MỤC LỤC
1. GIAI ĐOẠN 1911-1930
A, Vì sao ra đời là một (Vở ghi) Đảng tất yếu
B, Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lại chọn con đường CMVS?
(Trang 2-TL40)
C, Tại sao nói do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là Cương lĩnh đúng Cương lĩnh chính trị đầu tiên
đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân văn?
(C8,TLNM)
D, Nội dung cơ bản và ý nghĩa của được hội nghị thành lập Đảng Cương lĩnh chính trị đầu tiên
(2/1930) thông qua? (TL bổ sung)
2. Giai đoạn 1930-1975
A, của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc (1930-1945)? (Trang 10, Vai trò lãnh đạo
TL40)
B, Chủ trương của chiến lượng CM trong thời kỳ 1939-1941 và sự chỉ chuyển hướng chỉ đạo
đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng , phát động Tổng khởi nghĩa giành chính nắm thời cơ
quyền trong CMT8 1945? (TLNM, C15)
C, của cuộc CMT8 1945? (TL bổ sung) Tính chất, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm
D, Vì sao nói Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam rơi vào tình thế “sau ngàn cân treo sợi
tóc”? (TLBS)
E.0. giữa (1945-1954) (TLNM, Mối quan hệ đường lối kháng chiến xây dựng chế độ mới
C3)
E, Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là kết của
của cuộc ? (TL bổ kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính
sung)
E.2. lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm
can thiệp Mỹ (1945-1954)? (TL60, tr20).
F, Vì sao (1960) của Đảng được xem là đại hội hoàn chỉnh Đường lối chiến lược cách đại hội III
mạng hai miền Nam – Bắc (TL40, tr19 + TLBS)
G, Nghệ thuật trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy (C13, tạo bất ngờ Tết Mậu thân (1968)?
TLNM)
H, là kết quả của quá trình và là cơ hội cho sự Hiệp định Paris (1973) “vừa đánh vừa đàm”
nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến của anh chị về nhận định
trên?
3. GIAI ĐOẠN 1975- NAY
A, Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình định hướng XHCN là một (C7-kinh tế thị trường tất yếu?
TLNM)
B, Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối ngoại theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa tất yếu là một ? (C10-TLNM)
B.1. Vì sao phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư duy
lý luận, sự vận dụng sáng tạo của Đảng? (TL40-tr29)
C, Vì sao ĐCSVN phải thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại theo phương châm đa phương hóa,
đa dạng hóa? Hãy đánh giá tác động của phương châm này đối với hoạt động đối ngoại của VN
trong thời kỳ đổi mới? (C23-TLNM)
D, Đánh giá về đường lối của Đảng trong thời kỳ đổi mới (C24-TLNM) đối ngoại
D, Trong đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.
Anh chị hiểu là như thế nào? Theo Anh/ Chị là sinh viên, cần phải làm gì để hội nhập quốc tế
chủ động hội nhập quốc tế?
F, So sánh đường lối của Đảng thời kỳ trước đổi mới và sau đổi mới (31, TL40)công nghiệp hóa
G, Trong nghị quyết TW 9 (2011), ĐCSVN đã đề ra quan điểm “ là nền tảng tinh thần Văn hóa
của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững của đất nước”. Anh chị hãy nêu ý kiến về
quan điểm trên. (TL40, tr36 + Liên hệ C28, TLNM)?
L, Sự quan trọng của văn hóa với sự phát triển bền vững? (C9, TLNM)
H, Vai trò đối với sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc lãnh đạo của Đảng CNH-HDH
tế. (TL40, tr38)
Lịch sử của Đảng từ năm 1930-1975
1. Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lại chọn
con đường cách mạng vô sản
Có hai nguyên nhân
**Nguyên nhân đầu tiên là căn cứ vào tình hình của nước ta
**Nguyên nhân thứ hai là dựa trên hoạt động thực tiễn của Bác
Còn time thì ghi
2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên được hội
nghị thành lập Đảng (2/1930) thông qua?
*Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên:
Về mục tiêu chiến lược :
Về nhiệm vụ chủ yếu
Xác định lực lượng cách mạng
Phương pháp tiến hành cách mạng: võ trang bạo động
Vai trò của Đảng
Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện xã hội và kinh tế:
Còn thời gian mới ghi đoạn sau đây (hoặc tùy đề)
Xác định tinh thần đoàn kết quốc tế:
*Ý nghĩa của cương lĩnh:
Có tầm quan trọng rất to lớn. Là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo lý luận
Mác- Leenin vào thực tiễn của đất nước. Giải đáp đúng yêu cầu phát triển của xã
hội Việt Nam, yêu cầu thực tiễn của cách mạng là xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa
phong kiến phản động để thay vào đó là một chế độ tiến bộ hơn bằng việc tập trung
giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội là mâu thuẫn giữ dân tộc ta và đế quốc
Pháp, giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Cương lĩnh đã đáp ứng được nguyện
vọng cơ bản của cả dân tộc là độc lập, dân chủ, hạnh phúc. Cương lĩnh đã phản ánh
đúng quy luật vận động khách quan của xã hội Việt Nam. Nó không giống đường
lối cách mạng dân chủ tư sản ở một nước độc lập hay một nước nửa thuộc địa.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng đã trả lời đúng những vấn đề cấp bách
mà phong trào cách mạng nước ta đặt ra. Nó là vũ khí sắc bén chống lại những tư
tưởng và hành động trái với chủ nghĩa Mác Lênin. Cương lĩnh là nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho đường lối mới của Đảng, dẫn đến thắng lợi của sự nghiệp giải
phóng dân tộc.
Còn thời gian thì ghi thêm:
3. Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo là Cương lĩnh
đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai
cấp và tính Nhân văn?
Tính nhân văn:
4. Tính chất của cuộc cách mạng tháng 8, 1945
Ý nghĩa
Kinh nghiệm
Còn time thì ghi:
Chương 2:
1. Vì sao nói Cách mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam rơi vào tình thế “ngàn
cân treo sợi tóc” ?
Tình hình trước cách mạng tháng 8:
Trên thế giới: phong trào cách mạng thế giới bị đàn áp do các phe đế
quốc chủ nghĩa âm mưu “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”. Việt Nam
nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.
Tình hình trong nước: chính quyền cách mạng mới thiết lập còn non
trẻ, thiếu thốn. Hậu quả chế độ cũ để lại rất nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ
lụt, nạn đói năm 1945. Việt Nam có nguy cơ phải đối mặt với sự quay trở lại
của Pháp. Ở phía Bắ, quân đội của Tướng Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc)
tràn biên dưới kéo vào Việt Nam. Trước tình hình đó đã đặt nền độc lập và
chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “ngàn cân treo
sợi tóc” , cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt, và bọn thù trong,
giặc ngoài.
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên họp đầu tiên dưới sự
chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ trước mắt là:
diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn quan trọng lúc
bấy giờ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung chỉ đạo, động viên
mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động như:
lập hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập... Chính phủ bãi
bõ các thứ thuế vô lý của chế độ cũ.
Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
coi trọng. Chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ” toàn dân học
chữ quốc ngữ để xóa bỏ nạn dốt.
Khẩn trương xây dựng củng cố chính quyền cách mạng: Nhà nước ta
tổ chức cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thử phổ thông vào thành lập ra
Chính phủ chính thức.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam bộ,
đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ:
Đêm 22, rạng ngày 23-9-1945, quân đội Pháp đã nổ súng gây hắn
đánh chiếm SG- Chợ lớn (Nam Bộ). Cuộc kháng chiến chống xâm lược của
nhân dân Nam Bộ bắt đầu. Nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã nêu cao tinh thần
chiến đầu “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” chống trả hành động xâm lược
của Pháp. Chính phủ, Hồ Chí Minh và nhân dân miền Bắc nhanh chóng
hưởng ứng kịp thời chi viện, chia lửa với đồng bào Nam Bộ kháng chiến.
Những ngày đầu, so sánh lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, nhưng
với lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chúng ta đã ngăn chặn
được bước tiến của thực dân Pháp, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
sau này.
Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của
quân Tưởng và tay sai, Chính phủ Hồ Chí Minh đã chủ trương hòa hoãn ứng
xử mềm dẻo, “nhân nhượng có nguyên tắc” để tránh hoạt động khiêu khích,
gây xung đột vũ trang của quân Tưởng.
Đầu năm 1946, phe đế quốc đã giàn xếp để Chính phủ Pháp và Chính
phủ Trung Hoa dân quốc ký Hiệp ước Trùng Khánh, thỏa thuận để đưa quân
đội Pháp ra Bắc vĩ tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thay thế
20 vạn quân tưởng. Đổi lại Pháp sẽ nhượng lại cho Tưởng nhiều quyền lợi
quan trọng ở TQ và Việt Nam. Đây thực chất là một hiệp ước bán rẻ lợi ích
dân tộc, chà đạp lên nền độc lập Việt Nam, hợp pháp hóa hành động xâm
lược của TD Pháp ra miền Bắc. Trước sự thay đổi nhanh chóng, phức tạp
của tình hình. Chính phủ Hồ Chí Minh đã chủ trương “dàn hòa với pháp”,
nhân nhượng về lợi ích kinh tế nhưng thừa nhận quyền dân tộc và tự quyết
của Việt Nam” để “tiêu diệt phản động bên trong, tay sai Tàu trắng, trừ
những hành động khiêu khích ly gián ta với Pháp”, thúc đẩy quân Tưởng về
nước để bớt đi một kẻ thù nguy hiểm. 6-3-1946, tại Hà Nội chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ký với đại diện
Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp Định sơ bộ. Hiệp định nêu rõ
công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện... ; Việt
Nam đồng ý để 15.000 pháp ra miền bắc thay thế 20 vạn quân đội Tưởng rút
về nước.
Tuy nhiên thời hạn quân đội Tưởng phải rút về nước đã hết, nhưng
quân họ vẫn trì hoãn kéo dài. Nhưng quân tưởng vẫn trì hoãn kéo dài; các
thế lực thực dân hiếu chiến Pháp ở Hà Nội móc nối và cấu kết, ráo riết chuẩn
bị âm mưu lật độ Chính phủ Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo kiên quyết, sáng
suốt của Đảng và Chính phủ do cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền Chủ tịch
Chính phủ, chúng ta đã thành công phá tan được kế hoạch lật đổ chính phủ
Hồ Chí Minh do Trương Tử Anh, giữ vững chính quyền cách mạng.
Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của
Đảng, tinh thần quyết đoán, sáng tạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong của những năm đầu chính
quyền non trẻ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng: ngăn chặn
bước tiến của quân đội xâm lược Pháp ở Nam Bộ, vạch trần làm làm thất bại
âm mưu chống phá của kẻ thù, củng cố giữ vững bộ máy chính quyền; tạo
thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn để xây dựng lực lượng. Đề cao ý chí tự
cường, quyết tâm bảo vệ nền tự do độc lập.
2. Hãy chứng minh thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
(1946-1954) là kết của cuộc chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện,
lâu dài và dựa vào sức mình là chính”?
* Thứ nhất, kháng chiến toàn dân:
Xuất phát từ lí luận Mác- Lê Nin về vai trò quần chúng trong lịch sử
nói chung, lịch sử đấu tranh nói riêng. Theo lí luận chủ nghĩa Mác Lê Nin,
quần chúng là động lực phát triển của cách mạng, muốn giành thắng lợi phải
có đông đảo quần chúng tham gia, đo đó phải động viên toàn dân kháng
chiến.
· Xuất phát từ truyền thống đoàn kết đấu tranh của dân tộc ta qua các
thời kì lịch sử. Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước và đấu tranh bất
khuất. Mặt khác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, có phát huy sức
mạnh toàn dân thì chúng ta mới có thể đánh địch toàn diện và lâu dài.
· Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và thực dân Pháp lúc này
quá chênh lệch. Nhân dân ta vừa giành được độc lập từ ta kẻ thù, đang đứng
trước muôn vàn khó khăn thử thách, trong đó có 3 thứ giặc phải đối phó:
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Còn quân thù thì không ngừng tăng
cường lực lượng bao vây nhằm chống phá cách mạng. Vì vậy, muốn giành
thắng lợi chúng ta nhất thiết phải kháng chiến toàn dân, phát huy sức mạnh
toàn dân thì mới có khả năng đánh tan thực dân Pháp xâm lược.
* Thứ hai, kháng chiến toàn diện:
- Do địch đánh ta toàn diện nên ta phải chống lại toàn diện.
Xuất phát từ thực dân Pháp, chúng đánh ta trên tất cả các mặt: chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hoá, tư tưởng…. tương quan lực lượng không cân, vì
vậy chúng ta cũng phải đánh địch trên tất cả các mặt thì mới tạo nên chiến
thắng toàn diện, phát huy mọi sức mạnh tiềm năng của đất nước và buộc
chúng phải khuất phục.
· Xuất phát từ nhiệm vụ kiến quốc cũng được tiến hành một cách toàn
diện vì vậy khi tiến hành kháng chiến chúng ta cũng phải đánh địch toàn
diện nhằm phát huy được sức mạnh nội lực của chính mình.
· Chống lại âm mưu chiến tranh toàn diện và lấy chiến tranh nuôi chiến
tranh của bọn thực dân Pháp
· Kháng chíên toàn diện là điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân vì
sẽ phát huy được sức mạnh toàn dân.
- Đồng thời ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tức là xây dựng chế độ mới
nên phải kháng chiến toàn diện.
* Thứ ba, kháng chiến trường kì:
- So sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch, địch mạnh hơnta
nhiều về mọi mặt, ta chỉ hơn địch về tinh thần và chính nghĩa. Do đó ta phải
có thời gian để chuyển hóa lực lượng làm cho địch yếu dần, phát triển lực
lượng của ta, tiến lên đánh bại kẻ thù.
- Thông qua cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 và Chiến dịch
Việt Bắc thu - đông năm 1947 thấy rõ chủ trương đánh bại kế hoạch “Đánh
nhanh thắng nhanh”, buộc thực dân Pháp phải chuyển qua đánh lâu dài của
Đảng ta.
* Thứ tư, kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế:
- Mặc dù rất coi trọng thuận lợi và sự giúp đỡ từ bên ngoài, nhưng vận mệnh
của dân tộc ta phải do nhân dân ta quyết định, phải dựa vào sức mạnh của ta,
sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ.
3. Tại sao nói Đại hội III (1960) của Đảng được xem là đại hội hoàn chỉnh
Đường lối chiến lược cách mạng của hai miền Nam – Bắc?
“Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi, chắc chắn rằng Đại hội
lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và
toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thực hiện hòa bình thống nhất ở nước nhà” (Hồ Chí Minh,1960)
4. Hiệp định Paris (1973) là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ hội cho sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến của anh chị về nhận định trên?
Những trang sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh
ngoại giao là một mặt trận quan trọng, gắn liền với vận mệnh dân tộc và luôn có mối
quan hệ hữu cơ với mặt trận quân sự, chính trị nhằm thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau cùng thực
hiện mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Mối quan hệ đó được thể
hiện đậm nét: trên bàn đàm phán không thể giành thắng lợi nếu không có chiến thắng trên
chiến trường và những chiến thắng trên chiến trường sẽ không được khẳng định nếu
không có nghệ thuật giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Hiệp định Pa-ri chính là kết quả
của sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, thể hiện
đỉnh cao của nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm” do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Cuối năm 1965, với những thắng lợi liên tiếp của nhân dân ta ở hai miền đất
nước, Đảng ta đã tính đến kế hoạch đàm phán với Mỹ, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Song,
ngoại giao chỉ được mở màn và được coi là mặt trận sau Hội nghị lần thứ 13 (1-1967)
Ban chấp hành Trung ương. Và từ đây, Đảng ta mới thực sự triển khai kế hoạch và quyết
định đẩy mạnh đấu tranh quân sự trên cả hai miền, đồng thời đưa ngoại giao thành một
mặt trận quan trọng để mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ: ngoại giao là rất quan trọng nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và mình
phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng
Cuối năm 1967, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Sau khi Mỹ chấm dứt
không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam, VNDCCH sẽ nói chuyện với Mỹ về
những vấn đề liên quan”. Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm, lập trường cũng như thiện
chí của Việt Nam trước sau như một, mong muốn giải quyết vấn đề Việt Nam bằng
phương pháp hoà bình, nếu Mỹ chấp nhận ngừng ném bom. Nhưng, chỉ đến khi cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với những đòn “sấm sét” tiến công
liên tiếp đã làm thay đổi hẳn tình hình theo hướng có lợi cho ta và làm giảm uy thế, sức
mạnh quân sự và lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn mới tuyên bố
đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, không ra tranh cử Tổng
thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pa-ri.
Thắng lợi quân sự đã mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao!
Ngày 18-1-1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam khai mạc tại
phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Pa-ri nước Pháp. Ngày 25-1-1969, Hội nghị
bốn bên chính thức khai mạc, trưởng đoàn của mặt trận dân chủ giải phóng miền Nnam
Trần Bửu Kiếm đã đưa ra lập trường năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị và bốn
tháng sau đưa ra giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam. Đây là giải
pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị bốn bên. Để đối phó lại, ngày 14-5-
1969, Tổng thống Ních-xơn đưa ra kế hoạch tám điểm với nội dung chính là việc rút
quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn, đồng thời tăng cường
chi viện cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”,
buộc nhân dân Việt Nam phải thương lượng dưới sức ép của bom đạn Mỹ.
Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến
tranh”, Thực hiện chủ trương của Đảng và lời chúc Tết năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và Di chúc thiêng
liêng của Người, quân dân miền Nam cùng với miền Bắc ra sức đẩy mạnh kháng chiến
chống Mỹ bằng những chiến thắng oanh liệt trên chiến trường miền Nam Việt Nam và
hai nước bạn Lào, Căm-pu-chia Thắng lợi trên chiến trường cùng với thiện chí của ta trên
bàn đàm phán đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Phong trào phản đối Mỹ leo thang, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam phát triển
mạnh mẽ trên thế giới nhất là phong trào phản chiến ngày càng lan rộng trên toàn nước
Mỹ.Trước làn sóng biểu tình mạnh mẽ ở Mỹ, nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới
cộng với sự thất bại nặng nề trên chiến trường và những đòn tấn công ngoại giao trên bàn
đàm phán, từ tháng 7-1970, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh rút quân dần ra khỏi miền Nam
Việt Nam.
Mỹ từng bước “xuống thang” chiến tranh, song ý đồ thực dân mới của chúng
không hề thay đổi. Ngày 18-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn cho máy bay chiến lược
B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, với tất cả lòng căm
thù, sự dũng cảm, ý chí và trí tuệ của Việt Nam và đã làm nên kỳ tích 12 ngày đêm “Điện
Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội. Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20,
chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri, các bên ký tắt ngày 23-1-
1973 và ký chính thức ngày 27-1-1973 “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa
bình ở Việt Nam”.
Điều này khẳng định sự thành công trong thực hiện nghệ thuật kết hợp đánh - đàm
của Đảng ta. Đấu tranh ngoại giao không chỉ khuyếch trương thắng lợi trên chiến trường,
củng cố niềm tin cho nhân dân và bạn bè quốc tế, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ
mà còn hỗ trợ, che chắn cho chiến trường trong những thời điểm khó khăn
Cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam là một Hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu
tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày). Đây thực sự là cuộc đấu trí vô cùng
gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, góp phần quan trọng vào chiến
thắng chung của toàn dân tộc. Đồng thời cũng là Hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả
nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh - đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong gần 5 năm triển khai cục diện đánh - đàm, ngoại giao trở thành một mặt trận có vai
trò chiến lược phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và chính trị, huy sức mạnh tổng
hợp của các mặt trận và kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh, từng bước tạo ra
thế, thời, lực, đánh bại tên đế quốc đầu sỏ Mỹ với tiềm lực kinh tế - quốc phòng hùng
mạnh nhất lúc bấy giờ, buộc chúng “tâm phục, khẩu phục” ngồi vào bàn đàm phán, ký
vào Hiệp định Pari

Preview text:

MỤC LỤC
1. GIAI ĐOẠN 1911-1930
A, Vì sao Đảng ra đời là một tất yếu (Vở ghi)
B, Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lại chọn con đường CMVS? (Trang 2-TL40)
C, Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là Cương lĩnh đúng
đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân văn? (C8,TLNM)
D, Nội dung cơ bản và ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên được hội nghị thành lập Đảng
(2/1930) thông qua? (TL bổ sung)
2. Giai đoạn 1930-1975
A, Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc (1930-1945)? (Trang 10, TL40)
B, Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo của chiến lượng CM trong thời kỳ 1939-1941 và sự chỉ
đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng nắm thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong CMT8 1945? (TLNM, C15)
C, Tính chất, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của cuộc CMT8 1945? (TL bổ sung)
D, Vì sao nói sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”? (TLBS)
E.0. Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiếnxây dựng chế độ mới (1945-1954) (TLNM, C3)
E, Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là kết của
của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính? (TL bổ sung)
E.2. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và
can thiệp Mỹ (1945-1954)? (TL60, tr20).
F, Vì sao đại hội III (1960) của Đảng được xem là đại hội hoàn chỉnh Đường lối chiến lược cách
mạng hai miền Nam – Bắc (TL40, tr19 + TLBS)
G, Nghệ thuật tạo bất ngờ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân (1968)? (C13, TLNM)
H, Hiệp định Paris (1973) là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ hội cho sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến của anh chị về nhận định trên?
3. GIAI ĐOẠN 1975- NAY
A, Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu? (C7- TLNM)
B, Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối ngoại theo hướng đa
phương hóa, đa dạng hóa
là một tất yếu? (C10-TLNM)
B.1. Vì sao phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư duy
lý luận, sự vận dụng sáng tạo của Đảng? (TL40-tr29)
C, Vì sao ĐCSVN phải thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại theo phương châm đa phương hóa,
đa dạng hóa
? Hãy đánh giá tác động của phương châm này đối với hoạt động đối ngoại của VN
trong thời kỳ đổi mới? (C23-TLNM)
D, Đánh giá về đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ đổi mới (C24-TLNM)
D, Trong đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.
Anh chị hiểu hội nhập quốc tế là như thế nào? Theo Anh/ Chị là sinh viên, cần phải làm gì để
chủ động hội nhập quốc tế?
F, So sánh đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới và sau đổi mới (31, TL40)
G, Trong nghị quyết TW 9 (2011), ĐCSVN đã đề ra quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững của đất nước”. Anh chị hãy nêu ý kiến về
quan điểm trên. (TL40, tr36 + Liên hệ C28, TLNM)?
L, Sự quan trọng của văn hóa với sự phát triển bền vững? (C9, TLNM)
H, Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp đổi mới CNH-HDH đất nước và hội nhập quốc tế. (TL40, tr38)
Lịch sử của Đảng từ năm 1930-1975
1. Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc lại chọn
con đường cách mạng vô sản Có hai nguyên nhân
**Nguyên nhân đầu tiên là căn cứ vào tình hình của nước ta
**Nguyên nhân thứ hai là dựa trên hoạt động thực tiễn của Bác Còn time thì ghi
2. Nội dung cơ bản và ý nghĩa của cương lĩnh chính trị đầu tiên được hội
nghị thành lập Đảng (2/1930) thông qua?
*Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên:
Về mục tiêu chiến lược : Về nhiệm vụ chủ yếu
Xác định lực lượng cách mạng
Phương pháp tiến hành cách mạng: võ trang bạo động Vai trò của Đảng
Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện xã hội và kinh tế:
Còn thời gian mới ghi đoạn sau đây (hoặc tùy đề)
Xác định tinh thần đoàn kết quốc tế:
*Ý nghĩa của cương lĩnh:
Có tầm quan trọng rất to lớn. Là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo lý luận
Mác- Leenin vào thực tiễn của đất nước. Giải đáp đúng yêu cầu phát triển của xã
hội Việt Nam, yêu cầu thực tiễn của cách mạng là xóa bỏ chế độ thuộc địa nửa
phong kiến phản động để thay vào đó là một chế độ tiến bộ hơn bằng việc tập trung
giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội là mâu thuẫn giữ dân tộc ta và đế quốc
Pháp, giữa nông dân với địa chủ phong kiến. Cương lĩnh đã đáp ứng được nguyện
vọng cơ bản của cả dân tộc là độc lập, dân chủ, hạnh phúc. Cương lĩnh đã phản ánh
đúng quy luật vận động khách quan của xã hội Việt Nam. Nó không giống đường
lối cách mạng dân chủ tư sản ở một nước độc lập hay một nước nửa thuộc địa.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng đã trả lời đúng những vấn đề cấp bách
mà phong trào cách mạng nước ta đặt ra. Nó là vũ khí sắc bén chống lại những tư
tưởng và hành động trái với chủ nghĩa Mác Lênin. Cương lĩnh là nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho đường lối mới của Đảng, dẫn đến thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Còn thời gian thì ghi thêm:
3. Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo là Cương lĩnh
đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính Nhân văn? Tính nhân văn:
4. Tính chất của cuộc cách mạng tháng 8, 1945 Ý nghĩa Kinh nghiệm Còn time thì ghi: Chương 2:
1. Vì sao nói Cách mạng tháng 8 năm 1945 Việt Nam rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” ?
Tình hình trước cách mạng tháng 8:
Trên thế giới: phong trào cách mạng thế giới bị đàn áp do các phe đế
quốc chủ nghĩa âm mưu “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”. Việt Nam
nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.
Tình hình trong nước: chính quyền cách mạng mới thiết lập còn non
trẻ, thiếu thốn. Hậu quả chế độ cũ để lại rất nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ
lụt, nạn đói năm 1945. Việt Nam có nguy cơ phải đối mặt với sự quay trở lại
của Pháp. Ở phía Bắ, quân đội của Tướng Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc)
tràn biên dưới kéo vào Việt Nam. Trước tình hình đó đã đặt nền độc lập và
chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “ngàn cân treo
sợi tóc” , cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt, và bọn thù trong, giặc ngoài.
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên họp đầu tiên dưới sự
chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ trước mắt là:
diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn quan trọng lúc
bấy giờ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung chỉ đạo, động viên
mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động như:
lập hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập... Chính phủ bãi
bõ các thứ thuế vô lý của chế độ cũ.
Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt
coi trọng. Chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ” toàn dân học
chữ quốc ngữ để xóa bỏ nạn dốt.
Khẩn trương xây dựng củng cố chính quyền cách mạng: Nhà nước ta
tổ chức cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thử phổ thông vào thành lập ra Chính phủ chính thức.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam bộ,
đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ:
Đêm 22, rạng ngày 23-9-1945, quân đội Pháp đã nổ súng gây hắn
đánh chiếm SG- Chợ lớn (Nam Bộ). Cuộc kháng chiến chống xâm lược của
nhân dân Nam Bộ bắt đầu. Nhân dân các tỉnh Nam Bộ đã nêu cao tinh thần
chiến đầu “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ” chống trả hành động xâm lược
của Pháp. Chính phủ, Hồ Chí Minh và nhân dân miền Bắc nhanh chóng
hưởng ứng kịp thời chi viện, chia lửa với đồng bào Nam Bộ kháng chiến.
Những ngày đầu, so sánh lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch, nhưng
với lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chúng ta đã ngăn chặn
được bước tiến của thực dân Pháp, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài sau này.
Để làm thất bại âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của
quân Tưởng và tay sai, Chính phủ Hồ Chí Minh đã chủ trương hòa hoãn ứng
xử mềm dẻo, “nhân nhượng có nguyên tắc” để tránh hoạt động khiêu khích,
gây xung đột vũ trang của quân Tưởng.
Đầu năm 1946, phe đế quốc đã giàn xếp để Chính phủ Pháp và Chính
phủ Trung Hoa dân quốc ký Hiệp ước Trùng Khánh, thỏa thuận để đưa quân
đội Pháp ra Bắc vĩ tuyến 16 làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thay thế
20 vạn quân tưởng. Đổi lại Pháp sẽ nhượng lại cho Tưởng nhiều quyền lợi
quan trọng ở TQ và Việt Nam. Đây thực chất là một hiệp ước bán rẻ lợi ích
dân tộc, chà đạp lên nền độc lập Việt Nam, hợp pháp hóa hành động xâm
lược của TD Pháp ra miền Bắc. Trước sự thay đổi nhanh chóng, phức tạp
của tình hình. Chính phủ Hồ Chí Minh đã chủ trương “dàn hòa với pháp”,
nhân nhượng về lợi ích kinh tế nhưng thừa nhận quyền dân tộc và tự quyết
của Việt Nam” để “tiêu diệt phản động bên trong, tay sai Tàu trắng, trừ
những hành động khiêu khích ly gián ta với Pháp”, thúc đẩy quân Tưởng về
nước để bớt đi một kẻ thù nguy hiểm. 6-3-1946, tại Hà Nội chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ký với đại diện
Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp Định sơ bộ. Hiệp định nêu rõ
công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện... ; Việt
Nam đồng ý để 15.000 pháp ra miền bắc thay thế 20 vạn quân đội Tưởng rút về nước.
Tuy nhiên thời hạn quân đội Tưởng phải rút về nước đã hết, nhưng
quân họ vẫn trì hoãn kéo dài. Nhưng quân tưởng vẫn trì hoãn kéo dài; các
thế lực thực dân hiếu chiến Pháp ở Hà Nội móc nối và cấu kết, ráo riết chuẩn
bị âm mưu lật độ Chính phủ Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo kiên quyết, sáng
suốt của Đảng và Chính phủ do cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền Chủ tịch
Chính phủ, chúng ta đã thành công phá tan được kế hoạch lật đổ chính phủ
Hồ Chí Minh do Trương Tử Anh, giữ vững chính quyền cách mạng.
Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của
Đảng, tinh thần quyết đoán, sáng tạo của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí
Minh trong đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong của những năm đầu chính
quyền non trẻ đã đem lại thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng: ngăn chặn
bước tiến của quân đội xâm lược Pháp ở Nam Bộ, vạch trần làm làm thất bại
âm mưu chống phá của kẻ thù, củng cố giữ vững bộ máy chính quyền; tạo
thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn để xây dựng lực lượng. Đề cao ý chí tự
cường, quyết tâm bảo vệ nền tự do độc lập.
2. Hãy chứng minh thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
(1946-1954) là kết của cuộc chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện,
lâu dài và dựa vào sức mình là chính”?
* Thứ nhất, kháng chiến toàn dân:
Xuất phát từ lí luận Mác- Lê Nin về vai trò quần chúng trong lịch sử
nói chung, lịch sử đấu tranh nói riêng. Theo lí luận chủ nghĩa Mác Lê Nin,
quần chúng là động lực phát triển của cách mạng, muốn giành thắng lợi phải
có đông đảo quần chúng tham gia, đo đó phải động viên toàn dân kháng chiến.
· Xuất phát từ truyền thống đoàn kết đấu tranh của dân tộc ta qua các
thời kì lịch sử. Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước và đấu tranh bất
khuất. Mặt khác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, có phát huy sức
mạnh toàn dân thì chúng ta mới có thể đánh địch toàn diện và lâu dài.
· Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và thực dân Pháp lúc này
quá chênh lệch. Nhân dân ta vừa giành được độc lập từ ta kẻ thù, đang đứng
trước muôn vàn khó khăn thử thách, trong đó có 3 thứ giặc phải đối phó:
giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Còn quân thù thì không ngừng tăng
cường lực lượng bao vây nhằm chống phá cách mạng. Vì vậy, muốn giành
thắng lợi chúng ta nhất thiết phải kháng chiến toàn dân, phát huy sức mạnh
toàn dân thì mới có khả năng đánh tan thực dân Pháp xâm lược.
* Thứ hai, kháng chiến toàn diện:
- Do địch đánh ta toàn diện nên ta phải chống lại toàn diện.
Xuất phát từ thực dân Pháp, chúng đánh ta trên tất cả các mặt: chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hoá, tư tưởng…. tương quan lực lượng không cân, vì
vậy chúng ta cũng phải đánh địch trên tất cả các mặt thì mới tạo nên chiến
thắng toàn diện, phát huy mọi sức mạnh tiềm năng của đất nước và buộc chúng phải khuất phục.
· Xuất phát từ nhiệm vụ kiến quốc cũng được tiến hành một cách toàn
diện vì vậy khi tiến hành kháng chiến chúng ta cũng phải đánh địch toàn
diện nhằm phát huy được sức mạnh nội lực của chính mình.
· Chống lại âm mưu chiến tranh toàn diện và lấy chiến tranh nuôi chiến
tranh của bọn thực dân Pháp
· Kháng chíên toàn diện là điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân vì
sẽ phát huy được sức mạnh toàn dân.
- Đồng thời ta vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tức là xây dựng chế độ mới
nên phải kháng chiến toàn diện.
* Thứ ba, kháng chiến trường kì:
- So sánh lực lượng lúc đầu giữa ta và địch chênh lệch, địch mạnh hơnta
nhiều về mọi mặt, ta chỉ hơn địch về tinh thần và chính nghĩa. Do đó ta phải
có thời gian để chuyển hóa lực lượng làm cho địch yếu dần, phát triển lực
lượng của ta, tiến lên đánh bại kẻ thù.
- Thông qua cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 và Chiến dịch
Việt Bắc thu - đông năm 1947 thấy rõ chủ trương đánh bại kế hoạch “Đánh
nhanh thắng nhanh”, buộc thực dân Pháp phải chuyển qua đánh lâu dài của Đảng ta.
* Thứ tư, kháng chiến tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế:
- Mặc dù rất coi trọng thuận lợi và sự giúp đỡ từ bên ngoài, nhưng vận mệnh
của dân tộc ta phải do nhân dân ta quyết định, phải dựa vào sức mạnh của ta,
sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ.
3. Tại sao nói Đại hội III (1960) của Đảng được xem là đại hội hoàn chỉnh
Đường lối chiến lược cách mạng của hai miền Nam – Bắc?
“Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi, chắc chắn rằng Đại hội
lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và
toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh
thực hiện hòa bình thống nhất ở nước nhà” (Hồ Chí Minh,1960)
4. Hiệp định Paris (1973) là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ hội cho sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ý kiến của anh chị về nhận định trên?
Những trang sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh
ngoại giao là một mặt trận quan trọng, gắn liền với vận mệnh dân tộc và luôn có mối
quan hệ hữu cơ với mặt trận quân sự, chính trị nhằm thúc đẩy, hỗ trợ lẫn nhau cùng thực
hiện mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Mối quan hệ đó được thể
hiện đậm nét: trên bàn đàm phán không thể giành thắng lợi nếu không có chiến thắng trên
chiến trường và những chiến thắng trên chiến trường sẽ không được khẳng định nếu
không có nghệ thuật giành thắng lợi trên bàn đàm phán. Hiệp định Pa-ri chính là kết quả
của sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao, thể hiện
đỉnh cao của nghệ thuật “vừa đánh, vừa đàm” do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Cuối năm 1965, với những thắng lợi liên tiếp của nhân dân ta ở hai miền đất
nước, Đảng ta đã tính đến kế hoạch đàm phán với Mỹ, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Song,
ngoại giao chỉ được mở màn và được coi là mặt trận sau Hội nghị lần thứ 13 (1-1967)
Ban chấp hành Trung ương. Và từ đây, Đảng ta mới thực sự triển khai kế hoạch và quyết
định đẩy mạnh đấu tranh quân sự trên cả hai miền, đồng thời đưa ngoại giao thành một
mặt trận quan trọng để mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
rõ: ngoại giao là rất quan trọng nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và mình
phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng
Cuối năm 1967, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: “Sau khi Mỹ chấm dứt
không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam, VNDCCH sẽ nói chuyện với Mỹ về
những vấn đề liên quan”. Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm, lập trường cũng như thiện
chí của Việt Nam trước sau như một, mong muốn giải quyết vấn đề Việt Nam bằng
phương pháp hoà bình, nếu Mỹ chấp nhận ngừng ném bom. Nhưng, chỉ đến khi cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 với những đòn “sấm sét” tiến công
liên tiếp đã làm thay đổi hẳn tình hình theo hướng có lợi cho ta và làm giảm uy thế, sức
mạnh quân sự và lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, Tổng thống Giôn-xơn mới tuyên bố
đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, không ra tranh cử Tổng
thống Mỹ nhiệm kỳ 2 và cử người đàm phán với đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pa-ri.
Thắng lợi quân sự đã mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao!
Ngày 18-1-1969, phiên họp đầu tiên của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam khai mạc tại
phòng họp của trung tâm Hội nghị quốc tế ở Pa-ri nước Pháp. Ngày 25-1-1969, Hội nghị
bốn bên chính thức khai mạc, trưởng đoàn của mặt trận dân chủ giải phóng miền Nnam
Trần Bửu Kiếm đã đưa ra lập trường năm điểm, thực chất là tuyên bố chính trị và bốn
tháng sau đưa ra giải pháp toàn bộ mười điểm về vấn đề miền Nam Việt Nam. Đây là giải
pháp hoàn chỉnh đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị bốn bên. Để đối phó lại, ngày 14-5-
1969, Tổng thống Ních-xơn đưa ra kế hoạch tám điểm với nội dung chính là việc rút
quân Mỹ với việc rút quân miền Bắc và giữ chính quyền Sài Gòn, đồng thời tăng cường
chi viện cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”,
buộc nhân dân Việt Nam phải thương lượng dưới sức ép của bom đạn Mỹ.
Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến
tranh”, Thực hiện chủ trương của Đảng và lời chúc Tết năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và Di chúc thiêng
liêng của Người, quân dân miền Nam cùng với miền Bắc ra sức đẩy mạnh kháng chiến
chống Mỹ bằng những chiến thắng oanh liệt trên chiến trường miền Nam Việt Nam và
hai nước bạn Lào, Căm-pu-chia Thắng lợi trên chiến trường cùng với thiện chí của ta trên
bàn đàm phán đã tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Phong trào phản đối Mỹ leo thang, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam phát triển
mạnh mẽ trên thế giới nhất là phong trào phản chiến ngày càng lan rộng trên toàn nước
Mỹ.Trước làn sóng biểu tình mạnh mẽ ở Mỹ, nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới
cộng với sự thất bại nặng nề trên chiến trường và những đòn tấn công ngoại giao trên bàn
đàm phán, từ tháng 7-1970, Tổng thống Ních-xơn ra lệnh rút quân dần ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Mỹ từng bước “xuống thang” chiến tranh, song ý đồ thực dân mới của chúng
không hề thay đổi. Ngày 18-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn cho máy bay chiến lược
B.52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Tuy nhiên, với tất cả lòng căm
thù, sự dũng cảm, ý chí và trí tuệ của Việt Nam và đã làm nên kỳ tích 12 ngày đêm “Điện
Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội. Mỹ buộc phải ngừng ném bom phía Bắc vĩ tuyến 20,
chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri, các bên ký tắt ngày 23-1-
1973 và ký chính thức ngày 27-1-1973 “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
Điều này khẳng định sự thành công trong thực hiện nghệ thuật kết hợp đánh - đàm
của Đảng ta. Đấu tranh ngoại giao không chỉ khuyếch trương thắng lợi trên chiến trường,
củng cố niềm tin cho nhân dân và bạn bè quốc tế, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ
mà còn hỗ trợ, che chắn cho chiến trường trong những thời điểm khó khăn
Cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam là một Hội nghị dài nhất trong lịch sử đấu
tranh ngoại giao thế giới (4 năm 8 tháng 14 ngày). Đây thực sự là cuộc đấu trí vô cùng
gay go, phức tạp, đầy kịch tính trên mặt trận ngoại giao, góp phần quan trọng vào chiến
thắng chung của toàn dân tộc. Đồng thời cũng là Hội nghị thể hiện rõ nét nhất, hiệu quả
nhất, thành công nhất của nghệ thuật kết hợp đánh - đàm dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong gần 5 năm triển khai cục diện đánh - đàm, ngoại giao trở thành một mặt trận có vai
trò chiến lược phối hợp chặt chẽ với đấu tranh quân sự và chính trị, huy sức mạnh tổng
hợp của các mặt trận và kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức đấu tranh, từng bước tạo ra
thế, thời, lực, đánh bại tên đế quốc đầu sỏ Mỹ với tiềm lực kinh tế - quốc phòng hùng
mạnh nhất lúc bấy giờ, buộc chúng “tâm phục, khẩu phục” ngồi vào bàn đàm phán, ký vào Hiệp định Pari