





Preview text:
TÀI LIỆU LỊCH SỬ ĐẢNG
1. Vì sao nói ĐCSVN ra đời là 1 tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của
ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời mở ra một bước ngoặt lớn cho cách mạng nước ta.
Với cương lĩnh đúng đắn, sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho mọi
thắng lợi của cách mạng nước ta, là nhân tố quyết định phương hướng phát triển và
đưa đến thắng lợi trong sự nghiệp giành độc lập, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng
Sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam thật sự trở thành một bộ phận khăng khít
của cách mạng thế giới.
Bối cảnh thế giới và những tác động của tình hình thế giới: CNTB đã chuyển từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (CNĐQ) tiến hành chiến tranh xâm
lược và áp bức các dân tộc thuộc địa (VN có tài nguyên phong phú, vị trí chiến lược
quan trọng nên là tầm ngắm của CNĐQ). Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và
CNĐQ ngày càng gay gắt, do đó vấn đề chống ĐQ giải phóng dân tộc là một vấn đề
cấp thiết và chỉ có Đảng của giai cấp vô sản mới thực hiện được sứ mệnh lịch sử này.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã làm biến đổi sâu sắc tình hình
thế giới (thắng lợi đã biến học thuyết Mác thành hiện thực), khẳng định vai trò lãnh
đạo của Đảng vô sản đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, là một tấm
gương sáng đối với các quốc gia bị bóc lột trong đó có VN, từ đó cổ vũ phong trào
đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế giới, mở ra một thời đại mới với
mô hình cách mạng mới là mô hình cách mạng vô sản. Chính vì những nguyên nhân
này đòi hỏi CMVN phải có Đảng Cộng Sản để lãnh đạo CMVN.
Tháng 3/1919 Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) thành lập đã tạo tiền đề và điều kiện cơ
bản thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới, tạo tiền đề quan trọng cho quá trình
thành lập Đảng cách mạng của VN. Bối cảnh trong nước:
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, năm 1884 VN trở thành thuộc địa của Pháp.
Chính sách bóc lột, cai trị của thực dân Pháp:
Về chính trị: Xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, thi hành chính sách cai trị
trực tiếp và chia để trị rất thâm độc (chia Việt Nam thành 3 miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Nam Kỳ cùng với Ai Lao và Cao Miên thiết lập Liên Bang Đông Dương của Pháp
nhằm mục đích tách Việt Nam ra khỏi bản đồ thế giới). Đàn áp đẫm máu các phong
trào yêu nước của nhân dân VN.
Về kinh tế: Tiến hành khai thác thuộc địa lần 1 và lần 2. Vơ vét tài nguyên, bóc lột
sức lao động, thuế khóa nặng nề.
Về văn hóa: Thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị (nhà tù nhiều hơn trường
học). Du nhập văn hóa đồi trụy, tuyên truyền tâm lý phục và sợ Pháp.
Khuyến khích tệ nạn xã hội như: dùng rượu cồn, thuốc phiện để đầu độc thế hệ trẻ.
Về xã hội: Tính chất xã hội VN thay đổi từ xã hội phong kiến độc lập sang xã hội
thuộc địa nửa phong kiến nên xã hội VN có sự phân hóa sâu sắc, xuất hiện nhiều giai
cấp mới (địa chủ, nông dân, tiểu tư sản, tư sản, công nhân) trong đó giai cấp công
nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng VN nhưng khi chưa có Đảng thì giai cấp này
không thể thực hiện sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc nên cần thiết phải có sự hình
thành Đảng Cộng Sản để đưa ra những đường lối đúng đắn giúp giai cấp này thực hiện sứ mệnh của mình.
Xã hội xuất hiện 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn dân tộc (mâu thuẫn giữa dân tộc
VN và TD Pháp) và mâu thuẫn giai cấp (mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ). Sự
khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn
cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam.
(Phần còn lại xem đề cương kia)
Tính sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên:
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc dự
thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930) gồm các văn
kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, và Lời kêu gọi
nhân dịp thành lập Đảng.
Tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể hiện qua những nội dung sau:
1. Cương lĩnh vạch rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai
đoạn: cách mạng tư sản dân quyền (về sau gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”).
Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách
mạng Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2. Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta: đánh đổ đế
quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng. Mục tiêu: Làm cho nước
Việt Nam độc lập, dựng lên chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông,
tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc và ruộng đất của bọn đế quốc, bọn phản cách
mạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa.
Như vậy, Cương lĩnh bao gồm nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống
phong kiến nhưng nổi bật là chống đế quốc và tay sai phản động, giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc.
Lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, đồng thời phải lôi kéo tiểu tư sản, trí
thức, trung nông về phe giai cấp vô sản, còn phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản Việt
Nam chưa lộ rõ bộ mặt phản động thì phải lợi dụng và làm cho họ trung lập.
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ tối đa lực lượng cách mạng, cô lập tối đa lực
lượng kẻ thù. Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của đảng, trên
cơ sở công - nông - trí liên minh.
3. Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết
định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng phải lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền
tảng tư tưởng; Đảng phải có trách nhiệm phục vụ đại bộ phận giai cấp công nhân, làm
cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng; phải thu phục đại đa số dân cày, dựa
vững vào dân cày. Đồng thời phải liên minh với các giai cấp và tầng lớp yêu nước
khác, đoàn kết, tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.
4. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng còn coi cách mạng nước ta là một bộ phận của cách
mạng vô sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị
áp bức và giai cấp công nhân thế giới.
Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh cách mạng giải
phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm
tính dân tộc và tính nhân văn với tư tưởng cốt lõi là Độc lập – Tự do cho dân tộc. Nội
dung con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là con đường cách mạng vô
sản, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lực lượng nòng cốt là công – nông, đồng thời
phải đoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc và phú nông,
dùng bạo lực cách mạng.
2. Vì sao sau CMT8 VN rơi vào cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”?
“Ngàn cân treo sợi tóc” là một câu thành ngữ cổ có nguyên gốc là “Nhất phát thiên
quân”. Thời cổ đại, “Quân” là đơn vị đo trọng lượng, bằng khoảng 30 cân ngày nay.
“Nhất phát thiên quân” nghĩa là một sợi tóc treo một vật nặng cả ngàn quân. Từ cách
nói này có thể hình dung ra tình cảnh cực kỳ nguy hiểm hoặc một tình thế vô cùng
nguy cấp. Sau cách mạng tháng tám năm 1945, câu thành ngữ “Ngàn cân treo sợi tóc”
đã được sử dụng để miêu tả tình thế của cách mạng Việt Nam cho thấy cách mạng
Việt Nam lúc bấy giờ đã lâm vào tình cảnh vô cùng cấp bách.
1. Về kinh tế, tài chính, văn hóa xã hội:
Kinh tế: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác,
tiêu điều, công nghiệp đình đốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ
hoang. Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói cuối năm
1944 đầu năm 1945 chưa được khắc phục. Lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mất mùa diễn ra
liên miên gây nhiều thiệt hại, 2 triệu người dân chết đói. Nhiều xí nghiệp còn nằm
trong tay tư bản Pháp. Các cơ sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất. Hàng
hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Tài chính: Tình hình tài chính vô cùng khó khăn.
Ngân sách Nhà nước trống rỗng, tài chính cạn kiệt, thuế không thu được, kho bạc
chỉ có 1,2 triệu đồng, trong đó quá nửa là tiền rách. Chính quyền cách mạng chưa
quản lý được Ngân hàng Đông Dương. Quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường
các loại tiền đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn.
Văn hóa xã hội: Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết
sức nặng nề. Do chính sách ngu dân của thực dân Pháp nên sau cách mạng nước ta có
95% dân số thất học, mù chữ. Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ
bạc, nghiện hút ngày đêm hoành hành.
2. Về chính trị, ngoại giao.
Do lợi ích cục bộ của mình các nước lớn (Anh, Mỹ, Liên Xô) không có nước nào
ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa. Bởi vậy chưa có nước nào công nhận và đạt quan hệ ngoại giao với
nước ta, nước ta bị cô lập với thế giới. Hệ thống chính quyền cách mạng vừa được
thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt. 3. Về quân sự.
Lực lượng quân đội chưa có đủ thời gian và điều kiện phát triển lực lượng vũ trang
và quân đội chính quy. Sau cách mạng tháng tám, lực lượng quân đội chính quy của ta
chỉ có khoảng năm nghìn người với vũ khí thô sơ. 4. Về kẻ thù.
Nền độc lập non trẻ của Việt Nam phải đương đầu với sự hiện diện của đội quân
nước ngoài đông đúc chưa từng có khoảng hơn 30 vạn tên cùng với các thế lực tay sai
phản động đi theo đội quân xâm lược. Các thế lực chống đối trong giai cấp bóc lột cũ
ngóc đầu dậy, các đối tượng phản cách mạng cũ, các loại tội phạm hình sự chống phá
cách mạng rất quyết liệt.
Quân đội các nước đế quốc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội
Nhật Bản, lũ lượt kéo vào Việt Nam.
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch hùng hổ
tràn qua biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa
quân đội Đồng minh và giải giáp quân đội Nhật thua trận ở Bắc Việt Nam. Chúng kéo
theo một lũ tay sai đông đúc với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ”.
Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp
trở lại xâm lược Việt Nam.
Ngoài ra, trên đất nước Việt Nam lúc này vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua
trận đang chờ giải giáp.
Tóm lại, sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam cùng lúc phải đối mặt với tất
cả những khó khăn được liệt kê phía trên đã đẩy tình hình đất nước đứng trước tình
thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Đảng Cộng sản cầm quyền đang phải đối mặt với những
thách thức nghiêm trọng, biến động phức tạp khôn lường.
3. Vì sao trong thời kỳ đổi mới, Đảng đặt vấn đề phát triển công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với Bảo vệ môi trường?
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và ngày càng nhanh chóng như hiện nay,
quốc gia nào muốn phát triển phải đi nhanh vào nền kinh tế tri thức và bảo vệ môi
trường. Bởi vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với bảo vệ môi trường là bước đi
tất yếu mà Việt Nam sẽ phải trải qua. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng đều đưa ra những chủ
trương, đường lối, chính sách thiết thực nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa gắn với bảo vệ môi trường hiện nay.
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương
pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học –
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Do yêu cầu phải xây
dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; rút ngắn khoảng cách tụt hậu về
kinh tế, kỹ thuật- công nghệ giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới; tạo
ra năng suất lao động xã hội cao, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Tác dụng to lớn và toàn diện của công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Tạo điều kiện để
phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động xã hội; tạo ra lực lượng sản
xuất mới, tăng cường vai trò của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối quan hệ
liên minh giữa công nhân- nông dân- trí thức; tạo tiền đề hình thành và phát triển nền
văn hóa mới; tạo cơ sở vật chất-kỹ thuật cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
(Phần còn lại xem đề cương kia)