



















Preview text:
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG HỢP 25 CÂU CỦA THẦY THÁI VĂN NAM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
Câu 1. Bằng tư duy lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn những năm cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu
khách quan? - Trợ lý . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
Câu 2. Phân tích nội dung cơ bản, ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội
nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (02/1930)? - Trợ lý . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
Điểm sáng tạo . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
Câu 3. Phân tích nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945? Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam. . . . . . . . . . . 3
Câu 4. Trình bày đặc điểm tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. . . . . . . 6
Câu 5. Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố chính quyền
cách mạng những năm 1945 - 1946. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
Câu 6. Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 - 1954). . . . . 8
Câu 7. Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15
(1959). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
Câu 8. Đánh giá nhận định sau: Đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại
Đại hội III (9/1960), thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết
những vấn đề chưa có tiền lệ lịch sử? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
Câu 9. Phần tích những đặc điểm tình hình miền Bắc khi thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa (1960 - 1975)? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
Câu 10. Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao trong Kháng
chiến chống Mỹ (1965 - 1975). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
Câu 11. Khái lược và đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của
Đảng (1975 - 1985)? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 16
Câu 12. Vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đường lối đổi mới tại Đại hội VI (1986) là
một tất yếu? Theo anh/chị, ý nghĩa của đổi mới đối với sự phát triển đất nước hiện nay là gì?. 19
13. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta đặt vấn đề phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với bảo vệ môi trường? Sinh viên cần làm gì để góp phần thực hiện mục tiêu này? . . . . . 20
14. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN là một tất yếu? Yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn này? . . . . . . . . . . . . 21
15. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 9 khóa XI (2014), Dáng ta đưa ra quan điểm:
"Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước". Hãy trình bày ý kiến của anh/chị về quan điểm trên. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 23
16. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đổi ngoại đa phương hóa, đa
dạng hóa là một tất yếu? Nêu khó khăn, thách thức đề thực hiện đường lối này trong giai
đoạn hiện nay. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 25
17. Trình bày ý kiến của anh/chị về chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế căn Đảng trong
thời kỳ đổi mới. Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này? . . . . . . . . . . . . 26
18. Theo anh chị tại sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình
hội nhập quốc toàn diện? Hãy phân tích lợi ích và thách thưucs của hội hập nhập quốc tế . 28
19. Đánh giá sự phát triển nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội qua Cương lĩnh 1991 và
Cương lĩnh 2011? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 30
20. So sánh, đánh giá khái quát sự phát triển nhận thức của Đảng về con đường quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - nay) với thời kỳ trước đổi mới
(1975 - 1985)? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32
21. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Giữ vững mục tiêu độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay? . . .. . . . . .. . .. . .. . . . . . . . . . .. . .. . 33
22. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đàng: Mở rộng và tăng cường khối
đoàn kết toàn dân, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay . . . . . . 34
23. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Sự nghiệp cách mạng của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 36
24. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đăng: Kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế? . . . . . . . . . . . . . . . . . . 37
25. Nội dung và định hướng vận dụng bài học lịch sử của Đảng: Sự lãnh đạo đúng dẫn của
Đảng là nhân tố hàng dẫu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam? . . . . . . . . . . . . . 40
CHƯƠNG 2: TỔNG HỢP CÂU HỎI TỪ CÁC HỌC KỲ TRƯỚC VÀ MỘT SỐ CÂU HỎI
TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY CỦA THẦY NAM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 42
1. Phân tích quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới của Đảng từ 1975 đến 1985 . 42
2. Phân tích những chủ trương và biện pháp lớn của Đảng Cộng Sản Việt Nam để bảo vệ
chính quyền cách mạng trong giai đoạn 1945 -1946. Theo anh chị nhiệm vụ nào là quan trọng
nhất , vì sao? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 46
3. Trong Đại hội VIII (1996) của Đảng, lần đầu tiên Đảng khẳng định “tăng trưởng kinh tế
gắn với bảo vệ môi trường sinh thái”. Trình bày suy nghĩ của A/C về quan điểm này và theo
Anh/Chị, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, chúng ta có nên đánh đổi môi trường để phát
triển kinh tế không? Vì sao? (6 điểm) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 49
6. Năm 1986, ĐCS VN đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện. Anh/ chị hãy lý giải lý giải vì
sao ĐCS VN tiến hành công cuộc đổi mới tất yếu? . . . . . .. . . . . .. . .. . .. . .. . .. . . . . .. . .. . 51
7. Anh chị hãy cho biết tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung
bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường là một tất yếu. .. . .. . .. . . . . .. . .. . .. . .. . .. . . . . .. 52
8. Tại sao sau năm 1975, Việt Nam lại rơi vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội? 55
9. Tại sao đường lối Đổi mới được Đại hội lần thứ VI (12/1986) thông qua lại tập trung vào
đối mới kinh tế (mà thực chất là đổi mới tư duy kinh tế)?Anh chị hãy phân tích về đấu tranh
giai cấp 1930-1945 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 56
NOTE: Mô hình trước khi đổi mới là mô hình kinh tế tập trung sau đổi mới ta đang tập
trung đang đi theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tri thức,
kinh tế số, kinh tế xanh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 58
Câu 10: So sánh, đánh giá khái quát sự phát triển nhận thức của Đảng về con đường quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kì đổi mới ( 1986 - nay ) với thời kì trước đổi mới
( 1975 - 1985 )? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 60
CHƯƠNG 3: TỔNG HỢP CÂU HỎI PHÒNG HỜ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 62 2
26. Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (1959)? . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 62
Câu 8 : Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư
duy lý luận, sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng? . . . . . . . .. . .. . .. . . . . . . . . . .. . .. . .. 63
CÂU 1. ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA
ĐẢNG VÀ CHỈ RA NHỮNG ĐIỂM SÁNG TẠO CỦA BẢN VĂN KIỆN NÀY. . . . . . . . . . 64
CÂU 2. Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM. . . 67
CÂU 3. CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG
GIAI ĐOẠN 1939 - 1945. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 67
CÂU 4. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA ĐẢNG. . . . . . . 69
CÂU 5. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN
1965 – 1975. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 71
CÂU 6. ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI Ở ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI
(12/1986) CỦA ĐẢNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 73
CÂU 7. “CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI” ĐƯỢC THÔNG QUA TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ
VII (1991) CỦA ĐẢNG. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 74
CÂU 8. NỘI DUNG CƠ BẢN ĐƯỢC THÔNG QUA TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ VIII CỦA
ĐẢNG (1996). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 75
CÂU 9. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI,
QUỐC PHÒNG, AN NINH, ĐỐI NGOẠI ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG “CƯƠNG LĨNH XÂY
DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (BỔ SUNG,
PHÁT TRIỂN NĂM 2011)” THÔNG QUA TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN
THỨ XI CỦA ĐẢNG (2011). . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 77
CÂU 10. BÀI HỌC KINH NGHIỆM “NẮM VỮNG NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 78 3
CHƯƠNG 1: TỔNG HỢP 25 CÂU HỎI
Câu 1. Bằng lý luận Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn những năm cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, chứng minh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan? - Trợ lý
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 là một sự kiện trọng đại, đánh dấu bước ngoặt
trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đó không phải là sản phẩm ngẫu nhiên hay do ý chí chủ quan của một
cá nhân hay tổ chức nào, mà là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa lý luận cách mạng tiên tiến và phong
trào đấu tranh yêu nước, phong trào công nhân trong nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ta có thể thấy rõ tính tất
yếu khách quan của sự kiện này.
Trước hết, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời của Đảng Cộng sản là một quy
luật khách quan trong quá trình phát triển của phong trào công nhân. Mác và Lênin đều khẳng định
rằng, cách mạng vô sản muốn giành thắng lợi cần có một chính đảng của giai cấp công nhân, mang bản
chất cách mạng và khoa học. Đảng đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong
trào công nhân và phong trào yêu nước. Tại Việt Nam, trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, ba yếu tố này hội
tụ đã dẫn đến sự hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam như một tất yếu lịch sử.
Thứ hai, xét về thực tiễn lịch sử dân tộc, cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, Việt Nam chìm
trong đêm dài nô lệ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Các phong trào đấu tranh yêu nước, tiêu biểu
như phong trào Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục... tuy sôi nổi, nhưng đều thất bại do
thiếu đường lối đúng đắn và tổ chức lãnh đạo thống nhất. Trong khi đó, giai cấp công nhân Việt Nam
tuy mới hình thành nhưng ngày càng trưởng thành và có tổ chức. Họ không chỉ đấu tranh đòi quyền lợi
kinh tế mà đã chuyển sang đấu tranh chính trị, thể hiện vai trò tiên phong trong phong trào giải phóng
dân tộc. Tuy nhiên, phong trào công nhân lúc đó vẫn còn tự phát, chưa phát triển lên trình độ tự giác,
chưa có một lực lượng lãnh đạo mang tính chiến lược.
Chính trong hoàn cảnh đó, vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở nên đặc
biệt quan trọng. Người là người đầu tiên ở Việt Nam tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định rõ con
đường cứu nước đúng đắn là con đường cách mạng vô sản. Trên cơ sở lý luận vững chắc và sự chuẩn
bị công phu về chính trị, tư tưởng, tổ chức, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất
ba tổ chức cộng sản vào đầu năm 1930, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu của
sự kết hợp giữa lý luận cách mạng với thực tiễn cách mạng Việt Nam, giữa tinh thần yêu nước truyền
thống với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Cuối cùng, nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời để dẫn dắt, lịch sử dân tộc có thể
đã đi vào ngõ cụt hoặc tiếp tục lặp lại thất bại như các phong trào trước đó. Thực tiễn lịch sử hơn 90
năm qua đã chứng minh vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đại biểu trung thành
của lợi ích dân tộc, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.
Tóm lại, xét từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ Tư tưởng Hồ Chí Minh, và từ thực
tiễn lịch sử dân tộc, có thể khẳng định rằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu 4
khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Chính sự kiện này đã mở ra con đường giải
phóng dân tộc đúng đắn, đưa Việt Nam từng bước tiến lên độc lập, tự do và phát triển.
Câu 2. Phân tích nội dung cơ bản, ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội nghị
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (02/1930)? - Trợ lý
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng – Trung Quốc) từ ngày 3
đến 7 tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đánh dấu sự ra đời của Đảng
Cộng sản Việt Nam – chính đảng duy nhất đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể dân
tộc Việt Nam. Tại Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc đã trình bày và được thông qua một số văn kiện quan
trọng, đặc biệt là Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt – những văn kiện đầu tiên thể hiện một
cách có hệ thống, toàn diện và khoa học đường lối cách mạng Việt Nam.
Về chiến lược cách mạng, Cương lĩnh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là “tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đây chính là hình thức cụ
thể của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa được xác định ngay từ đầu.
Điểm đặc biệt là trong hoàn cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX, khi phong trào yêu nước theo các con đường
cứu nước cũ (như cải cách, bạo động, cầu viện ngoại bang) đều rơi vào bế tắc, thì việc Nguyễn Ái Quốc
xác định đúng đắn đường lối cách mạng vô sản, gắn liền dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội là một sự
lựa chọn mang tính cách mạng và khoa học. Từ đó, Cương lĩnh mở ra một con đường cứu nước mới,
phù hợp với yêu cầu lịch sử và điều kiện dân tộc, đặt nền móng cho tiến trình cách mạng lâu dài của Việt Nam.
Về nhiệm vụ cách mạng, Cương lĩnh đã chỉ rõ hai nhiệm vụ cơ bản là nhiệm vụ dân tộc và
nhiệm vụ giai cấp. Trong đó, nhiệm vụ dân tộc là đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập hoàn toàn
cho đất nước; nhiệm vụ giai cấp là đánh đổ địa chủ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”. Việc
xác định rõ ràng các nhiệm vụ này cho thấy tính triệt để và toàn diện của cách mạng Việt Nam, đồng
thời phản ánh sự nhạy bén trong nhận thức của Đảng về mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc
bấy giờ. Đặc biệt, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, bởi trong bối cảnh thuộc địa,
mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp là mâu thuẫn chủ yếu, có tính bao trùm,
chi phối các mâu thuẫn khác.
Về lực lượng cách mạng, Cương lĩnh đề cao vai trò của toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh
cách mạng. Trong đó, công – nông được xác định là lực lượng nòng cốt, đặc biệt công nhân giữ vai trò
lãnh đạo, nông dân là lực lượng chủ yếu. Tuy nhiên, Cương lĩnh cũng thể hiện tư duy linh hoạt, mềm
dẻo trong chiến lược đoàn kết dân tộc, khi nhấn mạnh việc liên kết với tiểu tư sản, tầng lớp trí thức,
lôi kéo trung, tiểu địa chủ, và chỉ chống lại những bộ phận đã ra mặt phản cách mạng. Cách nhìn nhận
này không chỉ phù hợp với thực tiễn cấu trúc xã hội Việt Nam mà còn cho thấy tinh thần thực tiễn và
khả năng tổ chức lực lượng cách mạng của Đảng.
Một nội dung quan trọng khác là vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh khẳng định Đảng Cộng
sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất, tuyệt đối của cách mạng Việt Nam. Là đội tiên phong
của giai cấp vô sản, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng, tập hợp quần chúng rộng rãi,
giữ vững lập trường giai cấp và không thỏa hiệp với kẻ thù. Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của
Đảng là điều kiện tiên quyết cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ đó xây dựng được cơ sở lý
luận và thực tiễn vững chắc cho quá trình vận hành và phát triển của chính đảng cách mạng. 2
Về quan hệ quốc tế, Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của
cách mạng thế giới, phải đoàn kết chặt chẽ với phong trào vô sản quốc tế, nhất là giai cấp vô sản Pháp,
đồng thời thiết lập mối liên hệ với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Tư tưởng này thể hiện tầm
nhìn quốc tế chủ động, tiến bộ, vượt xa các phong trào dân tộc trước đó vốn mang tính biệt lập và chỉ
chú trọng yếu tố dân tộc hẹp hòi.
Về mặt ý nghĩa, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một văn kiện có giá trị lịch sử, lý
luận và thực tiễn sâu sắc. Nó đặt nền móng tư tưởng – chính trị cho sự ra đời và phát triển lâu dài
của Đảng Cộng sản Việt Nam, xác lập đường lối cách mạng đúng đắn và thống nhất. Điểm nổi bật là
tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan điểm giai cấp và tinh thần dân tộc, phản ánh chính xác
thực tiễn Việt Nam, đồng thời phù hợp với lý luận Mác – Lênin. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử
dân tộc, một chính đảng mang bản chất cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân được thành lập,
dẫn dắt nhân dân đi vào thời kỳ mới: thời kỳ cách mạng có tổ chức, có lý luận soi đường.
Hạn chế: Mặc dù Cương lĩnh vẫn còn một số điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, hoặc
có những từ ngữ dễ bị diễn giải khác nhau, song với sự bổ sung kịp thời của Luận cương chính trị
(1930), đường lối cách mạng Việt Nam đã ngày càng được hoàn thiện hơn. Cương lĩnh chính trị đầu
tiên không chỉ phản ánh tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, mà còn là
biểu tượng cho sự khởi đầu đẹp đẽ của Đảng và con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam. Điểm sáng tạo
- Đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu:
Vì xã hội Việt Nam lúc bấy giờ có hai mâu thuẫn là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp nhưng
mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn bao trùm, chi phối, chi phối việc giải quyết các mâu thuẫn khác, do
đó vấn đề đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc là vấn đề bức xúc nhất. Các nội dung khác của
Cương lĩnh cũng thể hiện việc đặt nhiệm vụ và mục tiêu giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
- Xác định lực lượng cách mạng trên cơ sở đại đoàn kết dân tộc:
Nếu Cách mạng vô sản ở phương Tây II chỉ có công – nông thì ở Việt Nam II là toàn dân tộc có mâu
thuẫn với thực dân Pháp. Nếu giai cấp tư sản ở Phương Tây là giai cấp thống trị, kẻ thù cách mạng thì
giai cấp tư sản Việt Nam là giai cấp bị trị là lực lượng của cách mạng.
Như vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có thể
xem là sự khởi đầu đẹp đẽ cho đời sống hàng triệu người dân Việt Nam về sau. Cương lĩnh chính trị
đã nêu ra các vấn đề lâu dài của hàng nghìn năm về sau.
Câu 3. Phân tích nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945? Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam.
74 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân
tộc Việt Nam đã thực hiện thành công Cách mạng Tháng Tám, đánh đổ thực dân, phong kiến; thành lập
nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một trong những yếu tố góp phần làm nên thắng lợi to lớn
là bài học về chớp thời cơ và vận dụng đúng thời cơ cách mạng. 3
Thứ nhất là từ sự kiện ngày 12/8/1946, sau khi nhận được tin phát xít Nhật Bản bị thua to
trên hầu khắp các chiến trường châu Á - Thái Bình Dương trong thế chiến II, nên phải gửi công
hàm cho các nước Đồng minh đề nghị ngừng bắn. Bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến
lược, nắm bắt thời cuộc kịp thời, Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhóm họp
ngay tại Tân Trào để quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngay sau cuộc họp,
“Mệnh lệnh khởi nghĩa” đã được phát ra.
Chiều tối ngày hôm sau, 13/8/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận được thêm một tin
rất quan trọng, đó là phát xít Nhật đã bại trận và chuẩn bị đầu hàng quân Đồng minh. Ngay lập
tức, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc; đồng thời
soạn thảo “Quân lệnh số 1” và được phát đi ngay, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.
Ngày 14/8/1945, sau khi nghe tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima của
Nhật Bản, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc
lập đã tới”. Trên cơ sở đó, đồng chí Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây,
từng phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội”.
Tại sao lại phải tiến hành Tổng khởi nghĩa ngay lúc đó là vì đồng chí Hồ Chí Minh và Trung
ương Đảng đã nhận định và nắm bắt được tình hình có sự chuyển biến nhanh chóng: phát xít Nhật đã
chết gục theo phát xít Đức; quân đội Nhật đã và đang tan rã, bị tước vũ khí trên khắp các chiến trường;
quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Vì vậy nếu không khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân
Nhật, mà để đến khi quân Đồng minh kéo vào nhận bàn giao chính quyền từ tay quân Nhật, thì nhân
dân ta không thể tiến hành khởi nghĩa được nữa, vì lúc này Việt Minh đang cùng phe với quân Đồng minh.
Thứ hai, sự kiện Chính phủ cách mạng lâm thời yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận
sự thoái vị của nhà vua (ngày 30/8/1945 tại Huế) cũng là việc lực lượng cách mạng đã chớp thời cơ,
tranh thủ thời cơ và vận dụng đúng thời cơ. Việc vua Bảo Đại thoái vị đánh dấu sự sụp đổ của chính
quyền phong kiến; đồng thời triệt tiêu một đầu mối quan trọng mà các thế lực đế quốc, phản động muốn
duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta.
Thứ ba, sự kiện ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản
“Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và với thế giới: Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, độc lập và tự do đã ra đời; Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa cũng đã chính thức ra mắt trước quốc dân đồng bào. Nếu chậm trễ không tuyên bố độc lập, chủ
quyền trước khi quân Đồng minh tiến vào thì dù có cướp được chính quyền cũng phải bàn giao lại cho
quân Đồng minh tiếp quản. Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chớp thời cơ, khẩn trương chỉ
đạo sớm tiến hành tổ chức Lễ Độc lập liền sau khi cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành
công trên cả nước chính là nhằm ngay lập tức khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các
thế lực đế quốc, phản động đội lốt dưới danh nghĩa quân Đồng minh.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng
Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền
nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật; cũng là lúc quân Nhật bại
trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng
chính quyền cách mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của
toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh,
gọn, không đổ máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn 4
sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ðây là sự
vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ
thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi. Hiện nay:
Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang tính tất
yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi
dần là văn hóa, thể thao… cho đến chính trị. Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp
quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Cùng với sự tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã có sự
chuyển dịch địa bàn đầu tư và quy mô đầu tư, họ đã và đang chọn điểm đến là Việt Nam. Nước ta có
thể nắm bắt cơ hội này để thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị các điều kiện cần thiết và
hấp dẫn để “lót ổ đón đại bàng” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế tổng quát
của nước ta hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của
Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ bản, những việc cần
thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được bắt đầu từ Đại hội
Đảng VI (1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo
mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh rằng, kinh tế thị trường là con đường phát
triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy
lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy
sống động của Việt Nam.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: "... thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững
chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa chọn đó là
CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X tiếp tục khẳng
định ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. - Do nhân dân làm chủ. 5
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị
thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất
nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với
quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh tế
riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu
và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị trường trừu tượng,
chung chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát triển nhất định của xã hội là
những nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị
trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa. Đó là sự phân
công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa quy định. Có nghĩa
là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh
tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mục đích
của nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ chế
độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kì quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là
bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam
Câu 4. Trình bày đặc điểm tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính
thức được thành lập, mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Đây là thời khắc lịch sử quan
trọng, đánh dấu sự chấm dứt hơn một thế kỷ bị thực dân Pháp đô hộ, và là sự khởi đầu cho kỷ nguyên
mới của độc lập, tự do và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, mặc dù đã giành được độc lập, tình
hình đất nước thời điểm đó vô cùng phức tạp và gặp phải nhiều thách thức to lớn, thể hiện rõ qua bốn đặc điểm cơ bản. 6
Trước hết, mặc dù chính quyền cách mạng đã được thành lập trên cơ sở sự đồng thuận và ủng
hộ của đông đảo quần chúng nhân dân, song bộ máy nhà nước còn rất non trẻ và thiếu vững chắc. Cơ
quan hành chính mới chỉ bước đầu hình thành, thiếu tổ chức chặt chẽ và kinh nghiệm quản lý; đội ngũ
cán bộ vừa thiếu về số lượng, vừa yếu kém về trình độ và năng lực. Hơn nữa, chính quyền cách mạng
lúc này chưa được cộng đồng quốc tế công nhận về mặt pháp lý, khiến vị thế và sự tồn tại của chính
quyền còn rất mong manh và dễ bị tổn thương.
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam lúc đó rơi vào tình trạng kiệt quệ nghiêm trọng do hậu quả kéo
dài của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và Nhật Bản. Chính sách bóc lột tàn bạo của thực dân
cùng với chiến tranh kéo dài khiến sản xuất nông nghiệp và công nghiệp bị tàn phá nặng nề. Nạn đói
lớn vào cuối năm 1944 – đầu năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người, gây tổn thất to lớn
cho xã hội. Hệ thống tài chính, ngân hàng và tiền tệ trong nước rơi vào hỗn loạn, ngân khố quốc gia gần
như trống rỗng, làm suy giảm năng lực điều hành và phục hồi kinh tế của chính quyền mới.
Thứ ba, Việt Nam phải đối mặt với “ba giặc” đe dọa sự tồn tại và phát triển của chính quyền
cách mạng: đó là “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Nạn đói đã làm cho đời sống nhân dân
rơi vào cảnh bi thương, trong khi hơn 90% dân số lúc đó mù chữ, trình độ dân trí thấp, tạo ra những
thách thức lớn trong việc nâng cao năng lực phát triển đất nước. Bên cạnh đó, nguy cơ xâm lược từ các
thế lực bên ngoài rất rõ ràng: quân Tưởng Giới Thạch chiếm đóng miền Bắc và quân Anh – Pháp đóng
quân miền Nam với âm mưu tái lập chế độ thực dân cũ, khiến chính quyền cách mạng phải đứng trước
tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”.
Cuối cùng, sau khi giành được độc lập, chính quyền cách mạng còn phải đối phó với sự chống
phá quyết liệt từ nhiều lực lượng phản động trong và ngoài nước. Các nhóm tay sai cũ của Pháp –
Nhật, các đảng phái phản động như Việt Quốc, Việt Cách cùng một số phần tử địa chủ và tôn giáo
chống đối Đảng và chính quyền cách mạng liên tục gây rối, làm suy yếu sự ổn định xã hội. Đồng thời,
thực dân Pháp với âm mưu quay trở lại xâm lược tiếp tục tìm cách phá hoại, trong khi nhiều nước lớn
chưa công nhận chính phủ cách mạng Việt Nam, gây khó khăn trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao quốc tế.
Tóm lại, mặc dù đã giành được độc lập và tự do, nước Việt Nam trong giai đoạn sau Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 đang đứng trước muôn vàn khó khăn về chính trị, kinh tế, xã hội và đối ngoại.
Những đặc điểm trên phản ánh rõ sự hiểm nguy và thách thức to lớn đối với sự tồn tại của chính quyền
cách mạng. Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ cần phải có những chủ trương sáng suốt,
chính sách quyết liệt và chiến lược toàn diện nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, củng cố và xây dựng
chính quyền nhân dân vững mạnh, đồng thời từng bước khắc phục khó khăn, tạo nền tảng cho sự phát
triển lâu dài của đất nước.
Câu 5. Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố chính quyền cách
mạng những năm 1945 - 1946.
Trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập, nhưng vẫn đứng trước nguy cơ “mất nước
lần thứ hai” hết sức nghiêm trọng, Đảng Cộng sản Đông Dương, dù hoạt động bí mật và chưa chính
thức công khai danh xưng, đã kịp thời đề ra những chủ trương đúng đắn nhằm xây dựng, củng cố chính
quyền cách mạng, bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đồng thời từng bước ổn định tình hình
đất nước. Đường lối chỉ đạo xuyên suốt trong giai đoạn này tập trung vào việc giữ vững nền độc lập 7
dân tộc một cách kiên quyết, đồng thời tranh thủ mọi nguồn lực để củng cố và xây dựng chính quyền
mới cũng như cải thiện đời sống nhân dân. Ba nội dung trọng tâm được Đảng xác định rõ gồm: chống
thù trong, giặc ngoài; chống đói, chống dốt; và tổ chức tổng tuyển cử để thành lập một chính quyền
hợp pháp, hợp hiến.
Về phương diện chính trị và quốc phòng, Đảng chủ trương thực hiện sách lược hòa hoãn mềm
dẻo nhưng kiên định về nguyên tắc, nhằm kiềm chế và giảm thiểu xung đột trong đối nội cũng như đối
ngoại. Đối với các lực lượng phản động trong nước, Đảng vừa đấu tranh kiên quyết, vừa tận dụng mâu
thuẫn nội bộ để cô lập các thế lực thù địch nguy hiểm, tránh đối đầu trực tiếp khi chưa có lợi thế. Về
đối ngoại, Đảng áp dụng chính sách “dĩ bất biến, ứng vạn biến” – giữ vững nguyên tắc bảo vệ độc lập
và chủ quyền, nhưng đồng thời linh hoạt trong cách ứng xử với các thế lực quân sự chiếm đóng như
quân Tưởng, quân Anh và thực dân Pháp. Chính sách này thể hiện sự sáng suốt và linh hoạt trong tư
duy đối ngoại, giúp Đảng duy trì thế chủ động và giữ gìn nền độc lập trong bối cảnh đất nước bị chia
cắt và đe dọa từ nhiều phía. Một mốc son lịch sử quan trọng là ngày 6/1/1946, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành cuộc tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc
hội khóa I, khẳng định tính chính danh của chính quyền cách mạng và thể hiện ý chí độc lập tự chủ của toàn dân tộc.
Về mặt kinh tế – xã hội, Đảng và Chính phủ đã đề ra và triển khai các chính sách cấp bách
nhằm giải quyết hai vấn đề trọng yếu là “giặc đói” và “giặc dốt”. Trước nạn đói khủng khiếp năm 1945,
Đảng chỉ đạo phát động phong trào “nhường cơm sẻ áo” và “hũ gạo cứu đói”, đồng thời tổ chức tăng
gia sản xuất, phục hồi nông nghiệp để đảm bảo nguồn lương thực thiết yếu cho nhân dân. Trên lĩnh vực
giáo dục, Đảng phát động phong trào “Bình dân học vụ” với mục tiêu xóa mù chữ cho hơn 90% dân số,
nâng cao dân trí nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng quốc gia độc lập và dân chủ. Về văn hóa – xã hội,
Đảng chủ trương xây dựng một nền văn hóa mới mang , khoa học và đại chúng, khơi dậy tinh thần yêu
nước và đoàn kết dân tộc, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền mới.
Nhờ những chủ trương sáng suốt và sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng, chính quyền cách mạng non trẻ đã
từng bước vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, giữ vững nền độc lập dân tộc, đồng thời tạo dựng
được niềm tin sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương
từng bước được củng cố vững chắc, xây dựng nền móng quan trọng cho sự nghiệp kháng chiến
chống thực dân Pháp về sau. Những thành tựu này góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng
trong việc bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng, đồng thời tạo tiền đề cho sự phát triển ổn định và
bền vững của đất nước trong giai đoạn lịch sử tiếp theo.
Câu 6. Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 - 1954).
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụng phương châm này không
chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây
dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ
mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và phát triển
sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập". Cuộc
kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. 8
Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Người giải thích, toàn
dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ
người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi
người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn
thể nhân dân chính là nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất
kì người dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức
làm nên sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền,
các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự:
Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát
triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn
hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu
dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi
mặt. Đó là sự thay đổi và xây dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa,
quân sự, ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế
độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp;
để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững chắc. Điều này
càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới. Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân
chủ nhân dân với tâm thế kĩ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn
mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt". Nhân
dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để xây dựng cơ sở
vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao
vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí và sức
mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Câu 7. Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (1959)
Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp vào
tháng 1 năm 1959 đã trở thành một dấu mốc quan trọng, đánh dấu sự phát triển sâu sắc về tư duy lý
luận và chiến lược thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh cách mạng miền Nam đang gặp
nhiều khó khăn nghiêm trọng và yêu cầu cấp thiết phải thay đổi chiến lược, Nghị quyết của hội nghị
này đã thể hiện rõ sự nhạy bén chính trị cũng như tinh thần độc lập, tự chủ sáng tạo của Đảng trong
việc giải quyết các vấn đề cách mạng dân tộc – dân chủ tại miền Nam. Sau Hiệp định Giơnevơ năm
1954, đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai hướng phát triển khác biệt. Miền Bắc đi theo con 9
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi tại miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ hậu
thuẫn đã từ chối tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đồng thời tiến hành chính sách khủng bố
và đàn áp các lực lượng cách mạng cũng như nhân dân yêu nước. Trong tình thế đó, phong trào đấu
tranh chính trị tại miền Nam gặp nhiều trở ngại, trong khi yêu cầu bảo vệ lực lượng cách mạng và giành
lại quyền sống trở nên vô cùng cấp bách. Đòi hỏi khách quan đã thúc đẩy sự chuyển hướng chiến
lược cách mạng từ đấu tranh chính trị thuần túy sang kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
Nghị quyết Trung ương 15 đã chính thức khẳng định quyền khởi nghĩa vũ trang của nhân
dân miền Nam khi cho rằng, "Khi không còn con đường hòa bình và khi kẻ địch sử dụng bạo lực
phản cách mạng để chống lại nhân dân thì nhân dân có quyền dùng bạo lực cách mạng để tự vệ, lật
đổ chính quyền phản động và thiết lập chính quyền cách mạng". Đây không chỉ là sự thay đổi mang
tính chiến lược mà còn là sự thừa nhận về mặt lý luận và pháp lý cho quyền đấu tranh vũ trang chính
đáng của nhân dân miền Nam, mở đường cho con đường cách mạng kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và
chính trị. Đồng thời, nghị quyết xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược song song của cách mạng Việt
Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương vững mạnh tại miền Bắc, trong khi miền
Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc – dân chủ nhân dân để lật đổ chế độ tay sai Ngô Đình
Diệm và tiến tới thống nhất đất nước. Sự xác định hai nhiệm vụ này phản ánh tầm nhìn chiến lược
toàn diện, vừa bảo đảm mục tiêu lâu dài của cách mạng, vừa đáp ứng nhu cầu cấp bách trước mắt. Nghị
quyết cũng đề ra các định hướng cụ thể cho việc củng cố và phát triển các tổ chức Đảng, xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân, đẩy mạnh phong trào quần chúng, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc
và tăng cường liên lạc, chi viện từ miền Bắc để làm nền tảng vững chắc cho phong trào cách mạng miền Nam.
Về ý nghĩa, nghị quyết không chỉ là sự phát triển lý luận quan trọng thể hiện tính độc lập, tự
chủ, sáng tạo trong vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn Việt Nam, vượt lên trên giáo điều,
mà còn khẳng định vai trò và tính tất yếu của bạo lực cách mạng khi hòa bình không còn khả thi.
Về thực tiễn, nghị quyết tạo cơ sở chính trị – pháp lý cho phong trào Đồng khởi ở Bến Tre (1959–1960),
mở đầu cho cao trào cách mạng miền Nam; đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tổ chức và lực lượng cho sự
ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960) và cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước về sau. Lâu dài, nghị quyết thể hiện sự nhất quán trong đường lối cách mạng giải phóng dân
tộc của Đảng, luôn gắn kết nhiệm vụ giải phóng miền Nam với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, đồng thời hoàn thiện phương pháp cách mạng phù hợp điều kiện thực tiễn từng miền.
Tóm lại, Nghị quyết Trung ương 15 (1959) là bước ngoặt lớn trong tư duy chiến lược và chỉ
đạo thực tiễn của Đảng đối với cách mạng miền Nam, với việc chuyển hướng từ đấu tranh chính trị
sang kết hợp đấu tranh vũ trang, và xác lập hai nhiệm vụ chiến lược song song, góp phần quan trọng
vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Đây là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh cách
mạng, sự nhạy bén lý luận và tinh thần tự chủ, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu 8. Đánh giá nhận định sau: Đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại Đại
hội III (9/1960), thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn
đề chưa có tiền lệ lịch sử?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, tổ chức vào tháng 9 năm
1960, là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, thể hiện sự trưởng thành vượt bậc về 10
tư duy lý luận, năng lực lãnh đạo và khả năng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện
thực tiễn cụ thể của cách mạng Việt Nam. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước bị chia cắt
thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau. Trong khi miền Bắc đã hoàn toàn giải
phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn nằm dưới ách thống trị của chế
độ tay sai Ngô Đình Diệm do Mỹ hậu thuẫn. Tình hình thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc
phải xác lập một đường lối cách mạng phù hợp với đặc điểm phân hóa tạm thời của đất nước, đồng thời
khẳng định rõ phương hướng phát triển lâu dài cho cả hai miền.
Đại hội III đã thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó xác lập hai nhiệm vụ chiến lược
khác nhau cho hai miền đất nước. Ở miền Bắc, nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội,
coi đây là “nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân”, đồng thời xây dựng miền Bắc thành hậu
phương vững mạnh cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Ở miền Nam, nhiệm vụ chiến lược là đấu
tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chế độ tay sai Mỹ – Diệm, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân và tiến tới thống nhất đất nước. Việc phân định rõ hai nhiệm vụ chiến lược này là bước phát
triển lớn về tư duy chiến lược, thể hiện năng lực phân tích thực tiễn sắc sảo, vượt lên khuôn mẫu máy
móc trong vận dụng lý luận Mác – Lênin.
Về định hướng phát triển, Đại hội III nhấn mạnh sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn
Việt Nam khi khác với nhiều mô hình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu hoặc Liên Xô thời kỳ
đầu, cách mạng Việt Nam không đi qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà trực tiếp tiến lên
xã hội chủ nghĩa. Đây là bước đột phá trong tư duy, dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin
nhưng có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm dân tộc.
Đại hội cũng đề cao vai trò của miền Bắc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xác định rõ:
"Miền Bắc là hậu phương lớn, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của cách mạng cả nước".
Việc ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đồng
thời chi viện cho miền Nam thể hiện tư duy biện chứng và toàn diện của Đảng trong lãnh đạo cách mạng hai miền.
Về phương diện tư duy và bản lĩnh chính trị, Đại hội III thể hiện tính độc lập, tự chủ và sáng
tạo rõ nét. Đảng đã chủ động xác định đường lối phát triển dựa trên điều kiện lịch sử cụ thể của đất
nước, không sao chép máy móc mô hình các nước xã hội chủ nghĩa khác. Việc lựa chọn con đường
cách mạng vô sản là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn lâu dài và tích lũy kinh nghiệm cách
mạng từ năm 1930 đến 1960. Trong bối cảnh nhiều nước chịu ảnh hưởng mạnh từ các cường quốc xã
hội chủ nghĩa, Đảng vẫn giữ vững quan điểm độc lập trong hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại,
đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, giữ vững lòng tin của nhân dân trong hoàn cảnh chia cắt đất
nước. Tính sáng tạo thể hiện qua việc đề ra hai nhiệm vụ chiến lược riêng biệt cho hai miền, chưa từng
có tiền lệ trong lý luận cách mạng vô sản quốc tế, đồng thời kết hợp khéo léo giữa giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, giữa đối nội và đối ngoại.
Về ý nghĩa, Đại hội III mở ra một thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, đánh dấu
giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Đường lối Đại
hội trở thành kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân trong suốt giai đoạn 1960 – 1975, góp phần dẫn đến
những thắng lợi lớn như Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 và Đại thắng mùa Xuân 1975. Về lâu dài,
tư tưởng độc lập – tự chủ – sáng tạo tại Đại hội III trở thành nền tảng xuyên suốt cho các giai đoạn cách
mạng tiếp theo, đặc biệt trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Tóm lại, đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại Đại hội III năm 1960
đánh dấu bước phát triển chất lượng về tư duy lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đây là sự 11
kết tinh của lý luận Mác – Lênin với bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy độc lập, tinh thần tự chủ và
khả năng sáng tạo trong giải quyết những vấn đề lịch sử chưa từng có tiền lệ. Thành công của Đại hội
III không chỉ khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng mà còn góp phần quyết định vào thắng
lợi trọn vẹn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.
Câu 9. Phần tích những đặc điểm tình hình miền Bắc khi thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (1960 - 1975)?
Giai đoạn 1960–1975 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế - xã
hội miền Bắc Việt Nam, khi Đảng và Nhà nước tập trung thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
(CNH XHCN) trong điều kiện đất nước bị chia cắt và chiến tranh diễn ra ác liệt. Sau Đại hội III năm
1960, Đảng Lao động Việt Nam xác định rõ nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng miền Bắc thành hậu
phương lớn, vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa được xem là trụ cột phát triển kinh tế miền Bắc, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế,
thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế – xã hội từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp
hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, miền Bắc phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn
chế. Nền kinh tế còn yếu kém do hậu quả của chiến tranh chống thực dân Pháp, hạ tầng kinh tế bị tàn
phá nghiêm trọng, sản xuất nông nghiệp manh mún, năng suất thấp. Cơ sở vật chất kỹ thuật hạn chế,
nhiều ngành công nghiệp chưa phát triển, vốn, thiết bị và công nghệ chủ yếu dựa vào viện trợ Liên Xô
và các nước xã hội chủ nghĩa, còn nhiều mặt phụ thuộc bên ngoài. Ngoài ra, nguồn nhân lực thiếu hụt,
đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề còn ít, trình độ lao động chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
Đảng ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng và cơ khí – điện, như khai thác than,
luyện kim, hóa chất, cơ khí và điện lực nhằm tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp tổng hợp. Các
dự án trọng điểm như nhà máy luyện thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Hà Nội và thủy điện Hòa Bình
được khởi công hoặc hoàn thành, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất công nghiệp. Phát triển công
nghiệp điện năng được xem là then chốt, là động lực cho các ngành sản xuất khác và cải thiện đời sống nhân dân.
Kinh tế miền Bắc vận hành theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, do Nhà nước làm chủ và
chỉ đạo toàn diện, huy động nguồn lực tài chính, lao động và vật tư phục vụ công nghiệp hóa. Hệ thống
các xí nghiệp quốc doanh được thành lập và phát triển trở thành lực lượng sản xuất chủ lực. Các kế
hoạch 5 năm được xây dựng với các chỉ tiêu cụ thể nhằm tập trung phát triển công nghiệp và hiện đại hóa.
Trong bối cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn từ năm 1965, miền
Bắc phải vừa xây dựng kinh tế vừa giữ vững thế trận quốc phòng. Các cuộc chiến tranh phá hoại gây
thiệt hại nặng nề cho cơ sở vật chất, làm gián đoạn sản xuất công nghiệp và ảnh hưởng đến tiến độ công
nghiệp hóa. Miền Bắc duy trì song song nhiệm vụ xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng, vừa sản
xuất, vừa chuẩn bị lực lượng chi viện cho miền Nam.
Giai cấp công nhân được xác định là lực lượng nòng cốt trong công nghiệp hóa, vì vậy Đảng đặc biệt
quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề. Phong trào thi đua lao
động sản xuất và cải tiến kỹ thuật được phát động rộng rãi nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm. 12
Miền Bắc nhận được sự viện trợ kỹ thuật, tài chính và thiết bị từ Liên Xô, Trung Quốc và các
nước xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp. Việc tiếp nhận, vận dụng
công nghệ và kinh nghiệm sản xuất mới song song với xây dựng các công trình trọng điểm góp phần
thúc đẩy công nghiệp hóa hiệu quả.
Ý nghĩa của công nghiệp hóa miền Bắc giai đoạn này thể hiện rõ trong việc tạo ra nền tảng vật
chất, kỹ thuật cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dù chịu ảnh hưởng
chiến tranh, miền Bắc đã xây dựng được một số ngành công nghiệp then chốt, góp phần chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, giảm sự lệ thuộc vào nông nghiệp. Công nghiệp hóa cũng tạo tiền đề phát triển kinh tế xã
hội sau năm 1975 khi cả nước thống nhất đi lên CNXH, đồng thời khẳng định năng lực lãnh đạo và chỉ
đạo linh hoạt của Đảng trong vận dụng các nguồn lực trong và ngoài nước.
Tóm lại, giai đoạn 1960–1975 là thời kỳ miền Bắc Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn và
thách thức nghiêm trọng trong quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, dưới sự lãnh
đạo sáng suốt của Đảng, miền Bắc đã từng bước vượt qua trở ngại, xây dựng nền kinh tế công nghiệp
xã hội chủ nghĩa ban đầu, vừa bảo vệ được hậu phương lớn, vừa chi viện tích cực cho tiền tuyến miền
Nam. Đây là giai đoạn đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, nhận thức và thực tiễn phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Câu 10. Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao trong Kháng
chiến chống Mỹ (1965 - 1975).
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao
để chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chỉ có mặt khi kết thúc chiến
tranh để đi đến ký một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi bên. Trái lại, trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta có mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn có vai trò, vị trí, nhiệm vụ
nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng Giêng
1967 về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì
ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng Tư 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan
trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây dựng lực lượng, vừa phát
huy thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường. Trên chiến trường, ta đánh thắng
được keo nào thì ngoại giao phải phát huy, khuếch trương trên thế giới, đồng thời phải phục vụ và phối
hợp với đấu tranh quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vụ lớn.
Nhiệm vụ thứ nhất là tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương của địch.
Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao có nhiệm vụ thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề ra là thêm
bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng
tình với ta một điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ là nhằm mục tiêu chung của
loài người, của thời đại, từ mục tiêu cao là chủ nghĩa xã hội, cho đến mục tiêu thấp là hòa bình, độc lập
dân tộc. Ai đồng tình với ta trên cơ sở chiến lược là đi tới chủ nghĩa xã hội đều là bạn của ta. Ai chỉ
đồng tình với ta dù chỉ là trên cơ sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi là bạn. Ta tranh thủ kết bạn với
mọi người từ mức thấp tới mức cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác Hồ. 13
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao là giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta nhìn vấn đề với
đầu óc rất sáng suốt và thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn như Mỹ, cuộc đấu tranh của ta
chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối phương phải quy hàng mới kết thúc. Phải có khái niệm
thật rõ thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua thì mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức là khi nào
ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân,
chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ mà chịu
nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm sao đạt được thực chất vấn đề như
vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế mà ta lại là một nước nhỏ thì phải có ngoại giao đóng góp vào
đó, thực hiện phương châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải có ngoại giao để
giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về chính trị
và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta. Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong
một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế giới như vậy, điều tối cần thiết đối với ta là phải tạo lập
được một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu hướng vào
bốn nội dung: thứ nhất là nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai là nêu cao quyết tâm giành độc
lập của Việt Nam, thứ ba là nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam, thứ tư là tố cáo tội ác chiến tranh
và vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn ở thế giằng co quyết liệt, nhiệm vụ
ngoại giao chủ yếu vẫn là tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965) của
Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”, song đã tính đến
lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy đánh để ép địch đàm
phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán
nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu và
đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi. Trong một
cuộc họp ở Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải
của ta nắm lực lượng quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía
trước thì cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều
hơn nữa. Họ muốn tiến xa hơn. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa.” Có
tới hàng chục nước đủ các loại: các nước Không liên kết, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản,
Bắc Mỹ, đến các nhân vật như Tổng thư ký Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí thức, nhà báo
có tên tuổi,... làm trung gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ là một phương thức có tính
chất quá độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc tranh chấp.
Nhưng với Mỹ, việc dùng trung gian đã được xem như một thủ đoạn nhằm những mục đích khác như:
thu thập tin tức về ý đồ chiến lược hoặc về lập trường đàm phán cụ thể đối phương, tung ra những tin
thất thiệt làm cho đối phương chập chững, mơ hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve
vãn dụ dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức ép sang đối phương; gây hiểu lầm chia
rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ. 14
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Trước năm
1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không những là các nước đồng minh
của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn cả nước xã hội chủ nghĩa nữa; không những là nhân vật
trong chính giới các nước mà cả những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất
mạnh trong thời gian chưa có cuộc đàm phán Paris, mà cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục dùng
trung gian. Thủ đoạn này thâm độc ở chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải đồng
tình hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta mà ta bác đi, như
vậy có nghĩa là ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, và mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 và dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng loại “trung
gian thân tín” – các nước châu u và đồng minh của Mỹ - vừa để gây sức ép bên ngoài với ta vừa để thu
thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về khả năng
và ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên Xô dùng “mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông u làm
trung gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ dùng các nước xã hội chủ
nghĩa làm trung gian với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây
sức ép từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với ta hòng tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác của
Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, và cho họ biết đến lúc chín muồi ta sẽ
trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa đối phó với Mỹ, vừa phải giải thích
cho bạn mà bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta và
chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụng phương châm này không
chỉ trong công cuộc kháng chiến chống giặc mà còn trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây
dựng căn cứ địa cho Cách mạng. Chính vì vậy mà giữa đường lối kháng chiến và việc xây dựng chế độ
mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối kháng chiến chống Pháp, mục đích kháng chiến là kế tục và phát triển
sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập". Cuộc
kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa.
Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhấn mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Người giải thích, toàn
dân kháng chiến chính là: "Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người
già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân
là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân
dân chính là nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất kì người
dân, không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên
sức mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối kháng chiến toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn
hóa, ngoại giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, 15
các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự:
Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát
triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn
hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu
dương thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi
mặt. Đó là sự thay đổi và xây dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa,
quân sự, ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế
độ mới với sự phát triển nhanh chóng và hợp lí.
Việc thực hiện đường lối kháng chiến lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp;
để chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững chắc. Điều này
càng được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới. Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân
chủ nhân dân với tâm thế kĩ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn
mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt". Nhân
dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để xây dựng cơ sở
vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao
vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, kháng chiến dựa vào ý chí và sức
mạnh nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Câu 11. Khái lược và đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975 - 1985)?
I. Bối cảnh lịch sử và sự cần thiết của đổi mới
Sau chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất về mặt
lãnh thổ, mở ra một kỷ nguyên mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên,
ngay sau khi thống nhất, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội và chính trị. Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế bao cấp quan liêu tiếp tục
được duy trì, nhưng đã bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng như tình trạng sản xuất trì trệ, năng suất
thấp và thiếu động lực phát triển. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ
phục vụ nhân dân. Hệ quả của chiến tranh kéo dài là cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm trọng, nguồn lực
tài chính của đất nước bị hạn chế, trong khi đời sống nhân dân nhiều vùng vẫn còn rất khó khăn, thiếu
thốn. Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, đặc biệt là cuộc chiến tranh lạnh và các áp lực
về kinh tế, chính trị từ bên ngoài cũng tạo ra những thách thức phức tạp cho công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải tìm
tòi, khảo nghiệm những con đường mới trong phát triển kinh tế – xã hội, nhằm khắc phục các hạn
chế của mô hình cũ, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế với các nước bên ngoài, tăng cường hiệu quả
sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.
II. Quá trình tìm tòi và khảo nghiệm đường lối đổi mới
Ngay từ cuối thập niên 1970, trong nội bộ Đảng đã bắt đầu xuất hiện các ý kiến đề xuất sửa đổi
một số chính sách kinh tế, nhằm mở rộng cơ chế thị trường trong khuôn khổ chủ nghĩa xã hội. Các khái
niệm về “đổi mới” bắt đầu được đề cập trong các văn kiện của Đảng, dù lúc này chưa có sự thống nhất 16
và triển khai đồng bộ trên toàn quốc. Một số địa phương, vùng miền đã chủ động thực hiện các thí điểm,
thử nghiệm tổ chức lại sản xuất như áp dụng mô hình khoán sản phẩm, giao quyền tự chủ cho doanh
nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại. Bên cạnh đó, các chính sách nới
lỏng quản lý về giá cả, tiền lương và thị trường hàng hóa cũng được áp dụng nhằm kích thích sản xuất
và trao đổi hàng hóa. Đặc biệt, trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng và Nhà nước đã tích cực mở rộng quan hệ
kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa cũng như một số nước tư bản, nhằm thu hút viện trợ, kỹ thuật và
vốn đầu tư. Đồng thời, Việt Nam cũng bắt đầu tiếp cận với các tổ chức quốc tế để tìm kiếm sự hỗ trợ
cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi còn chậm, chưa đồng bộ và còn nhiều ý kiến
bảo thủ trong Đảng chưa hoàn toàn đồng tình với các chính sách đổi mới. Môi trường kinh tế vẫn chịu
ảnh hưởng lớn từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp, khiến các bước đổi mới còn manh mún và
hạn chế. Kinh tế – xã hội vẫn đối mặt nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao và đời sống nhân dân chưa
được cải thiện đáng kể.
III. Đánh giá ý nghĩa của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đổi mới
Về mặt nhận thức lý luận, giai đoạn tìm tòi và khảo nghiệm này là bước chuyển biến đầu tiên
đánh dấu sự thay đổi tư duy trong Đảng, từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung thuần túy sang việc
chấp nhận vai trò nhất định của cơ chế thị trường trong khuôn khổ chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là
bước chuẩn bị tư tưởng quan trọng cho Đại hội VI năm 1986 – nơi chính thức khởi xướng công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước. Về thực tiễn, các thí điểm đổi mới đã tạo ra những bài học kinh nghiệm
quý giá, giúp nhận diện điểm mạnh và điểm yếu của mô hình kinh tế cũ, từ đó đề ra những chính sách
phù hợp hơn và từng bước tháo gỡ các nút thắt kinh tế. Quá trình này cũng mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế, tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ từ bên ngoài. Về tổ chức chính trị, sự tìm tòi đổi mới thể hiện
tính linh hoạt, dám nghĩ dám làm của Đảng trong điều kiện khó khăn, đồng thời phản ánh những mâu
thuẫn nội bộ cần được giải quyết để thống nhất nhận thức và hành động. IV. Kết luận
Tóm lại, quá trình tìm tòi và khảo nghiệm đường lối đổi mới trong giai đoạn 1975–1985 giữ
vai trò rất quan trọng trong lịch sử phát triển đất nước Việt Nam. Đây là giai đoạn chuyển giao về tư
duy và chính sách kinh tế, đặt nền móng cho bước ngoặt lịch sử tại Đại hội VI (1986), khi công cuộc
đổi mới được triển khai toàn diện, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện về kinh tế, xã hội,
đưa Việt Nam trên con đường phát triển bền vững. Sự dũng cảm trong đổi mới, khả năng thích ứng và
học hỏi từ thực tiễn là bài học quý giá cho công cuộc phát triển của đất nước trong những thập niên tiếp theo.
I. Vì sao đổi mới năm 1986 là một tất yếu lịch sử?
Sau hơn một thập niên đất nước thống nhất (1975–1985), Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó
khăn nghiêm trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Về kinh tế, nền kinh tế quốc dân rơi vào trạng
thái trì trệ; lạm phát tăng cao gây sức ép lên đời sống người dân. Sản xuất ở cả hai ngành nông nghiệp
và công nghiệp đều gặp nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp, thiếu hụt nguồn lực và công nghệ
hiện đại. Các mô hình quản lý kinh tế cũ, chủ yếu dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp,
bộc lộ nhiều hạn chế rõ nét như thiếu linh hoạt, quan liêu, và bất cập trong phân phối, dẫn đến sự kìm
hãm sự sáng tạo cũng như sức phát triển của các thành phần kinh tế. Hệ thống quản lý quan liêu, thiếu
hiệu quả đã trở thành rào cản lớn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế và làm giảm sút niềm tin
của người dân vào khả năng cải thiện đời sống. 17