CÂU HI:
1. Trong Đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế”, Anh/chị hiểu hội nhập quốc tế như
thế nào? Theo Anh/Chị sinh viên, cần phải làm để chủ động
hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau
thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, chế, hoạt động hợp tác quốc tế mục
tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập
thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế theo đúng
nghĩa đầy đủ hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống hội. Về bản chất,
hội nhập quốc tế chính một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được
một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.
Hội nhập quốc tế hiện nay nhiệm vụ chung của cả nước, cả hội. Hội nhập quốc tế
toàn diện thực chất mở rộng các lĩnh vực hợp tác, không chỉ chính trị kinh tế đối
ngoại, còn bao gồm an ninh quốc phòng, các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như khoa
học-kĩ thuật, y tế, giáo dục…
Chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế với sự chủ động trong hợp tác; tích cực trong
hoạt động trao đổi; biết điều chỉnh linh hoạt dựa vào tình hình thực tiễn chứ không
những chủ trương cứng nhắc và bảo thủ.
(Trong hội nhập quốc tế, mục tiêu bản được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nhằm
củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển
đất nước nhanh bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa;
quảng hình ảnh Việt Nam, bảo tồn phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh
tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự
nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.)
Cần phải làm để chủ động hội nhập quốc tế
Một là, thực hiện đổi mới hình tăng trưởng gắn với cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa
tiền đề, vừa hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng
cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới
Hai là, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh bền vững; thực
hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình
hình mới và thực thi các cam kết quốc tế.
Bốn , tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các chế, chính sách
hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán
bộ, trình độ pháp luật quốc tế, xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ chủ động
phù hợp.
nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích
cực tham gia xây dựng tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế tham gia các
hoạt động của cộng đồng khu vực quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác
trên nguyên tắc cùng lợi; củng cố nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực quốc
tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ tiến bộ
hội trên thế giới.
2. So sánh đưKng lối công nghiMp hoá của Đảng thKi kO trưPc đQi
mPi và thKi kO đQi mPi.
-
Đảng ta luôn luôn khẳng định công nghiệp hóa đối với nước ta một tt yêu, khách quan.
Bởi vì, công nghiệp hóa vấn đề không mới, các nước bản chủ nghĩa đã thực hiện t
lâu, công nghiệp hóa còn được đề cập trong chủ nghĩaMác -nin. Đồng thời, tình hình
đất nước ta tồn tại nền sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, manh mún, lạc hậu…
-
Điểm xuất phát của nước ta thấp do đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên cơ sở hạ tầng,
sở vật chất của hội thiếu thốn thấp kém, năngsuất lao động thấp, đời sống nhân dân
nghèo nàn, lạc hậu, công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc nhiều khó khăn…
-
Ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa, Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
4.2. Sự khác nhau:
-
Đường lối công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
một cách hợp lý. thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa công nghiệp
hóa, hiện đại a gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.Đặc
điểm của nước ta tồn tại nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, năng suất lao động thấp, sở
hạ tầng chưa hình thành… do đó cần phải tiến hành công nghiệp hóa. ng nghiệp hóa
được hiểu quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụngy móc.
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã chuyễn lao động bằng
máy móc, công cụ sang giai đoạn mới tự động hóa, điều khiển hóa,đây quá trình hiện
đại hóa. Như vậy, bối cảnh thế giới mang đến cho chúng ta nhiều hội thách thức
mới.Chính vậy, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa, nghĩa chúng ta lựa chọn
hình công nghiệp hóa theo hướng rút ngắn bằng ch kết hợp hai quá trình đó là: quá
trình tuần tự (từ sử dụng lao động thủ công chuyển sang sử dụng máy móc, rồi từ sử dụng
máy móc chuyển sang tự động hóa, điều khiển hóa), quá trình nhảy vọt (lĩnh vực nào đủ
điều kiện thì phải hiện đại hóa ngay lậptức, phải đi trước đón đầu, hội nhập với thời đại).
-
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo hình nền kinh tế khépkín,
hướng nội. Còn công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa vàhội nhập kinh tế quốc
tế.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường giúp khaithác
hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội
nhập kinhtế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu
nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản tiên tiến của thế giới...
tinhocfighterminhlong@gmail.com
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác
hiệu quả thị trường thế giới. Hội nhập quốc tế việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại.
-
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa Nhà nước
doanh nghiệp nhà nước. Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành sự nghiệp
của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế mà trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
-
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện
công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế
hoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện
bằng cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế.
-
Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên
đất đai nguồn viện trợ của các nước hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa thời kỳ đổi
mới, lấy phát huy nguồn lực con người yếu tố bản cho sự phát triển nhanh bền
vững; coi phát triển khoa học công nghệ nền tảng, động lực công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.Con người yếu tố bản tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
để phát triển yếu tố con người cần đặc biệt chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo. Nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cấu
trình độ, khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của
thế giới khả năng sáng tạo công nghệ mới. Khoa học công nghệ vai trò quyết
định đế tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh tốc
độ phát triển kinh tế. nước ta, muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ yêu cầu tất yếu và
bức xúc. Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển
công nghệ nội sinh.
-
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ
quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quảkinh tế hội. Còn
thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với pháttriển nhanh, hiệu quả bền
vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng hội, bảo vệ môi
trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.Xây dựng chủ nghĩa hội ở nước ta thực chất là
nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện
mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả bền vững. Phát triển kinh
tế cũng để thực hiện các vấn đề an sinh hội, vn đề văn hóa hội... mục tiêu phát
triển con người, mọi người đều hưởng thành quả của sự phát triển.
3. Mối quan hM giữa đưKng lối kháng chiến và xây dựng chế
độ mPi (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa o sức mình chính.Đảng ta áp dụng phương châm
này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả giai đoạn xây dựng
chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng
chiến và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến kế tục phát
triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất
độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân
dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toànn, toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc
chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin o sức mạnh của nhân dân - dân tất cả, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân.
Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ người Việt Nam thì phải đứng
lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân một chiến sĩ, mỗi làng xóm một
pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân chính nguồn lực
chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất người dân, không
phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên
sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào các dân tộc yêu chuộng tự
do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây
dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây
dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương thực lực.
Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt.
Đó sự thay đổi xây dựng trên mọi bình diện lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị,
văn hóa, quân sự, ngoại giao…Chỉ sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa
đất nước tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của
Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững
chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới. Toàn dân ra
sức y dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế lưỡng, cẩn thận đúng đắn nên
không thể hoàn thành trong thời gian ngắn phải tiến hành lâu dài, đường lối xây dựng
cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình chính nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt".
Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để
xây dựng sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ lao động mới tạo ra
của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực
cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí sức mạnh nước nhà. Khi nào điều kiện ta sẽ
tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
4. tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959-
1964
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với xu thế
chung của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta phải đề ra được đường lối đúng
đắn, hợp lí. Trải qua nhiều lân nhóm họp tại các Hội nghị, Tháng 1-1959 tại Hội nghị Trung
ương lần thứ 15, Ban Chấp nh Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam.
Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao
gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc cách mạng n
TIN HỌC MINH LONG
tộc dân chủ nhân dân miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau,
nhưng quan hệ hữu với nhau... nhằm phương hướng chung giữ vững hòa bình, thực
hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ
nghĩa hội". Nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam bạo
lực cách mạng thay chỉ đấu tranh dân chủ chính trị như trước đó, chuyển từ giữ gìn
lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội ngh Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch s
to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, còn thể hiện
bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách
mạng.
Tiến hành cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc củng cố phát huy thắng lợi đã
giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội một mặt vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân
miền Bắc; mặt khác tích cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng
của cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc
ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của miền Bắc ngày càng được vững mạnh
thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng thêm tin
tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở
miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà. Cách mạng miền Nam hiện nay đang tiếp
tục phát huy ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của cả dân tộc Việt Nam. Phong trào
yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng
cường lực lượng cách mạng để đánh bại chính sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ -
Diệm, đi đến đánh đổ sự thống trị tàn khốc của chúng, thực hiện hoà bình thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập và n chủ.
Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố phát triển lực lượng để hoàn
thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên sở miền
Bắc tiến lên chủ nghĩa hội, đồng thời giữ vững đẩy mạnh phong trào ch mạng
miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân n trong cả
nước quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế độ hội chủ nghĩa miền Bắc,
đồng thời cũng quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ miền Nam
để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các chính sách của đế quốc Mỹ, đánh
đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất
nước nhà.
5. Công nghiMp hóa-hiMn đại hóa gắn vPi bảo vM môi trưKng.
Theo thống của Bộ Tài nguyên Môi trường, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan
rộng không chỉ các KCN, khu đô thị, cả nhũng vùng nông thôn; đa dạng sinh học
tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu nước biển dâng gây ra triều cường những hậu
quả khôn ờng. Đây chính kết quả của quá trình Công nghiệp hóa nhanh nước ta.
Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị Nghị quyết 41- NQ/TW "Về bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định
bảo vệ môi trường vừa mục tiêu, vừa một nội dung cơ bản của phát triển bền vững
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi
trường.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội dung BVMT được ng lên một tầm cao mới, gắn chặt với
quá trình CNH-HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng các chương trình dự án đầu tư''. Một điểm mới so
với Đại hội X đưa thêm nội dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi
trường; từng bước phát trin năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
Việc CNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua
với môi trường. Việc các làng nghề sản xuất tphát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần
lớn đều gây ô nhiễm môi trường. CHH-HĐH sẽ o theo đô thị hóa, đây thực sự sức ép
lớn về môi trường trong quản lý đô thị. Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang
phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên,
ô nhiễmi trường ngày càng lộ rõ. Do đó, các mối quan tâm về môi trường cần được lồng
ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triến kinh tế và xã hội.
Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với
môi trường, tiếp cận hình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội
Đảng lần thứ XI. Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực
nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng
lượng...; đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cấu kinh tế nước
ta theo hướng phát triển bền vững. Nhà nước cũng cần sử dụng công ctài chính nhằm
khuyến khích đầu vào các ngành sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng lớn, sử dụng
công nghệ sạch; sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và
bao không y hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái chế sử dụng các sản phẩm tái
chế.
(Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây khẳng định, chúng ta đủ năng
lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang hình phát triển bền vững. Kinh nghiệm
phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, khí tự động hóa, công nghệ vật liệu
cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm nano, những thành tựu trong công nghệ
sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật học, hóa học... cho thấy nếu
đủ quyết tâm cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo phát
triển hiện đại 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó Việt Nam đã cam kết tại Hội
nghị Thượng đỉnh tại Tokyo tháng 11- 2010, về thực hiện một hình tăng trưởng mới,
đảm bảo 5 yêu cầu: i) Tăng trưởng cân bằng; ii) Tăng trưởng an toàn; iii) Tăng trưởng bền
vững; iv) Tăng trưởng dựa o trí tuệ; v) Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công bằng
cho tất cả mọi người. Đây phải trở thành điểm xuyên suốt quá trình CNH-HĐH nước ta.)
Chuyển đổi sang hình ng trưởng bền vững biện pháp hữu hiệu nhất khả
năng phòng ngừa hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH. Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong
thời gian qua chủ yếu do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tớic chi tiêu tăng
trưởng kinh tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường.
Trước hết, tất cả các dự án đầu phải báo o đánh giá tác động môi trường,
được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt. Đồng thời,
tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản chất thải, nhất các chất
thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế. Và cần có sự chuyển biến mạnh
mẽ trong toàn Đảng toàn hội về nhận thức hành động, trong chỉ đạo điều hành
đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT.
6. Phân tích yếu tố thKi trong đưKng lối giành chính quyền của
ĐCSĐD (1939 - 1945) liên hM vPi viMc nắm bắt thKi cơ hiMn nay
của ViMt Nam
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh,
dân tộc Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực dân,
phong kiến; thành lập nên Nnước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những yếu tố
góp phần làm nên thắng lợi to lớn bài học về chớp thời vận dụng đúng thời cách
mạng.
Thứ nhất từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản bị thua
to trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong thế chiến II, nên
phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính
trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp thời, Hồ Chí Minh Ban
Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại Tân Trào để quyết định Tổng khởi
nghĩa trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát
ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm
một tin rất quan trọng, đó phát xít Nhật đã bại trận chuẩn bị đầu hàng quân Đồng
minh. Ngay lập tức, Trung ương Đảng Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi
nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh số 1” được phát đi ngay, hạ lệnh
Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima
của Nhật Bản, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định: hội rất tốt cho
ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng
ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể
để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó đồng chí Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng đã nhận định nắm bắt được tình hình sự chuyển biến nhanh
chóng: phát xít Nhật đã chết gục theo phát xít Đức; quân đội Nhật đã đang tan rã, bị
tước khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương.
vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật, để đến khi quân
Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không
thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng
minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị tiếp
nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng việc lực lượng cách
mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời vận dụng đúng thời cơ. Việc vua Bảo Đại
thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến; đồng thời triệt tiêu một đầu
mối quan trọng các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan
chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
“Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam với thế giới: Nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu
chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù
cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản.
vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến
hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám
thành công trên cả nước chính nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân
Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng
minh.
thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng
Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời "nổ ra đúng lúc". Ðó lúc 16 nghìn quân
Anh chưa vào miền nam 200 nghìn quân Tưởng chưao miền bắc để giải giáp quân
Nhật; cũng lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước
khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Chọn đúng thời
một khoa học, một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên
gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn,
không đổ máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu Chủ tịch
Hồ Chí Minh tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn
bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng
khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển
của khởi nghĩa cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành
thắng lợi.
Hiện nay:
Thời gian qua, toàn cầu hóa xu hướng hội nhập quốc tế một diễn biến khách quan
mang tính tất yếu. Đảng ta đã biến thành hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng
hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi dần văn hóa, thể thao… cho đến chính trị. Việt Nam
đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ng
cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò uy
tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Hiện nay, dịch Covid-19 đã đang gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế giới nhưng
cũng thể tạo ra một số hội.ng với sự tác động của chiến tranh thương mại Mỹ -
Trung, nhiều nhà đầu nước ngoài đã sự chuyển dịch địa bàn đầu quy đầu
tư, họ đã đang chọn điểm đến Việt Nam. Nước ta thể nắm bắt hội này để
thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị các điều kiện cần thiết hấp dẫn để
“lót ổ đón đại bàng” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hình phát triển kinh
tế tổng quát của nước ta hiện nay. Đây quá trình nhận thức, hoàn thiện duy luận
tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung
đặc trưng bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường, sự
quản của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) ngày càng được
hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới phát triển nền kinh tế theo hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường con đường phát
triển kinh tế hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa hội. Đây cả một quá trình vừa
đổi mới duy luận, nhất duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan
kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị
trường, sự quản của Nhà nước theo định hướng hội chủ nghĩa; đó chính nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa hội,
chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa; đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
làm nền tảng tinh thần của hội; xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường chúng ta lựa
chọn đó CNXH để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận
thức về CNXH con đường đi lên CNXH nước ta được Đảng khẳng định trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc
trưng bản đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với
8 đặc trưng cơ bản là:
-
một hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
-
Do nhân dân làm chủ.
-
nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
-
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
tinhocfighterminhlong@gmail.com
-
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, phát triển toàn diện.
-
Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ.
-
Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
-
quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn
ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - hội, sự thay đổi
bản toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế lực mới cho đất nước
tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta sự lựa chọn hoàn toàn phù
hợp với quy luật phát triển khách quan xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường
một phạm trù kinh tế riêng, tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật
riêng vốn của tồn tại đâu bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong
thực tế không một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn
phát triển, gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của hội những nền kinh tế
hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển
kinh tế thị trường cũng sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển kinh
tế hàng hóa. Đó sự phân công lao động hội sự tách biệt về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hóa quy định. nghĩa kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ
nghĩa hội cũng n trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân nhân dân lao động, xóa
bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên sở nhận thức đúng đắn đầy đủ hơn về chủ nghĩa hội con đường đi lên
chủ nghĩa hội Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa đường lối chiến lược nhất quán, hình kinh tế tổng quát
trong suốt thời quá độ đi lên chủ nghĩa hội Việt Nam. Đây kết quả sau nhiều
năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; bước phát triển mới về duy luận
của Đảng cộng sản Việt Nam.
7. sao ĐCSVN lựa chọn hình kinh tế thị trưKng định
hưPng XHCN là một tất yếu
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa hình phát triển kinh
tế tổng quát của nước ta hiện nay. Đây quá trình nhận thức, hoàn thiện duy luận
tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung
đặc trưng bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo chế thị trường, sự
quản của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) ngày càng được
hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới phát triển nền kinh tế theo hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường con đường phát
triển kinh tế hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa hội. Đây cả một quá trình vừa
đổi mới duy luận, nhất duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan
kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo chế thị
trường, sự quản của Nhà nước theo định hướng hội chủ nghĩa; đó chính nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa hội,
chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa; đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
làm nền tảng tinh thần của hội; xây dựng nền dân chủ hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường chúng ta lựa
chọn đó CNXH để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận
thức về CNXH con đường đi lên CNXH nước ta được Đảng khẳng định trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc
trưng bản đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với
8 đặc trưng cơ bản là:
-
một hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
-
Do nhân dân làm chủ.
-
nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
-
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
-
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, phát triển toàn diện.
-
Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ.
-
Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
-
quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn
ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - hội, sự thay đổi
bản toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế lực mới cho đất nước
tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nước ta sự lựa chọn hoàn toàn phù
hợp với quy luật phát triển khách quan xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường
một phạm trù kinh tế riêng, tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật
riêng vốn của tồn tại đâu bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong
thực tế không một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn
phát triển, gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của hội những nền kinh tế
hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển
kinh tế thị trường cũng sở kinh tế khách quan của sự hình thành phát triển kinh
tế hàng hóa. Đó sự phân công lao động hội sự tách biệt về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hóa quy định. nghĩa kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ
nghĩa hội cũng n trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân nhân dân lao động, xóa
bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên sở nhận thức đúng đắn đầy đủ hơn về chủ nghĩa hội con đường đi lên
chủ nghĩa hội Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa đường lối chiến lược nhất quán, hình kinh tế tổng quát
trong suốt thời quá độ đi lên chủ nghĩa hội Việt Nam. Đây kết quả sau nhiều
năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; bước phát triển mới về duy luận
của Đảng cộng sản Việt Nam.
8. sao nói ĐCSVN ra đKi một tất yếu? phân tích sự sáng
tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên ?
Trong cuôc đời hoạt đôn g cách mạng của nh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã th hiên rõ
nét
sinh
đôn• g
về
tinh
thần
đôc lâp tự
chủ
sáng
tạo
trong
vc vân dụng
CNcLN,
truyền
thống
dân
tôc ,
kinh
nghiêm
của nước ngoài t• cách nhuần nhuyễn vào thực
tiễn VN, đáp ứng yêu cầu của sự nghiêp• cách mạng đăt ra được thể hiên• ngay trong
ơng nh chính trị đầu tiên của Đảng ta, thông qua tại Hôi• ngh thành p ĐCSVN (t
ngày 3-7/2/1930).
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
đã ch ra phương ớng bản của cách mạng VN, đăt nền móng cho viêc xác định lý
luân• , đường lối, phương pháp cách mạng những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng
chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân VN.
Tuy hết sức ngắn gọn, vắn tắt nhưng CLCT đầu tiên của Đảng đã kết hợp nhuần nhuyễn
quan điểm dân c giai cấp, thm đượm tính dân tôc thời đại với những luân điểm
sau nổi bật. Một là, cách mạng VN phải cách mạng sản dân quyền thổ địa cách
mạng để tiến lên hội cộng sản. (Thực chất đó một cuộc cách mạng 2 giai đoạn :
giai đoạn thứ nhất đó cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ hai sau khi
giành được thắng lợi sẽ chuyển sang làm cách mạng hội chủ nghĩa để tiến tới hội
cộng sản.)Hai là, trong cách mạng sản dân quyền hai nhiệm vụ chiến lược
chống đế quốc chống phong kiến. (Hai nhiệm vụ này mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, phải được tiến hành khắng khít không tách rời nhau nhưng trong đó nhiệm vụ
chống đế quốc tay sai (phản đế) phải đặt lên hàng đầu.) Ba là, xác định lực lượng
cách mạng, bao gồm : giai cấp công - nông gốc, những người yêu nước trong các giai
cấp khác đồng minh của cách mạng.( Đảng phải vận động, thu phục giai cấp mình để
lãnh đạo dân chúng, dựa hẳn vào dân cày nghèo, liên lạc với trung nông. Lực lượng
cách mạng bao gồm : thứ nhất giai cấp công - nông gốc, động lực của cách
mạng, thứ hai những người yêu nước trong các giai cấp khác đồng minh của cách
mạng.) Bốn là, lãnh đạo cách mạng giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của
giai cấp Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ
trương phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng. Sáu là, cách mạng Việt Nam
đoàn kết với giai cấp sản các dân tộc thuộc địa trên thế giới để chống chủ nghĩa đế
quốc. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Từ những nội dung bản trên, Đảng đã thể hiện trình độ duy sâu sắc sáng tạo:
vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam, vừa đáp ứng
chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Sáng tạo trong vấn đề dân tộc, xác định thái độ với các giai cấp, liên minh giai cấp
đoàn kết toàn dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào
hoàn cảnh Việt Nam, xác định chủ trương "Làm sản dân quyền cách mạng thổ
địa cách mạng để đi tới hội cộng sản". Cuộc cách mạng này đánh đổ thực dân Pháp
bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, nhân dân được các
quyền dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đó chính tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa hội, xuyên suốt các chủ trương đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta
ra đời đến nay. Trong tưởng lớn đó, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc chỗ: xác định
độc lập dân tộc mục tiêu cốt tử, trực tiếp trước mắt, tiền đề, điều kiện để tiến lên
chủ nghĩa hội. Giai đoạn đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân. Sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc chỗ quan niệm lực lượng
cách mạng nước ta toàn thể nhân dân. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh người đầu
tiên trong Đảng ta nêu ra tưởng cần xây dựng liên minh Công-Nông-Trí dưới sự lãnh
đạo của Đảng làm nòng cốt cho lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm tất cả các tầng
lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nguyễn Ái Quốc đánh gđúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng
giải phóng dân tộc các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả
các tầng lớp nhân dân thể đoàn kết được, thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc
và phong kiến.
9. Sự quan trọng của văn hóa vPi sự phát triển bền vững
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: n hóa nền
tảng tinh thần của hội, mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan
điểm này được thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa nền tảng tinh thần của hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng dân tộc, xây dựng phát triển nền văn hóa dân tộc chăm lo nền tảng tinh thần
của hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh thì không sự phát triển kinh tế
- hội bền vững.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của hội được thấm nhuần trong
mỗi con người cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền phát huy
qua các thế hệ người Việt Nam, đó tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện
tại hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ.
vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống hội để các giá
trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của hội, chúng
ta cần phải mở rộng giao lưu quốc tế khu vực, tiếp thụ chọn lọc cái hay, cái tiến
bộ trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc,
tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế, làm cho văn hóa Việt Nam bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại
trong thời đại ngày nay chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa.
Đảng ta coi văn hóa nền tảng tinh thần của hội, nghĩa đề cao, coi trọng nguồn
lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị
văn hóa “tài sản” giá, tận cho sự phát triển kinh tế - hội, đó còn sở tinh
thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội nước ta xây dựng một
hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính mục
tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh
tế - hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu động lực chính của sự phát triển
con người, do con người. Đồng thời nêu yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền
với tiến bộ công bằng hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay
không thể phát triển bằng mọi giá, nhất chạy theo lợi nhuận tối đa, lợi ích hôm nay
mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa, đó phải nền kinh tế giải quyếti hòa các mối quan hệ lợi ích giữa nhân
hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng hội, đảm bảo bền vững về môi trường
sinh thoái, tạo sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa hội. Để đạt được điều đó phải
cần đến văn hóa, sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chức hoạt động của nền kinh
tế mục tiêu phát triển hội, phát triển con người, đó chính vai trò của văn hóa
trong kinh tế, kinh tế trong văn hóa.
Văn hóa với cách đời sống tinh thần hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng,
nhu cầu phong phú, cùng, tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn nhu cầu
nhân văn cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người,
hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, sự khác vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên,
thậm chí còn nghèo nàn hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, hội tiến
bộ chính nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển.
Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa,
con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ
nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội
nguồn đó của mỗi dân tộc văn hóa. kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới
nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các
nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan
trọng nằm trong văn hóa.
Trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động làm thay đổi quan
niệm về phát triển kinh tế, phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mặt yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng
đều hạn thể bị khai thác cạn kiệt, dần dần chuyển sang yếu tố quyết định
cho sự phát triển chính trí tuệ, tri thức, thông tin, sáng tạo đổi mới không ngừng
tạo ra những giá trị vật chất tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của
nhân hội, đó tức văn hóa, vai trò của văn hóa trong phát triển, chỉ sự tham
gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng
tạo này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi nhân
cộng đồng. Chỉ nguồn lực này hạn, khả năng tái sinh tự sinh, không bao
giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sự dụng hiệu quả nếu không
những con người đủ trí tuệ năng lực khai khác chúng, thì các nguồn lực đó
phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia phát huy tác dụng vào trong phát
triển.
10. sao trong thKi kO đQi mPi, ĐCSVN phải lựa chọn
phương châm đối ngoại theo hưPng đa phương hóa, đa
dạng hóa là một tất yếu.
Đảng Nhà nước luôn xác định Việt Nam một bộ phận không thể tách rời của thế
giới, gắn liền với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc nh hình thế giới
điều kiện không thể thiếu để xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời
với sự vận động chung, tự lập mình với thế giới bên ngoài những sai lầm nguy hại,
thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Chính vậy, Đảng ta đã những
điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng
tính tất yếu của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
Đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa một tất yếu những do sau.
Đầu tiên, về mặt chính trị - ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của
thế giới chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều
hạn chế. Việt Nam vẫn trong thế bị bao vây, bị lập lại bị các thế lực thù địch chống
phá, cộng với các chính sách phát triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến
nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Những biến động của tình hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức duy của
Đảng, sở cho sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống hội
chủ nghĩa đứng đầu Liên bài học quý gcho chúng ta. Từ đây, Đảng ta nhận
thức rút kinh nghiệm, cần phải thay đổi hình hội chủ nghĩa cũ, cụ thể hơn
đổi mới chủ trương và chính sách ngoại giao sao cho hợp lí, hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước nhu cầu phát triển của nước ta, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu
đã những đổi mới sâu sắc mang tính chiến lược về đường lối chính sách đối
ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập xu thế chung hiện nay, việc hợp tác đa phương trên
nhiều lĩnh vực tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, an sinh hội,
lao động, thông tin - truyền thông, môi trường, du lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy
tiến bộ hội, phát triển thị trường lao động hệ thống an sinh hội, xóa đói giảm
nghèo… Hội nhập khu vực quốc tế về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế
đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, thông tin y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người
dân, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực thế giới trong các lĩnh vực
y.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng ớc mở cửa, gắn
nền kinh tế thị trường trong nước với khu vực thế giới, tiếp thu những nguyên tắc
chuẩn mực quốc tế, thu hút nguồn lực cho phát triển, tạo thêm động lực xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
11. Phân tích mối quan hM giữa chính trị - quân sự - ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-
ngoại giao để chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chỉ
mặt khi kết thúc chiến tranh để đi đến một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi
bên. Trái lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta mặt từ
đầu đến cuối, luôn luôn vai trò, vị trí, nhiệm vụ nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ
13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng Giêng 1967 về đẩy mạnh đấu tranh
ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân
dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ đúng lúc ta
đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận
quan trọng, ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự phải tăng cường xây dựng lực
lượng, vừa phát huy thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường. Trên
chiến trường, ta đánh thắng được keo nào thì ngoại giao phải phát huy, khuếch trương
trên thế giới, đồng thời phải phục vụ phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị tạo
thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao hai nhiệm vụ lớn.
Nhiệm vụ thứ nhất tăng cường hậu phương quốc tế của ta làm suy yếu hậu phương
của địch. Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao nhiệm vụ thực hiện khẩu
hiệu của Đảng đề ra thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những
đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng tình với ta một điểm nào đó. Như trên
đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ nhằm mục tiêu chung của loài người, của thời
đại, từ mục tiêu cao chủ nghĩa hội, cho đến mục tiêu thấp hòa bình, độc lập dân
tộc. Ai đồng tình với ta trên sở chiến lược đi tới chủ nghĩa hội đều bạn của ta.
Ai chỉ đồng tình với ta chỉ trên sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi bạn. Ta
tranh thủ kết bạn với mọi người từ mức thấp tới mức cao, theo đúng phương châm thêm
bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta
nhìn vấn đề với đầu óc rất sáng suốt thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn n
Mỹ, cuộc đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối phương phải quy
hàng mới kết thúc. Phải khái niệm thật thế nào ta thắng, thế nào địch thua thì
mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải
phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức Mỹ phải rút hết quân, chấm dứt xâm lược,
phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần n vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ
chịu nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho rút. Ngoại giao phải làm sao đạt
được thực chất vấn đề như vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế ta lại một
nước nhỏ tphải ngoại giao đóng góp vào đó, thực hiện phương châm thắng từng
bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải ngoại giao để giải quyết vấn đề ta
thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về
chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế
giới như vậy, điều tối cần thiết đối với ta phải tạo lập được một mặt trận nhân dân thế
giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp luận lập Mỹ về chính trị tinh
thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu
hướng vào bốn nội dung: thứ nhất nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai nêu
cao quyết tâm giành độc lập của Việt Nam, th ba nêu cao thiện chòa bình của Việt
Nam, thứ tố cáo tội ác chiến tranh vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược
Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn thế giằng co quyết liệt, nhiệm
vụ ngoại giao chủ yếu vẫn tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối
loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần th 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965)
của Đảng nhận định lúc đó tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”,
song đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho
đánh, lấy đánh để ép địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ
những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh
nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu đồng tình với ta: vấn
đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi.
Trong một cuộc họp Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một
trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần các đề nghị
hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên
phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn nữa. Họ muốn tiến xa hơn.
Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái nữa.” tới hàng chục
nước đủ các loại: các ớc Không liên kết, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản,
Bắc Mỹ, đếnc nhân vật như Tổng thư Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí
thức, nhà báo tên tuổi,... làm trung gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ
một phương thức tính chất quá độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai
bên đối địch trong một cuộc tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng trung gian đã được
xem n một thủ đoạn nhằm những mục đích khác như: thu thập tin tức về ý đồ chiến
lược hoặc về lập trường đàm phán cụ thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt làm
cho đối phương chập chững, hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve
vãn dụ dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ chuyển sức ép sang đối phương; gây
hiểu lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ.
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Trước
năm 1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không những
các nước đồng minh của Mỹ các nước thế giới thứ ba còn cả nước hội chủ
nghĩa nữa; không những nhân vật trong chính giới các nước cả những nhân sĩ, trí
thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời gian chưa cuộc đàm
phán Paris, cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục dùng trung gian. Thủ đoạn
này thâm độc chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải đồng tình
hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta ta bác
đi, như vậy nghĩa ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, mặc nhiên Mỹ tranh thủ
được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng loại
“trung gian thân tín” các nước châu u đồng minh của Mỹ - vừa để gây sức épn
ngoài với ta vừa để thu thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ
tài liệu nhận tin tổng hợp về khả năng ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên dùng
“mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông u làm trung gian. Khác với việc dùng các
nước phương y làm trung gian, Mỹ dùng các nước hội chủ nghĩa làm trung gian
với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức ép
từ bên trong phe hội chủ nghĩa đối với ta hòng tác động đến ý chí của ta giảm viện
trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác
của Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, cho họ biết đến
lúc chín muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa
đối pvới Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu
chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính.Đảng ta áp dụng
phương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc còn trong cả
giai đoạn xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vậy
giữa đường lối kháng chiến việc xây dựng chế độ mới mối quan hệ song song
và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến kế tục phát
triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống
nhất độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ một cuộc chiến tranh cách mạng
của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. tính chất toàn dân, toàn diện lâu dài.
một cuộc chiến tranh tiến bộ tự do, độc lập, dân chủ a bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - dân tất cả, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân.
Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ người Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân một chiến sĩ, mỗi làng xóm
một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân chính
nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất người
dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều thể đóng góp công
sức làm nên sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào các dân tộc yêu
chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về
kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực
dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù ,
biểu dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây
dựng toàn diện, mọi mặt. Đó sự thay đổi xây dựng trên mọi bình diện lĩnh vực
đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao…Chỉ sự tập trung xây dựng
toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng
và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của
Pháp; để chuyển hóa ơng quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương
vững chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới.
Toàn dân ra sứcy dựng chế độ dân chủ nhân dân vớim thế lưỡng, cẩn thận
đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn phải tiến hành u dài, có
đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình chính nghĩa là: “Phải tự cấp, tực về mọi mặt".
Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của
để xây dựng sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ lao động mới
tạo ra của cải vật chất. ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải

Preview text:

CÂU HỎI:
1. Trong Đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế”, Anh/chị hiểu hội nhập quốc tế như
thế nào? Theo Anh/Chị là sinh viên, cần phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế.
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau
thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục
tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập
thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm. Hội nhập quốc tế theo đúng
nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Về bản chất,
hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được
một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó.
Hội nhập quốc tế hiện nay là nhiệm vụ chung của cả nước, cả xã hội. Hội nhập quốc tế
toàn diện thực chất là mở rộng các lĩnh vực hợp tác, không chỉ chính trị và kinh tế đối
ngoại, mà còn bao gồm an ninh quốc phòng, các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như khoa
học-kĩ thuật, y tế, giáo dục…
Chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế với sự chủ động trong hợp tác; tích cực trong
hoạt động và trao đổi; biết điều chỉnh linh hoạt dựa vào tình hình thực tiễn chứ không có
những chủ trương cứng nhắc và bảo thủ.
(Trong hội nhập quốc tế, mục tiêu cơ bản được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là nhằm
củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển
đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh
tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự
nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.)
Cần phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế
Một là, thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là
tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng
cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới
Hai là, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững; thực
hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình
hình mới và thực thi các cam kết quốc tế.
Bốn là, tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách
hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán
bộ, trình độ pháp luật quốc tế, xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ chủ động phù hợp.
nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích
cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các
hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác
trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc
tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
2. So sánh đưKng lối công nghiMp hoá của Đảng thKi kO trưPc đQi
mPi và thKi kO đQi mPi.
- Đảng ta luôn luôn khẳng định công nghiệp hóa đối với nước ta là một tất yêu, khách quan.
Bởi vì, công nghiệp hóa là vấn đề không mới, mà các nước tư bản chủ nghĩa đã thực hiện từ
lâu, công nghiệp hóa còn được đề cập trong chủ nghĩaMác – Lê-nin. Đồng thời, tình hình
đất nước ta tồn tại nền sản xuất nhỏ lẻ, thủ công, manh mún, lạc hậu…
- Điểm xuất phát của nước ta thấp do đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nên cơ sở hạ tầng,
cơ sở vật chất của xã hội thiếu thốn và thấp kém, năngsuất lao động thấp, đời sống nhân dân
nghèo nàn, lạc hậu, công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc nhiều khó khăn…
- Ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa, Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta 4.2. Sự khác nhau:
- Đường lối công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng
một cách hợp lý. Ở thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.Đặc
điểm của nước ta là tồn tại nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, năng suất lao động thấp, cơ sở
hạ tầng chưa hình thành… do đó cần phải tiến hành công nghiệp hóa. Công nghiệp hóa
được hiểu quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc.
Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã chuyễn lao động bằng
máy móc, công cụ sang giai đoạn mới là tự động hóa, điều khiển hóa,đây là quá trình hiện
đại hóa. Như vậy, bối cảnh thế giới mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội và thách thức
mới.Chính vì vậy, công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa, nghĩa là chúng ta lựa chọn
mô hình công nghiệp hóa theo hướng rút ngắn bằng cách kết hợp hai quá trình đó là: quá
trình tuần tự (từ sử dụng lao động thủ công chuyển sang sử dụng máy móc, rồi từ sử dụng
máy móc chuyển sang tự động hóa, điều khiển hóa), quá trình nhảy vọt (lĩnh vực nào đủ
điều kiện thì phải hiện đại hóa ngay lậptức, phải đi trước đón đầu, hội nhập với thời đại).
- Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khépkín,
hướng nội. Còn công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới thì lấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập kinh tế quốc
tế.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường giúp khaithác
hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy mạnh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta diễn ra trong bối
cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Hội
nhập kinhtế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới...
tinhocfighterminhlong@gmail.com
sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm khai thác
hiệu quả thị trường thế giới. Hội nhập quốc tế là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước và
doanh nghiệp nhà nước. Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành sự nghiệp
của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế mà trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện
công nghiệp hóa được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế
hoạch của Nhà nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện
bằng cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên
đất đai và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Công nghiệp hóa ở thời kỳ đổi
mới, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững; coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.Con người là yếu tố cơ bản tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
để phát triển yếu tố con người cần đặc biệt chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo. Nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và
trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của
thế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới. Khoa học và công nghệ có vai trò quyết
định đế tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc
độ phát triển kinh tế. Ở nước ta, muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu và
bức xúc. Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ, mua sáng chế kết hợp với phát triển công nghệ nội sinh.
- Công nghiệp hóa ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ
quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quảkinh tế xã hội. Còn ở
thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với pháttriển nhanh, hiệu quả và bền
vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi
trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta thực chất là
nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để thực hiện
mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Phát triển kinh
tế cũng là để thực hiện các vấn đề an sinh xã hội, vấn đề văn hóa – xã hội... vì mục tiêu phát
triển con người, mọi người đều hưởng thành quả của sự phát triển.
3. Mối quan hM giữa đưKng lối kháng chiến và xây dựng chế độ mPi (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụng phương châm
này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả giai đoạn xây dựng
chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng
chiến và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và phát
triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất
và độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân
dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc
chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân.
Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng
lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một
pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân chính là nguồn lực
chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất kì người dân, không
phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên
sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự
do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây
dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây
dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương thực lực.
Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt.
Đó là sự thay đổi và xây dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị,
văn hóa, quân sự, ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa
đất nước tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của
Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững
chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới. Toàn dân ra
sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế kĩ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên
không thể hoàn thành trong thời gian ngắn mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt".
Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để
xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra
của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực
cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí và sức mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ
tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
4. Tư tưởng chiến lược tấn công của Đảng trong giai đoạn 1959- 1964
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với xu thế
chung của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải đề ra được đường lối đúng
đắn, hợp lí. Trải qua nhiều lân nhóm họp tại các Hội nghị, Tháng 1-1959 tại Hội nghị Trung
ương lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam.
Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay, cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao
gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân TIN HỌC MINH LONG
tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau,
nhưng quan hệ hữu cơ với nhau... nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực
hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ
nghĩa xã hội". Nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạo
lực cách mạng thay vì chỉ đấu tranh dân chủ và chính trị như trước đó, chuyển từ giữ gìn
lực lượng sáng thế tiến công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử
to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ
bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã
giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân
miền Bắc; mặt khác là tích cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng
của cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc
ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của miền Bắc ngày càng được vững mạnh
thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng và uy thế chính trị của nhân dân ta, tăng thêm tin
tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở
miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà. Cách mạng ở miền Nam hiện nay đang tiếp
tục phát huy ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của cả dân tộc Việt Nam. Phong trào
yêu nước của nhân dân miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng
cường lực lượng cách mạng để đánh bại chính sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ -
Diệm, đi đến đánh đổ sự thống trị tàn khốc của chúng, thực hiện hoà bình thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển lực lượng để hoàn
thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên cơ sở miền
Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở
miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả
nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc,
đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ ở miền Nam
để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các chính sách của đế quốc Mỹ, đánh
đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
5. Công nghiMp hóa-hiMn đại hóa gắn vPi bảo vM môi trưKng.
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan
rộng không chỉ ở các KCN, khu đô thị, mà ở cả nhũng vùng nông thôn; đa dạng sinh học
tiếp tục bị suy giảm; biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu
quả khôn lường. Đây chính là kết quả của quá trình Công nghiệp hóa nhanh ở nước ta.
Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41- NQ/TW "Về bảo vệ
môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định
bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với
quá trình CNH-HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư''. Một điểm mới so
với Đại hội X là đưa thêm nội dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi
trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
Việc CNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua
với môi trường. Việc các làng nghề sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần
lớn đều gây ô nhiễm môi trường. CHH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa, đây thực sự là sức ép
lớn về môi trường trong quản lý đô thị. Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang
phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên,
ô nhiễm môi trường ngày càng lộ rõ. Do đó, các mối quan tâm về môi trường cần được lồng
ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triến kinh tế và xã hội.
Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với
môi trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội
Đảng lần thứ XI. Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực
nội sinh nhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng
lượng...; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước
ta theo hướng phát triển bền vững. Nhà nước cũng cần sử dụng công cụ tài chính nhằm
khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, sử dụng
công nghệ sạch; sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và
bao bì không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế.
(Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây khẳng định, chúng ta có đủ năng
lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hình phát triển bền vững. Kinh nghiệm
phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, cơ khí tự động hóa, công nghệ vật liệu
cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm nano, những thành tựu trong công nghệ
sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học, hóa học... cho thấy nếu có
đủ quyết tâm và cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo phát
triển hiện đại mà 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó có Việt Nam đã cam kết tại Hội
nghị Thượng đỉnh tại Tokyo tháng 11- 2010, về thực hiện một mô hình tăng trưởng mới,
đảm bảo 5 yêu cầu: i) Tăng trưởng cân bằng; ii) Tăng trưởng an toàn; iii) Tăng trưởng bền
vững; iv) Tăng trưởng dựa vào trí tuệ; v) Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công bằng
cho tất cả mọi người. Đây phải trở thành điểm xuyên suốt quá trình CNH-HĐH nước ta.)
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có khả
năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH. Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong
thời gian qua chủ yếu là do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng
trưởng kinh tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Trước hết, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường,
được Bộ hoặc Sở Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt. Đồng thời,
tăng cường việc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất
thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ y tế. Và cần có sự chuyển biến mạnh
mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và hành động, trong chỉ đạo điều hành và
đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT.
6. Phân tích yếu tố thKi cơ trong đưKng lối giành chính quyền của
ĐCSĐD (1939 - 1945) liên hM vPi viMc nắm bắt thKi cơ hiMn nay của ViMt Nam
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
dân tộc Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực dân,
phong kiến; thành lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những yếu tố
góp phần làm nên thắng lợi to lớn là bài học về chớp thời cơ và vận dụng đúng thời cơ cách mạng.
Thứ nhất là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản bị thua
to trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong thế chiến II, nên
phải gửi công hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính
trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, nắm bắt thời cuộc kịp thời, Hồ Chí Minh và Ban
Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp ngay tại Tân Trào để quyết định Tổng khởi
nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp, “Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm
một tin rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng
minh. Ngay lập tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi
nghĩa toàn quốc; đồng thời soạn thảo “Quân lệnh số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh
Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima
của Nhật Bản, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định: “Cơ hội rất tốt cho
ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên cơ sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng
ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó là vì đồng chí Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự chuyển biến nhanh
chóng: phát xít Nhật đã chết gục theo phát xít Đức; quân đội Nhật đã và đang tan rã, bị
tước vũ khí trên khắp các chiến trường; quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Vì
vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật, mà để đến khi quân
Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay quân Nhật, thì nhân dân ta không
thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp
nhận sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực lượng cách
mạng đã chớp thời cơ, tranh thủ thời cơ và vận dụng đúng thời cơ. Việc vua Bảo Đại
thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền phong kiến; đồng thời triệt tiêu một đầu
mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan
chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
“Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới: Nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu
chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ quyền trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù
có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho quân Đồng minh tiếp quản. Vì
vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ đạo sớm tiến
hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám
thành công trên cả nước chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân
Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng
Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân
Anh chưa vào miền nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân
Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ
khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Chọn đúng thời
cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên
gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn,
không đổ máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn
bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng
khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển
của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi. Hiện nay:
Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan
mang tính tất yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng
hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi dần là văn hóa, thể thao… cho đến chính trị. Việt Nam
đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng
cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò và uy
tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Hiện nay, dịch Covid-19 đã và đang gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế giới nhưng
cũng có thể tạo ra một số cơ hội. Cùng với sự tác động của chiến tranh thương mại Mỹ -
Trung, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã có sự chuyển dịch địa bàn đầu tư và quy mô đầu
tư, họ đã và đang chọn điểm đến là Việt Nam. Nước ta có thể nắm bắt cơ hội này để
thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hấp dẫn để
“lót ổ đón đại bàng” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh
tế tổng quát của nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận
và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung
và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) và ngày càng được
hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát
triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa
đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và
kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội,
chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa
chọn đó là CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận
thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc
trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với
8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. - Do nhân dân làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
tinhocfighterminhlong@gmail.com
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi
cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước
tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù
hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường
là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật
riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong
thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn
phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển
kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh
tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ
nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa
bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát
trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều
năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận
của Đảng cộng sản Việt Nam.
7. Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình kinh tế thị trưKng định
hưPng XHCN là một tất yếu
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh
tế tổng quát của nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận
và tổng kết thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung
và đặc trưng cơ bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) và ngày càng được
hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị
trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát
triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa
đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và
kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội,
chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại
đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc
phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa
chọn đó là CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận
thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc
trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với
8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. - Do nhân dân làm chủ.
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn
và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi
cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước
tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù
hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường
là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật
riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong
thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn
phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển
kinh tế thị trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh
tế hàng hóa. Đó là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ
nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN dựa
trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích của nền
kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa
bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát
trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều
năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận
của Đảng cộng sản Việt Nam.
8. Vì sao nói ĐCSVN ra đKi là một tất yếu? phân tích sự sáng
tạo của ĐCS trong cương lĩnh đầu tiên ?
Trong cuôc• đời hoạt đôn• g cách mạng của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thể hiên• rõ
nét và sinh đôn• g về tinh thần đôc• lâp• tự chủ sáng tạo trong viêc• vân• dụng CNMácLN,
truyền thống dân tôc• , kinh nghi êm• của nước ngoài môt• cách nhuần nhuyễn vào thực
tiễn VN, đáp ứng yêu cầu của sự nghiêp• cách mạng đăt• ra và được thể hiên• ngay trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta, thông qua tại Hôi• nghị thành lâp• ĐCSVN (từ ngày 3-7/2/1930).
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
đã chỉ ra phương hướng cơ bản của cách mạng VN, đăt• nền móng cho viêc• xác định lý
luân• , đường lối, phương pháp cách mạng và những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng
chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân VN.
Tuy hết sức ngắn gọn, vắn tắt nhưng CLCT đầu tiên của Đảng đã kết hợp nhuần nhuyễn
quan điểm dân tôc• và giai cấp, thấm đượm tính dân tôc• và thời đại với những luân• điểm
sau nổi bật. Một là, cách mạng VN phải là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng để tiến lên xã hội cộng sản. (Thực chất đó là một cuộc cách mạng có 2 giai đoạn :
giai đoạn thứ nhất đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ hai là sau khi
giành được thắng lợi sẽ chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến tới xã hội
cộng sản.)Hai là, trong cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chiến lược là
chống đế quốc và chống phong kiến. (Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, phải được tiến hành khắng khít không tách rời nhau nhưng trong đó nhiệm vụ
chống đế quốc và tay sai (phản đế) phải đặt lên hàng đầu.) Ba là, xác định lực lượng
cách mạng, bao gồm : giai cấp công - nông là gốc, những người yêu nước trong các giai
cấp khác là đồng minh của cách mạng.( Đảng phải vận động, thu phục giai cấp mình để
lãnh đạo dân chúng, dựa hẳn vào dân cày nghèo, liên lạc với trung nông. Lực lượng
cách mạng bao gồm : thứ nhất là giai cấp công - nông là gốc, là động lực của cách
mạng, thứ hai là những người yêu nước trong các giai cấp khác là đồng minh của cách
mạng.) Bốn là, lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của
giai cấp là Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ
trương phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng. Sáu là, cách mạng Việt Nam
đoàn kết với giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa trên thế giới để chống chủ nghĩa đế
quốc. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Từ những nội dung cơ bản trên, Đảng đã thể hiện trình độ tư duy sâu sắc và sáng tạo:
vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam, vừa đáp ứng
chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Sáng tạo trong vấn đề dân tộc, xác định thái độ với các giai cấp, liên minh giai cấp và
đoàn kết toàn dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào
hoàn cảnh Việt Nam, xác định rõ chủ trương "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Cuộc cách mạng này đánh đổ thực dân Pháp
và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, nhân dân được các
quyền dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đó chính là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, xuyên suốt các chủ trương đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta
ra đời đến nay. Trong tư tưởng lớn đó, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ: xác định
độc lập dân tộc là mục tiêu cốt tử, trực tiếp trước mắt, là tiền đề, điều kiện để tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân. Sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc là ở chỗ quan niệm lực lượng
cách mạng ở nước ta là toàn thể nhân dân. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu
tiên trong Đảng ta nêu ra tư tưởng cần xây dựng liên minh Công-Nông-Trí dưới sự lãnh
đạo của Đảng làm nòng cốt cho lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm tất cả các tầng
lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nguyễn Ái Quốc đánh giá đúng tầm quan trọng của nhân tố dân tộc trong cách mạng
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc, nêu ra chủ trương đoàn kết tất cả
các tầng lớp nhân dân có thể đoàn kết được, có thể tạo nên sức mạnh đánh đổ đế quốc và phong kiến.
9. Sự quan trọng của văn hóa vPi sự phát triển bền vững
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan
điểm này được thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần
của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong
mỗi con người và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy
qua các thế hệ người Việt Nam, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện
tại và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ. Vì
vậy, chúng ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá
trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng
ta cần phải mở rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thụ có chọn lọc cái hay, cái tiến
bộ trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc,
tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập
kinh tế quốc tế, làm cho văn hóa Việt Nam bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại
trong thời đại ngày nay và chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa.
Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nghĩa là đề cao, coi trọng nguồn
lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị
văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đó còn là cơ sở tinh
thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một
xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là mục
tiêu của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì
con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền
với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay
không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay
mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân
và xã hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường
sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải
cần đến văn hóa, sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh
tế vì mục tiêu phát triển xã hội, phát triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa
trong kinh tế, kinh tế trong văn hóa.
Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó là
nhu cầu phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn là nhu cầu
nhân văn và là cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người, xã
hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, sự khác vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên,
thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến
bộ chính là nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển.
Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa,
con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ
nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội
nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa. kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở
nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các
nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan
trọng nằm trong văn hóa.
Trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan
niệm về phát triển kinh tế, phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mặt dù yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng
đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định
cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng
tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của cá
nhân và xã hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn hóa trong phát triển, chỉ có sự tham
gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng
tạo này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và
cộng đồng. Chỉ có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao
giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sự dụng có hiệu quả nếu không có
những con người đủ trí tuệ và năng lực khai khác chúng, thì các nguồn lực đó dù có
phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và phát huy tác dụng vào trong phát triển. 10.
Vì sao trong thKi kO đQi mPi, ĐCSVN phải lựa chọn
phương châm đối ngoại theo hưPng đa phương hóa, đa
dạng hóa là một tất yếu.

Đảng và Nhà nước luôn xác định Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của thế
giới, gắn liền với tiến trình phát triển của thế giới. Hiểu biết sâu sắc tình hình thế giới là
điều kiện không thể thiếu để xác định những mục tiêu, nhiệm vụ cho đất nước. Xa rời
với sự vận động chung, tự cô lập mình với thế giới bên ngoài là những sai lầm nguy hại,
có thể ảnh hưởng đến sự sinh tồn của cả dân tộc. Chính vì vậy, Đảng ta đã có những
điều chỉnh kịp thời trong chính sách ngoại giao, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng và
tính tất yếu của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại.
Đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì những lý do sau.
Đầu tiên, về mặt chính trị - ngoại giao, do không nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của
thế giới mà chính sách đối ngoại của chúng ta mười năm trước đổi mới đã bộc lộ nhiều
hạn chế. Việt Nam vẫn trong thế bị bao vây, bị cô lập lại bị các thế lực thù địch chống
phá, cộng với các chính sách phát triển sai lầm, không phù hợp với hoàn cảnh khiến
nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng.
Những biến động của tình hình thế giới tác động sâu sắc đến nhận thức và tư duy của
Đảng, là cơ sở cho sự đổi mới các chính sách. Đặc biệt sự sụp đổ của hệ thống xã hội
chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô là bài học quý giá cho chúng ta. Từ đây, Đảng ta nhận
thức và rút kinh nghiệm, cần phải thay đổi mô hình xã hội chủ nghĩa cũ, cụ thể hơn là
đổi mới chủ trương và chính sách ngoại giao sao cho hợp lí, hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình cụ thể trong, ngoài nước và nhu cầu phát triển của nước ta, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986, Đảng ta bắt đầu
đã có những đổi mới sâu sắc và mang tính chiến lược về đường lối và chính sách đối
ngoại, đặc biệt coi trọng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ ngoại giao.
Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập là xu thế chung hiện nay, việc hợp tác đa phương trên
nhiều lĩnh vực là tất yếu. Hợp tác đa phương trong các lĩnh vực văn hóa, an sinh xã hội,
lao động, thông tin - truyền thông, môi trường, du lịch...được mở rộng, từ đó thúc đẩy
tiến bộ xã hội, phát triển thị trường lao động và hệ thống an sinh xã hội, xóa đói giảm
nghèo… Hội nhập khu vực và quốc tế về khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế
đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển nền khoa học, giáo dục tiên tiến, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, thông tin và y tế quốc gia đáp ứng nhu cầu của người
dân, tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển với khu vực và thế giới trong các lĩnh vực này.
Việc VN tham gia mạng lưới liên kết kinh tế đa phương đã góp từng bước mở cửa, gắn
nền kinh tế và thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tiếp thu những nguyên tắc
và chuẩn mực quốc tế, thu hút nguồn lực cho phát triển, tạo thêm động lực xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội 11.
Phân tích mối quan hM giữa chính trị - quân sự - ngoại giao
trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-
ngoại giao để chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chỉ có
mặt khi kết thúc chiến tranh để đi đến ký một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi
bên. Trái lại, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta có mặt từ
đầu đến cuối, luôn luôn có vai trò, vị trí, nhiệm vụ nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ
13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng Giêng 1967 về đẩy mạnh đấu tranh
ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân
dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta
đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng Tư 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận
quan trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây dựng lực
lượng, vừa phát huy thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường. Trên
chiến trường, ta đánh thắng được keo nào thì ngoại giao phải phát huy, khuếch trương
trên thế giới, đồng thời phải phục vụ và phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị tạo
thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vụ lớn.
Nhiệm vụ thứ nhất là tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương
của địch. Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao có nhiệm vụ thực hiện khẩu
hiệu của Đảng đề ra là thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những
đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng tình với ta một điểm nào đó. Như trên
đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ là nhằm mục tiêu chung của loài người, của thời
đại, từ mục tiêu cao là chủ nghĩa xã hội, cho đến mục tiêu thấp là hòa bình, độc lập dân
tộc. Ai đồng tình với ta trên cơ sở chiến lược là đi tới chủ nghĩa xã hội đều là bạn của ta.
Ai chỉ đồng tình với ta dù chỉ là trên cơ sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi là bạn. Ta
tranh thủ kết bạn với mọi người từ mức thấp tới mức cao, theo đúng phương châm thêm
bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao là giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta
nhìn vấn đề với đầu óc rất sáng suốt và thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn như
Mỹ, cuộc đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối phương phải quy
hàng mới kết thúc. Phải có khái niệm thật rõ thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua thì
mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức là khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải
phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân, chấm dứt xâm lược,
phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ
mà chịu nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm sao đạt
được thực chất vấn đề như vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế mà ta lại là một
nước nhỏ thì phải có ngoại giao đóng góp vào đó, thực hiện phương châm thắng từng
bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải có ngoại giao để giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về
chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế
giới như vậy, điều tối cần thiết đối với ta là phải tạo lập được một mặt trận nhân dân thế
giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu
hướng vào bốn nội dung: thứ nhất là nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai là nêu
cao quyết tâm giành độc lập của Việt Nam, thứ ba là nêu cao thiện chí hòa bình của Việt
Nam, thứ tư là tố cáo tội ác chiến tranh và vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn ở thế giằng co quyết liệt, nhiệm
vụ ngoại giao chủ yếu vẫn là tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối
loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965)
của Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”,
song đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho
đánh, lấy đánh để ép địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ
những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh
nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu và đồng tình với ta: vấn
đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi.
Trong một cuộc họp ở Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một
trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần có các đề nghị
hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên
phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn nữa. Họ muốn tiến xa hơn.
Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa.” Có tới hàng chục
nước đủ các loại: các nước Không liên kết, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản,
Bắc Mỹ, đến các nhân vật như Tổng thư ký Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí
thức, nhà báo có tên tuổi,... làm trung gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ
là một phương thức có tính chất quá độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai
bên đối địch trong một cuộc tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng trung gian đã được
xem như một thủ đoạn nhằm những mục đích khác như: thu thập tin tức về ý đồ chiến
lược hoặc về lập trường đàm phán cụ thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt làm
cho đối phương chập chững, mơ hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve
vãn dụ dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức ép sang đối phương; gây
hiểu lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ.
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Trước
năm 1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không những là
các nước đồng minh của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn cả nước xã hội chủ
nghĩa nữa; không những là nhân vật trong chính giới các nước mà cả những nhân sĩ, trí
thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời gian chưa có cuộc đàm
phán Paris, mà cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục dùng trung gian. Thủ đoạn
này thâm độc ở chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải đồng tình
hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta mà ta bác
đi, như vậy có nghĩa là ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, và mặc nhiên Mỹ tranh thủ
được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 và dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng loại
“trung gian thân tín” – các nước châu u và đồng minh của Mỹ - vừa để gây sức ép bên
ngoài với ta vừa để thu thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ
tài liệu nhận tin tổng hợp về khả năng và ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên Xô dùng
“mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông u làm trung gian. Khác với việc dùng các
nước phương Tây làm trung gian, Mỹ dùng các nước xã hội chủ nghĩa làm trung gian
với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức ép
từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với ta hòng tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác
của Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, và cho họ biết đến
lúc chín muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa
đối phó với Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn mà bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu
chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta và chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụng
phương châm này không chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả
giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vì vậy
mà giữa đường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và phát
triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống
nhất và độc lập". Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng
của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài.
Nó là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân.
Người giải thích, toàn dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm
là một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân chính là
nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất kì người
dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công
sức làm nên sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế,
văn hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu
chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về
kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công
nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực
dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù ,
biểu dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây
dựng toàn diện, mọi mặt. Đó là sự thay đổi và xây dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực
đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự, ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng
toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của
Pháp; để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương
vững chắc. Điều này càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới.
Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân chủ nhân dân với tâm thế kĩ lưỡng, cẩn thận và
đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn mà phải tiến hành lâu dài, có
đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt".
Nhân dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của
để xây dựng cơ sở vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ có lao động mới
tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải