LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
1. 1930-1939:
So sánh Luận cương Cương lĩnh (2 điểm khác LLCM NV). Tại sao ra đời Luận cương? (tr
225,226..)
Chủ trương của Đảng thời kỳ này
Tại sao khôi phục tổ chức? Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược?
2. 1939-1945: Nghệ thuật nắm bắt thời cơ -> Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. (phân tích chủ
trương phát động tổng khởi nghĩa của Đảng) (267)
Chủ trương của Đảng trong thời kỳ này là gì? (tr 263,
Cơ hội ngàn năm có 1 (265,266)
Bài học kinh nghiệm (280-282)
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt
Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực dân, phong kiến; thành lập nên Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn là bài học
về chớp thời cơ và vận dụng đúng thời cơ cách mạng.
Thứ nhất từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản bị thua to trên hầu
khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong thế chiến II, nên phải gửi công hàm cho các
nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt
thời cuộc kịp thời, Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại Tân Trào để
quyết định Tổng khởi nghĩa trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã
được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm một tin rất quan
trọng, đóphát xít Nhật đã bại trận chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh. Ngay lập tức, Trung ương
Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh
số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima của Nhật Bản, Hội
nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên
sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình s
chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó vì đồng chí Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng
đã nhận định nắm bắt được tình hình sự chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã chết gục theo
phát xít Đức; quân đội Nhật đã đang tan rã, bị tước khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng
minh sắp kéo vào Đông Dương.vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật,
1
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không
thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận sự thoái vị
của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng việc lực lượng cách mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời
cơ và vận dụng đúng thời cơ. Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến;
đồng thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để
mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn
Độc lậptuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức
ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trkhông tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng
minh tiến vào thì cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản.
vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ
Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng m thành công trên cả nước chính
nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động
đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám:
Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và 200
nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật; cũng lúc quân Nhật bại trận mất tinh
thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách
mạng. Chọn đúng thời một khoa học, một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được
nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ
máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh
tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ
động, chớp thời lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây sự vận dụng
sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo
chớp thời cơ, giành thắng lợi.
Hiện nay:
Thời gian qua, toàn cầu hóa xu hướng hội nhập quốc tế một diễn biến khách quan mang tính tất
yếu. Đảng ta đã biến nó thành hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi
dần văn hóa, thể thao… cho đến chính trị. Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp
quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của
nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để
thấy hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung đặc trưng bản, những việc cần thực hiện để
đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường, sự quản của Nhà nước, theo định
hướng XHCN thực chất xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội
2
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
Đảng VI (1986) ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới phát triển nền kinh tế theo
hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường con đường phát
triển kinh tế hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa hội. Đây cả một quá trình vừa đổi mớiduy
luận, nhất duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan kịp thời tổng kết thực tiễn đầy
sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị trường, sự quản của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa hội, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của hội; xây dựng nền dân
chủ hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc
quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường chúng ta lựa chọn đó
CNXH để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH con
đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng bản đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định
ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
- Do nhân dân làm chủ.
- nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển
toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn ý nghĩa
lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - hội, sự thay đổi bản toàn diện. Vị thế
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật
phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường một phạm trù kinh tế riêng,
tính độc lậpơng đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn của tồn tại đâubất kể
thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung
3
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
chung cho mọi giai đoạn phát triển, gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của hội những
nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển kinh tế thị trường
cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế
3. Thời kỳ kháng chiến kiến quốc:
-Hoàn cảnh nước VN sau CMT8 (288,289)
-Chủ trương xây dựng và bảo vệ chế độ DCND (1945-1946) (292)
Sau khi CMT8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ xây dựng
đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản và khó khăn thử thách.
Thuận lợi:
- Trên thế giới, CNXH đã tr thành hệ thống lớn mạnh do Liên đứng đầu, phong trào cách mạng giải
phóng dân tộc có điều kiện phát triển, phong trào dân chủ và hòa bình cũng vươn lên mạnh mẽ.
- Trong nước, chính quyền nhân dân được thành lập, hệ thống từ trung ương đến địa phương. Nhân dân
lao động đã làm chủ được đất nước.Lực lượng vũ trang được tăng cường. Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng
hòa được toàn dân tin tưởng và ủng hộ.
Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đó, chính quyền non trẻ đứng trước vô vàn những khó khăn và thử thách cần phải
vượt qua.
- Nền độc lập của chúng ta chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận.
- Thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt.
+ Ở Miền Bắc: Cuối tháng 8- 1945 theo thỏa thuận của phe Đồng Minh ở hội nghị Potsdam, trong tháng 9
1945, gần 20 vạn quân của chính phủ Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa quân Đồng Minh kéo vào miền
Mắc nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Quân Tưởng với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất
chỉ gây ra cho ta nhiều khó khăn về kinh tế, rối ren về chính trị.
+ Miền Nam: Quân Anh, quân Pháp đồng lõa với nhau đánh chiếm Sài Gòn hòng tách Miền Nam ra khỏi
Việt Nam
- Chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế do hậu quả của chế độ cũ để lại.
- Ngân sách nhà nước trống rỗng, nạn đói, nạn dốt, thiên tai.. khắp mọi nơi.Nền kinh tế bị trì trệ, lạc hậu,
ruộng đất bị bỏ hoang.
-Tệ nạn xã hội tràn lan, cướp của, giết người…
Chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng.
Trước tình hình mới, Trung ương đảng đã sáng suốt phân tích tình thế cách mạng thế giới, sức mạng
mới của Dân tộc để vạch ra chủ trương, giải pháp nhằm giữ vững chính quyền, bảo vệ độc lập. Ngày 25-11-
1945, Đảng ra chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch ra con đường đi lên của Cách mạng Việt Nam trong
giai đoạn mới.
Về chỉ đạo chiến lược: Đảng ta xác định mục tiêu cần nêu cao của cách Mạng Việt Nam lúc này vẫn
dân tộc giải phóng, khẩu hiệu lúc này Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” nhưng không phải giành
độc lập mà là giữ độc lập.
Về xác định kẻ thù: Đảng phân tích âm mưu của các nước Đế quốc đối với Đông Dương chỉ Kẻ
thù chính của chúng t a là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Vì vậy
4
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
phải lập “Mặt trận dân tộc thống nhất chống Thực dân Pháp xâm lược”, mở rộng mặt trận Việt Minh
nhằm thu hút mọi tầng lớp của nhân dân.
Về phương hướng nhiệm vụ: Đảng nêu ra 4 nhiệm vụ chủ yếu cấp bách cần khẩn trương thực hiện
Củng cố chính quyền, Chống thực dân Pháp xâm lược, Bài trừ nội phản Cải thiện đời sống nhân
dân”. Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa- Việt thân thiện”
đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và “Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp.
Ngoài ra Đảng còn đề ra các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ trên:
Về chính trị hội: Tổ chức bầu cử quốc hội, lập ra hiến pháp, bộ máy chính quyền hoàn thiện từ
trung ương đến địa phương. Các đoàn thể như Mặt Trận Việt Minh, Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt
Nam, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam…được xây dựng và mở rộng.
Về quân sự: Động viên lực lượng toàn dân kiên trì kháng chiến và tổ chức lãnh đạo kháng chiến lâu dài.
Về kinh tế: Phát động phong trào tăng gia sản xuất, xóa bỏ các thứ thuế, khôi phục lại các nhà máy.
Về ngoại giao: phải kiên trì nguyên tắc bình đẳng, tương trợ, thêm bạn, bớt thù” trong quan hệ với các
nước.
Bài học có thể áp dụng:
Thứ nhất, bài học đề cao thế hợp pháp và sức mạnh của chính quyền cách mạng.
Tháng 8 năm 1945, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đi vào giai đoạn kết thúc, tình hình thế giới thay đổi
với nhịp độ cực kỳ nhanh chóng. Nhờ dự đoán đúng tình hình thế giới và trong nước, khi biết Nhật Bản sắp
đầu hàng Đồng minh Việt Nam quân Nhật hoang mang cực độ. vậy, Đảng chủ trương phải giành
được chính quyền tuyên bố độc lập trước khi quân đồng minh vào; đề cao vị trí của Việt nam Dân chủ
Cộng hòa, giành thế hợp pháp cho chính quyền mới, tranh thủ sự công nhận của quốc tế để tạo thuận lợi cho
việc giao dịch với đồng minh.
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân thế giới. Lúc này quân
Trung Hoa Dân quốc đã xuống sát biên giới, sắp vào Việt Nam. Còn quân Anh - Ấn thì đến ngày 6/9/1945
mới đổ bộ vào Sài Gòn. Như vậy, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trái với mọi dự tính dàn xếp
của các nước lớn.
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức thành công, ngày
6/3/1946 ta ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ sức mạnh đoàn kết của
cả dân tộc, ta đã thành lập được một Chính phủ hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến, đại diện cho toàn thể nhân
dân Việt Nam thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.
Ngày 3/10/1945, một tháng sau khi tuyên bố độc lập, Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời ra Thông cáo về
chính sách ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho nền độc lập hoàn
toàn và vĩnh viễn của Việt Nam, hợp tác thân thiện với các nước đồng minh các dân tộc láng giềng, đồng
thời kiên quyết chống thực dân Pháp gây ra chiến tranh xâm lược.
Trong mấy tháng cuối năm 1945 đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhiều lần gửi thư, công hàm đến
các nước lớn Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông báo về sự ra
đời khẳng định tính hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tố cáo Pháp trở lại xâm ợc
Đông Dương.
thể nói, những sách lược ngoại giao nêu trên đã góp phần đề cao thế hợp pháp sức mạnh của chính
quyền cách mạng để đương đầu với các thế lực hung hãn, tạo khả năng thêm bạn bớt thù, tạo thuận lợi cho
các hoạt động của chính quyền cách mạng non trẻ.
Trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình trong nước thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, Đảng Nhà
nước ta đã vận dụng bài học này việc đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhằm tiếp tục nâng cao vị thế của
Việt Nam, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Điều này
được thể hiện nét thông qua việc từ chỗ bị bao vây về kinh tế, lập về chính trị, đến nay Việt Nam
5
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước, quan hệ kinh tế - thương mại đầu với trên 220 quốc gia vùng
lãnh thổ; quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn các trung tâm kinh tế-chính trị hàng
đầu, các nước bạn truyền thống đối tác tiềm năng ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, ổn định, bền
vững hơn. Với việc nâng cao vị thế đó trước hết giúp cho Đảng Nhà nước ta chống lại các thế lực thù
địch đã đang liên tục chống phá cách mạng nước ta hết sức tinh vi quyết liệt. Mặt khác, nâng cao vị
thế còn tạo uy tín cho Việt Nam trên trường quốc tế, điều này được thể hiện thông qua việc Việt Nam đã
chính thức trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc sau khi đạt số phiếu
gần như tuyệt đối (183/190) vào năm 2007. Đối với các nước trong khu vực, Việt Nam còn có vai trò, vị trí
hết sức quan trọng trong tổ chức ASEAN.
Để tiếp tục phát huy thành quả đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định một trong ba mục tiêu
đối ngoại hội nhập kinh tế trong thời gian tới của Việt Nam là: “nâng cao vị thế, uy tín của đất nước
góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Thứ hai, bài học biết phân hóa kẻ thù
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, một thách thức nghiêm trọng đối với cách mạng Việt Nam trong
thời điểm này đối phó cùng một lúc với nhiều thế lực quân sự đối địch các nước lớn mặt tại Việt
Nam.
miền Bắc, gần 200.000 quân Tưởng vào Việt nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật từ tuyến 16
trở ra, mang theo các nhóm người Việt sống lưu vong Trung Quốc. phía Nam, 26.000 quân Anh - Ấn
vào giải giáp quân đội Nhật. Thời gian này, ở nước ta còn có khoảng 60.000 quân Nhật đang chờ giải giáp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này với nhau và có sách lược phù hợp
với từng đối tượng.
Đối với Trung Hoa Dân quốc: Để hiệu hóa mặt tiêu cực chống lại chủ trương Hoa quân nhập Việt,
diệt cộng cầm Hồ mà lực lượng của Tưởng đề ra khi vào Việt nam, chính quyền cách mạng đã nêu khẩu hiệu
Hoa - Việt thân thiện thực hiện hòa hoãn với sách lược mềm mỏng bình tĩnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn gửi thư điện cho Tưởng Giới Thạch khẳng định tình hữu nghị quan hệ lịch sử, văn hóa truyền thống
lâu đời giữa hai nước; triển khai nhiều hoạt động tăng cường hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, nhắc nhở
các địa phương thực hiện đúng Hoa - Việt thân thiện, bảo vệ Hoa kiều, ngăn ngừa âm mưu ly gián người
Việt và người Hoa...
Khi phía Trung Hoa Dân quốc thấy không thể gây chuyện lật đổ chính quyền cách mạng của ta, họ chuyển
chính sách thúc đẩy các nhóm tay sai vu cáo, quấy phá, đòi Hồ Chí Minh từ chức, đòi giải tán chính
quyền...
Ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán rút vào hoạt động mật. Ngày
2/3/1946, trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, ta đồng ý cho tay sai của Trung Hoa Dân quốc một
số chức vụ như Phó Chủ tịch, Bộ trưởng kinh tế và 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử...
Những sách lược khéo léo đúng đắn trên nước cờ cao tay, xoa dịu sự chống đối của Trung Hoa Dân
quốc tay sai, góp phần ngăn chặn được nhiều âm mưu phá hoại lật đổ của chúng, nhưng vẫn bảo đảm
nguyên tắc giữ vững chính quyền trong tay.
Đối với Pháp: Trong khi thực hiện chính sách hòa hoãn với Trung Hoa Dân quốc, Trung ương Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh sớm dự đoán thực dân Pháp vẫn có khả năng vừa mở rộng chiếm đóng khu vực phía Nam,
vừa đưa quân ra Bắc thông qua một thỏa hiệp thay quân với Tưởng Giới Thạch.
Ngày 28/2/1946, tại Trùng Khánh, Hiệp ước Hoa Pháp được kết. Theo Hiệp ước này, Trung Hoa Dân
quốc đồng ý cho quân đội Pháp vào Bắc Đông Dương thay thế quân Trung Hoa Dân quốc dưới danh nghĩa
giải giáp quân Nhật. Đổi lại Pháp phải nhân nhượng cho Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi về kinh tế.
Như vậy, đây lần thứ hai sau thỏa thuận Postdam, Việt Nam lại phải đương đầu với một giải pháp do các
nước lớn áp đặt.
6
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
Nhờ nhãn quan chính trị sáng suốt và sự nhạy bén trước chuyển biến mau lẹ của tình hình, vào thời điểm khi
cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc đều cần phía Việt Nam thỏa thuận với Pháp về một giải pháp mà hai bên
thể chấp nhận được để tránh cuộc xung đột mở rộng, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng kịp thời
nắm bắt khoảnh khắc lịch sử, ký bản Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 theo những điều kiện có lợi nhất có thể được
đối với Việt Nam, để nhanh chóng đẩy 20 vạn quận Trung Hoa Dân quốc tay sai của chúng ra khỏi nước
ta, chuẩn bị thực lực cho một cuộc chiến đấu mới mà ta biết không thể nào tránh khỏi.
thể nói với sự phân định về “bạn thù” trong thời kỳ trước đây chính sở cho Đảng ta định hình
quan điểm “đối tác, đối tượng” trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập
quốc tế.
Nghị quyết 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về Chiến lược bảo vê Œ Tổ quốc trong
tình hình mới đã xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nôŒi dung, giải pháp để thực hiê Œn;
trong đó, viê Œc xác định đối tác, đối tượng được đă Œc biê Œt coi trọng. Đảng ta đã xác định: Những ai tôn trọng
độc lập chủ quyền, thiết lập mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều
đối tác; bất kỳ thế lực nào âm mưu hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Như vậy, Đảng ta đã chỉ ra các dấu hiệu cơ bản quan
trọng để nhận thức đâu “đối tác” thể mở rộng quan hệ hợp tác, đâu “đối tượng” cần kiên quyết đấu
tranh. Và khi đã nhận thức về “đối tác và đối tượng” trong cùng một chủ thể thì phải lấy mục tiêu “xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” làm tiêu chuẩn để quyết định mức độ quan hệ hợp
tác. Nghĩa là, trong khi mở rộng quan hệ hợp tác với “đối tác” cần nêu cao tinh thần cảnh giác phát hiện các
mâu thuẫn thể nảy sinh để kịp thời đấu tranh. Đồng thời, trong đấu tranh với “đối tượng” không có nghĩa
phân tuyến đối đầu cần tranh thủ mọi hội tìm hiểu, tạo lòng tin để đi đến “tôn trọng độc lập, chủ
quyền” của nhau mà mở rộng hợp tác bình đẳng cùng có lợi.
Với sự kế thừa những giá trị của Đảng trong hoạt động đối ngoại đó đã giúp cho Việt namnhiều
chủ trương, chính sách đúng đắn để “thêm bạn, bớt thù”, tăng cường sự hợp tác hữu nghị với các nước.
Đồng thời, tranh thủ khai thác, phát huy được các Œt tích cực của các đối tác để phát triển kinh tế - xã hô Œi,
hạn chế được những Œt tiêu cực của đối tượng, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị, trâ Œt tự, an toàn
Œi, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng bảo Œ Tổ quốc. Đến năm 2016, Việt Nam quan hệ đối tác
chiến lược với 15 nước; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược theo ngành với 2 nước; xác lập quan hệ đối tác
toàn diện với 10 nước; trở thành nước duy nhất tại Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến
lược đối tác toàn diện với tất cả 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc các
nước lớn; quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác
chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác như châu Phi, Mỹ La-tinh…
Ngoài các đối tác nêu trên, Việt Nam cũng đã nhận ra các đối tượng cụ thể hiện nay của nước ta như: Đối
tượng âm mưu lật đổ chế độ XHCN; đốiợng tham vọng về chủ quyền lãnh thổ; đối tượng do bị tác
động của “DBHB” dẫn đến “tự chuyển hóa” có thể gây ra “biến động chính trị”, hoặc tự giác trở thành đồng
minh của đối tượng có âm mưu lật đổ chế độ ta; đối tượng gây thảm họa thiên tai, môi trường có thể dẫn đến
khủng hoảng kinh tế, chính trị - hội, tạo hội để các đối tượng khác lợi dụng khoét sâu, thực hiện mục
tiêu chiến lược của họ…
Thứ ba, nhân nhượng đúng lúc, nhân nhượng có giới hạn, nhân nhượng có nguyên tắc
Ngày 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế,
chính trị, văn hóa đặc biệt vấn đề an ninh quốc phòng. Đứng trước tình hình đó, về mặt ngoại giao
Đảng Chính phủ đã thực hiện chính sách nhân nhượng, hòa hoãn tạm thời, nhưng vẫn bảo đảm nguyên
tắc độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc.
Thời gian đầu, trong điều kiện thực lực của chúng ta còn hạn chế, Đảng Chính phủ đã phải chấp nhận
những điều kiện để thực hiện sách lược hòa với Trung Hoa Dân quốc, tập trung chống thực dân Pháp xâm
7
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
lược nhưng vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc như: Chính phủ ta chấp nhận tiêu tiền Quan kim, Quốc
tệ đã mất giá của chúng; cung cấp lương thực thực phẩm cho chúng; nhượng cho tay sai của Trung Hoa Dân
quốc 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử, bởi ta biết rằng với số phiếu 70, Trung Hoa Dân quốc vẫn
không thể áp đặt được Chính quyền cách mạng.
Khi giữa Trung Hoa Dân quốc Pháp với nhau bản Hiệp ước thay quân, ta đã quyết định với Pháp
Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), đồng ý cho Pháp đưa quân ra miền Bắc thay Trung Hoa Dân quốc, tuy nhiên ta
giới hạn số quân Pháp là 15.000 người, và số quân đó phải rút hết về nước trong 5 năm.
Trong quá trình đàm phán, vấn đề gay cấn nhất là việc ta đòi Pháp công nhận Việt Nam một quốc gia độc
lập, Pháp chỉ công nhận Việt Nam tự trị, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quy chế quốc gia tự do.
Tự do – chưa phải là độc lập nhưng là một nước có chủ quyền.
Sau Hiệp định Sơ bộ, ta và Pháp mở Hội nghị trù bị Đà Lạt, Hội nghị chính thức ở Fontainebleau, tuy nhiên,
do phía Pháp ngoan cố giữ lập trường thực dân hiếu chiến, muốn tái lập lại chế độ thuộc địa trên toàn Đông
Dương, nên các Hội nghị đều đi đến thất bại. để thêm một khoảng thời gian hòa hoãn nữa, ta quyết
định ký với Pháp Tạm ước 14/9/1946, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa để
ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng. Đảng Cộng sản Đông Dương nhận định: Tạm ước 14/9 là một bước
nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng nữa phạm đến chủ quyền của nước, hại quyền lợi cao trọng của
dân tộc.
Với Hiệp định bộ Tạm ước 14/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh Chính phủ ta đã đi những nước cờ mạnh
bạo, sắc sảo, trước tiên thể hiện thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam đến nhân dân thế giới, đặc biệt
đến nhân dân Pháp, góp phần tạo một phong trào phản chiến của nhân dân Pháp chống chiến tranh xâm
lược. Việc ký kết các thỏa thuận này là đỉnh cao của nghệ thuật nhân nhượng có nguyên tắc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực trên biển Đông có nhiều biến đổi khônờng khiến
nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển ở Việt Nam trở thành nhiệm vụ khó khăn với
nhiều thách thức. Từ bài học lịch sử trên, Đảng Nhà nước ta đã sự kế thừa vận dụng sáng tạo vào
hoạt động đối ngoại trong thời kỳ mới.
Dân tộc ta vốn đã từng hy sinh, tổn thất quá nhiều trong chiến tranh nên hơn ai hết chúng ta rất yêu chuộng
hòa bình. vậy, Đảng Nhà nước ta luôn chủ trương giải quyết mọi vấn đề bằng con đường hòa bình,
thương thảo, hữu nghị, pháp lý chứ không bao giờ nhân nhượng, đặc biệt trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ.
Với chủ trương trên trong thời gian vừa qua, khi Trung Quốc công bố “đường lưỡi bò chín khúc”, gây ra các
vụ tranh chấp trên Biển Đông với các nước trong đó có Việt Nam. Đặc biệt tháng 5/2014, Trung Quốc đã hạ
đặtt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của Việt Nam, sau
đó còn liên tiếp gây khó khăn cho ngư dân của ta trong việc đánh bắt xa bờ. Trước tình hình đó Đảng và Nhà
nước ta có những chủ trương khéo léo nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo như: kiên quyết yêu cầu Trung Quốc
di chuyển giàn khoan các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam; tuyên truyền để nhân dân
Chính phủ các nước hiểu hơn về chủ quyền của Việt Nam; kêu gọi nghị viện các nước lên tiếng, trước hết
phải tuân thủ luật pháp Quốc tế, đặc biệt là Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc là một thành viên cũng phải
tuân thủ; cung cấp tài liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp
thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế.
Lịch sử 86 năm ra đời phát triển của Đảng ta cho thấy, càng trong những thời điểm khó khăn, phức
tạp thì bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, năng lực lãnh đạo của Đảng càng được khẳng định. Với việc phát huy
những bài học kinh nghiệm từ sách lược ngoại giao thời kỳ 1945-1946 trong giai đoạn hiện nay chính là một
trong những yếu tố quan trọng đem đến sự thành công về mặt đối ngoại của Đảng. Chúng ta tin tưởng rằng,
bài học thành công về mặt ngoại giao của Đảng trong giai đoạn 1945-1946 sẽ tiếp tục được phát huy trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
8
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
4. Đường lối kháng chiến chống Pháp
s để định ra đường lối kng chiến chống Pháp xâm lược. chiến chống Pp chúng ta
đánh Pháp khi nào, trước 6/3/1946 cng ta đánh Pháp sau đó chúng ta hòa, hòa đến thi đim
toàn quốc kng chiến chống Pháp ng nổ=> có đường lối kháng chiến chống pp, phân tích ra
c định cái gì, mục tiêu, phương ớng, pơng châm chiến lược. pn tích căn cứ vào lí luận,
căn cứ o thực tiễn. Đường lối kháng chiến chống pháp đã ng dụng o gì, cho kết quả gì=>
Điện Bn Ph
Đường lối kng chiến chống thực dân Pháp can thiệp Mỹ được đ ra ngay từ đầu cuộc kng chiến
không ngừng được bổ sung hn chỉnh trong quá trình tiến nh kháng chiến. Đường lối kháng chiến
chống Pp của Đảng ta được thể hiện trong các tài liệu: Chỉ th Toàn dân kháng chiến của Ban
Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946); lời kêu gọi toàn quốc kng chiến của Hồ C Minh
(19/12/1946) c phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng thư Trường Chinh (9/1947). Giữa
m 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết một loạt bài báo nhằm ớng dẫn việc thực hiện đường lối
của Đảng, những bài viết này được tập hợp thành cuốn sách Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
c phẩm Tờng k kháng chiến nhất định thắng lợi đã th hiện những quan điểm cơ bản về đường lối
kháng chiến của Đảng, đó đưòng lối: "tn dân, toàn diện, u i và dựa vào sức mình chính” đưa
cuộc kháng chiến của nhân n ta đi đến thắng lợi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng
2-1951) tổng kết 5 năm kháng chiến đã b sung phát triển đường lối kng chiến khi kháng chiến đã
phá thế bị bao vây đế quốc Mỹ can thiệp u vào cuộc chiến tranh Đông ơng. Về bản, đường lối
chung của cuộc kng chiến tập trung một số nội dung:
Về mục đích kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp M skế thừa phát
triển tnh quCách mạng Tháng Tám nhằm đánh đổ thực n Pp xâm ợc, giành thống nhất, độc lập
an toàn.
Tính chất của cuộc kng chiến: Đang khẳng định đây cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân,
chiến tranh chính nga, nó nh chất toàn dân, toàn diện, u dài.Là cuộc chiến tự do, độc lập, dân
ch hòa hình có nh chất dân tộc giải phóng và n ch mới. Đảng chủ trương liên hiệp với dân tộc
Pháp, đoàn kết với Miên, o và các dân tộc yêu chuộng tự do. hoà bình.
Chương trình nhiệm vụ kng chiến: Đảng Chủ tịch H Chí Minh trên cơ sở c định đối tượng
của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc thế lực phong kiến, đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thII của Đảng (tháng 2-1951) đã chỉ kt cụ thể trước mắt của ch mạng Việt Nam đế
quốc Pháp, kthù nguy hiểm dế quốc Mỹ, k t phụ c thế lực phong kiến. Lúc y phong kiến
phản động, t đó đ ra nhiệm v bản của cách mạng Việt Nam: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm c làm
cho Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập. - X bnhững di ch phong kiến và nửa phong kiến làm
cho người cày ruộng, phát triển chế độ dân chủ nn n.
- y cơ scho chủ nghĩa xã hội.
9
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
Động lực của cách mạng Việt Nam nn dân, chủ yếu công, nông. Lãnh đạo ch mạng Việt Nam là
giai cấp công nhân. Nôngn bạn đồng minh "lớn mạnh chắc chắn" của giai cấp công nhân.
Phương châm kháng chiến: Đảng chủ trương tiến nh chiến tranh nhân dân, thực hiện "kháng chiến toàn
n, toàn diện, lâu dài dựa o sứcnh là chính".
Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất là chiến lược tn dân
kháng chiến. Đảng t chức c nước tnh một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc, phát huy sức
mạnh của toàn dân và khối đn kết tn n tộc tham gia kháng chiến với những biện pháp đa dạng
phong phú, phù hợp. Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân: b đội chủ lực, bộ đội địa
phương dân quân du kích. Từ chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp du kích
chiến với vận động chiến.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến, Đảng ch trương kng chiến toàn diện,
tức tiến hành tiến công địch trên tất c các mặt cnh trị, quân sự, kinh tế, n hoá, ngoại giao tạo
thành sức mạnh tổng hợp.
+ Về chính trị, phải đn kết toàn dân chống Pp xâm lược, phải thống nhất toàn n, m cho
mặt trận dân tộc thống nhất ngàyng vững chắc và rộng rãi.
Phải củng c chế đ cộng hoà dân chủ, xây đựng bộ y kháng chiến vững mạnh, cô lập k thù,
o thêm nhiều bạn, m cho nhân dân Pháp nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hta, chống lại
thực dân phản động Pháp. Coi trọng xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước và Mặt trận dân tộc
thống nhất vững mạnh. Thống nhất Việt Minh, Liên Việt tnh mặt trận Liên Việt (1951).
+ V quân sự, triệt đ dùng "du kích vận động chiến", tiến công địch khắp i, vừa đánh địch
vừa xây dựng lực lượng; tản cư nhân n ra xa vùng chiến sự. Xây dựng n cứ địa kng chiến hậu
phương vững mạnh. Chủ động làm thất bại c kế hoạch chiến tranh lớn của dịch, phối hợp chặt chẽ c
chiến trường với sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất.
+ Vkinh tế, xây dựng nền kinh tế kháng chiến theo nguyên tắc vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
toàn dân tăng gia sản xuất, t túc tự cấp về mọi mặt; ra sức p kinh tế địch không cho chúng thực hiện
u đ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Kinh tế kháng chiến về hình thức là kinh tế chiến tranh, về nội
dung n ch mi, c trọng pt triển ng nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp công nghiệp.
Phát triển các thành phần kinh tế, từng ớc thực hiện chính sách ruộng đất đối với nông dân (giảm
cải ch ruộng dất). Phái triển kinh tế quốc doanh, gây mầm cho chủ nghĩa xã hội.
+ Vvăn hoá, thực hiện hai nhiệm vụ: xoá bỏ nền văn h nô dịch ngu dân, xâm lược của thực
n Pháp và y dựng nền n h dân ch mới, dựa trên ba ngun tc: n tộc hoá, khoa học hoá, đại
chúng h. Pt triển giáo dục, đào tạo các bậc phổ thong trung học chuyên nghiệp và đại học. Tiến nh
cải cách go dục. Phát triển văn học, nghệ thut, coi văn nghệ là một mặt trận văn nghệ sĩ chiến
trên mặt trận này.
10
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
+ Về đấu tranh ngoại giao, triệt để cô lập kẻ thù, tranh th tm nhiều bầu bạn, làm cho nn dân
thế giới k c nn dân Pháp hiểu, tán thành ủng h cuộc kng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam. Tranh thủ sự ủng h giúp đỡ về mọi mặt trận c nước xã hội chủ nghĩa nhất là Ln Xô, Trung
Quốc.
Kháng chiến lâu dài: Xuất pt từ sự so sánh lực ợng, ban đầu địch mạnh, ta yếu nên Đảng chủ
trương đánh lâu dài. Vừa đánh vừa xây dựng pt triển lực lượng, đồng thi tích cực tiêu hao, tu diệt
địch để so sánh lực lượng s dần lợi cho và ta s chuyển t yếu tnh mạnh, tiến tới đánh thắng t.
Song, Đảng khẳng định đánh u i nhưng phải tạo thế chủ động phát triển thế lực, tạo thi cơ giành
thắng lợi quyết định.
Dựa vào sức nh chính: là dựa vào sức lực của nn dân, vào đường lối đúng đắn của Đảng,
o các điều kiện thiên thời, đa lợi, nhân hoà của đất nước, đồng thời ra sc tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ và giúp đỡ quốc tế đchiến thắng kẻ t.
Đường lối kng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân. Đó ngọn c cổ , dẫn dắt
cả dân tộc Việt Nam đứng n đứng lên kng chiến, xut phát điểm cho mọi thắng li của cuộc chiến.
Với đường lối kng chiến đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp can
thiệp Mỹ ny càng pt trin giành thắng lợi v vang. S nh đạo của Đảng đượcng ờng, Nhà
ớc dân ch nhân n ngày ng vững mạnh, mặt trận Việt Minh, Liên Vit và c đn th cách mạng
đã tập hợp rộng rãi khối đại đoàn kết n tộc. Kinh tế, văn a, giáo dục phát triển có nhiều tnh
ng. Ngoại giao từng ớc phá thế bị bao vây, tranh thủ được s ng hộ mọi mặt của bạn trên thế
giới. Đặc biệt, trên mặt trận quân sự, quân đội nhân dân Vit Nam đẫ lầnợt đánh bại c kế hoạch
chiến tranh lớn của thc dân Pháp,buộc thực n Pp ký Hiệp định Gnevơ, chấm đứt chiến tranh, rút
quân Pháp v nước. Miền Bắc hoàn tn giải phóng, tiến lên ch nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc
ch mạng n tộc dân chnhân n mục tu giành độc lập, thắng lợi hn toàn.
5. Đường lối 54-59 : Nghị quyết Trung Ương 15
-Chống Mỹ: VN sau 7/1954, bối cảnh Bắc- Nam ntn? (334)
=> Tại sao Nghị quyết TƯ lại ra đời lúc này mà không phải sớm hơn hay muộn hơn? (336)
6. 1960-1975
Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến (xét cả 2 bên)
Đại hội III: nguyên nhân, tính chất, đặc điểm (ĐH nêu 3 lý do, sau ĐH tình hình chuyển biến ntn) (340
1963- > diễn ra ác liệt nhất ( Diên Hồng)
Nguyên nhân ra đời Nghị quyết TƯ lần thứ 11, 12 khóa 3. Kiến tạo xây dựng đất nước
Thời kì đổi mới/ Đường lối có từ khi nào? (ra đời trong thời điểm nào) chđi qua một ct.
Thắng lợi kháng chiến sk có tầm c quốc tế và tính thời đại sâu sắc.
Tại sao Đại hội III (1960) của Đảng được xem đại hội hoàn chỉnh Đường lối chiến lược cách
mạng hai miền Nam - Bắc? Vì trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đại hội
lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà".
11
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Duẩn trình
bày, thảo luận thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua
Nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất (1961 - 1965).
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nghị quyết do Đại hội thông qua về
nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới gồm những vấn để lớn sau:
*Về đường lối cách mạng chung trong cả nước:
Căn cứ vào tình hình đặc điểm nước ta, Đại hội đã xác định cách mạng Việt Nam bước vào giai
đoạn mới cùng lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau: chiến lược cách mạnghội chủ nghĩa
miền Bắc chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam. Hai chiến lược đó mối quan
hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau. Mỗi chiến lược cách mạng ở mỗi miền của đất nước
có vị trí và trách nhiệm riêng trong mục tiêu chung là hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Miền Bắc sau khi hoàn toàn giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng chung của cả nước. Tiến
lên xây dựng chủ nghĩa hội, miền Bắc được tăng cường về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu
tranh cách mạng ở miền Nam, bảo đảm sự phát triển của cách mạng trong cả nước.
Vì vậy, "cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát
triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta". Trong sự
nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc , dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà,
cách mạng miền Nam "có tác dụng quyết định trực tiếp đối vời s nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai".
Trong khi giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, cả hai chiến lược cách mạng ở hai miền đều nhằm
giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của
chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Từ những nhiệm vụ trên đây, Đại hội vạch ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong thời ký
mới là: ''Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội
chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân lộc dân chủ nhân dân miền Nam, thực hiện
thống nhất nước nhà trên sở độc lập dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe hội chủ nghĩabảo vệ hòa bình Đông
Nam Á và thế giới".
*Về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện thống nhất
nước nhà:
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc
và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Đại hội đề ra "Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Namđoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu
tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài N Đình Diệm tay sai
của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ miền Nam. thực hiện độc lập dân
tộc, các quyền tự do dân chu cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập và dân dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới". Cuộc
đấu tranh cách mạng nhằm thực hiện thống nhất nước nhà nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước.
Đó là quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai
của chúng ở miền Nam.
*Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:
Đường lối cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc vấn đề trung tâm thảo luận tại Đại hội. Xuất
phát từ các đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
tiến thẳng lên chủ nghĩa hội không trải qua giai đoạn phát triển bản chủ nghĩa, Đại hội xác định: cuộc
12
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt, một quá trình
đấu tranh gay go giữa con đường hội chủ nghĩa con đường bản chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, tư tưởng văn hoá và kỹ thuật.
Về đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa hội. Báo cáo chính tr
khẳng định: 'Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa hội. xây dựng đời sống
ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa
bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế
giới".
Để thực hiện xây dựng chiến lược này, Nghị quyết Đại hội đã xác định: cải tạo hội chủ nghĩa
xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cải tạo xã hội chủ nghĩa là một nhiệm
vụ bản, trong đó, cải cạo nông nghiệp khâu chính của toàn bộ công cuộc cải tạo nhằm tăng năng suất
lao lộng, phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Công nghiệp hoá hội chủ nghĩa nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. nhằm xây dựng
sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa hội "Thực hiện công nghiệp hóa hội chủ nghĩa miền Bắc
nước ta xây dựng một nền kinh tế hội chủ nghĩa cân đối hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông
nghiệp lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng
thời ra sức phát triển nông nghiệp công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu
thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại".
Đại hội xác định rằng, sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng, cho nên Đảng
cần phải tăngờng sự lãnh đạo đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc đối với cuộc
đấu tranh nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống
nhất Tổ quốc. Muốn thế, "phải nâng cao sức chiến đấu năng lực lãnh đạo của Đảng, cụ thể phải tăng
cường tính chất giai cấp tính chất tiên phong của Đảng, phải củng cố sự đoàn kết thống nhất trong toàn
Đảng".
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng
nước ta do Đảng lãnh đạo. Đại hội đã đề ra được đường lối tiến lên chủ nghĩa hội miền Bắc con
đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nghị quyết của Đại hội nguồn ánh sáng mới, sở
để toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa hội miền
Bắc và hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà.
7. Chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới (phải nắm thời kỳ trước đó công nghiệp hóa từ khi
nào. Không đã động gì đến kinh tế
So sánh đường lối công nghiệp hoá của Đảng thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới.
Giống nhau:
- Về điểm giống qua báo cáo của Bộ Chính trị:
+ Một là, trước đây cũng như hiện nay Đảng ta đều quan niệm công nghiệp hoá nhiệm vụ trung tâm của
cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
+ Hai là, công nghiệp hoá đều nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất hội từ lao động thủ công
chủ yếu sang lao động dùng máy c, phương tiện kỹ thuật phổ biến, xây dựng sở vật chất kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
13
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
+ Ba là, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ mới, tạo ra hạ tầng sở vững
chắc cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Bốn là, tiến hành công nghiệp hoá trước đây và hiện nay đều phải được thực hiện theo hướng hiện đại hoá
tuy sự khác nhau về mức độ. Do sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học công nghệ trong những
thập kỷ gần đây, khái niệm hiện đại hoá luôn luôn được bổ sung những nội dung mới với phạm vi bao quát
nhiều mặt, từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, quản lý… Những tiến bộ khoa học công nghệ được coi
hiện đạich đây vài thập kỷ thì nhiều cái nay đã trở nên bình thường, cần được bổ sung, thậm chí lạc hậu,
cần được thay thế. Khái niệm hiện đại hoá chúng ta đề cập trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa
nhiệm kỳ khoá VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này được hiểu theo ý nghĩa đó.
Khác nhau:
- Theo Bộ chính trị: “Bên cạnh những điểm thống nhất nêu trên, công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
nhiều cái khác so với trước đây mà một số điểm chính là:
+ Đường lối công nghiệp hoá trước đổi mới được tiến hành theo chế cũ, tập trung quan liêu, bao cấp;
thực hiện kế hoạch hoá tập trung với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ở thời kỳ đổi mới, chhoá theo cơ chế mới, là cơ
chế thị trường sự quản của Nhà nước. Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng; thị trường phản ánh
nhu cầu hội, tiếng nói quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cấu
kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo.
+Trước đổi mới, công nghiệp hoá thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc doanh và
tập thểchủ yếu. Trong đổi mới, nó là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng linh
hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt
đối. Đồng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sở hữu.
+ Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội. Còn công
nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập kinh tế quốc tế. (TTG) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
nền kinh tế thị trường giúp khai thác hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc
tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu nước ngoài, thu hút công nghệ hiện
đại, học hỏi kinh nghiệm quản tiên tiến của thế giới... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác hiệu quả thị trường thế giới. Hội nhập quốc tế việc kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện công nghiệp hóa
được thực hiện bằng chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế hoạch của Nhà nước thông qua
các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện bằng chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự
hạch toán kinh tế.
14
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn
viện trợ của các nước hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới, lấy phát huy nguồn lực con
người yếu tố bản cho sự phát triển nhanh bền vững; coi phát triển khoa học công nghệ nền
tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham
làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quảkinh tế hội. Còn thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với pháttriển nhanh, hiệu quảbền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ
công bằng hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.úng ta tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại
8. Thể chế kinh tế Việt Nam, kinh tế thị trường
Trước khi có kinh tế thị trường chúng ta có nền kinh tế gì? sau đó 10 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa
1. Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của
nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để
thấy hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung đặc trưng bản, những việc cần thực hiện để
đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường, sự quản của Nhà nước, theo định
hướng XHCN thực chất xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội
Đảng VI (1986) ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới phát triển nền kinh tế theo
hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường con đường phát
triển kinh tế hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa hội. Đây cả một quá trình vừa đổi mớiduy
luận, nhất duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan kịp thời tổng kết thực tiễn đầy
sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị trường, sự quản của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa hội, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của hội; xây dựng nền dân
chủ hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc
quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường chúng ta lựa chọn đó
CNXH để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH con
đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng bản đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định
ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
15
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
- Do nhân dân làm chủ.
- nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển
toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn ý nghĩa
lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - hội, sự thay đổi bản toàn diện. Vị thế
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật
phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường một phạm trù kinh tế riêng,
tính độc lậpơng đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn của tồn tại đâubất kể
thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung
chung cho mọi giai đoạn phát triển, gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của hội những
nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển kinh tế thị trường
cũng sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công
lao động hội sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. nghĩa
kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị
trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóc lột,
giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên sở nhận thức đúng đắn đầy đủ hơn về chủ nghĩa hội con đường đi lên chủ nghĩa hội
Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đường lối
chiến lược nhất quán, hình kinh tế tổng quát trong suốt thời quá độ đi lên chủ nghĩa hội
Việt Nam. Đây kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; bước phát triển
mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.
9. Đối ngoại
Tại sao phải đa phương hóa, quan hệ hóa trong quan hệ đối ngoại?
Tại sao lại chọn ngoại giao cây tre?
Nội hàm của trường phái “Ngoại giao cây tre” Việt Nam Tổng thư nói đến là: 1) Mềm mại, khôn
khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; 2) linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước
16
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
mọi thử thách, khó khăn độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. 3) Đoàn kết, nhân ái, nhưng
kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 4) Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình,
biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.
Tổng thư đã phân tích “ngoại giao cây tre”: “Cây tre Việt Nam gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm
dẻo nhưng rất kiên cường. Không cơn gió nào quật ngã được”. Điều này nói lên nền ngoại giao thấm
đượm tâm hồn cốt cách khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên
cường, quyết liệt; linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn
vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân.
--
Đảng Nhà nước luôn xác định Việt Nam một bộ phận không thể tách rời của thế giới, gắn liền
với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới điều kiện không thể thiếu để
xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời với svận động chung, tự lập mình với thế
giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại, có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Chính vì vậy,
Đảng ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng
và tính tất yếu của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
Đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì những lý do sau.
Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ quốc tế
Đại hội VI của Đảng nhận định: “ xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước
có chế độ kinh tếxã hội khác nhau,cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta”
Tháng 12-1987, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành
Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ chính sách đối ngoại trong tình hình
mới. Đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh
hợp tác cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật xu thế
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên
quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong
sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu
Đại hội VII của Đảng đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không
phân biệt chế độ chính trị hôi khác nhau, trên sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với
phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu hoà
bình, độc lập và phát triển”
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 6-1992) nhấn mạnh yêu cầu đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tê. Mở rộng cửa để tiếp thu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản của
nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới, trên sở bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ i nguyên, môi
trường, hạn chế đến mức tối thiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình mở cửa
17
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ đồng bộ đường lối đối
ngoại độc lập tự chủ , mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại, trong phân công lao
động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Giai đoạn 1996-2008: Bổ sung phát triển đương lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế
*Đầu tiên, về mặt chính trị - ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của thế giới
chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việt Nam vẫn trong thế
bị bao vây, bị lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính sách phát triển sai lầm, không
phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Những biến động của tình hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là cơ sở cho
sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô là bài học
quý giá cho chúng ta. Từ đây, Đảng ta nhận thức rút kinh nghiệm, cần phải thay đổi hình hội chủ
nghĩa cũ, cụ thể hơn là đổi mới chủ trương và chính sách ngoại giao sao cho hợp lí, hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước nhu cầu phát triển của nước ta, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu đã những đổi mới sâu sắc
và mang tính chiến lược về đường lối và chính sách đối ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập xu thế chung hiện nay, việc hợp tác đa phương trên nhiều lĩnh
vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông tin - truyền
thông, môi trường, du lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy tiến bộ hội, phát triển thị trường lao động
và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế về khoa học - công nghệ,
giáo dục - đào tạo, y tế đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân, tiến tới
thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạngới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước mở cửa, gắn nền kinh tế
thị trường trong nước với khu vực thế giới, tiếp thu những nguyên tắc chuẩn mực quốc tế, thu
hút nguồn lực cho phát triển, tạo thêm động lực xây dựng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội
10. Văn hóa: Đường lối văn hóa của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Kỷ niệm 80 năm đề cương văn hóa Trường Chinh
ĐCSVN coi văn hóa tinh thần nền tảng tinh thần của XH? Theo Unessco: Văn hóa phản ánh
thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong
hiện tại; cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ lối sống trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của hội được thấm nhuần trong mỗi con
người trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối phát huy qua các thế hệ , được vật chất hóa
khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc; dồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc
sống, tưởng, tình cảm của mọi thành viên hội bằng môi trường hội văn hóa. Tóm lại, văn hóa
sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng
đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để phát triển.
18
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống hội để các
giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã
hội. Đó cũng con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề
kháng và đẩy lùi tiêu cực hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp tích
cực cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng
gia đình văn hóa,...
Các giá trị cốt lõi của Đề ơng văn hóa (1943) sự kế thừa, áp dụng của vào thực tiễn văn
hóa Việt Nam ngày nay
Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là một văn kiện lịch sử giá, ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với cách mạng, kháng chiến, chỉ ra con đường vận động, phát triển của nền văn hóa mới Việt Nam. Trải
qua 80 năm nhưng những tưởng, quan điểm thể hiện trong Đề cương vẫn vẹn nguyên giá trị tính thời
sự sâu sắc. Những điều được đề cập đến trong Đề cương đến nay vẫn tiếp tục được bổ sung chứ không hề
thay đổi. Ba nguyên tắc dân tộc hóa - đại chúng hóa - khoa học hóa được đề cập trong Đề cương như sợi chỉ
đỏ xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa của Việt Nam cho đến bây givẫn khẳng định tính đúng đắn,
khoa học và chính xác. Có thể khái quát một số giá trị cốt lõi của Đề cương về văn hóa Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Văn hóa bao gồm Đề cương đã xác định đúng đắn về phạm vinội dung của văn hóa:
cả tưởng, học thuật, nghệ thuật cũng như xác định được nhiệm vụ quyền lãnh đạo cách mạng văn
hóa thuộc về Đảng ta một cách công khai, ràng: Cách mạng văn hóa phải do Đảng lãnh đạo. Đồng
thời, khẳng định nền văn hóa phải phục vụ nhân dân, là kết quả hoạt động sáng tạo của nhân dân.
Thứ hai, Đề cương đã cảnh báo về các nguy của văn hóa Việt Nam lúc đó còn ý nghĩa
cho đến hiện tại. Nếu thời kỳ Đề cương văn hóa ra đời, chúng ta chỉ kẻ thù trực tiếp dễ nhận thấy
phát xít Nhật và thực dân Pháp thì hiện nay chúng ta có nhiều thế lực thù địch núp dưới nhiều chiêu bài tinh
vi và xảo quyệt hơn rất nhiều. Thời điểm đó, chúng thực hiện các âm mưu lôi kéo các trí thức, các văn nghệ
sĩ, sử dụng nhiều hình thức công khai để tuyên truyền cho văn hóa của chúng, như: triển lãm, xuất bản báo
chí, tuyên truyền, biểu diễn văn nghệ, tổ chức các chuyến tham quan hoạt động nghệ thuật ra chính quốc
để tuyên truyền cho cái chúng gọi tính ưu việt, để mọi người nhầm tưởng chỉ văn hóa đó văn
minh, tiến bộ đồng thời khuyến khích các hoạt động tín, dị đoan nhiều hủ tục của Việt Nam. Điều đó
đã dẫn đến “Tư tưởng sùng ngoại này dẫn tới đầu óc tự ti dân tộcmiệt thị văn hóa dân tộc. Một số người
đã không biết đến truyền thống yêu nước, khí phách anh hùng, tính lao động cần cù, sáng tạo, phẩm chất cao
quý của dân tộc ta suốt mấy nghìn năm lịch sử “ (Bộ Văn hóa Thông tin, 2003, tr.15.). Hiện nay, chúng ta đã
cởi mở hơn trong việc nhìn nhận, đánh giá trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại cũng như nhận thức
sâu hơn về vấn đề kết hợp giữa giá trị văn hóa dân tộc và giá trị văn hóa nhân loại để làm giàu thêm
Thứ ba, “NềnĐề cương nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị:
tảng kinh tế của một hội chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ văn hóa của
hội”. Trong mối quan hệ giữa skinh tế nền tảng văn hóa xét đến cùng thì kinh tế giữ vai trò quyết
định. Tuy nhiên, không thể xem kinh tế trước văn hóa sau hay ưu tiên phát triển kinh tế trước rồi mới
phát triển văn hóa. Để phát triển bền vững thì phải đặt tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với phát triển
văn hóa cũng như cả bốn lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cần phải được coi trọng ngang nhau.
Thứ tư, Đề cương định hướng cho các hoạt động văn hóa theo các nguyên tắc văn hóa Việt Nam mới là:
dân tộc hóa - đại chúng hóa - khoa học hóa. Hiện nay bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển như bão của công nghệ thông tin... những vấn đề mang tính toàn
cầu nổi lên. Thế giới cũng tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng mất ổn định, xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ,
19
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Nh _2156160181ư
tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, diễn biến phức tạp. An ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh tài
chính, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... đang tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững
của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sự phát triển như bão của Cách mạng 4.0 đang đẩy Việt Nam
đối diện với nguy tụt hậu sâu sắc nếu không kịp thời thay đổi chiến lược phát triển nền kinh tế tri thức.
Mặt trái của chế thị trường và những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập giao lưu quốc tế đang tác
động không nhỏ đến hội. Các giá trị văn hóa truyền thống bị thách thức bởi nhân tố bên ngoài như chủ
nghĩa hưởng thụ nhân, tâm sính ngoại đang chiếm ưu thế trong một bộ phận lớp trẻ. Các thế lực thù
địch thực hiện diễn biến hòa bình nhằm lật đổ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta.
--
Sự quan trọng của văn hóa với sự phát triển bền vững
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: Văn hóa nền tảng tinh thần
của hội, mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này được thể hiện qua mấy nội
dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc,
xây dựng phát triển nền văn hóa dân tộc chăm lo nền tảng tinh thần của hội. Thiếu nền tảng tinh
thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cả
dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền phát huy qua các thế hệ người Việt Nam, đó tất
yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ
quát Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để
các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của hội, chúng ta cần phải mở rộng
giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thụ có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác
để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho văn hóa Việt Nam bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại
trong thời đại ngày nay và chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa
nền tảng tinh thần của hội, nghĩa đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất
nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa “tài sản” giá, tận cho sự phát triển kinh tế -
hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội nước ta xây dựng một hội “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa
rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu động lực
chính của sự phát triển con người, do con người. Đồng thời nêu yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ công bằng hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát
triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa, đó phải
nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa nhân hội, giữa kinh tế với tiến bộ,
công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa
20

Preview text:

LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181 1. 1930-1939:
So sánh Luận cương và Cương lĩnh (2 điểm khác LLCM và NV). Tại sao ra đời Luận cương? (tr 225,226..)
Chủ trương của Đảng thời kỳ này
Tại sao khôi phục tổ chức? Chuyển hướng chỉ đạo chiến lược?
2. 1939-1945: Nghệ thuật nắm bắt thời cơ -> Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. (phân tích chủ
trương phát động tổng khởi nghĩa của Đảng) (267)
Chủ trương của Đảng trong thời kỳ này là gì? (tr 263,
Cơ hội ngàn năm có 1 (265,266)
Bài học kinh nghiệm (280-282)
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc Việt
Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực dân, phong kiến; thành lập nên Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn là bài học
về chớp thời cơ và vận dụng đúng thời cơ cách mạng.
Thứ nhất là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản bị thua to trên hầu
khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong thế chiến II, nên phải gửi công hàm cho các
nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt
thời cuộc kịp thời, Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại Tân Trào để
quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm một tin rất quan
trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh. Ngay lập tức, Trung ương
Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh
số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima của Nhật Bản, Hội
nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên
cơ sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ
chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó là vì đồng chí Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng
đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã chết gục theo
phát xít Đức; quân đội Nhật đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng
minh sắp kéo vào Đông Dương. Vì vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật, mà 1
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không
thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận sự thoái vị
của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực lượng cách mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời
cơ và vận dụng đúng thời cơ. Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến;
đồng thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để
mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn
Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức
ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng
minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản.
Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ
Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước chính là
nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động
đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám:
Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và 200
nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh
thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách
mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được
nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ
máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có
tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ
động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây là sự vận dụng
sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo
chớp thời cơ, giành thắng lợi. Hiện nay:
Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang tính tất
yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi
dần là văn hóa, thể thao… cho đến chính trị. Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp
quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của
nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để
thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để
đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội 2
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Đảng VI (1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo
mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát
triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy
lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy
sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc
quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa chọn đó là
CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định
ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. - Do nhân dân làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật
phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có
tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể
thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung 3
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những
nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường
cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế
3. Thời kỳ kháng chiến kiến quốc:
-Hoàn cảnh nước VN sau CMT8 (288,289)
-Chủ trương xây dựng và bảo vệ chế độ DCND (1945-1946) (292)
Sau khi CMT8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, công cuộc bảo vệ và xây dựng
đất nước đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản và khó khăn thử thách. Thuận lợi:
- Trên thế giới, CNXH đã trở thành hệ thống lớn mạnh do Liên Xô đứng đầu, phong trào cách mạng giải
phóng dân tộc có điều kiện phát triển, phong trào dân chủ và hòa bình cũng vươn lên mạnh mẽ.
- Trong nước, chính quyền nhân dân được thành lập, có hệ thống từ trung ương đến địa phương. Nhân dân
lao động đã làm chủ được đất nước.Lực lượng vũ trang được tăng cường. Chính Phủ Việt Nam dân chủ cộng
hòa được toàn dân tin tưởng và ủng hộ. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đó, chính quyền non trẻ đứng trước vô vàn những khó khăn và thử thách cần phải vượt qua.
- Nền độc lập của chúng ta chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận.
- Thù trong, giặc ngoài chống phá quyết liệt.
+ Ở Miền Bắc: Cuối tháng 8- 1945 theo thỏa thuận của phe Đồng Minh ở hội nghị Potsdam, trong tháng 9 –
1945, gần 20 vạn quân của chính phủ Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa quân Đồng Minh kéo vào miền
Mắc nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Quân Tưởng với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất
chỉ gây ra cho ta nhiều khó khăn về kinh tế, rối ren về chính trị.
+ Ở Miền Nam: Quân Anh, quân Pháp đồng lõa với nhau đánh chiếm Sài Gòn hòng tách Miền Nam ra khỏi Việt Nam
- Chúng ta còn phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế do hậu quả của chế độ cũ để lại.
- Ngân sách nhà nước trống rỗng, nạn đói, nạn dốt, thiên tai.. khắp mọi nơi.Nền kinh tế bị trì trệ, lạc hậu,
ruộng đất bị bỏ hoang.
-Tệ nạn xã hội tràn lan, cướp của, giết người…
Chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng.
Trước tình hình mới, Trung ương đảng đã sáng suốt phân tích tình thế cách mạng thế giới, sức mạng
mới của Dân tộc để vạch ra chủ trương, giải pháp nhằm giữ vững chính quyền, bảo vệ độc lập. Ngày 25-11-
1945, Đảng ra chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch ra con đường đi lên của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
Về chỉ đạo chiến lược: Đảng ta xác định mục tiêu cần nêu cao của cách Mạng Việt Nam lúc này vẫn là
dân tộc giải phóng, khẩu hiệu lúc này là “ Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” nhưng không phải giành
độc lập mà là giữ độc lập.
Về xác định kẻ thù: Đảng phân tích âm mưu của các nước Đế quốc đối với Đông Dương và chỉ rõ “ Kẻ
thù chính của chúng t a là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Vì vậy 4
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
phải lập “Mặt trận dân tộc thống nhất chống Thực dân Pháp xâm lược”, mở rộng mặt trận Việt Minh
nhằm thu hút mọi tầng lớp của nhân dân.
Về phương hướng nhiệm vụ: Đảng nêu ra 4 nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn trương thực hiện là
“ Củng cố chính quyền, Chống thực dân Pháp xâm lược, Bài trừ nội phản và Cải thiện đời sống nhân
dân”. Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu “Hoa- Việt thân thiện”
đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và “Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” đối với Pháp.
Ngoài ra Đảng còn đề ra các biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ trên:
Về chính trị xã hội: Tổ chức bầu cử quốc hội, lập ra hiến pháp, bộ máy chính quyền hoàn thiện từ
trung ương đến địa phương. Các đoàn thể như Mặt Trận Việt Minh, Hội Liên Hiệp Quốc Dân Việt
Nam, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam…được xây dựng và mở rộng.
Về quân sự: Động viên lực lượng toàn dân kiên trì kháng chiến và tổ chức lãnh đạo kháng chiến lâu dài.
Về kinh tế: Phát động phong trào tăng gia sản xuất, xóa bỏ các thứ thuế, khôi phục lại các nhà máy.
Về ngoại giao: phải kiên trì nguyên tắc “ bình đẳng, tương trợ, thêm bạn, bớt thù” trong quan hệ với các nước.
Bài học có thể áp dụng:
Thứ nhất, bài học đề cao thế hợp pháp và sức mạnh của chính quyền cách mạng.
Tháng 8 năm 1945, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đi vào giai đoạn kết thúc, tình hình thế giới thay đổi
với nhịp độ cực kỳ nhanh chóng. Nhờ dự đoán đúng tình hình thế giới và trong nước, khi biết Nhật Bản sắp
đầu hàng Đồng minh và ở Việt Nam quân Nhật hoang mang cực độ. Vì vậy, Đảng chủ trương phải giành
được chính quyền và tuyên bố độc lập trước khi quân đồng minh vào; đề cao vị trí của Việt nam Dân chủ
Cộng hòa, giành thế hợp pháp cho chính quyền mới, tranh thủ sự công nhận của quốc tế để tạo thuận lợi cho
việc giao dịch với đồng minh.
Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân và thế giới. Lúc này quân
Trung Hoa Dân quốc đã xuống sát biên giới, sắp vào Việt Nam. Còn quân Anh - Ấn thì đến ngày 6/9/1945
mới đổ bộ vào Sài Gòn. Như vậy, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trái với mọi dự tính và dàn xếp của các nước lớn.
Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức thành công, ngày
6/3/1946 ta ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, nhờ sức mạnh đoàn kết của
cả dân tộc, ta đã thành lập được một Chính phủ hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến, đại diện cho toàn thể nhân
dân Việt Nam thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại.
Ngày 3/10/1945, một tháng sau khi tuyên bố độc lập, Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời ra Thông cáo về
chính sách ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho nền độc lập hoàn
toàn và vĩnh viễn của Việt Nam, hợp tác thân thiện với các nước đồng minh và các dân tộc láng giềng, đồng
thời kiên quyết chống thực dân Pháp gây ra chiến tranh xâm lược.
Trong mấy tháng cuối năm 1945 đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhiều lần gửi thư, công hàm đến
các nước lớn Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông báo về sự ra
đời và khẳng định tính hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tố cáo Pháp trở lại xâm lược Đông Dương.
Có thể nói, những sách lược ngoại giao nêu trên đã góp phần đề cao thế hợp pháp và sức mạnh của chính
quyền cách mạng để đương đầu với các thế lực hung hãn, tạo khả năng thêm bạn bớt thù, tạo thuận lợi cho
các hoạt động của chính quyền cách mạng non trẻ.
Trong giai đoạn hiện nay, khi tình hình trong nước và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, Đảng và Nhà
nước ta đã vận dụng bài học này và việc đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhằm tiếp tục nâng cao vị thế của
Việt Nam, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Điều này
được thể hiện rõ nét thông qua việc từ chỗ bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, đến nay Việt Nam có 5
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước, quan hệ kinh tế - thương mại đầu tư với trên 220 quốc gia và vùng
lãnh thổ; quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các nước lớn và các trung tâm kinh tế-chính trị hàng
đầu, các nước bạn bè truyền thống và đối tác tiềm năng ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, ổn định, bền
vững hơn. Với việc nâng cao vị thế đó trước hết giúp cho Đảng và Nhà nước ta chống lại các thế lực thù
địch đã và đang liên tục chống phá cách mạng nước ta hết sức tinh vi và quyết liệt. Mặt khác, nâng cao vị
thế còn tạo uy tín cho Việt Nam trên trường quốc tế, điều này được thể hiện thông qua việc Việt Nam đã
chính thức trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc sau khi đạt số phiếu
gần như tuyệt đối (183/190) vào năm 2007. Đối với các nước trong khu vực, Việt Nam còn có vai trò, vị trí
hết sức quan trọng trong tổ chức ASEAN.
Để tiếp tục phát huy thành quả đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định rõ một trong ba mục tiêu
đối ngoại và hội nhập kinh tế trong thời gian tới của Việt Nam là: “nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và
góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Thứ hai, bài học biết phân hóa kẻ thù
Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, một thách thức nghiêm trọng đối với cách mạng Việt Nam trong
thời điểm này là đối phó cùng một lúc với nhiều thế lực quân sự đối địch ở các nước lớn có mặt tại Việt Nam.
Ở miền Bắc, gần 200.000 quân Tưởng vào Việt nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16
trở ra, mang theo các nhóm người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc. Ở phía Nam, 26.000 quân Anh - Ấn
vào giải giáp quân đội Nhật. Thời gian này, ở nước ta còn có khoảng 60.000 quân Nhật đang chờ giải giáp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này với nhau và có sách lược phù hợp với từng đối tượng.
Đối với Trung Hoa Dân quốc: Để vô hiệu hóa mặt tiêu cực và chống lại chủ trương Hoa quân nhập Việt,
diệt cộng cầm Hồ mà lực lượng của Tưởng đề ra khi vào Việt nam, chính quyền cách mạng đã nêu khẩu hiệu
Hoa - Việt thân thiện và thực hiện hòa hoãn với sách lược mềm mỏng và bình tĩnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh
còn gửi thư điện cho Tưởng Giới Thạch khẳng định tình hữu nghị và quan hệ lịch sử, văn hóa truyền thống
lâu đời giữa hai nước; triển khai nhiều hoạt động tăng cường hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, nhắc nhở
các địa phương thực hiện đúng Hoa - Việt thân thiện, bảo vệ Hoa kiều, ngăn ngừa âm mưu ly gián người Việt và người Hoa...
Khi phía Trung Hoa Dân quốc thấy không thể gây chuyện lật đổ chính quyền cách mạng của ta, họ chuyển
chính sách thúc đẩy các nhóm tay sai vu cáo, quấy phá, đòi Hồ Chí Minh từ chức, đòi giải tán chính quyền...
Ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán và rút vào hoạt động bí mật. Ngày
2/3/1946, trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, ta đồng ý cho tay sai của Trung Hoa Dân quốc một
số chức vụ như Phó Chủ tịch, Bộ trưởng kinh tế và 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử...
Những sách lược khéo léo và đúng đắn trên là nước cờ cao tay, xoa dịu sự chống đối của Trung Hoa Dân
quốc và tay sai, góp phần ngăn chặn được nhiều âm mưu phá hoại và lật đổ của chúng, nhưng vẫn bảo đảm
nguyên tắc giữ vững chính quyền trong tay.
Đối với Pháp: Trong khi thực hiện chính sách hòa hoãn với Trung Hoa Dân quốc, Trung ương Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh sớm dự đoán thực dân Pháp vẫn có khả năng vừa mở rộng chiếm đóng khu vực phía Nam,
vừa đưa quân ra Bắc thông qua một thỏa hiệp thay quân với Tưởng Giới Thạch.
Ngày 28/2/1946, tại Trùng Khánh, Hiệp ước Hoa – Pháp được ký kết. Theo Hiệp ước này, Trung Hoa Dân
quốc đồng ý cho quân đội Pháp vào Bắc Đông Dương thay thế quân Trung Hoa Dân quốc dưới danh nghĩa
giải giáp quân Nhật. Đổi lại Pháp phải nhân nhượng cho Trung Hoa Dân quốc một số quyền lợi về kinh tế.
Như vậy, đây là lần thứ hai sau thỏa thuận Postdam, Việt Nam lại phải đương đầu với một giải pháp do các nước lớn áp đặt. 6
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Nhờ nhãn quan chính trị sáng suốt và sự nhạy bén trước chuyển biến mau lẹ của tình hình, vào thời điểm khi
cả Pháp và Trung Hoa Dân quốc đều cần phía Việt Nam thỏa thuận với Pháp về một giải pháp mà hai bên có
thể chấp nhận được để tránh cuộc xung đột mở rộng, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng kịp thời
nắm bắt khoảnh khắc lịch sử, ký bản Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 theo những điều kiện có lợi nhất có thể được
đối với Việt Nam, để nhanh chóng đẩy 20 vạn quận Trung Hoa Dân quốc và tay sai của chúng ra khỏi nước
ta, chuẩn bị thực lực cho một cuộc chiến đấu mới mà ta biết không thể nào tránh khỏi.
Có thể nói với sự phân định về “bạn và thù” trong thời kỳ trước đây chính là cơ sở cho Đảng ta định hình
quan điểm “đối tác, đối tượng” trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập quốc tế.
Nghị quyết 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về Chiến lược bảo vê Œ Tổ quốc trong
tình hình mới đã xác định rõ mục tiêu, phương châm, quan điểm chỉ đạo và nô Œ
i dung, giải pháp để thực hiê Œ n; trong đó, viê Œ
c xác định đối tác, đối tượng được đă Œ c biê Œ
t coi trọng. Đảng ta đã xác định: Những ai tôn trọng
độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều
là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng của chúng ta. Như vậy, Đảng ta đã chỉ ra các dấu hiệu cơ bản quan
trọng để nhận thức đâu là “đối tác” có thể mở rộng quan hệ hợp tác, đâu là “đối tượng” cần kiên quyết đấu
tranh. Và khi đã nhận thức về “đối tác và đối tượng” trong cùng một chủ thể thì phải lấy mục tiêu “xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” làm tiêu chuẩn để quyết định mức độ quan hệ hợp
tác. Nghĩa là, trong khi mở rộng quan hệ hợp tác với “đối tác” cần nêu cao tinh thần cảnh giác phát hiện các
mâu thuẫn có thể nảy sinh để kịp thời đấu tranh. Đồng thời, trong đấu tranh với “đối tượng” không có nghĩa
là phân tuyến đối đầu mà cần tranh thủ mọi cơ hội tìm hiểu, tạo lòng tin để đi đến “tôn trọng độc lập, chủ
quyền” của nhau mà mở rộng hợp tác bình đẳng cùng có lợi.
Với sự kế thừa những giá trị của Đảng trong hoạt động đối ngoại đó đã giúp cho Việt nam có nhiều
chủ trương, chính sách đúng đắn để “thêm bạn, bớt thù”, tăng cường sự hợp tác hữu nghị với các nước.
Đồng thời, tranh thủ khai thác, phát huy được các mă Œ
t tích cực của các đối tác để phát triển kinh tế - xã hô Œ i,
hạn chế được những mă Œ
t tiêu cực của đối tượng, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị, trâ Œ t tự, an toàn xã hô Œ
i, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng và bảo vê Œ
Tổ quốc. Đến năm 2016, Việt Nam có quan hệ đối tác
chiến lược với 15 nước; thiết lập quan hệ đối tác chiến lược theo ngành với 2 nước; xác lập quan hệ đối tác
toàn diện với 10 nước; trở thành nước duy nhất tại Đông Nam Á xây dựng khuôn khổ quan hệ đối tác chiến
lược và đối tác toàn diện với tất cả 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các
nước lớn; có quan hệ đặc biệt với Lào, quan hệ hợp tác toàn diện với Campuchia; xây dựng quan hệ đối tác
chiến lược với những nước có vai trò quan trọng ở các khu vực khác như châu Phi, Mỹ La-tinh…
Ngoài các đối tác nêu trên, Việt Nam cũng đã nhận ra các đối tượng cụ thể hiện nay của nước ta như: Đối
tượng có âm mưu lật đổ chế độ XHCN; đối tượng có tham vọng về chủ quyền lãnh thổ; đối tượng do bị tác
động của “DBHB” dẫn đến “tự chuyển hóa” có thể gây ra “biến động chính trị”, hoặc tự giác trở thành đồng
minh của đối tượng có âm mưu lật đổ chế độ ta; đối tượng gây thảm họa thiên tai, môi trường có thể dẫn đến
khủng hoảng kinh tế, chính trị - xã hội, tạo cơ hội để các đối tượng khác lợi dụng khoét sâu, thực hiện mục
tiêu chiến lược của họ…
Thứ ba, nhân nhượng đúng lúc, nhân nhượng có giới hạn, nhân nhượng có nguyên tắc
Ngày 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế,
chính trị, văn hóa và đặc biệt là vấn đề an ninh quốc phòng. Đứng trước tình hình đó, về mặt ngoại giao
Đảng và Chính phủ đã thực hiện chính sách nhân nhượng, hòa hoãn tạm thời, nhưng vẫn bảo đảm nguyên
tắc độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc.
Thời gian đầu, trong điều kiện thực lực của chúng ta còn hạn chế, Đảng và Chính phủ đã phải chấp nhận
những điều kiện để thực hiện sách lược hòa với Trung Hoa Dân quốc, tập trung chống thực dân Pháp xâm 7
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
lược nhưng vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc như: Chính phủ ta chấp nhận tiêu tiền Quan kim, Quốc
tệ đã mất giá của chúng; cung cấp lương thực thực phẩm cho chúng; nhượng cho tay sai của Trung Hoa Dân
quốc 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử, bởi ta biết rằng với số phiếu 70, Trung Hoa Dân quốc vẫn
không thể áp đặt được Chính quyền cách mạng.
Khi giữa Trung Hoa Dân quốc và Pháp ký với nhau bản Hiệp ước thay quân, ta đã quyết định ký với Pháp
Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), đồng ý cho Pháp đưa quân ra miền Bắc thay Trung Hoa Dân quốc, tuy nhiên ta
giới hạn số quân Pháp là 15.000 người, và số quân đó phải rút hết về nước trong 5 năm.
Trong quá trình đàm phán, vấn đề gay cấn nhất là việc ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc
lập, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là tự trị, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quy chế quốc gia tự do.
Tự do – chưa phải là độc lập nhưng là một nước có chủ quyền.
Sau Hiệp định Sơ bộ, ta và Pháp mở Hội nghị trù bị Đà Lạt, Hội nghị chính thức ở Fontainebleau, tuy nhiên,
do phía Pháp ngoan cố giữ lập trường thực dân hiếu chiến, muốn tái lập lại chế độ thuộc địa trên toàn Đông
Dương, nên các Hội nghị đều đi đến thất bại. Và để có thêm một khoảng thời gian hòa hoãn nữa, ta quyết
định ký với Pháp Tạm ước 14/9/1946, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa để
ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng. Đảng Cộng sản Đông Dương nhận định: Tạm ước 14/9 là một bước
nhân nhượng cuối cùng, nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc.
Với Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước 14/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta đã đi những nước cờ mạnh
bạo, sắc sảo, trước tiên thể hiện thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam đến nhân dân thế giới, đặc biệt là
đến nhân dân Pháp, góp phần tạo một phong trào phản chiến của nhân dân Pháp chống chiến tranh xâm
lược. Việc ký kết các thỏa thuận này là đỉnh cao của nghệ thuật nhân nhượng có nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông có nhiều biến đổi khôn lường khiến
nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển ở Việt Nam trở thành nhiệm vụ khó khăn với
nhiều thách thức. Từ bài học lịch sử trên, Đảng và Nhà nước ta đã có sự kế thừa và vận dụng sáng tạo vào
hoạt động đối ngoại trong thời kỳ mới.
Dân tộc ta vốn đã từng hy sinh, tổn thất quá nhiều trong chiến tranh nên hơn ai hết chúng ta rất yêu chuộng
hòa bình. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương giải quyết mọi vấn đề bằng con đường hòa bình,
thương thảo, hữu nghị, pháp lý chứ không bao giờ nhân nhượng, đặc biệt trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ.
Với chủ trương trên trong thời gian vừa qua, khi Trung Quốc công bố “đường lưỡi bò chín khúc”, gây ra các
vụ tranh chấp trên Biển Đông với các nước trong đó có Việt Nam. Đặc biệt tháng 5/2014, Trung Quốc đã hạ
đặtt trái phép giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, sau
đó còn liên tiếp gây khó khăn cho ngư dân của ta trong việc đánh bắt xa bờ. Trước tình hình đó Đảng và Nhà
nước ta có những chủ trương khéo léo nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo như: kiên quyết yêu cầu Trung Quốc
di chuyển giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của Việt Nam; tuyên truyền để nhân dân và
Chính phủ các nước hiểu hơn về chủ quyền của Việt Nam; kêu gọi nghị viện các nước lên tiếng, trước hết là
phải tuân thủ luật pháp Quốc tế, đặc biệt là Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc là một thành viên cũng phải
tuân thủ; cung cấp tài liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp
thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế.
Lịch sử 86 năm ra đời và phát triển của Đảng ta cho thấy, càng trong những thời điểm khó khăn, phức
tạp thì bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, năng lực lãnh đạo của Đảng càng được khẳng định. Với việc phát huy
những bài học kinh nghiệm từ sách lược ngoại giao thời kỳ 1945-1946 trong giai đoạn hiện nay chính là một
trong những yếu tố quan trọng đem đến sự thành công về mặt đối ngoại của Đảng. Chúng ta tin tưởng rằng,
bài học thành công về mặt ngoại giao của Đảng trong giai đoạn 1945-1946 sẽ tiếp tục được phát huy trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 8
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
4. Đường lối kháng chiến chống Pháp
Cơ sở để định ra đường lối kháng chiến chống Pháp xâm lược. chiến chống Pháp chúng ta
đánh Pháp khi nào, trước 6/3/1946 chúng ta đánh Pháp sau đó chúng ta hòa, hòa đến thời điểm
toàn quốc kháng chiến chống Pháp bùng nổ=> có đường lối kháng chiến chống pháp, phân tích ra
xác định cái gì, mục tiêu, phương hướng, phương châm chiến lược. phân tích căn cứ vào lí luận,
căn cứ vào thực tiễn. Đường lối kháng chiến chống pháp đã ứng dụng vào gì, cho kết quả gì=> Điện Biên Phủ
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ được đề ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến
và không ngừng được bổ sung hoàn chỉnh trong quá trình tiến hành kháng chiến. Đường lối kháng chiến
chống Pháp của Đảng ta được thể hiện trong các tài liệu: Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban
Thường vụ Trung ương Đảng (12/12/1946); lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh
(19/12/1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng bí thư Trường Chinh (9/1947). Giữa
năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh đã viết một loạt bài báo nhằm hướng dẫn việc thực hiện đường lối
của Đảng, những bài viết này được tập hợp thành cuốn sách Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
tác phẩm Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi đã thể hiện những quan điểm cơ bản về đường lối
kháng chiến của Đảng, đó là đưòng lối: "toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính” đưa
cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi đến thắng lợi. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng
2-1951) tổng kết 5 năm kháng chiến đã bổ sung và phát triển đường lối kháng chiến khi kháng chiến đã
phá thế bị bao vây và đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Về cơ bản, đường lối
chung của cuộc kháng chiến tập trung một số nội dung:
Về mục đích kháng chiến: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là sự kế thừa và phát
triển thành quả Cách mạng Tháng Tám nhằm đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất, độc lập hòan toàn.
Tính chất của cuộc kháng chiến: Đang khẳng định đây là cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân,
chiến tranh chính nghĩa, nó có tính chất toàn dân, toàn diện, lâu dài.Là cuộc chiến vì tự do, độc lập, dân
chủ và hòa hình có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới. Đảng chủ trương liên hiệp với dân tộc
Pháp, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do. hoà bình.
Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở xác định rõ đối tượng
của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến, đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) đã chỉ rõ kẻ thù cụ thể trước mắt của cách mạng Việt Nam là đế
quốc Pháp, kẻ thù nguy hiểm là dế quốc Mỹ, kẻ thù phụ là các thế lực phong kiến. Lúc này là phong kiến
phản động, từ đó đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam: Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược làm
cho Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập. - Xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến làm
cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.
- Gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. 9
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Động lực của cách mạng Việt Nam là nhân dân, chủ yếu là công, nông. Lãnh đạo cách mạng Việt Nam là
giai cấp công nhân. Nông dân là bạn đồng minh "lớn mạnh và chắc chắn" của giai cấp công nhân.
Phương châm kháng chiến: Đảng chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, thực hiện "kháng chiến toàn
dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính".
Trong đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, điều cốt lõi nhất và cơ bản nhất là chiến lược toàn dân
kháng chiến. Đảng tổ chức cả nước thành một mặt trận, tạo nên thế trận cả nước đánh giặc, phát huy sức
mạnh của toàn dân và khối đoàn kết toàn dân tộc tham gia kháng chiến với những biện pháp đa dạng
phong phú, phù hợp. Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương và dân quân du kích. Từ chiến tranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp du kích
chiến với vận động chiến.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến, Đảng chủ trương kháng chiến toàn diện,
tức là tiến hành tiến công địch trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao tạo
thành sức mạnh tổng hợp.
+ Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân chống Pháp xâm lược, phải thống nhất toàn dân, làm cho
mặt trận dân tộc thống nhất ngày càng vững chắc và rộng rãi.
Phải củng cố chế độ cộng hoà dân chủ, xây đựng bộ máy kháng chiến vững mạnh, cô lập kẻ thù,
kéo thêm nhiều bạn, làm cho nhân dân Pháp và nhân dân các thuộc địa Pháp tích cực ủng hộ ta, chống lại
thực dân phản động Pháp. Coi trọng xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước và Mặt trận dân tộc
thống nhất vững mạnh. Thống nhất Việt Minh, Liên Việt thành mặt trận Liên Việt (1951).
+ Về quân sự, triệt để dùng "du kích vận động chiến", tiến công địch ở khắp nơi, vừa đánh địch
vừa xây dựng lực lượng; tản cư nhân dân ra xa vùng chiến sự. Xây dựng căn cứ địa kháng chiến và hậu
phương vững mạnh. Chủ động làm thất bại các kế hoạch chiến tranh lớn của dịch, phối hợp chặt chẽ các
chiến trường với sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất.
+ Về kinh tế, xây dựng nền kinh tế kháng chiến theo nguyên tắc vừa kháng chiến vừa kiến quốc,
toàn dân tăng gia sản xuất, tự túc tự cấp về mọi mặt; ra sức phá kinh tế địch không cho chúng thực hiện
mưu đồ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Kinh tế kháng chiến về hình thức là kinh tế chiến tranh, về nội
dung là dân chủ mới, chú trọng phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp.
Phát triển các thành phần kinh tế, từng bước thực hiện chính sách ruộng đất đối với nông dân (giảm tô và
cải cách ruộng dất). Phái triển kinh tế quốc doanh, gây mầm cho chủ nghĩa xã hội.
+ Về văn hoá, thực hiện hai nhiệm vụ: xoá bỏ nền văn hoá nô dịch ngu dân, xâm lược của thực
dân Pháp và xây dựng nền văn hoá dân chủ mới, dựa trên ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá, đại
chúng hoá. Phát triển giáo dục, đào tạo các bậc phổ thong trung học chuyên nghiệp và đại học. Tiến hành
cải cách giáo dục. Phát triển văn học, nghệ thuật, coi văn nghệ là một mặt trận và văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận này. 10
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
+ Về đấu tranh ngoại giao, triệt để cô lập kẻ thù, tranh thủ thêm nhiều bầu bạn, làm cho nhân dân
thế giới kể cả nhân dân Pháp hiểu, tán thành và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt
Nam. Tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt trận các nước xã hội chủ nghĩa nhất là Liên Xô, Trung Quốc.
Kháng chiến lâu dài: Xuất phát từ sự so sánh lực lượng, ban đầu địch mạnh, ta yếu nên Đảng chủ
trương đánh lâu dài. Vừa đánh vừa xây dựng phát triển lực lượng, đồng thời tích cực tiêu hao, tiêu diệt
địch để so sánh lực lượng sẽ dần có lợi cho và ta sẽ chuyển từ yếu thành mạnh, tiến tới đánh thắng thù.
Song, Đảng khẳng định đánh lâu dài nhưng phải tạo thế chủ động phát triển thế và lực, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định.
Dựa vào sức mình là chính: là dựa vào sức lực của nhân dân, vào đường lối đúng đắn của Đảng,
vào các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hoà của đất nước, đồng thời ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ và giúp đỡ quốc tế để chiến thắng kẻ thù.
Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân. Đó là ngọn cờ cổ vũ, dẫn dắt
cả dân tộc Việt Nam đứng lên đứng lên kháng chiến, là xuất phát điểm cho mọi thắng lợi của cuộc chiến.
Với đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can
thiệp Mỹ ngày càng phát triển và giành thắng lợi vẻ vang. Sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, Nhà
nước dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh, mặt trận Việt Minh, Liên Việt và các đoàn thể cách mạng
đã tập hợp rộng rãi khối đại đoàn kết dân tộc. Kinh tế, văn hóa, giáo dục phát triển và có nhiều thành
công. Ngoại giao từng bước phá thế bị bao vây, tranh thủ được sự ủng hộ mọi mặt của bè bạn trên thế
giới. Đặc biệt, trên mặt trận quân sự, quân đội và nhân dân Việt Nam đẫ lần lượt đánh bại các kế hoạch
chiến tranh lớn của thực dân Pháp,buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, chấm đứt chiến tranh, rút
quân Pháp về nước. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vì mục tiêu giành độc lập, thắng lợi hoàn toàn.
5. Đường lối 54-59 : Nghị quyết Trung Ương 15
-Chống Mỹ: VN sau 7/1954, bối cảnh Bắc- Nam ntn? (334)
=> Tại sao Nghị quyết TƯ lại ra đời lúc này mà không phải sớm hơn hay muộn hơn? (336) 6. 1960-1975
Nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến (xét cả 2 bên)
Đại hội III: nguyên nhân, tính chất, đặc điểm (ĐH nêu 3 lý do, sau ĐH tình hình chuyển biến ntn) (340
1963- > diễn ra ác liệt nhất ( Diên Hồng)
Nguyên nhân ra đời Nghị quyết TƯ lần thứ 11, 12 khóa 3. Kiến tạo xây dựng đất nước
Thời kì đổi mới/ Đường lối có từ khi nào? (ra đời trong thời điểm nào) chỉ đi qua một chút.
Thắng lợi kháng chiến là sk có tầm vóc quốc tế và tính thời đại sâu sắc.
Tại sao Đại hội III (1960) của Đảng được xem là đại hội hoàn chỉnh Đường lối chiến lược cách
mạng hai miền Nam - Bắc? Vì trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Đại hội
lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà". 11
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn trình
bày, thảo luận và thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, thông qua
Nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lấn thứ nhất (1961 - 1965).
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Nghị quyết do Đại hội thông qua về
nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới gồm những vấn để lớn sau:
*Về đường lối cách mạng chung trong cả nước:
Căn cứ vào tình hình và đặc điểm nước ta, Đại hội đã xác định cách mạng Việt Nam bước vào giai
đoạn mới cùng lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau: chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc và chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai chiến lược đó có mối quan
hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau. Mỗi chiến lược cách mạng ở mỗi miền của đất nước
có vị trí và trách nhiệm riêng trong mục tiêu chung là hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Miền Bắc sau khi hoàn toàn giải phóng đã trở thành căn cứ địa cách mạng chung của cả nước. Tiến
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc được tăng cường về mọi mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu
tranh cách mạng ở miền Nam, bảo đảm sự phát triển của cách mạng trong cả nước.
Vì vậy, "cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc rõ ràng là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát
triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta". Trong sự
nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc , dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà,
cách mạng miền Nam "có tác dụng quyết định trực tiếp đối vời sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách
thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai".
Trong khi giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền, cả hai chiến lược cách mạng ở hai miền đều nhằm
giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của
chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Từ những nhiệm vụ trên đây, Đại hội vạch ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong thời ký
mới là: ''Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân lộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện
thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới".
*Về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà:
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc
và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Đại hội đề ra "Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng ở miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu
tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai
của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam. thực hiện độc lập dân
tộc, các quyền tự do dân chu và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập và dân dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới". Cuộc
đấu tranh cách mạng nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước.
Đó là quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam.
*Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là vấn đề trung tâm thảo luận tại Đại hội. Xuất
phát từ các đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu
tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội xác định: cuộc 12
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt, là một quá trình
đấu tranh gay go giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, tư tưởng văn hoá và kỹ thuật.
Về đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Báo cáo chính trị
khẳng định: 'Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. xây dựng đời sống
ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa
bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới".
Để thực hiện xây dựng chiến lược này, Nghị quyết Đại hội đã xác định: cải tạo xã hội chủ nghĩa và
xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cải tạo xã hội chủ nghĩa là một nhiệm
vụ cơ bản, trong đó, cải cạo nông nghiệp là khâu chính của toàn bộ công cuộc cải tạo nhằm tăng năng suất
lao lộng, phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. nhằm xây dựng
cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội "Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
nước ta là xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông
nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng
thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu
thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại".
Đại hội xác định rằng, sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng, cho nên Đảng
cần phải tăng cường sự lãnh đạo đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đối với cuộc
đấu tranh nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống
nhất Tổ quốc. Muốn thế, "phải nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, cụ thể là phải tăng
cường tính chất giai cấp và tính chất tiên phong của Đảng, phải củng cố sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng".
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng
nước ta do Đảng lãnh đạo. Đại hội đã đề ra được đường lối tiến lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và con
đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nghị quyết của Đại hội là nguồn ánh sáng mới, là cơ sở
để toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà.
7. Chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới (phải nắm thời kỳ trước đó công nghiệp hóa có từ khi
nào. Không đã động gì đến kinh tế
So sánh đường lối công nghiệp hoá của Đảng thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới. Giống nhau:
- Về điểm giống qua báo cáo của Bộ Chính trị:
+ Một là, trước đây cũng như hiện nay Đảng ta đều quan niệm công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của
cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
+ Hai là, công nghiệp hoá đều nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất xã hội từ lao động thủ công
là chủ yếu sang lao động dùng máy móc, phương tiện kỹ thuật là phổ biến, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. 13
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
+ Ba là, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ mới, tạo ra hạ tầng cơ sở vững
chắc cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Bốn là, tiến hành công nghiệp hoá trước đây và hiện nay đều phải được thực hiện theo hướng hiện đại hoá
tuy có sự khác nhau về mức độ. Do sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học và công nghệ trong những
thập kỷ gần đây, khái niệm hiện đại hoá luôn luôn được bổ sung những nội dung mới với phạm vi bao quát
nhiều mặt, từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, quản lý… Những tiến bộ khoa học – công nghệ được coi là
hiện đại cách đây vài thập kỷ thì nhiều cái nay đã trở nên bình thường, cần được bổ sung, thậm chí lạc hậu,
cần được thay thế. Khái niệm hiện đại hoá mà chúng ta đề cập trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa
nhiệm kỳ khoá VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần này được hiểu theo ý nghĩa đó. Khác nhau:
- Theo Bộ chính trị: “Bên cạnh những điểm thống nhất nêu trên, công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay có
nhiều cái khác so với trước đây mà một số điểm chính là:
+ Đường lối công nghiệp hoá trước đổi mới được tiến hành theo cơ chế cũ, tập trung quan liêu, bao cấp;
thực hiện kế hoạch hoá tập trung với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ở thời kỳ đổi mới, chhoá theo cơ chế mới, là cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng; thị trường phản ánh
nhu cầu xã hội, có tiếng nói quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu
kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo.
+Trước đổi mới, công nghiệp hoá thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc doanh và
tập thể là chủ yếu. Trong đổi mới, nó là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của tất cả các thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng linh
hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp mà Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt
đối. Đồng thời thực hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sở hữu.
+ Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội. Còn công
nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập kinh tế quốc tế. (TTG) Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
nền kinh tế thị trường giúp khai thác hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc
tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện
đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác hiệu quả thị trường thế giới. Hội nhập quốc tế là việc kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện công nghiệp hóa
được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế hoạch của Nhà nước thông qua
các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện bằng cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế. 14
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn
viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa ở thời kỳ đổi mới, lấy phát huy nguồn lực con
người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; coi phát triển khoa học và công nghệ là nền
tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham
làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quảkinh tế xã hội. Còn ở thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với pháttriển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.úng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
8. Thể chế kinh tế Việt Nam, kinh tế thị trường
Trước khi có kinh tế thị trường chúng ta có nền kinh tế gì? sau đó 10 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa
1. Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là một tất yếu
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát của
nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng để
thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để
đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội
Đảng VI (1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo
mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát
triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy
lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy
sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc
quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa chọn đó là
CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định
ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. 15
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181 - Do nhân dân làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế
nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy luật
phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế riêng, có
tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể
thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung
chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những
nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường
cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân công
lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là
kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị
trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóc lột,
giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối
chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển
mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam. 9. Đối ngoại
Tại sao phải đa phương hóa, quan hệ hóa trong quan hệ đối ngoại?
Tại sao lại chọn ngoại giao cây tre?
Nội hàm của trường phái “Ngoại giao cây tre” Việt Nam mà Tổng Bí thư nói đến là: 1) Mềm mại, khôn
khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; 2) linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước 16
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. 3) Đoàn kết, nhân ái, nhưng
kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. 4) Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình,
biết người; biết tiến, biết thoái, “tuỳ cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.
Tổng Bí thư đã phân tích “ngoại giao cây tre”: “Cây tre Việt Nam gốc vững chắc, cành uyển chuyển, mềm
dẻo nhưng rất kiên cường. Không có cơn gió nào quật ngã được”. Điều này nói lên nền ngoại giao thấm
đượm tâm hồn cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam, đó là: mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên
cường, quyết liệt; linh hoạt sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định can trường trước mọi thử thách khó khăn
vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân. --
Đảng và Nhà nước luôn xác định Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, gắn liền
với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới là điều kiện không thể thiếu để
xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời với sự vận động chung, tự cô lập mình với thế
giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại, có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Chính vì vậy,
Đảng ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng
và tính tất yếu của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
Đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì những lý do sau.
Giai đoạn 1986-1996: Xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế
Đại hội VI của Đảng nhận định: “ xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước
có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau,cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta”
Tháng 12-1987, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành
Tháng 5-1988, Bộ chính trị ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình
mới. Đề ra chủ trương kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh
và hợp tác cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học – kỹ thuật và xu thế
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên
quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại, từ năm 1989, Đảng chủ trương xoá bỏ tình trạng độc quyền trong
sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu
Đại hội VII của Đảng đề ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không
phân biệt chế độ chính trị – xã hôi khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, với
phương châm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà
bình, độc lập và phát triển”
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 6-1992) nhấn mạnh yêu cầu đa dạng
hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tê. Mở rộng cửa để tiếp thu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của
nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới, trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi
trường, hạn chế đến mức tối thiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình mở cửa 17
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1/1994) chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối
ngoại độc lập tự chủ , mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại, trong phân công lao
động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Giai đoạn 1996-2008: Bổ sung và phát triển đương lối đối ngoại theo phương châm chủ động, tích
cực hội nhập kinh tế quốc tế
*Đầu tiên, về mặt chính trị - ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của thế giới mà
chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều hạn chế. Việt Nam vẫn trong thế
bị bao vây, bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống phá, cộng với các chính sách phát triển sai lầm, không
phù hợp với hoàn cảnh khiến nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Những biến động của tình hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của Đảng, là cơ sở cho
sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô là bài học
quý giá cho chúng ta. Từ đây, Đảng ta nhận thức và rút kinh nghiệm, cần phải thay đổi mô hình xã hội chủ
nghĩa cũ, cụ thể hơn là đổi mới chủ trương và chính sách ngoại giao sao cho hợp lí, hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển của nước ta, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu đã có những đổi mới sâu sắc
và mang tính chiến lược về đường lối và chính sách đối ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập là xu thế chung hiện nay, việc hợp tác đa phương trên nhiều lĩnh
vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội, lao động, thông tin - truyền
thông, môi trường, du lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển thị trường lao động
và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế về khoa học - công nghệ,
giáo dục - đào tạo, y tế đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân, tiến tới
thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước mở cửa, gắn nền kinh tế
và thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tiếp thu những nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, thu
hút nguồn lực cho phát triển, tạo thêm động lực xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
10. Văn hóa: Đường lối văn hóa của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Kỷ niệm 80 năm đề cương văn hóa Trường Chinh
ĐCSVN coi văn hóa tinh thần là nền tảng tinh thần của XH? Theo Unessco: Văn hóa phản ánh
và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong
hiện tại; nó cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà trên đó từng dân
tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.
Các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con
người và trong cả cộng đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế hệ , được vật chất hóa và
khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc; dồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc
sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội – văn hóa. Tóm lại, văn hóa
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng
đồng dân tộc vượt qua mọi khó khăn để phát triển. 18
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các
giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã
hội. Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề
kháng và đẩy lùi tiêu cực xã hội, đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng văn hóa phản tiến bộ. Biện pháp tích
cực là cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa,...
Các giá trị cốt lõi của Đề cương văn hóa (1943) và sự kế thừa, áp dụng của nó vào thực tiễn văn hóa Việt Nam ngày nay
Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là một văn kiện lịch sử vô giá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với cách mạng, kháng chiến, chỉ ra con đường vận động, phát triển của nền văn hóa mới Việt Nam. Trải
qua 80 năm nhưng những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong Đề cương vẫn vẹn nguyên giá trị và tính thời
sự sâu sắc. Những điều được đề cập đến trong Đề cương đến nay vẫn tiếp tục được bổ sung chứ không hề
thay đổi. Ba nguyên tắc dân tộc hóa - đại chúng hóa - khoa học hóa được đề cập trong Đề cương như sợi chỉ
đỏ xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa của Việt Nam và cho đến bây giờ vẫn khẳng định tính đúng đắn,
khoa học và chính xác. Có thể khái quát một số giá trị cốt lõi của Đề cương về văn hóa Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Đề cương đã xác định đúng đắn về phạm vi và nội dung của văn hóa: Văn hóa bao gồm
cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật cũng như xác định được nhiệm vụ và quyền lãnh đạo cách mạng văn
hóa thuộc về Đảng ta một cách công khai, rõ ràng: Cách mạng văn hóa phải do Đảng lãnh đạo. Đồng
thời, khẳng định nền văn hóa phải phục vụ nhân dân, là kết quả hoạt động sáng tạo của nhân dân.
Thứ hai, Đề cương đã cảnh báo về các nguy cơ của văn hóa Việt Nam lúc đó và còn có ý nghĩa
cho đến hiện tại. Nếu thời kỳ Đề cương văn hóa ra đời, chúng ta chỉ có kẻ thù trực tiếp và dễ nhận thấy là
phát xít Nhật và thực dân Pháp thì hiện nay chúng ta có nhiều thế lực thù địch núp dưới nhiều chiêu bài tinh
vi và xảo quyệt hơn rất nhiều. Thời điểm đó, chúng thực hiện các âm mưu lôi kéo các trí thức, các văn nghệ
sĩ, sử dụng nhiều hình thức công khai để tuyên truyền cho văn hóa của chúng, như: triển lãm, xuất bản báo
chí, tuyên truyền, biểu diễn văn nghệ, tổ chức các chuyến tham quan và hoạt động nghệ thuật ra chính quốc
để tuyên truyền cho cái mà chúng gọi là tính ưu việt, để mọi người nhầm tưởng chỉ có văn hóa đó là văn
minh, tiến bộ đồng thời khuyến khích các hoạt động mê tín, dị đoan và nhiều hủ tục của Việt Nam. Điều đó
đã dẫn đến “Tư tưởng sùng ngoại này dẫn tới đầu óc tự ti dân tộc và miệt thị văn hóa dân tộc. Một số người
đã không biết đến truyền thống yêu nước, khí phách anh hùng, tính lao động cần cù, sáng tạo, phẩm chất cao
quý của dân tộc ta suốt mấy nghìn năm lịch sử “ (Bộ Văn hóa Thông tin, 2003, tr.15.). Hiện nay, chúng ta đã
cởi mở hơn trong việc nhìn nhận, đánh giá trong quá trình tiếp biến văn hóa nhân loại cũng như nhận thức
sâu hơn về vấn đề kết hợp giữa giá trị văn hóa dân tộc và giá trị văn hóa nhân loại để làm giàu thêm
Thứ ba, Đề cương nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị: “Nền
tảng kinh tế của một xã hội và chế độ kinh tế dựng trên nền tảng ấy quyết định toàn bộ văn hóa của xã
hội”. Trong mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và nền tảng văn hóa xét đến cùng thì kinh tế giữ vai trò quyết
định. Tuy nhiên, không thể xem kinh tế có trước văn hóa có sau hay ưu tiên phát triển kinh tế trước rồi mới
phát triển văn hóa. Để phát triển bền vững thì phải đặt tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với phát triển
văn hóa cũng như cả bốn lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cần phải được coi trọng ngang nhau.
Thứ tư, Đề cương định hướng cho các hoạt động văn hóa theo các nguyên tắc văn hóa Việt Nam mới là:
dân tộc hóa - đại chúng hóa - khoa học hóa. Hiện nay bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin... là những vấn đề mang tính toàn
cầu nổi lên. Thế giới cũng tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng mất ổn định, xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, 19
LSĐ_Hồồ Lê Quỳnh Như _2156160181
tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, diễn biến phức tạp. An ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh tài
chính, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh... đang tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững
của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Sự phát triển như vũ bão của Cách mạng 4.0 đang đẩy Việt Nam
đối diện với nguy cơ tụt hậu sâu sắc nếu không kịp thời thay đổi chiến lược phát triển nền kinh tế tri thức.
Mặt trái của cơ chế thị trường và những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập giao lưu quốc tế đang tác
động không nhỏ đến xã hội. Các giá trị văn hóa truyền thống bị thách thức bởi nhân tố bên ngoài như chủ
nghĩa hưởng thụ cá nhân, tâm lý sính ngoại đang chiếm ưu thế trong một bộ phận lớp trẻ. Các thế lực thù
địch thực hiện diễn biến hòa bình nhằm lật đổ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. --
Sự quan trọng của văn hóa với sự phát triển bền vững
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này được thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc,
xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh
thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và cả
dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các thế hệ người Việt Nam, đó là tất
yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ
quát Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để
các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần phải mở rộng
giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thụ có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác
để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho văn hóa Việt Nam bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại
trong thời đại ngày nay và chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, nghĩa là đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất
nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh tế - xã
hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã hội “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là mục tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa
rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực
chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát
triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó phải
là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh tế với tiến bộ,
công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã 20