CHƯƠNG I
CÂU 1.Vì sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn con đường cách mạng sản?
Những năm đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đứng trước những thách thức
mới, đó tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Con đường phong kiến,
khuynh hướng sản từng bước dẫn dắt phong trào cách mạng nước ta đi lên nhưng
cuối cùng đều thất bại. Đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải
phóng cho dân tộc, đó con đường cách mạng sản. Vậy, sao Bác lại lựa chọn
con đường đó?
Bằng những hoạt động thực tiễn của mình Nguyễn Ái Quốc đã những nhận
thức về cách mạng thế giới những con đường cứu nước, từ đó Bác lựa chọn con
đường đúng đắn cho dân tộc ta.
Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Người bôn ba khắp
năm châu, bước đầu những nhận thức về bạn thù(trích dẫn câu nói của bác).
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, chủ nghĩa Mác nin đã
trở thành hiện thực, đồng thời mở ra một thời đại mới thời đại cách mạng chống đế
quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng
trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách
mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân Châu Á tỉnh giấc hàng thế
kỷ nay”. Thắng lợi của cách mạng hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga những chính
sách tiến bộ của thực sự đem lại lợi ích cho đông đảo quần chúng nhân dân.
chứng tỏ được sự tiến bộ của hình thức cách mạng này.
Trong khi đó, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã để lại những hậu quả
cùng nặng nề. Loài người căm ghét chiến tranh. Trong khi đó cách mạng hội chủ
nghĩa Nga thực sự đem lại hòa bình tự do cho con người.
Từ những nhận thực đó Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu tin theo Cách mạng hội
chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Người đã những nhận thức hết sức đúng đắn:
Người đánh giá cao tưởng tự do, bình đẳng, bác ái quyền con người của
các cuộc cách mạng sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp
(1789)… nhưng cũng nhận thức những hạn chế của các cuộc cách mạng sản.
Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng sản không thể đưa lại độc lập
hạnh phúc thật sự cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
(trích dẫn câu nói). Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cách mạng tháng
mười nga 1917. Người rút ra kết luận: trong thế giới bấy giờ chỉ Cách mệnh Nga
thành công, thành công đến nơi, nghĩa dân chúng được hưởng cái hạnh phúc
tự do, bình đẳng thật”.
Việc Bác lựa chọn con đường cách mạng sản cũng xuất phát từ tình hình
của cách mạng nước ta lúc đó, cũng như từ yêu cầu của cách mạng
nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp.
Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, đồng thời cấu kết với giai cấp địa chủ trong
việc bóc lột kinh tế áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Mặc nền kinh
tế những chuyển nhưng về bản vẫn nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn, què quặt,
lệ thuộc vào Pháp. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đời sống của nhân dân lao
động hết sức khốn khổ. hội phân hóa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa toàn thể
nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp bọn tay sai lên đến đỉnh điểm.
Yêu cầu của cách mạng lúc này phải giải quyết hai nhiệm vụ cách mạng, đó
là: Nhiệm vụ dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân pháp, giành lại độc lập cho dân tộc.
nhiệm vụ dân chủ nhằm đánh đổ chế độ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân.
Trong hai nhiệm vụ trên, nhiệm vụ dân tộc nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất.
Con đường giải phóng dân tộc phải thực hiện được cả hai nhiệm vụ đó.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam càng thôi thúc Người tìm ra con
đường đấu tranh mới. Trước sự xâm lược của thực dân pháp, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến sản diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu
phong trào cần vương theo con đường phong kiến, hoạt động của Phan Bội Châu
Phan Châu Trinh theo khuynh hướng sản. Các hoạt động yêu nước diễn ra manh mẽ
nhưng cuối cùng đều thất bại. Những con đường đó không đáp ứng được yêu cẩu của
cuộc cách mạng, yêu cầu cần con đường giải phóng dân tộc mới
Vào tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất về vấn
đề dân tộc vấn đề thuộc địa của nin đăng trên báo nhân đạo. người tìm thấy
trong luận cương của Nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt
Nam;về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới…
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác nin.
Tại Đại Hội Đảng hội Pháp ( tháng 2 1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu
tán thành việc gia nhập quốc tế cộng sản tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp.
Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người từ
người yêu nước trở thành người cộng sản tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn:
“muốn cứu nước giải phóng dân tộc không con đường nào khác con đường cách
mạng sản”.
Việc lựa chọn con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc cũng xuất phát từ
tấm lòng yêu quê hương, đất nước bờ, với sự quyết tâm tìm ra con đường cứu nước
cao cả, tất cả trở thành động lực, hun đún thành ngọn lửa cứu nước, bằng tài năng
mẫn cảm chính trị của mình cũng như những hoạt động miệt mài, Nguyễn Ái Quốc đã
tìm ra con đường giải phóng cho cả dân tộc.
Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc cho nhân
dân Việt Nam. thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đúng đắn đó. Năm 1930,
Đảng cộng sản Việt Nam thành lập, đánh dấu s thắng lợi của khuynh hướng cách
mạng sản. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, thắng lợi cuộc kháng chiến
chống pháp (1954) kháng chiến chống Mỹ (1975) cũng như thắng lợi của công
cuộc Đổi mới hiện nay càng chứng tỏ hướng đi đúng đắn của dân tộc người vai
trò quan trọng nhất trong việc tìm ra đặt nền tảng cho cách mạng Việt Nam không
ai khác, đó Nguyễn Ai Quốc Hồ Chí Minh đại.
CÂU 2.Sự kiện cụ thể chứng minh sự ra đời của Đảng tất yếu
Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều
nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối thì ngày 5/6/1911
người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này)
ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của
châu Âu, châu Phi, châu Mỹ đã phát hiện ra chân lý: Chủ nghĩa bản, chủ nghĩa
đế quốc thực dân cội nguồn mọi đau khổ của công nhân nhân dân lao động
chính quốc cũng như các nước thuộc địa.
Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris năm 1919 gia nhập Đảng
hội Pháp.
Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới
Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc
thuộc địa” của Lênin từ tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) tham gia thành lập Đảng
Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó một sự kiện
lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với
luận cách mạng của thời đại chủ nghĩa Mác-Lênin, còn đánh dấu bước chuyển
quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước giải
phóng dân tộc không con đường nào khác con đường cách mạng sản.
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế,
Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến
lược cách mạng Việt Nam chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền chủ nghĩa Mác-
Lênin vào phong trào công nhân phong trào u nước Việt Nam, chuẩn bị về
luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn
thành công phải đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải hệ tưởng
tiên tiến, cách mạng khoa học dẫn đường, đó hệ tưởng c-Lênin.
Người đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị
quốc tế, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” tổ chức ra các tờ báo Thanh
niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền chủ nghĩa Mác-Lênin
vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc
lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó sự chuẩn bị
về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định,
muốn thắng lợi thì cách mạng phải một đảng lãnh đạo, Đảng vững, cách mạng
mới thành công cũng như người cầm lái vững thì thuyền mới chạy.
Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức cán
bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp
đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc) gửi cán bộ đi học tại trường Đại học
Phương Đông (ở Liên trước đây) trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc)
nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhiều đồng chí
cách mạng tiền bối những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản
đã nhận thức được sự cần thiết cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống
nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc
đã chủ động tổ chức chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc
từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản
Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng
sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những
văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt
Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản
Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành
lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ý nghĩa như một Đại hội thành
lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc
chủ trì chính Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng
2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
2. sao nói sự ra đời của ĐCSVN tất yếu?
Tất yếu lịch sử bởi vì:
Đó kết quả chín muồi của cuô c đấu tranh dân c đấu tranh giai cấp
trong thời đại lịch sử mới.
Đó kết quả của sự chuẩn bị công phu và khoa học của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc trên cả ba t chính trị, tưởng tổ chức.
Đó sản phẩm của s kết hợp giữa chủ nghĩa Mac-Lenin với phong trào đấu
tranh của GCCN và phong trào yêu nước của nhân dân VN trong đầu thế k XX. S
ra đời của ĐCSVN vừa thể hiê n quy luâ t phổ biến của sự hình thành chính đảng CM
của GCCN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào công nhân) vừa thể hiê n quy luâ t
đă c thù VN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào CN phong trào yêu nước VN).
Ý nghĩa ra đời ĐCS Việt Nam:
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam thành một Đảng
Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng
đắn, tạo nên sự thống nhất về tưởng, chính trị hành động của phong trào cách
mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc chủ nghĩa hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc
đấu tranh giai cấp, sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt
Nam hệ tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con
đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với
phong trào công nhân phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ
Chí Minh hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, tiêu biểu sáng ngời cho sự
kết hợp giai cấp dân tộc, dân tộc quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa hội.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã
Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng giải phóng dân tộc
theo phương hướng cách mạng sản, chính sở để Đảng Cộng sản Việt Nam
vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết
được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng
diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường phương hướng phát triển mới cho đất
nước Việt Nam. Chính đường lối này sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng sự
đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tưởng hành động để tiến hành
cuộc cách mạng đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng điều kiện
bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt
89 năm qua.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam
một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn
của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên
những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào
sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới hòa bình, độc lập dân tộc tiến
bộ hội.
ĐCSVN ra đời ngày 3/2/1930 đã đánh dấu 1 bước ngoă t trọng đại của lịch sử
CMVN vì:
Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc “tưởng
chừng không lối ra” VN. Mở ra 1 thời kỳ mới: thời kỳ CMVN đi theo con đường
CMVS, sự nghiê p giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân
giải phóng toàn hội, đôc p dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa hội.
Kết thúc thời kỳ đấu tranh tự phát để chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác
của giai cấp công nhân. Chứng tỏ giai cấp công nhân VN đã đến đô trưởng thành đủ
sức nắm vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua đôi tiên phong cách mạng của mình.
Mở đầu 1 thời k mới cách mạng Việt Nam, đã 1 nhân tố bản nhất,
quyết định nhất, để liên tục dẩy lên các cao trào cách mạng, đưa CMVN đi t thắng
lợi này đến thắng lợi khác
CÂU 3. Hãy chỉ ra tính sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái
Quốc dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930)
gồm các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt,
Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng.
Tính cách mạng đúng đắn sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể
hiện qua những nội dung sau:
MỘT Cương lĩnh vạch tính chất của cách mạng Việt Nam phải trải
qua hai giai đoạn:
Cách mạng sản dân quyền (về sau gọi cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân).
Cách mạng hội chủ nghĩa (“ làm sản dân quyền cách mạng thổ địa
cách mạng để đi tới hội cộng sản ”).
Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của
cách mạng Việt Nam giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc chủ nghĩa hội.
HAI LÀ, Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng sản dân quyền nước
ta: đánh đổ đế quốc Pháp, vua quan phong kiến sản phản cách mạng.
Mục tiêu:
- Làm cho nước Việt Nam độc lập.
- Dựng lên chính phủ công nông binh.
- Tổ chức quân đội công nông độc lập .
- Tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc ruộng đất của bọn đế quốc, bọn
phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa. Như vậy
Cương lĩnh bao gồm nội dung dân tộc dân chủ, chống đế quốc chống phong
kiến nhưng nổi bật chống đế quốc tay sai phản động, giành độc lập tự do cho
toàn thể dân tộc.
BA LÀ, Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng chủ yếu công nông, đồng
thời phải lôi kéo tiểu sản, trí thức, trung nông về phe giai cấp sản, còn phủ nông,
trung, tiêu địa chủ, tự sản Việt Nam chưa lộ bộ mặt phản động thì phải lợi dụng
làm cho họ trung lập.
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ tối đa lực lượng Cách mạng, lập tối
đa lực lượng kẻ thù. Thành lập một trận dân tộc thống nhất được sự lãnh đạo của
đảng, trên sở công-nông-trí liên minh .
BỐN LÀ, Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng phải lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền tảng tưởng.
Đảng phải trách nhiệm phục vụ đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai
cấp mình lãnh đạo được quần chúng.
Phải thu phục đại đa số dân cày, dựa vững vào dân cày.
Đồng thời phải liên minh với các giai cấp tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết,
tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc phong kiến.
NĂM LÀ, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng còn coi cách mạng nước ta một bộ
phận của cách mạng sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân
tộc thuộc địa bị áp bức giai cấp công nhân thế giới.
Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cương lĩnh cách mạng giải
phóng dân tộc đúng đắn sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm
tính dân tộc tính nhân văn với tưởng cốt lõi Độc lập - Tự do cho dân tộc.
Nội dung con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc con đường cách
mạng sản do giai cấp công nhân lãnh đạo, lực lượng nòng cốt công nông , đồng
thời phái đoàn kết với tiểu sản, trí thức, trung, tiêu địa chủ, tự san dân tộc phú
nông, dùng bạo học cách mạng.
Câu 4 : VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC
1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm
thấy chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xác định đúng
đắn đường lối cách mạng, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới của độc lập dân tộc
gắn với chủ nghĩa hội. Trước năm 1930 khi chưa Đảng, đất nước ta chìm đắm
dưới ách thống trị, áp bức hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp hàng trăm năm
của chế độ phong kiến thối nát. Biết bao cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của
nhân dân ta đã liên tiếp nổ ra nhưng kết cục đều thất bại do thiếu một đường lối chính
trị đúng đắn soi đường. Phong trào đấu tranh dưới ngọn cờ "Cần Vương" của các sĩ
phu yêu nước lãnh đạo cùng với các cuộc khởi nghĩa nông dân lấy hệ tưởng phong
kiến làm nền tảng đã tỏ ra lỗi thời, bất lực trước các nhiệm vụ lịch sử. Các phong trào
đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp sản dân tộc cũng nhanh chóng l sự yếu hèn,
thất bại trước các nhiệm vụ lịch sử. Chỉ phong trào đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân các tầng lớp nhân dân lao động
khác dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng
lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tưởng kim chỉ nam trong hành động
cách mạng, kiên trì mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa hội
giành được những thắng lợi vẻ vang.
Sự lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua gắn
liền với tên tuổi s nghiệp cách mạng đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh. Từ một người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Cách mạng Tháng
Mười Nga, Người đã sớm nhận ra rằng, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất chủ nghĩa Lênin.
Đó chính chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết cách mạng khoa học nhất về
con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ngay từ
những năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã sự lựa chọn đúng đắn
khẳng định con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam: "không con
đường nào khác con đường cách mạng sản". Trải qua thực tiễn cuộc sống, hoạt
động cách mạng phong phú tiếp thu chân khoa học, Người đã đi đến kết luận chỉ
chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người không phân
biệt chủng tộc nguồn gốc s tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất,
việc làm cho mọi người mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bám sát thực tiễn cách mạng, phân tích sâu
sắc thời cuộc, nắm vững mâu thuẫn bản, thấy mâu thuẫn chủ yếu trong mỗi thời
kỳ, xác định đúng đắn những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Đầu thế kỷ XX,
Việt Nam một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo
của chủ nghĩa thực dân Pháp đã làm tích tụ những mâu thuẫn gay gắt giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân tay sai. Những mâu thuẫn đó chỉ
thể được giải quyết bằng con đường cách mạng bạo lực thực hành cuộc cách mạng
không ngừng, cách mạng “đến nơi”. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta đã xác định
mối quan hệ khăng khít giữa các nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam độc
lập dân tộc, dân chủ gắn liền với chủ nghĩa hội. Trong Chánh cương vắn tắt, Đảng
ta đã xác định "chủ trương làm sản dân quyền cách mạng thổ địa cách mạng
để đi tới hội cộng sản"; "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp bọn phong kiến. Làm
cho nước Nam được hoàn toàn độc lập"
Từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường
đấu tranh oanh liệt thắng lợi vẻ vang, từng bước mang lại độc lập, tự do, ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời (2/9/1945) mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa hội. Vận mệnh của Đảng gắn liền với vận mệnh của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động của toàn dân tộc. Mối liên hệ mật thiết giữa
Đảng quần chúng nhân dân nguồn gốc sức mạnh thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ: "Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung
quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản,
hoặc bị lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân -
không ngừng củng cố tăng cường"
3. Đảng luôn nhạy bén, bám sát tình hình thời cuộc để xác định đúng đắn
nhiệm vụ, phương pháp cách mạng phù hợp đưa đất nước tiến lên giành nhiều thắng
lợi to lớn. Trong thực tiễn, Đảng luôn kết hợp chặt chẽ giữa kiên trì chuẩn bị lực
lượng với nắm vững thời cơ, khi thời đến đã biết chớp lấy, kịp thời tổ chức, động
viên nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh giành thắng lợi. Hội nghị Trung ương lần
thứ tám của Đảng (10/5 - 19/5/1941) đã quyết định chuyển hướng chiến lược đấu
tranh cách mạng kịp thời thành lập Mặt trận Việt minh, ra lời kêu gọi toàn thể dân tộc
Việt Nam đoàn kết, đứng lên chống phát-xít, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Sau
khi phát-xít Đức, Ý bại trận, phát-xít Nhật sửa soạn đầu hàng (7/1945), Hồ Chí Minh
vẫn rất sáng suốt nhận định thời cách mạng đang đến gần nhắc nhở các đồng chí
Trung ương: "Lúc này thời thuận lợi đã tới, hy sinh đến đâu, phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"
Ngay sau ngày giành được độc lập (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng
ta đã khẩn trương lãnh đạo nhân dân cả nước bắt tay vào thực hiện đồng thời hai
nhiệm vụ chiến lược gắn xây dựng với bảo vệ chính quyền cách mạng; trong đó trọng
tâm xây dựng, lấy xây dựng làm điều kiện cho bảo vệ. Trong cuộc kháng chiến 9
năm chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Bác Hồ đã đề ra đường lối
kháng chiến đúng đắn, sáng tạo - "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, lấy sức mình
chính", kháng chiến đi đôi với kiến quốc để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành
công. Qua đó, làm chuyển hoá thế trận, thay đổi tương quan lực lượng lợi cho cách
mạng, từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn tạm
thời bị Mỹ, ngụy chiếm đóng. Trên sở phân tích tình hình, nhận thức những mâu
thuẫn khác nhau mỗi miền Nam, Bắc, Đảng Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn
hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam vừa tích cực xây dựng chủ nghĩa
hội miền Bắc, vừa tiến nh triệt để cách mạng giải phóng dân tộc miền Nam,
hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc trong cả nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa
hội. Điều đáng c ý cả hai cuộc cách mạng đó đều được xác định nằm trong quỹ
đạo cách mạng sản mối quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hồ Chí
Minh chỉ rõ: "Hiện nay nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta gì? xây dựng miền
Bắc tiến lên chủ nghĩa hội để làm sở vững chắc cho việc đấu tranh thống nhất
nước nhà. Muốn đấu tranh thống nhất nước nhà thắng lợi thì nhất định phải xây dựng
miền Bắc tiến lên chủ nghĩa hội". Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng
đất nước không được phép lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc tưởng chiến lược
xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
4. Đảng luôn nắm vững bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tưởng Hồ Chí Minh trải nghiệm thực tiễn để đường lối đổi mới đúng
đắn, sáng tạo làm nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp đổi
mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng trong bối cảnh quốc tế nhiều diễn
biến phức tạp, đất nước chồng chất khó khăn càng làm nổi bật những thành tựu đạt
được sau 25 năm đổi mới rất to lớn ý nghĩa lịch sử, khẳng định tưởng cộng
sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa hội hiện thực tầm nhìn chiến lược
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đất nước hoà bình, thống nhất, cả nước bước vào
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội nhưng với hình kinh nghiệm của các nước
hội chủ nghĩa áp dụng vào Việt Nam đã nhanh chóng bộc lộ khuyết tật, sai lầm của
nó. Nhưng sau mỗi sai lầm, vấp ngã, Đảng đã dũng cảm "nhìn thẳng vào sự thật, nói
đúng sự thật", kiên quyết sửa chữa, kịp thời tổng kết rút ra những bài học từ những
thành công cả những sai lầm, thất bại, kiên trì s nghiệp đổi mới đất nước theo
định hướng hội chủ nghĩa.
Hai mươi lăm năm qua với bản lĩnh, trí tuệ đạo đức cao đẹp của một Đảng
cách mạng cầm quyền dày dạn kinh nghiệm, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn tạo
động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vươn lên giành
nhiều thắng lợi mới. hình, mục tiêu con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa
hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn. Mặc cách mạng còn nhiều khó
khăn, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Bởi đó sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của
cách mạng Việt Nam phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại. Đường lối
đổi mới của Đảng xa lạ với những kẻ thù lâu nay vẫn ra sức tuyên truyền xuyên
tạc rằng con đường phát triển đất nước theo định hướng hội chủ nghĩa của chúng ta
"sản phẩm ngoại nhập, không tương lai". Nhất từ sau những sai lầm về đường
lối cải tổ dẫn tới sự sụp đổ của chế độ hội chủ nghĩa Đông Âu Liên những
năm cuối thế kỷ XX. Kẻ thù đã lớn tiếng tuyên bố rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị
phủ định ngay tại quê hương của bởi sự lỗi thời; hơn nữa, khi du nhập vào Việt
Nam đã bị cắt xén, biến dạng thành bạo lực đấu tranh; kinh tế trì trệ, suy thoái, khủng
hoảng…; những biểu hiện của “hồi kết”, “Chương thử nghiệm cuối cùng của chủ
nghĩa cộng sản"; "sự toàn thắng của chủ nghĩa bản".v.v.. Nhưng thắng lợi của công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước 25 năm qua của dân tộc ta đã bác bỏ những luận điệu
xuyên tạc xằng bậy đó của kẻ thù.
Giữ vững nguyên tắc độc lập, sáng tạo, trung thành với lợi ích của nhân dân,
bám sát thực tiễn cuộc sống, xác định đường lối, chính sách đúng đắn nhanh chóng
đưa vào cuộc sống hướng dẫn hoạt động cách mạng của nhân dân quyết thành
công của Đảng ta. Ngay từ đầu, Đảng đã xác định khâu đột phá của sự nghiệp đổi
mới đổi mới duy nhưng trọng tâm lại đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế kết hợp
với đổi mới chính trị làm sở cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, quyết tâm
xây dựng một hội "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Xây
dựng N nước pháp quyền hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân dân, phát
huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hội chủ nghĩa.
Để tiếp tục tạo sở vững chắc trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước
trong những năm tới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định 8
phương hướng bản để toàn Đảng, toàn dân ta quán triệt thực hiện: Một là, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng hội
chủ nghĩa. Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng
con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng hội. Bốn là,
bảo đảm vững chắc quốc phòng an ninh quốc gia, trật tự an toàn hội. Năm là,
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác phát
triển; chủ động tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ hội chủ
nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mở rộng mặt trận dân tộc
thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Với những phương hướng bản trên, chắc chắn trong thời gian tới, Đảng ta sẽ
tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên không ngừng, đạt được nhiều thắng lợi to lớn hơn
trong sự nghiệp xây dựng đổi mới đất nước.
CÂU 5. Tính chất, ý nghĩa lịch sử kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Tám
năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám m 1945 một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc mang tính chất dân chủ mới. một bộ phận khăng khít của cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân Việt Nam”. “Cách mạng Tháng Tám Việt Nam một cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi
ách đế quốc , làm cho ớc Việt Nam thành một nước độc lập tự do”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
điển hình, thể hiện:
Tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng giải phóng dân
tộc, tập trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của hội Việt Nam lúc đó mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc với đế quốc xâm lược tay sai; đáp ứng đúng yêu cầu khách
quan của lịch sử ý chí , nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân.
Lực hương cách mạng bao gồm toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong mặt
trận Việt Minh với những tổ chức quần chúng mang tên cứu quốc ”, động viên đến
mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945 sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc.
Thành lập chính quyền nhà nước “của chung toàn dân tộc" theo chủ trương
của Đảng, với hình thức cộng hoà dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc những kẻ
phản quốc, “còn ai người dân sống trên giải đất Việt Nam đều thảy được một phần
tham gia giữ chính quyền , phải một phần nhiệm vụ giữ lấy bảo vệ chính quyền
ấy”.
Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một bộ phận của phe dân chủ
chống phát xít. “Nó chống lại phát xít Nhật bọn tay sai phản động, một bộ
phận của cuộc chiến đấu đại của các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới chống
phát xít xâm lược”
Cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân , lực lượng đông
đảo nhất trong dân tộc. Do Cách mạng Tháng Tám , một phần ruộng đất của đế quốc
Việt gian đã bị tịch thu , địa dược tuyên bố giảm 25 % , một số nợ lưu cữu được
xoá bỏ.
Cuộc cách mạng đã xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên Việt Nam , xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Các tầng lớp nhân dân được
hưởng quyền tự do, dân chủ.
Cách mạng Tháng Tám “chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực hiện
khẩu hiệu người cày ruộng ”, “chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng
đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến nửa phong kiến để cho công nghiệp
điều kiện phát triển mạnh.... quan hệ giữa địa chủ nông dân nói chung vẫn như .
Chính thế Cách mạng Tháng Tám tính chất dân chủ, nhưng tính chất đó chưa
được đầy đủ sâu sắc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng còn mang đậm
tính nhân văn , hoàn thành một bước hết sức bản trong sự nghiệp giải phóng con
người Việt Nam khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc, s bóc lột về mặt giai cấp sự
dịch về mặt tinh thần.
Ý nghĩa
Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh
viết: “Chẳng những giai cấp lao động nhân dân Việt Nam ta thể tự o, giai
cấp lao động những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng thể tự hào rằng: Lần này
lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa nửa thuộc địa, một
Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích lệ của chủ nghĩa
đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế
ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân
đầu tiên Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề bản của một cuộc cách mạng
hội vấn đề chính quyền.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám , nhân dân Việt Nam từ thân phận
lệ bước lên địa vị người chủ đất nước, quyền quyết định vận mệnh của mình.
Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập
chủ quyền, vươn lên cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu cao
cả của thời đại hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ tiến bộ hội.
Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động mật trở thành một
đảng cầm quyền. Từ đây, Đảng nhân dân Việt Nam chính quyền nhà nước cách
mạng làm công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước .
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do hướng tới chủ nghĩa hội.
Cách mạng Tháng Tám một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lần đầu
tiên giành thắng lợi một nước thuộc địa, đã dột phá một khâu quan trọng trong hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp tan của chủ
nghĩa thực dân cũ.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ chiến công của dân tộc
Việt Nam còn chiến công chung của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh độc
lập tự do, thế sức cổ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng
đắn, sáng tạo của Đảng tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh . chứng tỏ
rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo hoàn toàn
khả năng thắng lợi một nước thuộc địa trước khi giai cấp công nhân “chính
quốc lên nắm chính quyền.
Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng luận
của chi quyền . nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng luận
của chủ nghĩa Mac-Lenin về ch mạng giải phóng dân tộc.
Kinh nghiệm
Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng nhân dân Việt Nam
nhiều kinh nghiệm quý báu.
Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân
tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc cách mạng
ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu, còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại, rải ra thực hiện từng bước
thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc
Thứ hai, về xây dựng lực lượng: Trên sở khối liên minh công nông , cần
khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu
nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh một điển hình thành
công của Đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa cách mạng, đưa cả dân
tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Theo cách dùng từ của VILênin trong tác phẩm Tổng kết một cuộc tranh
luận về quyền tự quyết, thì đó chính một lửa khởi nghĩa dân tộc”.
Thứ ba, về phương pháp cách mạng : Nắm vững quan điểm bạo lực cách
mạng của quần chúng , ra sức xây dựng lực lượng chính trị lực lượng trang, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ
khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận những vùng nông thôn điều
kiện, tiến lên chớp đúng thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa cả nông thôn thành
thị, giành chính quyền toàn quốc.
Thứ tư, về xây dựng Đảng: Phải xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối trung
thành với lợi ích giai cấp dân tộc; vận dụng phát triển luận Mác - Lênin
tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối chính trị đúng đắn; xây dựng một đảng vững
mạnh về tưởng, chính trị tổ chức, liên hệ chặt chẽ với quần chúng với đội ngũ
cán bộ đảng viên kiên cường được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng.
Chú trọng vai trò lãnh đạo cấp chiến lược của Trung ương Đảng, đồng thời
phát huy tính chủ động , sáng tạo của đảng bộ các địa phương.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân
dân đưa lịch sử dân tộc sang trang mới, đánh dấu bước nhảy vọt đại trong quá trình
tiến hoá của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời, phải trải qua
muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần đoàn
kết phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng củng cố, vững bước tiến trên con
đường độc lập dân tộc chủ nghĩa hội. Suốt 15 năm đấu tranh cách mạng 1930-
1945, Đảng đã lãnh đạo giai cấp dân tộc hoàn thành mục tiêu giành độc lập, thiết
lập nhà nước dân chủ nhân dân.
CHƯƠNG 2:
CÂU 6. sao nói Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Việt Nam rơi vào tình thế
“Ngàn cân reo sợi tóc”?
Khó khăn trên thế giới phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới
chia lại hệ thống thuộc địa thế giới ", ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng
thế giới , trong để cách mạng Việt Nam. Do lợi ích cục bộ của mình , các nước
lớn , không nước nào ủng hộ lập trường độc lập công nhận địa vị pháp của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa
đế quốc , bị bao vây tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài . Cách mạng ba nước
Đông Dương nói chung , cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất
lợi , khó khăn, thử thách hết sức to lớn rất nghiêm trọng.
Khó khăn trong nước hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết
lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt; hậu quả của chế độ để lại hết
sức nặng nề , sự tàn phá của nạn lụt , nạn đói năm 1945 rất nghiêm trọng . Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xác, tiêu điều, công
nghiệp đình đốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang, nền tài chính,
ngân khố kiệt quệ, kho bạc trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn
hội chưa được khắc phục, 95% dân số thất học, chữ, nạn đói cuối năm 1944 đầu
năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói. Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc
này âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân
Pháp. Ngày 2-9-1945 , quân Pháp đã trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng
ngày độc lập của nhân dân ta Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ tháng 9-1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh -
Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận phía Nam
Việt Nam. Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trì, sử dụng đội quân Nhật giúp sức quân
Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn ( Nam Bộ ) vào
rạng sáng ngày 23-9-1945 , mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thực dân
Pháp Việt Nam.
Bắc tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam ( Đức ) , từ cuối tháng
8-1945 , hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch ( Trung Hoa dân quốc ) tràn qua
biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân
đội Đồng minh o giải giáp quân đội Nhật, kéo theo lực lượng tay sai Việt Quốc,
Việt Cách với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ ”, phá Việt Minh. Trong khi đó,
trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua trận chưa được giải
giáp.
Tình hình đó đã đặt nền độc lập chính quyền cách mạng non trẻ của Việt
Nam trước tình thế như ngàn cân treo sợi tóc ”, cùng một lúc phải đối phó với nạn
đói, nạn dốt bọn thù trong, giặc ngoài.
CÂU 7. Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946-1954) kết quả của cuộc chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, lâu
dài dựa vào sức mình chính”.
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành,
bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm 1945 đến
1947. Nội dung bản của đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân , tiến hành kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài dựa vào sức mình chính.
Kháng chiến toàn dân đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân, động viên
toàn dân tích cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước,
đánh địch mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân một chiến , mỗi làng một
pháo đài , mỗi đường phố một mặt trận ”. Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng
cốt cho toàn dân đánh giặc.
Kháng chiến toàn diện đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không
chỉ bằng quân sự cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tưởng, ngoại giao, trong đó
mặt trận quân sự, đấu tranh trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định. Động
viên phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật
chất, tinh thần trong nhân dân phục vụ kháng chiến thắng lợi.
Kháng chiến lâu dài tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Trường kỳ
kháng chiến một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát
triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường
lợi cho ta; lấy thời gian lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu thành mạnh. Kháng
chiến lâu dài nhưng không nghĩa kéo dài thời hạn phải luôn tranh thủ ,
chớp thời thúc đẩy cuộc kháng chiến bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để
đi đến thắng lợi cuối cung.
Kháng chiến dựa vào sức mình chính, sự kế thừa tưởng chiến lược
trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ
Hồ Chí Minh. Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn sức mạnh vật chất,
tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của
cuộc chiến tranh nhân dân. Trên sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ hiệu quả
sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần vật chất của quốc tế khi điều kiện. Lấy độc lập, tự
chủ về đường lối yếu tố quan trọng hàng đầu.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đường lối kháng chiến của Đảng
hoàn toàn đúng đắn , trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân ta tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ , hưởng ứng trong suốt
quá trình kháng chiến trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
CÂU 8. Tại sao Đại hội III (1960) của Đảng được xem Đại hội hoàn chỉnh
đường lối chiến lược cách mạng hai miền Nam Bắc.
Tháng 9-1960 , Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ
đô Nội. Trong diễn văn khai mạc, Hồ Chí Minh nêu rõ: Đại hội lần này Đại
hội xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc đấu tranh hòa bình thống nhất nước
nhà”.
Đại hội đã thảo luận thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết về Nhiệm vụ đường lối của Đảng trong
giai đoạn mới, thông qua Báo cáo về xây dựng Đảng báo cáo về Kế hoạch 5 m
lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc,....
Về đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên sở phân tích tình hình
đặc điểm nước ta . Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn mới phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau hai miền:
Một là, đẩy mạnh cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc. Hai là, tiến hành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn
thành độc lập dân chủ trong cả nước.
Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng , cách mạng miền Bắc
cách mạng miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau , mục tiêu cụ thể riêng ,
song trước mặt đều hướng vào mục tiêu chung giải phóng miền Nam, hòa bình,
thống nhất đất nước.
Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng mỗi
miền, Đại hội nêu rõ: Cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc nhiệm vụ xây dựng
tiềm lực bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam,
chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất
đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam đối với sự nghiệp thống nhất
nước nhà. Còn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam giữ vai trò quyết
định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc
Mỹ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà , hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Về hòa bình thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương ( hay phương châm )
kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, chủ trương đó phù
hợp với nguyện vọng lợi ích của nhân dân cả nước ta cũng như của nhân dân yêu
chuộng hòa bình thế giới. Song ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng
đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh
hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại
chúng, hoàn thành độc lập thống nhất Tổ quốc.
Về triển vọng của cách mạng, Đại hội nhận định cuộc đấu tranh nhằm thực
hiện thống nhất nước nhà nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước ta. Đó một
quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp lâu dài chống đế quốc
Mỹ tay sai của chúng miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về
nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sum họp một nhà.
Về xây dựng chủ nghĩa hội, xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong
đó, đặc điểm lớn nhất từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa hội không trải qua giai đoạn phát triển bản chủ nghĩa, Đại hội xác định
rằng, cuộc cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc một quá trình cải biến cách
mạng về mọi mặt . Đó quá trình đấu tranh gay go giữa hai con đường, con đường
hội chủ nghĩa con đường bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
tưởng, văn hóa kỹ thuật nhằm đưa miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên
sở hữu thể về liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu
toàn dân sở hữu tập thể, từ nền sản xuất nhô lên sản xuất lớn hội chủ nghĩa.
Đại hội đã đề ra đường lối chung trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội
miền Bắc nước ta là: Đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước, lao động
cần của nhân dân ta đoàn kết với các nước hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa hội, xây dựng đời sống ấm no,
hạnh phúc miền Bắc củng cố miền Bắc trở thành sở vững mạnh cho cuộc đấu
tranh thống nhất nước nhà.
Song thành công bản, to lớn nhất của Đại hội lần thứ III của Đảng đã
hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới,
đường lối tiến hành đồng thời kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau
hai miền: cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước giải
phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm năm
lần thứ nhất (1961-1965) nhằm xây dựng bước đầu sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa hội chủ nghĩa hoàn thành
công cuộc cải tạo hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc lên chủ nghĩa hội. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa; xây dựng một bước
sở vật chất của chủ nghĩa hội; cải thiện đời sống nhân dân; bảo đảm an ninh quốc
phòng, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
Trong tổng số các đại biểu tham dự Đại hội 50% số đại biểu các đảng
viên đã tham gia cách mạng từ khi Đảng còn hoạt động mật, tất cả các đại biểu đã
trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, nhiều đại biểu anh hùng chiến
thi đua, đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa
học... Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế, đại biểu của Đảng hội, Đảng Dân chủ các
đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng tới dự Đại hội.
Đồng chí Hồ Chí Minh - Chủ tịch Đảng đọc lời khai mạc Đại hội. Người nói,
lịch sử 30 năm đấu tranh của Đảng đã dạy cho chúng ta rằng: “Thấm nhuần chủ nghĩa
Mác-Lênin, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp sản của dân tộc; giữ
gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng sự đoàn kết nhất trí giữa các Đảng cộng sản,
giữa các nước trong đại gia đình hội chủ nghĩa, đó các bảo đảm chắc chắn nhất
cho cách mạng thắng lợi”. Người khẳng định: “Đại hội lần này Đại hội xây dựng
chủ nghĩa hội miền Bắc đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”. Người nhắc
lại ý chí sắt đá giải phóng miền Nam của nhân dân cả nước ta: “Ngày nào chưa
đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng được miền Nam
khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ
yên”, nhấn mạnh “Miền Bắc giàu mạnh sở vững chắc của cuộc đấu tranh
thống nhất nước nhà”. Để bảo đảm thắng lợi của cách mạng, vấn đề ý nghĩa quyết
định “phải nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng ta, phát huy hơn nữa tác
dụng lãnh đạo của Đảng ta trên mọi mặt công tác. Từ trước tới nay, Đảng ta đã cố
gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tế cách mạng Việt Nam. Cán bộ
đảng viên ta nói chung đều phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn
khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều chủ nghĩa kinh nghiệm, tác
phong quan liêu, chủ nghĩa nhân… chúng ta phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác-
Lênin, tăng cường giáo dục tưởng trong Đảng, đấu tranh khắc phục khuyết điểm…
Phải nâng cao hơn nữa tính giai cấp tính tiên phong của Đảng, tăng cường không
ngừng mối liên hệ giữa Đảng quần chúng, phải biết đoàn kết mọi người yêu nước
tiến bộ để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa hội đấu tranh thống nhất nước nhà”.
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí
Duẩn đọc; Báo cáo về sửa đổi Điều lệ Đảng do đồng chí Đức Thọ đọc; Báo cáo
về phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất do đồng chí Nguyễn Duy
Trinh đọc nhiều tham luận khác.
Báo cáo chính trị đã kiểm điểm lại sự lãnh đạo của Đảng từ Đại hội lần thứ II
đến Đại hội lần thứ III, đặc biệt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Báo cáo
khẳng định “cuộc kháng chiến trường kỳ trường kỳ của nhân dân ta kết thúc thắng lợi.
Thắng lợi đó đã chứng tỏ rằng trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc
nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo
của chính Đảng Mác-Lênin để giành độc lập dân chủ, thì đầy đủ lực lượng để
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Thắng lợi đó chứng tỏ rằng chỉ sự lãnh đạo đúng
đắn của giai cấp công nhân Đảng ta đại biểu, chỉ đường lối cách mạng khoa
học của chủ nghĩa Mác-Lênin mới thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân
thù giành tự do, độc lập”.
Phân tích tình hình đất nước ta tạm thời bị chia làm 2 miền, hai chế độ khác
nhau, Báo cáo xác định: “Nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện
nay là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy
mạnh cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên s độc lập
dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ giàu
mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe hội chủ nghĩa bảo vệ hoà bình
Đông Nam Á thế giới”.
Hai nhiệm vụ cách mạng miền Bắc miền Nam thuộc hai chiến lược khác
nhau, song trước mắt đều một mục tiêu chung thực hiện hoà bình thống nhất Tổ
quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế
quốc Mỹ tay sai của chúng. Để giải quyết mâu thuẫn chung, mỗi miền Nam, Bắc,
nhiệm vụ chiến lược riêng giữ những vị trí khác nhau: Nhiệm vụ cách mạng
hội chủ nghĩa miền Bắc là: “nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn
bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta”. Cách
mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất
nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong c nước”.
Báo cáo chính trị nêu nhiệm vụ bản của cách mạng miền Nam giải
phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến, thực hiện độc lập dân
tộc người cày ruộng. vậy, “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam
đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược gây chiến,

Preview text:

CHƯƠNG I
CÂU 1.Vì sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn con đường cách mạng sản?
Những năm đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đứng trước những thách thức
mới, đó là tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Con đường phong kiến,
khuynh hướng tư sản từng bước dẫn dắt phong trào cách mạng nước ta đi lên nhưng
cuối cùng đều thất bại. Đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải
phóng cho dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Vậy, vì sao Bác lại lựa chọn con đường đó?
Bằng những hoạt động thực tiễn của mình Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận
thức về cách mạng thế giới và những con đường cứu nước, từ đó Bác lựa chọn con
đường đúng đắn cho dân tộc ta.
Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Người dã bôn ba khắp
năm châu, và bước đầu có những nhận thức về bạn và thù(trích dẫn câu nói của bác).
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, chủ nghĩa Mác – Lê nin đã
trở thành hiện thực, đồng thời mở ra một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đế
quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng
trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách
mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân Châu Á tỉnh giấc mê hàng thế
kỷ nay”. Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga và những chính
sách tiến bộ của nó thực sự đem lại lợi ích cho đông đảo quần chúng nhân dân. Nó
chứng tỏ được sự tiến bộ của hình thức cách mạng này.
Trong khi đó, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã để lại những hậu quả vô
cùng nặng nề. Loài người căm ghét chiến tranh. Trong khi đó cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Nga thực sự đem lại hòa bình tự do cho con người.
Từ những nhận thực đó Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu tin theo Cách mạng xã hội
chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Người đã có những nhận thức hết sức đúng đắn:
Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của
các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp
(1789)… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản.
Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập
và hạnh phúc thật sự cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.
(trích dẫn câu nói). Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cách mạng tháng
mười nga 1917. Người rút ra kết luận: “ trong thế giới bấy giờ chỉ có Cách mệnh Nga
là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc
tự do, bình đẳng thật”.
Việc Bác lựa chọn con đường cách mạng vô sản cũng xuất phát từ tình hình
của cách mạng nước ta lúc đó, cũng như từ yêu cầu của cách mạng
Là nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp.
Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, đồng thời cấu kết với giai cấp địa chủ trong
việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Mặc dù nền kinh
tế có những chuyển nhưng về cơ bản vẫn là nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn, què quặt,
lệ thuộc vào Pháp. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đời sống của nhân dân lao
động hết sức khốn khổ. Xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa toàn thể
nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và bọn tay sai lên đến đỉnh điểm.
Yêu cầu của cách mạng lúc này là phải giải quyết hai nhiệm vụ cách mạng, đó
là: Nhiệm vụ dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân pháp, giành lại độc lập cho dân tộc. Và
nhiệm vụ dân chủ nhằm đánh đổ chế độ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân.
Trong hai nhiệm vụ trên, nhiệm vụ dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất.
Con đường giải phóng dân tộc phải thực hiện được cả hai nhiệm vụ đó.
Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam càng thôi thúc Người tìm ra con
đường đấu tranh mới. Trước sự xâm lược của thực dân pháp, phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu là
phong trào cần vương theo con đường phong kiến, hoạt động của Phan Bội Châu và
Phan Châu Trinh theo khuynh hướng tư sản. Các hoạt động yêu nước diễn ra manh mẽ
nhưng cuối cùng đều thất bại. Những con đường đó không đáp ứng được yêu cẩu của
cuộc cách mạng, yêu cầu cần có con đường giải phóng dân tộc mới
Vào tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê nin đăng trên báo nhân đạo. người tìm thấy
trong luận cương của Lê Nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt
Nam;về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới…
Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin.
Tại Đại Hội Đảng Xã hội Pháp ( tháng 2 – 1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu
tán thành việc gia nhập quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp.
Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người – từ
người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn:
“muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Việc lựa chọn con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc cũng xuất phát từ
tấm lòng yêu quê hương, đất nước vô bờ, với sự quyết tâm tìm ra con đường cứu nước
cao cả, tất cả trở thành động lực, hun đún thành ngọn lửa cứu nước, và bằng tài năng
mẫn cảm chính trị của mình cũng như những hoạt động miệt mài, Nguyễn Ái Quốc đã
tìm ra con đường giải phóng cho cả dân tộc.
Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc cho nhân
dân Việt Nam. Và thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đúng đắn đó. Năm 1930,
Đảng cộng sản Việt Nam thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của khuynh hướng cách
mạng vô sản. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, thắng lợi cuộc kháng chiến
chống pháp (1954) và kháng chiến chống Mỹ (1975) cũng như thắng lợi của công
cuộc Đổi mới hiện nay càng chứng tỏ hướng đi đúng đắn của dân tộc và người có vai
trò quan trọng nhất trong việc tìm ra và đặt nền tảng cho cách mạng Việt Nam không
ai khác, đó là Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh vĩ đại.
CÂU 2.Sự kiện cụ thể chứng minh sự ra đời của Đảng tất yếu
Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều
nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911
người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này)
ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Người đã đi qua nhiều nước của
châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã phát hiện ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa
đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở
chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.
Năm 1917, Người trở lại nước Pháp, đến Paris và năm 1919 gia nhập Đảng Xã hội Pháp.
Tháng 6/1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi mới là
Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Vécxây.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Đề cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa” của Lênin và từ tư tưởng đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng
đắn cho dân tộc Việt Nam.
Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán
thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng
Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một sự kiện
lịch sử trọng đại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý
luận cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển
quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế,
Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch phương hướng chiến
lược cách mạng Việt Nam và chuẩn bị điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1921 đến năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác-
Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý
luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nhấn mạnh: cách mạng muốn
thành công phải có đảng cách mạng chân chính lãnh đạo; Đảng phải có hệ tư tưởng
tiên tiến, cách mạng và khoa học dẫn đường, đó là hệ tư tưởng Mác-Lênin.
Người đã viết nhiều bài báo, tham gia nhiều tham luận tại các đại hội, hội nghị
quốc tế, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và tổ chức ra các tờ báo Thanh
niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong, nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin
vào Việt Nam. Năm 1927, Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức
xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh” (tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc ở
lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên). Đó là sự chuẩn bị
về đường lối chính trị tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định,
muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo, Đảng có vững, cách mạng
mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy.
Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán
bộ. Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (năm 1925), tổ chức nhiều lớp
đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc) và gửi cán bộ đi học tại trường Đại học
Phương Đông (ở Liên Xô trước đây) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc)
nhằm đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Nhờ hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí
cách mạng tiền bối mà những điều kiện thành lập Đảng ngày càng chín muồi.
Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản
đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản thống
nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc
đã chủ động tổ chức và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc
từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7/2/1930.
Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản
Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng
sản Việt Nam. Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những
văn kiện đó do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị hợp nhất Đảng thông qua là
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt
Nam. Hội nghị thông qua lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản
và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi đến đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như là một Đại hội thành
lập Đảng. Những văn kiện được thông qua tại Hội nghị hợp nhất do Nguyễn Ái Quốc
chủ trì chính là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng
2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.
2. sao nói sự ra đời của ĐCSVN tất yếu?
Tất yếu lịch sử bởi vì:
– Đó là kết quả chín muồi của cuôc đấu tranh dân tô c và đấu tranh giai cấp
trong thời đại lịch sử mới.
– Đó là kết quả của sự chuẩn bị công phu và khoa học của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc trên cả ba măt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
– Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mac-Lenin với phong trào đấu
tranh của GCCN và phong trào yêu nước của nhân dân VN trong đầu thế kỷ XX. Sự
ra đời của ĐCSVN vừa thể hiên quy luât phổ biến của sự hình thành chính đảng CM
của GCCN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào công nhân) vừa thể hiên quy luât
đăc thù VN (chủ nghĩa M-L kết hợp với phong trào CN và phong trào yêu nước VN).
Ý nghĩa ra đời ĐCS Việt Nam:
Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng Cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng
Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng
đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách
mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc
và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt
Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con
đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ
Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự
kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã
có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc
theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam
vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết
được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng
diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất
nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự
đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành
cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ
bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 89 năm qua.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam
là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn
của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên
những thắng lợi vẻ vang. Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào
sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
ĐCSVN ra đời ngày 3/2/1930 đã đánh dấu 1 bước ngoăt trọng đại của lịch sử CMVN là vì:
– Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc “tưởng
chừng không có lối ra” ở VN. Mở ra 1 thời kỳ mới: thời kỳ CMVN đi theo con đường
CMVS, sự nghiêp giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và
giải phóng toàn xã hội, đô c lâp dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
– Kết thúc thời kỳ đấu tranh tự phát để chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác
của giai cấp công nhân. Chứng tỏ giai cấp công nhân VN đã đến đô trưởng thành đủ
sức nắm vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua đô i tiên phong cách mạng của mình.
– Mở đầu 1 thời kỳ mới cách mạng Việt Nam, đã có 1 nhân tố cơ bản nhất,
quyết định nhất, để liên tục dẩy lên các cao trào cách mạng, đưa CMVN đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác
CÂU 3. Hãy chỉ ra tính sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái
Quốc dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930)
gồm các văn kiện: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, và
Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng.
Tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể
hiện qua những nội dung sau:
MỘT LÀ Cương lĩnh vạch rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn:
Cách mạng tư sản dân quyền (về sau gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân).
Cách mạng xã hội chủ nghĩa (“ làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản ”).
Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của
cách mạng Việt Nam là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
HAI LÀ, Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước
ta: đánh đổ đế quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng. Mục tiêu:
- Làm cho nước Việt Nam độc lập.
- Dựng lên chính phủ công nông binh.
- Tổ chức quân đội công nông độc lập .
- Tịch thu sản nghiệp lớn của bọn đế quốc và ruộng đất của bọn đế quốc, bọn
phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa. Như vậy
Cương lĩnh bao gồm nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong
kiến nhưng nổi bật là chống đế quốc và tay sai phản động, giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc.
BA LÀ, Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, đồng
thời phải lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông về phe giai cấp vô sản, còn phủ nông,
trung, tiêu địa chủ, tự sản Việt Nam chưa lộ rõ bộ mặt phản động thì phải lợi dụng và làm cho họ trung lập.
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ tối đa lực lượng Cách mạng, cô lập tối
đa lực lượng kẻ thù. Thành lập một trận dân tộc thống nhất được sự lãnh đạo của
đảng, trên cơ sở công-nông-trí liên minh .
BỐN LÀ, Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng phải lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền tảng tư tưởng.
Đảng phải có trách nhiệm phục vụ đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai
cấp mình lãnh đạo được quần chúng.
Phải thu phục đại đa số dân cày, dựa vững vào dân cày.
Đồng thời phải liên minh với các giai cấp và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết,
tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.
NĂM LÀ, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng còn coi cách mạng nước ta là một bộ
phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân
tộc thuộc địa bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới.
Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh cách mạng giải
phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm
tính dân tộc và tính nhân văn với tư tưởng cốt lõi là Độc lập - Tự do cho dân tộc.
Nội dung con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là con đường cách
mạng vô sản do giai cấp công nhân lãnh đạo, lực lượng nòng cốt là công nông , đồng
thời phái đoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, trung, tiêu địa chủ, tự san dân tộc và phú
nông, dùng bạo học cách mạng.
Câu 4 : VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG SỰ NGHIỆP GIẢI
PHÓNG DÂN TỘC
1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm
thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xác định đúng
đắn đường lối cách mạng, đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới của độc lập dân tộc
gắn với chủ nghĩa xã hội. Trước năm 1930 khi chưa có Đảng, đất nước ta chìm đắm
dưới ách thống trị, áp bức hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân Pháp và hàng trăm năm
của chế độ phong kiến thối nát. Biết bao cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của
nhân dân ta đã liên tiếp nổ ra nhưng kết cục đều thất bại do thiếu một đường lối chính
trị đúng đắn soi đường. Phong trào đấu tranh dưới ngọn cờ "Cần Vương" của các sĩ
phu yêu nước lãnh đạo cùng với các cuộc khởi nghĩa nông dân lấy hệ tư tưởng phong
kiến làm nền tảng đã tỏ ra lỗi thời, bất lực trước các nhiệm vụ lịch sử. Các phong trào
đấu tranh dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản dân tộc cũng nhanh chóng lộ rõ sự yếu hèn,
thất bại trước các nhiệm vụ lịch sử. Chỉ có phong trào đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động
khác dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng
lập, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam trong hành động
cách mạng, kiên trì mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội
là giành được những thắng lợi vẻ vang.
Sự lựa chọn đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua gắn
liền với tên tuổi và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh. Từ một người yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng
Mười Nga, Người đã sớm nhận ra rằng, “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều,
nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin.
Đó chính là chủ nghĩa Mác - Lênin, một học thuyết cách mạng và khoa học nhất về
con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ngay từ
những năm đầu thập niên 20, thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có sự lựa chọn đúng đắn
khẳng định con đường đi đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam: "không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Trải qua thực tiễn cuộc sống, hoạt
động cách mạng phong phú và tiếp thu chân lý khoa học, Người đã đi đến kết luận chỉ
có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người không phân
biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên trái đất,
việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bám sát thực tiễn cách mạng, phân tích sâu
sắc thời cuộc, nắm vững mâu thuẫn cơ bản, thấy rõ mâu thuẫn chủ yếu trong mỗi thời
kỳ, xác định đúng đắn những nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Đầu thế kỷ XX,
Việt Nam là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo
của chủ nghĩa thực dân Pháp đã làm tích tụ những mâu thuẫn gay gắt giữa toàn thể
dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân và bè lũ tay sai. Những mâu thuẫn đó chỉ có
thể được giải quyết bằng con đường cách mạng bạo lực và thực hành cuộc cách mạng
không ngừng, cách mạng “đến nơi”. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đảng ta đã xác định
rõ mối quan hệ khăng khít giữa các nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam độc
lập dân tộc, dân chủ gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong Chánh cương vắn tắt, Đảng
ta đã xác định rõ "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản"; "Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm
cho nước Nam được hoàn toàn độc lập"
Từ khi có Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường
đấu tranh oanh liệt và thắng lợi vẻ vang, từng bước mang lại độc lập, tự do, ấm no,
hạnh phúc cho nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời (2/9/1945) mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vận mệnh của Đảng gắn liền với vận mệnh của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Mối liên hệ mật thiết giữa
Đảng và quần chúng nhân dân là nguồn gốc sức mạnh và thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ: "Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung
quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản,
hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân -
không ngừng củng cố và tăng cường"
3. Đảng luôn nhạy bén, bám sát tình hình thời cuộc để xác định đúng đắn
nhiệm vụ, phương pháp cách mạng phù hợp đưa đất nước tiến lên giành nhiều thắng
lợi to lớn. Trong thực tiễn, Đảng luôn kết hợp chặt chẽ giữa kiên trì chuẩn bị lực
lượng với nắm vững thời cơ, khi thời cơ đến đã biết chớp lấy, kịp thời tổ chức, động
viên nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh giành thắng lợi. Hội nghị Trung ương lần
thứ tám của Đảng (10/5 - 19/5/1941) đã có quyết định chuyển hướng chiến lược đấu
tranh cách mạng kịp thời thành lập Mặt trận Việt minh, ra lời kêu gọi toàn thể dân tộc
Việt Nam đoàn kết, đứng lên chống phát-xít, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Sau
khi phát-xít Đức, Ý bại trận, phát-xít Nhật sửa soạn đầu hàng (7/1945), Hồ Chí Minh
vẫn rất sáng suốt nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần và nhắc nhở các đồng chí
Trung ương: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"
Ngay sau ngày giành được độc lập (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta đã khẩn trương lãnh đạo nhân dân cả nước bắt tay vào thực hiện đồng thời hai
nhiệm vụ chiến lược gắn xây dựng với bảo vệ chính quyền cách mạng; trong đó trọng
tâm là xây dựng, lấy xây dựng làm điều kiện cho bảo vệ. Trong cuộc kháng chiến 9
năm chống thực dân Pháp xâm lược, Trung ương Đảng, Bác Hồ đã đề ra đường lối
kháng chiến đúng đắn, sáng tạo - "Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, lấy sức mình là
chính", kháng chiến đi đôi với kiến quốc để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành
công. Qua đó, làm chuyển hoá thế trận, thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách
mạng, từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Sau năm 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam vẫn tạm
thời bị Mỹ, ngụy chiếm đóng. Trên cơ sở phân tích tình hình, nhận thức rõ những mâu
thuẫn khác nhau ở mỗi miền Nam, Bắc, Đảng và Hồ Chí Minh đã xác định đúng đắn
hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là vừa tích cực xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành triệt để cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam,
hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc trong cả nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã
hội. Điều đáng chú ý là cả hai cuộc cách mạng đó đều được xác định nằm trong quỹ
đạo cách mạng vô sản và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Hồ Chí
Minh chỉ rõ: "Hiện nay nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là gì? Là xây dựng miền
Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội để làm cơ sở vững chắc cho việc đấu tranh thống nhất
nước nhà. Muốn đấu tranh thống nhất nước nhà thắng lợi thì nhất định phải xây dựng
miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội". Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng
đất nước không được phép lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là tư tưởng chiến lược
xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
4. Đảng luôn nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trải nghiệm thực tiễn để có đường lối đổi mới đúng
đắn, sáng tạo làm nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp đổi
mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn
biến phức tạp, đất nước chồng chất khó khăn càng làm nổi bật những thành tựu đạt
được sau 25 năm đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng
sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực và tầm nhìn chiến lược
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đất nước có hoà bình, thống nhất, cả nước bước vào
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng với mô hình và kinh nghiệm của các nước
xã hội chủ nghĩa áp dụng vào Việt Nam đã nhanh chóng bộc lộ khuyết tật, sai lầm của
nó. Nhưng sau mỗi sai lầm, vấp ngã, Đảng đã dũng cảm "nhìn thẳng vào sự thật, nói
đúng sự thật", kiên quyết sửa chữa, kịp thời tổng kết rút ra những bài học từ những
thành công và cả những sai lầm, thất bại, kiên trì sự nghiệp đổi mới đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hai mươi lăm năm qua với bản lĩnh, trí tuệ và đạo đức cao đẹp của một Đảng
cách mạng cầm quyền dày dạn kinh nghiệm, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn tạo
động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước vươn lên giành
nhiều thắng lợi mới. Mô hình, mục tiêu và con đường, biện pháp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn. Mặc dù cách mạng còn nhiều khó
khăn, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Bởi đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của
cách mạng Việt Nam phù hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại. Đường lối
đổi mới của Đảng xa lạ với những gì mà kẻ thù lâu nay vẫn ra sức tuyên truyền xuyên
tạc rằng con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta
là "sản phẩm ngoại nhập, không có tương lai". Nhất là từ sau những sai lầm về đường
lối cải tổ dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô những
năm cuối thế kỷ XX. Kẻ thù đã lớn tiếng tuyên bố rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị
phủ định ngay tại quê hương của nó bởi sự lỗi thời; hơn nữa, khi du nhập vào Việt
Nam đã bị cắt xén, biến dạng thành bạo lực đấu tranh; kinh tế trì trệ, suy thoái, khủng
hoảng…; là những biểu hiện của “hồi kết”, “Chương thử nghiệm cuối cùng của chủ
nghĩa cộng sản"; "sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản".v.v.. Nhưng thắng lợi của công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước 25 năm qua của dân tộc ta đã bác bỏ những luận điệu
xuyên tạc xằng bậy đó của kẻ thù.
Giữ vững nguyên tắc độc lập, sáng tạo, trung thành với lợi ích của nhân dân,
bám sát thực tiễn cuộc sống, xác định đường lối, chính sách đúng đắn và nhanh chóng
đưa vào cuộc sống hướng dẫn hoạt động cách mạng của nhân dân là bí quyết thành
công của Đảng ta. Ngay từ đầu, Đảng đã xác định rõ khâu đột phá của sự nghiệp đổi
mới là đổi mới tư duy nhưng trọng tâm lại là đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế kết hợp
với đổi mới chính trị làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, quyết tâm
xây dựng một xã hội "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân, phát
huy được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để tiếp tục tạo cơ sở vững chắc trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước
trong những năm tới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định rõ 8
phương hướng cơ bản để toàn Đảng, toàn dân ta quán triệt và thực hiện: Một là, đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo
vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng
con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là,
bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Năm là,
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc
thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Với những phương hướng cơ bản trên, chắc chắn trong thời gian tới, Đảng ta sẽ
tiếp tục lãnh đạo đất nước tiến lên không ngừng, đạt được nhiều thắng lợi to lớn hơn
trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.
CÂU 5. Tính chất, ý nghĩa lịch sử kinh nghiệm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “ một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc mang tính chất dân chủ mới. Nó là một bộ phận khăng khít của cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân Việt Nam”. “Cách mạng Tháng Tám Việt Nam là một cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi
ách đế quốc , làm cho nước Việt Nam thành một nước độc lập tự do”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình, thể hiện:
Tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân
tộc, tập trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc đó là mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc với đế quốc xâm lược và tay sai; đáp ứng đúng yêu cầu khách
quan của lịch sử và ý chí , nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân.
Lực hương cách mạng bao gồm toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong mặt
trận Việt Minh với những tổ chức quần chúng mang tên “ cứu quốc ”, động viên đến
mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc.
Thành lập chính quyền nhà nước “của chung toàn dân tộc" theo chủ trương
của Đảng, với hình thức cộng hoà dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc và những kẻ
phản quốc, “còn ai là người dân sống trên giải đất Việt Nam đều thảy được một phần
tham gia giữ chính quyền , phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”.
Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là một bộ phận của phe dân chủ
chống phát xít. “Nó chống lại phát xít Nhật và bọn tay sai phản động, và nó là một bộ
phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới chống phát xít xâm lược”
Cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân , lực lượng đông
đảo nhất trong dân tộc. Do Cách mạng Tháng Tám , một phần ruộng đất của đế quốc
và Việt gian đã bị tịch thu , địa tô dược tuyên bố giảm 25 % , một số nợ lưu cữu được xoá bỏ.
Cuộc cách mạng đã xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân đầu
tiên ở Việt Nam , xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến. Các tầng lớp nhân dân được
hưởng quyền tự do, dân chủ.
Cách mạng Tháng Tám “chưa làm cách mạng ruộng đất, chưa thực hiện
khẩu hiệu người cày có ruộng ”, “chưa xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng
đất, chưa xoá bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho công nghiệp có
điều kiện phát triển mạnh.... quan hệ giữa địa chủ và nông dân nói chung vẫn như cũ .
Chính vì thế Cách mạng Tháng Tám có tính chất dân chủ, nhưng tính chất đó chưa
được đầy đủ và sâu sắc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng còn mang đậm
tính nhân văn , hoàn thành một bước hết sức cơ bản trong sự nghiệp giải phóng con
người ở Việt Nam khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự
nô dịch về mặt tinh thần. Ý nghĩa
Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh
viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai
cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là
lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một
Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa
đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế
ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân
đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng
xã hội là vấn đề chính quyền.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám , nhân dân Việt Nam từ thân phận
nô lệ bước lên địa vị người chủ đất nước, có quyền quyết định vận mệnh của mình.
Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập có
chủ quyền, vươn lên cùng các dân tộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu cao
cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật trở thành một
đảng cầm quyền. Từ đây, Đảng và nhân dân Việt Nam có chính quyền nhà nước cách
mạng làm công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước .
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lần đầu
tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa, đã dột phá một khâu quan trọng trong hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ là chiến công của dân tộc
Việt Nam mà còn là chiến công chung của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh vì độc
lập tự do, vì thế nó có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng
đắn, sáng tạo của Đảng và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh . Nó chứng tỏ
rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo hoàn toàn
có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai cấp công nhân ở “chính
quốc ” lên nắm chính quyền.
Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận
của chi quyền . nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận
của chủ nghĩa Mac-Lenin về cách mạng giải phóng dân tộc. Kinh nghiệm
Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam
nhiều kinh nghiệm quý báu.
Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược, phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân
tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng
ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
đầu, còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại, rải ra thực hiện từng bước
thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống đế quốc
Thứ hai, về xây dựng lực lượng: Trên cơ sở khối liên minh công nông , cần
khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân, tập hợp mọi lực lượng yêu
nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh là một điển hình thành
công của Đảng về huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa cách mạng, đưa cả dân
tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước, tiến lên tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Theo cách dùng từ của VILênin trong tác phẩm Tổng kết một cuộc tranh
luận về quyền tự quyết, thì đó chính là một “ lò lửa khởi nghĩa dân tộc”.
Thứ ba, về phương pháp cách mạng : Nắm vững quan điểm bạo lực cách
mạng của quần chúng , ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ và
khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận ở những vùng nông thôn có điều
kiện, tiến lên chớp đúng thời cơ, phát động tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành
thị, giành chính quyền toàn quốc.
Thứ tư, về xây dựng Đảng: Phải xây dựng một Đảng cách mạng tiên phong
của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam, tuyệt đối trung
thành với lợi ích giai cấp và dân tộc; vận dụng và phát triển lý luận Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối chính trị đúng đắn; xây dựng một đảng vững
mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, liên hệ chặt chẽ với quần chúng và với đội ngũ
cán bộ đảng viên kiên cường được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng.
Chú trọng vai trò lãnh đạo ở cấp chiến lược của Trung ương Đảng, đồng thời
phát huy tính chủ động , sáng tạo của đảng bộ các địa phương.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân
dân đưa lịch sử dân tộc sang trang mới, đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình
tiến hoá của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời, dù phải trải qua
muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần đoàn
kết phấn đấu của toàn dân, luôn được xây dựng và củng cố, vững bước tiến trên con
đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Suốt 15 năm đấu tranh cách mạng 1930-
1945, Đảng đã lãnh đạo giai cấp và dân tộc hoàn thành mục tiêu giành độc lập, thiết
lập nhà nước dân chủ nhân dân. CHƯƠNG 2:
CÂU 6. sao nói Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Việt Nam rơi vào tình thế
“Ngàn cân reo sợi tóc”?
Khó khăn là trên thế giới phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “
chia lại hệ thống thuộc địa thế giới ", ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng
thế giới , trong để có cách mạng Việt Nam. Do lợi ích cục bộ của mình , các nước
lớn , không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa
đế quốc , bị bao vây tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài . Cách mạng ba nước
Đông Dương nói chung , cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất
lợi , khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng.
Khó khăn ở trong nước là hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết
lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt; hậu quả của chế độ cũ để lại hết
sức nặng nề , sự tàn phá của nạn lũ lụt , nạn đói năm 1945 rất nghiêm trọng . Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công
nghiệp đình đốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang, nền tài chính,
ngân khố kiệt quệ, kho bạc trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã
hội chưa được khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944 đầu
năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói. Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc
này là âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân
Pháp. Ngày 2-9-1945 , quân Pháp đã trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng
ngày độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn - Chợ Lớn.
Từ tháng 9-1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh -
Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam
Việt Nam. Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trì, sử dụng đội quân Nhật giúp sức quân
Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn - Chợ Lớn ( Nam Bộ ) vào
rạng sáng ngày 23-9-1945 , mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam ( Đức ) , từ cuối tháng
8-1945 , hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch ( Trung Hoa dân quốc ) tràn qua
biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân
đội Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc,
Việt Cách với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ ”, phá Việt Minh. Trong khi đó,
trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua trận chưa được giải giáp.
Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt
Nam trước tình thế “ như ngàn cân treo sợi tóc ”, cùng một lúc phải đối phó với nạn
đói, nạn dốt và bọn thù trong, giặc ngoài.
CÂU 7. Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1946-1954) kết quả của cuộc chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, lâu
dài dựa vào sức mình chính”.
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành,
bổ sung, phát triển qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm 1945 đến
1947. Nội dung cơ bản của đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân , tiến hành kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân, động viên
toàn dân tích cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước,
đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ , mỗi làng xã là một
pháo đài , mỗi đường phố là một mặt trận ”. Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng
cốt cho toàn dân đánh giặc.
Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không
chỉ bằng quân sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó
mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định. Động
viên và phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật
chất, tinh thần trong nhân dân phục vụ kháng chiến thắng lợi.
Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Trường kỳ
kháng chiến là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát
triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có
lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu thành mạnh. Kháng
chiến lâu dài nhưng không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ ,
chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến có bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để
đi đến thắng lợi cuối cung.
Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là sự kế thừa tư tưởng chiến lược
trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ
Hồ Chí Minh. Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn sức mạnh vật chất,
tinh thần vốn có của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của
cuộc chiến tranh nhân dân. Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quả
sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế khi có điều kiện. Lấy độc lập, tự
chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là
hoàn toàn đúng đắn , trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn
quân, toàn dân ta tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ , hưởng ứng trong suốt
quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
CÂU 8. Tại sao Đại hội III (1960) của Đảng được xem Đại hội hoàn chỉnh
đường lối chiến lược cách mạng hai miền Nam Bắc.
Tháng 9-1960 , Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ
đô Hà Nội. Trong diễn văn khai mạc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “ Đại hội lần này là Đại
hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”.
Đại hội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng và thông qua Nghị quyết về Nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong
giai đoạn mới, thông qua Báo cáo về xây dựng Đảng và báo cáo về Kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,....
Về đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở phân tích tình hình
và đặc điểm nước ta . Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn mới là phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền:
Một là, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hai là, tiến hành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn
thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng , cách mạng ở miền Bắc và
cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau , có mục tiêu cụ thể riêng ,
song trước mặt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình,
thống nhất đất nước.
Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi
miền, Đại hội nêu rõ: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng
tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam,
chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất
đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất
nước nhà. Còn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết
định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc
Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà , hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Về hòa bình thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương ( hay phương châm )
kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương đó phù
hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước ta cũng như của nhân dân yêu
chuộng hòa bình thế giới. Song ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng
đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh
hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại
chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Về triển vọng của cách mạng, Đại hội nhận định cuộc đấu tranh nhằm thực
hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước ta. Đó là một
quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc
Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về
nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sum họp một nhà.
Về xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong
đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội xác định
rằng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách
mạng về mọi mặt . Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa hai con đường, con đường xã
hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật nhằm đưa miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên
sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể, từ nền sản xuất nhô lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đã đề ra đường lối chung trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc nước ta là: Đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước, lao động
cần cù của nhân dân ta và đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no,
hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc trở thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu
tranh thống nhất nước nhà.
Song thành công cơ bản, to lớn nhất của Đại hội lần thứ III của Đảng là đã
hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới,
đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau
ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải
phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra và chỉ đạo thực hiện kế hoạch năm năm
lần thứ nhất (1961-1965) nhằm xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thành
công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất là tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; xây dựng một bước cơ
sở vật chất của chủ nghĩa xã hội; cải thiện đời sống nhân dân; bảo đảm an ninh quốc
phòng, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
Trong tổng số các đại biểu tham dự Đại hội có 50% số đại biểu là các đảng
viên đã tham gia cách mạng từ khi Đảng còn hoạt động bí mật, tất cả các đại biểu đã
trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, nhiều đại biểu là anh hùng và chiến
sĩ thi đua, là đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, nhà thơ, nhà văn, nhà khoa
học... Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế, đại biểu của Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ và các
đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng tới dự Đại hội.
Đồng chí Hồ Chí Minh - Chủ tịch Đảng đọc lời khai mạc Đại hội. Người nói,
lịch sử 30 năm đấu tranh của Đảng đã dạy cho chúng ta rằng: “Thấm nhuần chủ nghĩa
Mác-Lênin, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản và của dân tộc; giữ
gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và sự đoàn kết nhất trí giữa các Đảng cộng sản,
giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, đó là các bảo đảm chắc chắn nhất
cho cách mạng thắng lợi”. Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”. Người nhắc
lại ý chí sắt đá giải phóng miền Nam của nhân dân cả nước ta: “Ngày nào mà chưa
đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng được miền Nam
khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ
yên”, và nhấn mạnh “Miền Bắc giàu mạnh là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh
thống nhất nước nhà”. Để bảo đảm thắng lợi của cách mạng, vấn đề có ý nghĩa quyết
định là “phải nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng ta, phát huy hơn nữa tác
dụng lãnh đạo của Đảng ta trên mọi mặt công tác. Từ trước tới nay, Đảng ta đã cố
gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tế cách mạng Việt Nam. Cán bộ
và đảng viên ta nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn
khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm, tác
phong quan liêu, chủ nghĩa cá nhân… chúng ta phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác-
Lênin, tăng cường giáo dục tư tưởng trong Đảng, đấu tranh khắc phục khuyết điểm…
Phải nâng cao hơn nữa tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng, tăng cường không
ngừng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, phải biết đoàn kết mọi người yêu nước
và tiến bộ để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”.
Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí
Lê Duẩn đọc; Báo cáo về sửa đổi Điều lệ Đảng do đồng chí Lê Đức Thọ đọc; Báo cáo
về phương hướng và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất do đồng chí Nguyễn Duy
Trinh đọc và nhiều tham luận khác.
Báo cáo chính trị đã kiểm điểm lại sự lãnh đạo của Đảng từ Đại hội lần thứ II
đến Đại hội lần thứ III, đặc biệt là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Báo cáo
khẳng định “cuộc kháng chiến trường kỳ trường kỳ của nhân dân ta kết thúc thắng lợi.
Thắng lợi đó đã chứng tỏ rằng trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù là
nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo
của chính Đảng Mác-Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Thắng lợi đó chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo đúng
đắn của giai cấp công nhân mà Đảng ta là đại biểu, chỉ có đường lối cách mạng khoa
học của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có thể tạo điều kiện cho nhân dân ta đánh bại quân
thù và giành tự do, độc lập”.
Phân tích tình hình đất nước ta tạm thời bị chia làm 2 miền, có hai chế độ khác
nhau, Báo cáo xác định: “Nhiệm vụ cách mạng của nhân dân ta trong giai đoạn hiện
nay là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy
mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và
dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở
Đông Nam Á và thế giới”.
Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác
nhau, song trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hoà bình thống nhất Tổ
quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế
quốc Mỹ và tay sai của chúng. Để giải quyết mâu thuẫn chung, mỗi miền Nam, Bắc,
có nhiệm vụ chiến lược riêng và giữ những vị trí khác nhau: Nhiệm vụ cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: “nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn
bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà của nhân dân ta”. Cách
mạng miền Nam “có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất
nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước”.
Báo cáo chính trị nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải
phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân
tộc và người cày có ruộng. Vì vậy, “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là
đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến,