đạo vững mạnh, tập trung vào việc tổ chức và kích
hoạt các cuộc khởi nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Đảng đã đưa ra các mục tiêu
cụ thể như đánh đổ chế độ thực dân Pháp, thiết lập chính quyền nhân dân và xây dựng
một xã hội công bằng và dân chủ. Đảng lãnh đạo nhân dân giành được thắng lợi trong
Cách mạng tháng Tám, đánh đổ chế độ thực dân Pháp và phong kiến, đưa đất nước tiến
vào kỷ nguyên mới của độc lập, tự do.
Sau chiến thắng này Đảng đã xây dựng và phát triển mạng lưới tổ chức và cơ cấu lãnh
đạo. Điều này bao gồm việc thành lập các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ sở, đảm
bảo sự lãnh đạo và quản lý hiệu quả trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đảng đã đào tạo
và phát triển đội ngũ lãnh đạo với năng lực và tầm nhìn chiến lược Những thắng lợi này
chứng minh rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là yếu tố quyết định đưa
cách mạng Việt Nam đến với thành công.
Câu 5. Tính chất và ý nghĩa, kinh nghiệm của CMT8 năm 1945?
Tính chất: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc với tính chất dân chủ mới, và nó là một bộ phận quan trọng trong cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân của Việt Nam. Đầu tiên, Cách mạng Tháng Tám năm 1945
là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình, thể hiện rõ nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng lúc bấy giờ là giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của đế quốc, giải quyết mâu
thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thời điểm đó. Thứ hai, lực lượng cách mạng trong
cuộc Cách mạng Tháng Tám bao gồm toàn thể dân tộc, được đoàn kết chặt chẽ trong mặt
trận Việt Minh. Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám thành công đã dẫn đến việc thành lập
chính quyền Nhà nước của toàn dân tộc theo chủ trương của Đảng, với hình thức cộng hòa, dân chủ.
Ngoài mục tiêu giải phóng dân tộc, cách mạng còn đi kèm với việc giải quyết một số
quyền lợi cơ bản cho nông dân, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội. Một phần tài
sản của đế quốc đã bị tịch thu, địa tô được giảm 25%, và một số loại thuế và nghĩa vụ
bị xóa bỏ. Tuy nhiên, Cách mạng Tháng Tám chưa thực hiện triệt để quyền lợi đất đai
cho nông dân, chưa đảm bảo "người có ruộng" như trong các khẩu hiệu cách mạng sau
này, và các tàn tích phong kiến và nửa phong kiến vẫn còn tồn tại. Vì vậy, mặc dù Cách
mạng Tháng Tám mang tính chất dân chủ, nhưng chưa hoàn chỉnh và sâu sắc như mong
muốn. Cách mạng Tháng Tám cũng có tính chất quốc tế, bởi nó là một phần của cuộc đấu
tranh chống phát xít Nhật Bản và các lực lượng phản động, cũng như là một phần trong
cuộc chiến của các lực lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới chống lại chủ nghĩa phát xít xâm lược. mang đậm tính nhân văn.
Ý nghĩa, kinh nghiệm: (Câu 13 trang 34 sách lớn) 8
PHẦN II. KHÁNG CHIẾN ( 1945 - 1975 )
Câu 1. Vì sao nói CMT8 năm 1945 của VN rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc?
Ngày 19/8/1945 cuộc cách mạng thành công dẫn đến việc thành lập nhà nước dân chủ
nhân dân đầu tiên ở ĐNA, sự kiện này làm thay đổi căn bản cục diện của CM VN, tuy
nhiên chính quyền cách mạng và chế độ mới đối mặt với rất nhiều khó khăn, phức tạp.
Về kinh tế, tài chính, văn hóa xã hội
Kinh tế: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu
điều, công nghiệp đình đốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang.
Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói cuối năm 1944 đầu
năm 1945 chưa được khắc phục. Lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mất mùa diễn ra liên miên
gây nhiều thiệt hại, 2 triệu người dân chết đói. Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư
bản Pháp. Các cơ sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất. Hàng hóa khan
hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Tài chính: Tình hình tài chính vô cùng khó khăn. Ngân sách Nhà nước trống rỗng, tài
chính cạn kiệt, thuế không thu được, kho bạc chỉ có 1,2 triệu đồng, trong đó quá nửa là
tiền rách. Chính quyền cách mạng chưa quản lý được Ngân hàng Đông Dương. - Quân
Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn.
Văn hóa xã hội: Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức
nặng nề. Do chính sách ngu dân của thực dân Pháp nên sau cách mạng nước ta có 95%
dân số thất học, mù chữ. Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc,
nghiện hút ngày đêm hoành hành
Về chính trị, ngoại giao: Do lợi ích cục bộ của mình các nước lớn (Anh, Mỹ, Liên Xô)
không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của Nhà
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Bởi vậy chưa có nước nào công nhận và đạt quan hệ
ngoại giao với nước ta, nước ta bị cô lập với thế giới. Hệ thống chính quyền cách mạng
vừa được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt. Chính phủ
VNDCCH chưa có Quốc Hội, Nội các Chính phủ, các cơ quan ban ngành liên quan.
Về quân sự: Lực lượng quân đội chưa có đủ thời gian và điều kiện phát triển lực lượng
vũ trang và quân đội chính quy. Sau cách mạng tháng tám, lực lượng quân đội chính quy
của ta chỉ có khoảng năm nghìn người với vũ khí thô sơ.
Về kẻ thù: Nền độc lập non trẻ của Việt Nam phải đương đầu với sự hiện diện của đội
quân nước ngoài đông đúc chưa từng có khoảng hơn 30 vạn tên cùng với các thể lực tay
sai phản động đi theo đội quân xâm lược. Các thế lực chống đối trong giai cấp bóc lột cũ
ngóc đầu dậy, các đối tượng phản cách mạng cũ, các loại tội phạm hình sự chống phá
cách mạng rất quyết liệt: Quân đội các nước để quốc, dưới danh nghĩa quân Đồng
minh giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt kéo vào Việt Nam. Tử vĩ tuyến 16 trở ra
Bắc có gần 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch hùng hổ tràn qua biên giới kéo vào
Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội Đồng minh và giải
giáp quân đội Nhật thua trận ở Bắc Việt Nam. Chúng kéo theo một lũ tay sai đông đúc
với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ". Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn 9
quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Ngoài ra, trên
đất nước Việt Nam lúc này vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua trận đang chờ giải
giáp. Tóm lại, sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam cùng lúc phải đối mặt với tất
cả những khó khăn được liệt kê phía trên đã đầy tình hình đất nước đứng trước tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc". Đảng Cộng sản cầm quyền đang phải đối mặt với những thách
thức nghiêm trọng, biến động phức tạp khôn lường.
Câu 2. Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp ( 1946- 1954 là
kết quả của cuộc chiến tranh nhân dân “ toàn dân , toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính” ?
Bối cảnh: Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các cường quốc thực dân như
Pháp tìm cách khôi phục quyền lực ở các thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Trong nước,
sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với sự tái xâm
lược của Pháp và khó khăn về kinh tế, quân sự. Với tình hình đó, Đảng ta nhận thức rằng
chiến thắng chỉ có thể đạt được bằng cách xây dựng một kháng chiến toàn dân, phát huy
sức mạnh nội lực, tự cung tự cấp, và không phụ thuộc vào sự giúp đỡ bên ngoài.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân, bởi vì quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra lịch sử. Trong triết học Mác-
Lênin, quần chúng nhân dân có vai trò vô cùng quan trọng, thể hiện ở ba khía cạnh chính.
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản sản xuất ra của cải vật chất, Thứ hai,
quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, Thứ ba, quần
chúng nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần mà còn là
người kiểm chứng và bảo vệ những giá trị đó trong suốt quá trình lịch sử.
Về quan điểm của Đảng ta trong chiến tranh nhân dân, Đảng khẳng định chiến tranh nhân
dân là một cuộc chiến toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mạnh nội tại của dân tộc. Chiến
tranh nhân dân có tính chất toàn dân, toàn diện, trong đó mọi tầng lớp nhân dân đều tham
gia vào cuộc kháng chiến. Lực lượng vũ trang ba thứ quân là nòng cốt trong cuộc chiến,
nhưng mỗi người dân đều phải là chiến sĩ, đóng góp vào công cuộc đánh giặc. Cách đánh
giặc trong chiến tranh nhân dân mang đặc trưng là “Thiên La Địa Võng”, tức là tạo ra
một thế trận bao vây quân thù từ mọi phía, không phân biệt chiến tuyến, chiến đấu ngay cả trong lòng địch
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đề ra chiến lược kháng chiến toàn diện,
tức là đánh địch về mọi mặt. Về chính trị, Đảng thực hiện đoàn kết toàn dân, củng cố
chính quyền và xây dựng các đoàn thể nhân dân. Về quân sự, thực hiện vũ trang toàn dân,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mạnh mẽ, kết hợp chiến tranh du kích và chiến
tranh chính quy, tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ và giải phóng đất đai. Về kinh tế, kháng chiến
cần gắn liền với việc xây dựng nền kinh tế tự túc, tự cấp, phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp. Về văn hóa, xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến,
xây dựng nền văn hóa dân chủ mới dựa trên ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học và đại
chúng. Về ngoại giao, Đảng thực hiện chiến lược “thêm bạn bớt thù”, kết hợp với các dân
tộc yêu chuộng hòa bình, đồng thời đàm phán với thực dân Pháp nếu họ công nhận Việt Nam độc lập.
Kháng chiến lâu dài là để chống âm mưu của Pháp, nhằm có thời gian phát huy yếu tố
thiên thời, địa lợi, nhân hòa của ta, chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn 10
đích đến chỗ ta mạnh hơn địch để đánh thắng địch. Dựa vào sức mình là chính, phải tự
cấp, tự túc về mọi mặt vì ta bị bao vây bốn phía, chứa được nước nào giúp đỡ, nên phải
tự lực cánh sinh. Khi có điều kiện, ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, nhưng cũng
không được kỳ vọng quá nhiều.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng
đắn, trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta
tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng
chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Câu 3. Tại sao đại hội III( 1960) của Đảng được xem là Đại hội hoàn chỉnh đường lối chiến lược
cách mạng hai miền Nam - Bắc.
Cuối năm 1960, cách mạng ở hai miền nước ta đã có những bước tiến quan trọng. Ở
miền Bắc, công cuộc khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã đạt được nhiều
thành tựu. Ở miền Nam, cuộc đấu tranh chống Mỹ - Diệm đã giành được thắng lợi chiến
lược qua phong trào "Đồng khởi" (1959 - 1960), làm lung lay chế độ ngụy quyền Sài Gòn
và chuyển cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Trong bối cảnh này,
tình hình thế giới cũng có nhiều thay đổi, vừa tạo thuận lợi, vừa là thách thức cho
cách mạng Việt Nam. Những phát triển này đòi hỏi Đảng phải nhanh chóng hoạch định
đường lối cách mạng chung cho cả nước, thống nhất ý chí và hành động, định hướng tư
tưởng và hoạt động thực tiễn cho cách mạng ở hai miền. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ III của Đảng đã được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 5-9-1960 đến ngày 10-9-1960 nhằm
đưa ra đường lối chiến lược
Đại hội lần thứ III của Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ chung của cách mạng Việt
Nam trong giai đoạn mới. T
hứ nhất, nhiệm vụ chung là tăng cường đoàn kết toàn dân,
kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước
trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình
ở Đông Nam Á và thế giới. Thứ hai, cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai
nhiệm vụ chiến lược: một là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, hai là
giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống
nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Thứ ba, nhiệm vụ cách
mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải
quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt. Tuy nhiên, hai
nhiệm vụ này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm giải quyết
mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Mục tiêu
chung trước mắt là hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Thứ tư, về vai trò của cách mạng, mỗi
miền có nhiệm vụ quan trọng đối với cách mạng cả nước. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn
cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội sau này, giữ vai
trò quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp
thống nhất đất nước. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết
định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoàn thành hòa bình thống nhất
nước nhà. Thứ năm, về con đường thống nhất đất nước, trong khi tiến hành đồng thời
hai chiến lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình, thống nhất theo tinh thần 11
Hiệp định Genève, sẵn sàng thực hiện hiệp thương, tổng tuyển cử hòa bình, thống nhất
Việt Nam, vì đây là con đường tránh được sự hao tổn xương máu cho dân tộc và phù hợp
với xu thế chung của thế giới. Tuy nhiên, Đảng cũng luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng
đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh xâm
lược miền Bắc, nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại, hoàn thành độc lập
và thống nhất Tổ quốc. Thứ sáu, về triển vọng của cách mạng Việt Nam, cuộc đấu tranh
nhằm thực hiện thống nhất đất nước là một quá trình đấu tranh cách mạng gian khổ, phức
tạp và lâu dài. Tuy nhiên, thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, nam bắc
nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ý nghĩa: Đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược
của cách mạng, do Đại hội 3 của Đảng đề ra, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn. Thứ
nhất, đường lối này thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng, kết hợp sức mạnh hậu
phương và tiền tuyến, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội chủ nghĩa, tạo sức mạnh
tổng hợp đánh bại đế quốc Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước. Thứ hai, đường lối
này thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và xu thế thời đại. Thứ ba, đường lối chung cho cả nước và chiến lược riêng cho
từng miền đã giúp Đảng chỉ đạo thành công trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh chống chiến lược chiến tranh của Mỹ ở miền Nam.
Câu 4 Hiệp định Paris (1973) là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ hội lớn cho
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến của Anh/Chị về nhận định trên?
Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định trên. Để ký được Hiệp định Paris, Việt Nam đã trải
qua một quá trình đấu tranh kiên cường kéo dài hơn 5-6 năm trên mặt trận ngoại giao.
Sau chiến thắng mùa khô 1966-1967, ta chủ động mở mặt trận ngoại giao. Đặc biệt,
sau chiến thắng Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán và các cuộc
thương lượng giữa ta và Mỹ chính thức bắt đầu. Đây là bước ngoặt quan trọng, mở ra
giai đoạn "vừa đánh vừa đàm" với Mỹ.
Năm 1969, Mỹ đồng ý cho cuộc đàm phán 4 bên, nhưng thực chất chỉ có 2 bên tham
gia: ta (VNDCCH và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và địch (Mỹ và
VNCH). Trong các cuộc họp, ta yêu cầu Mỹ rút quân, và Mỹ đồng ý nhưng lại yêu cầu
miền Bắc cũng phải rút quân. Điều này không thể chấp nhận được vì nếu miền Bắc rút
quân, lực lượng ta ở miền Nam sẽ không thể đương đầu với sức mạnh của VNCH.
Năm 1972, Mỹ mở cuộc tập kích đường không nhằm ép ta ký theo thỏa thuận của họ,
nhưng ta đã chiến thắng trong trận "Điện Biên Phủ trên không", buộc Mỹ phải ký
Hiệp định Paris theo các điều kiện của ta vào năm 1973.
Hiệp định Paris là thắng lợi tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính
trị và ngoại giao. Đối với Việt Nam, việc ký kết Hiệp định chứng tỏ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Cộng hòa miền Nam đã giành được từng bước thắng
lợi, tạo tiền đề cho chiến thắng cuối cùng. Đây là một thắng lợi oanh liệt trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc ta, giúp hiện thực hóa mục tiêu "đánh cho Mỹ cút", đồng
thời mở ra giai đoạn mới để tiến đến "đánh cho Ngụy nhào" và giải phóng hoàn toàn
miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975. 12
Sự kiện ký kết Hiệp định Paris không chỉ có ý nghĩa trọng đại đối với Việt Nam mà còn
là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ quốc tế, thể hiện chiến lược "vừa đánh
vừa đàm" của Việt Nam đã đạt được thắng lợi hoàn toàn, đồng thời thúc đẩy quá trình kết
thúc chiến tranh và đưa đất nước bước vào một thời kỳ mới.
PHẦN III. XÂY DỰNG (1975 - NAY)
Câu 1. Quá trình tìm tòi khảo nghiệm đường lối đổi mới kinh tế của ĐCS VN? Sách lớn trang 74 Câu 39.
Ý nghĩa của việc đổi mới Việc đổi mới đất nước có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước
ngoặt trong quá trình quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Đường lối đó đã đưa Việt Nam
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt nền tảng để tìm ra con đường thích hợp tiến
lên CNXH. Đường lối đổi mới là sự kết tinh trí tuệ và tư duy khoa học của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân và thể hiện sự quyết tâm đổi mới của Đảng ta, đó cũng chính là sự kế
thừa, vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể ở Việt
Nam. Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó trọng tâm là đổi mới về kinh
tế, từng bước đổi mới trên các lĩnh vực khác đã đưa nước ta bước qua được giai đoạn
khủng hoảng trầm trọng và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sự như ngày
hôm nay trên mọi lĩnh vực như chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng.
Câu 2. Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư
duy lý luận, sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng?
Kinh tế thị trường là mô hình nền kinh tế tất yếu khách quan của nền sản xuất và lưu
thông hàng hóa phát triển. Hòa chung với bối cảnh thế giới, nơi nền kinh tế thị trường
được sử dụng hiệu quả, Việt Nam cũng đã và đang phát triển mô hình này. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường, trong đó có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đột phá lý luận quan trọng: Quan niệm về phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN là một sự đổi mới trong tư duy lý luận của Đảng, được hình thành từ thực tiễn đất
nước và quá trình đổi mới trong 35 năm. Đảng ta không chỉ kế thừa những thành tựu của
các nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn sáng tạo, đưa ra một lý thuyết hoàn toàn mới,
phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Đây là sự vận dụng sáng tạo, độc lập của Đảng trong
việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế phù hợp với chủ nghĩa xã hội, khác biệt với
các mô hình kinh tế thị trường khác trên thế giới.
Nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế: Kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành theo các quy luật
của kinh tế thị trường nhưng vẫn chịu sự điều hành và quản lý của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã đưa ra quyết định sáng tạo khi vừa giữ nguyên định hướng
xã hội chủ nghĩa, vừa hội nhập và phát triển nền kinh tế theo các tiêu chuẩn quốc tế. Đây
là sự kết hợp giữa lý thuyết chủ nghĩa xã hội và thực tiễn kinh tế thị trường toàn cầu.
Kinh tế thị trường kiểu mới: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một mô
hình kinh tế thị trường mới, khác biệt so với các nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa,
bởi nó được chi phối bởi các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Mô hình này không chỉ chú 13
trọng vào sự phát triển kinh tế mà còn đảm bảo các mục tiêu xã hội như công bằng, dân
chủ, văn minh. Đảng ta đã sáng tạo khi kết hợp các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội vào
các mặt sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối trong nền kinh tế thị trường, tạo ra một mô
hình vừa bảo vệ lợi ích của nhân dân, vừa đảm bảo sự phát triển bền vững.
Khác biệt với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đầy đủ: Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, nhưng cũng chưa phải là một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh.
Đây là sự vận dụng sáng tạo lý thuyết về kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vừa tránh xa mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, vừa phát triển theo con đường
riêng biệt, phù hợp với đặc thù của Việt Nam và mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang tính phổ biến
(đặc trưng chung) của mọi nền kinh tế thị trường, vừa có đặc trưng riêng của tính định
hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là bước phát triển mới về tư duy lý luận kinh tế của Đảng - từ
nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang nhận thức kinh tế
thị trường như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát chỉ rõ 4 nội dung cốt lõi trong nhận
thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Một là, Đảng ta đưa ra quan
niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và
sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Hai là, kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ba là, nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử
phát triển của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và
bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Bốn
là, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ
Câu 3.So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới. Sự giống nhau:
Đảng ta khẳng định công nghiệp hóa là một tất yếu khách quan, cần thiết đối với nước ta, vì
nền sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, manh mún, lạc hậu. Công nghiệp hóa không phải vấn đề mới mà
đã được các nước tư bản thực hiện từ lâu và được đề cập trong chủ nghĩa Mác – Lê-nin. 14
Nước ta xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, không qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa, nên cơ sở hạ tầng, vật chất, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân nghèo nàn,
gặp nhiều khó khăn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự khác nhau:
– Đường lối công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý. Ở thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
.– Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng
nội. Còn công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường giúp khai thác hiệu quả mọi nguồn
lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
.– Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước và
doanh nghiệp nhà nước. Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành sự nghiệp
của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế mà trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo
.– Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện
công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế
hoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện
bằng cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế
.– Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên
đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa ở thời kỳ đổi mới,
lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; coi
phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
– Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ quan
duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội. Còn ở thời kỳ
đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên,
bảo tồn đa dạng sinh học.
– Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát
triển nông nghiệp, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng, ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công
nghiệp địa phương. Ở thời kỳ đổi mới, phải phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Cơ chế quản
lý công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới là kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp. Sau
đổi mới là được tiến hành trong thể chế thị trường định hướng XHCH và hội nhập kinh tế Quốc tế.
Câu 4. Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước.
Văn hóa Việt Nam, với bề dày lịch sử hàng nghìn năm, là một thành tựu to lớn mà dân
tộc ta đã xây dựng qua bao thế hệ. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập và xây dựng 15
đất nước, văn hóa không chỉ là một yếu tố quan trọng bảo vệ Tổ quốc mà còn là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Chính vì thế, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta
luôn chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, đồng
thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc.
Tại Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII (1988), Đảng đã ra Nghị quyết về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đảng khẳng định quan
điểm rằng: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển
bền vững đất nước." Cụ thể, văn hóa không chỉ là yếu tố tạo nên bản sắc dân tộc mà còn
có vai trò thiết yếu trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội: Quan điểm này khẳng định rằng, để đất nước
phát triển bền vững, không thể thiếu một nền tảng tinh thần vững chắc. Văn hóa là yếu tố
quyết định, nếu thiếu đi nền tảng này, xã hội sẽ khó có thể tiến lên lâu dài. Để phát triển
văn hóa, chúng ta cần không ngừng củng cố giá trị đạo đức, nhân văn và khoa học, đồng
thời kết hợp những giá trị truyền thống với những tinh hoa văn hóa của thế giới, tạo nên
một nền văn hóa phát triển toàn diện, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước.
Văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước: Mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" không chỉ là mục tiêu tổng thể của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà còn là mục tiêu trực tiếp của văn hóa. Để phát triển đất nước
một cách toàn diện, cần phải gắn kết tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và bảo vệ
môi trường. Văn hóa, trong mối quan hệ này, không chỉ là nhu cầu tinh thần mà còn là
động lực thúc đẩy sự phát triển, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững: Nhiều quốc gia, dù không có tài
nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng nhờ chú trọng phát triển văn hóa và con người, vẫn
vươn lên mạnh mẽ. Điều này cho thấy, nguồn lực nội sinh của mỗi quốc gia nằm trong
văn hóa và con người. Trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp 4.0, sự phát triển không
còn chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu phụ thuộc vào trí tuệ, sáng tạo và đổi
mới - những yếu tố mang đậm bản chất văn hóa. Vì vậy, văn hóa đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.
Giáo dục và đào tạo, yếu tố then chốt trong phát triển văn hóa: Để phát huy sức
mạnh văn hóa, Đảng ta cũng chú trọng vào giáo dục và đào tạo. Cải cách nền giáo dục
theo hướng phản ánh triết lý văn hóa dân tộc và xu thế phát triển của thời đại sẽ giúp xây
dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có trí tuệ, đạo đức và năng lực sáng tạo.
Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố không thể thiếu để đất nước có thể bắt kịp với sự
phát triển của thế giới.
Qua hơn 30 năm đổi mới, những thành tựu văn hóa đã khẳng định rõ ràng vai trò của văn
hóa đối với sự phát triển của đất nước. Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là
mục tiêu, động lực quan trọng giúp đất nước phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân
dân và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh", chúng ta cần nhận thức đúng đắn vai trò của văn hóa trong quá trình
phát triển đất nước, bảo đảm sự phát triển bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn. 16
Câu 5. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Nhìn lại 44 năm, sau ngày đất nước thống nhất, Đảng càng thấm nhuần sâu sắc và vận
dụng sáng tạo các bài học, kinh nghiệm rút ra từ công cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc. Tiến hàng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một bước đi không thể thiếu.
Lãnh đạo đổi mới tư duy và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những quyết sách chiến lược và hướng dẫn cụ thể trong
quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, tại Đại hội IX, Đảng xác định rõ mô hình nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước, và phát triển các thành phần
kinh tế đa dạng, đặc biệt là kinh tế tư nhân. Đảng đã lãnh đạo việc cải cách thể chế kinh
tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, cũng như điều chỉnh các chính sách kinh tế
phù hợp để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và hiệu quả.
Lãnh đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Đảng đã xác định công nghiệp hóa và
hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm, liên quan đến mọi thành phần trong xã hội. Công
nghiệp hóa không chỉ là sự phát triển của ngành công nghiệp, mà còn là sự phát triển
đồng bộ của các ngành kinh tế khác, nhấn mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ,
giáo dục và đào tạo. Đảng lãnh đạo việc phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn như
dầu khí, điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm, để tạo nền tảng vững chắc cho nền kinh tế.
Việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao năng suất lao động và phát triển bền vững
các ngành công nghiệp đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước.
Tăng cường lãnh đạo trong xây dựng và phát triển thể chế chính trị: Đảng đã chỉ đạo xây
dựng hệ thống chính trị vững mạnh, nâng cao hiệu quả công tác của bộ máy nhà nước, cải
cách hành chính, và tăng cường công tác bảo vệ an ninh, quốc phòng. Đặc biệt, Hội nghị
Trung ương 4 khóa XII đã nhấn mạnh việc chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh để lãnh đạo hiệu quả công cuộc đổi mới. Mặt khác, Đảng cũng luôn chú trọng
xây dựng một hệ thống chính trị gắn liền với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
đồng thời phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Lãnh đạo phát triển quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế: Đảng đã lãnh đạo đất nước mở
rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, gia nhập các tổ chức quốc tế quan
trọng như ASEAN, WTO, ký kết các hiệp định thương mại tự do và hợp tác quốc tế về
biển. Đảng cũng đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ độc lập chủ quyền và tăng cường hợp
tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, an ninh, giữ vững môi trường hòa
bình và ổn định để phát triển bền vững. Đảng đã xác định rõ tầm quan trọng của hội nhập
quốc tế đối với phát triển đất nước, coi đây là cơ hội để thu hút đầu tư, học hỏi kinh
nghiệm và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Lãnh đạo phát triển con người và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân: Đảng luôn coi
con người là yếu tố quyết định trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đảng chỉ
đạo đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển
khoa học công nghệ, y tế và các lĩnh vực văn hóa xã hội, giúp nâng cao chất lượng cuộc 17
sống của người dân. Qua đó, Đảng không chỉ thúc đẩy sự phát triển về kinh tế mà còn cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội và xây dựng
một xã hội phát triển bền vững, giàu mạnh.
Nhìn chung, vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế là vô cùng quan trọng. Chính nhờ sự lãnh đạo đúng
đắn, sáng tạo và kiên định của Đảng, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đồng thời tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế. MỞ RỘNG
Câu 1. Phân tích vai trò của nghị quyết TW 15 đối với CMM Nam?
Sau Hiệp định Giơnevơ, tình hình miền Nam Việt Nam dưới sự cai trị của Mỹ và Ngô
Đình Diệm trở nên căng thẳng và đầy thử thách. Chính quyền Sài Gòn thực hiện các
chính sách tàn bạo, vi phạm Hiệp định Giơnevơ khi tổ chức tổng tuyển cử riêng rẽ, không
thực hiện điều khoản thống nhất đất nước. Đồng thời, họ tiến hành các cuộc khủng bố,
đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam, đặc biệt là các tổ chức cách
mạng và lực lượng yêu nước.
Trong bối cảnh này, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức rõ ràng rằng cách mạng miền
Nam cần phải có một chiến lược đấu tranh mới, quyết liệt hơn. Để đáp ứng yêu cầu thực
tiễn, tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương khóa II đã ra Nghị
quyết về đường lối cách mạng miền Nam. Nghị quyết chỉ ra hai mâu thuẫn cơ bản trong
xã hội Việt Nam thời kỳ này. Một là, mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ, giai cấp địa chủ phong
kiến và các thế lực tư sản mại bản với nhân dân Việt Nam, đặc biệt là nhân dân miền
Nam. Hai là, mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và con đường tư
bản chủ nghĩa ở miền Nam. Mặc dù hai mâu thuẫn này mang tính chất khác nhau, nhưng
chúng có sự tác động và liên kết mật thiết với nhau, tạo ra một bối cảnh cách mạng rất
phức tạp và đầy thử thách.
Từ việc phân tích các mâu thuẫn này, Nghị quyết xác định nhiệm vụ cơ bản của cách
mạng Việt Nam là tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc
xâm lược và các thế lực phản động, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và
dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Đặc biệt, Nghị
quyết nhấn mạnh việc củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây
dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Về cách mạng miền Nam, Nghị quyết phân tích tình hình miền Nam sau năm 1954 với
hai mâu thuẫn cơ bản: Một là, mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam và đế quốc Mỹ, chủ
yếu là chính quyền Ngô Đình Diệm. Hai là, mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam, đặc biệt
là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế
quốc Mỹ được xác định là mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn này.
Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và cải thiện đời sống cho người dân, đặc
biệt là thực hiện quyền "người cày có ruộng". Đồng thời, Nghị quyết xác định con đường
cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, với sức mạnh của 18
quần chúng là yếu tố chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đẩy lùi ách thống trị của đế quốc và phong kiến.
Nghị quyết cũng dự báo rằng, do đế quốc Mỹ là thế lực hiếu chiến và mạnh mẽ, bất kỳ
cuộc khởi nghĩa nào ở miền Nam cũng có thể phát triển thành cuộc khởi nghĩa vũ trang
trường kỳ, và cuối cùng chắc chắn sẽ giành được thắng lợi. Lực lượng cách mạng sẽ là sự
liên minh giữa công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, với nền tảng là liên minh công - nông.
Ngoài ra, Nghị quyết còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Đảng bộ miền Nam. Sự tồn tại
và trưởng thành của Đảng bộ miền Nam dưới chế độ độc tài phát-xít là yếu tố quyết định
sự thắng lợi của phong trào cách mạng. Để bảo vệ lực lượng cách mạng, Đảng phải chú
trọng đến công tác bí mật và lợi dụng mọi khả năng hợp pháp để duy trì lực lượng của
Đảng. Đảng cần xây dựng các cơ sở an toàn và khu an toàn ở địa phương để bảo vệ cơ
quan đầu não và cán bộ.
Ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương khóa II (tháng
1-1959) có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển của cách mạng miền Nam và cả
cách mạng Việt Nam. Nghị quyết đã xác định rõ phương pháp đấu tranh bạo lực cách
mạng để giải phóng miền Nam, phù hợp với tình hình thực tế khi kẻ thù đã sử dụng bạo
lực tàn bạo với nhân dân ta. Đây chính là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng miền
Nam, góp phần thúc đẩy những chuyển biến quan trọng trong cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, làm thay đổi tình hình cách mạng miền Nam và tiến tới chiến thắng cuối cùng.
Câu 2. Vì sao ĐCS VN phải thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại theo phương châm đa phương
hóa, đa dạng hóa? Đánh giá các tác động đến hoạt động đối ngoại của VN trong thời kỳ Đổi mới?
Đảng và Nhà nước luôn xác định Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, gắn liền
với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới là điều kiện không thể thiếu
để xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời với sự vận động chung, tự cô lập mình
với thế giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại, có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc.
Chính vì vậy, Đảng ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, đặc biệt nhấn
mạnh tầm quan trọng và tính tất yếu của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
Đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì những lý do sau.
Đầu tiên, về mặt chính trị - ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của thế giới mà
chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việt Nam vẫn
trong thế bị bao vây, bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính sách phát
triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Những biến động của tình hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là
cơ sở cho sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu
là Liên Xô là bài học quý giá cho chúng ta. Từ đây, Đảng ta nhận thức và rút kinh nghiệm, cần phải
thay đổi mô hình xã hội chủ nghĩa cũ, cụ thể hơn là đổi mới chủ trương và chính sách ngoại giao sao cho hợp lí, hiệu quả. 19
Xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển của nước ta, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu đã có những đổi mới
sâu sắc và mang tính chiến lược về đường lối và chính sách đối ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương
hóa, đa dạng hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập là xu thế chung hiện nay, việc hợp tác đa phương trên nhiều
lĩnh vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông
tin - truyền thông, môi trường, du lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển thị
trường lao động và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế về
khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền khoa
học, giáo dục tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu
cầu của người dân, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước mở cửa, gắn nền kinh tế và
thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tiếp thu những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, thu
hút nguồn lực cho phát triển, tạo thêm động lực xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
Đánh giá: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế
tổng quát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây là quá trình nhận thức và hoàn thiện tư duy lý
luận của Đảng, đồng thời tổng kết thực tiễn để làm rõ sự tất yếu khách quan của mô hình này, xác
định nội dung và đặc trưng cơ bản của nền kinh tế, và đề ra các biện pháp để đẩy mạnh phát triển
kinh tế trong bối cảnh đất nước.
Trong lịch sử phát triển của đất nước, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, với
sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ Đại hội Đảng
VI (1986). Quá trình này không ngừng được hoàn thiện và đến nay đã đạt được những
thành tựu quan trọng. Thực tế qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển theo mô hình kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chứng minh rằng, nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa chính là con đường phát triển kinh
tế hiệu quả, từ đó tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Đại hội Đảng IX (2001) đã khẳng định rõ: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.” Đại hội Đảng X (2006) tiếp tục nhấn mạnh: “Để đi
lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.”
Qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn khẳng định rằng con đường chúng ta lựa chọn là chủ
nghĩa xã hội và để đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam phải phát triển nền kinh tế thị
trường. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được Đảng
ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (1991), với sáu đặc trưng cơ bản. Đến Đại hội Đảng X, nhận thức về chủ nghĩa xã hội
càng trở nên rõ ràng hơn với tám đặc trưng cơ bản, bao gồm: một xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, 20