



















Preview text:
TRƯỚC ĐỔI MỚI
Câu 1: Vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong Cương lĩnh đầu tiên?
Câu 2: Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD (1939 -1945) và
liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam.
Câu 3: Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc?
Câu 4: Anh/ chị hãy trình bày và phân tích vai trò của Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ 15 (1/1959) đối với cách mạng miền Nam. SO SÁNH CƯƠNG LĨNH
PHẦN ĐỔI MỚI
Câu 5: Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư duy
lý luận, sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng?/ Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình KTTT định
hướng XHCN là một tất yếu?
Câu 6: Tại Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, ĐCSVN khẳng định: “văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Ý kiến của anh/ chị về vấn đề
nêu trên./ Vì sao nói “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển
bền vững đất nước”?
Câu 7: Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối ngoại theo hướng
đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu?/ Trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986 đến nay,
ĐCSVN đã đổi mới tư duy theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Anh/ chị
lý giải vì sao ĐCSVN có sự lựa chọn này?
Câu 8: Trong Đại hội X (2006), ĐCSVN đã đề ra chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế”, anh/ chị hiểu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế như thế nào? Theo anh/ chị là sinh viên,
cần phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế?
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Câu 1: Vì sao nói ĐCSVN ra đời là một tất yếu? Phân tích sự sáng tạo của ĐCS trong
Cương lĩnh đầu tiên?
A. Tính tất yếu lịch sử (không yêu cầu thì không cần ghi)
a) Bối cảnh quốc tế:
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế
quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách: bên trong tăng cường bóc lột nhân dân
lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa.
Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng
cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn
này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách mạng thế giới chuyển sang phạm
trù cách mạng XHCN và nó dần trở thành một vấn đề mang tính thời đại. Từ đây, phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa. 1
Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ tư
tưởng của ĐCS, có sức ảnh hưởng lớn, lay chuyển, lôi cuốn quần chúng nhân dân, thành phần
ưu tú, tích cực ở những nước thuộc địa vào phong trào cộng sản. CNMLN là tiền đề lý luận dẫn
đến sự ra đời của ĐCS. Chính tư tưởng về ĐCS của CNMLN đã ảnh hưởng to lớn, trực tiếp đến
phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và sự hình thành tổ chức cộng sản quốc tế. Từ lý luận
đã trở thành hiện thực, CNMLN mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người; là ánh sáng soi
đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người.
Kể từ khi chủ nghĩa Marx – Lenin được truyền bá vào VN, phong trào yêu nước và phong trào
công nhân phát triển mạnh theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ
chức cộng sản ở VN. Khi ấy, Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx
– Lenin vào thực tiễn cách mạng VN, sáng lập ra ĐCSVN.
Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với VN, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong
việc truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin và thành lập ĐCSVN.
b) Bối cảnh trong nước:
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược VN và từng bước thiết lập bộ máy thống trị, biến nước ta từ
một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo
dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Chúng ngang nhiên tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa
nhằm khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt. Chính sách thống trị của thực dân Pháp là
chuyên chế về chính trị, kìm hãm về kinh tế khiến cho xã hội VN có những biến đổi lớn.
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội, đối
ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn. Đó là một chính sách chuyên chế điển hình,
chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người VN, mọi quyền tự do
bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia VN thành 3 kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và
thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng, mục đích chia cắt đất nước, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Về kinh tế, thực dân Pháp thi hành chính sách độc quyền và cấu kết với giai cấp địa chủ để thực
hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất, lập đồn điền, duy trì PTSX lạc hậu, phong
kiến; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý (thuế thân, thuế
trực thu...); xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ
chính sách khai thác thuộc địa.
Về văn hóa – xã hội, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản
ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, nô dịch, sùng Pháp,
xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa VN và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu để dễ bề phục tùng sự cai trị của chúng.
Tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, đặc biệt là các mâu thuẫn dân tộc và giai cấp đã dẫn
đến nhu cầu đấu tranh để tự giải phóng. Nhân dân ta liên tiếp nổi dậy đấu tranh giành độc lập
dân tộc, theo nhiều xu hướng, con đường chính trị khác nhau, nhưng đều lần lượt thất bại như
phong trào Cần Vương (1885 – 1896), khởi nghĩa Yên Thế... hay các phong trào theo khuynh
hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo, phong trào yêu nước của
Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Nguyên nhân là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, chưa có phương pháp cách mạng phù
hợp, thiếu lực lượng cách mạng, thiếu tổ chức lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam lâm
vào thời kỳ “đen tối như không có đường ra”. L 2
Lịch sử đặt ra yêu cầu phải tìm được một đường lối cứu nước đúng đắn nhằm đánh đổ ách áp
bức giành độc lập tự do cho nhân dân. Mặc dù có ba ĐCS (Đông Dương Cộng sản Đảng, An
Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) lần lượt ra đời nhưng đều hoạt động
riêng rẽ nên yêu cầu bức thiết lúc đó là phải hợp nhất thành một Đảng duy nhất. Vì vậy, từ ngày
6/l đến ngày 7/2/1930, Hội nghị đã quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng thành ĐCSVN.
C. Tính đúng đắn và sáng tạo trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCSVN
Đường lối lãnh đạo là một trong những vấn đề chiến lược của Đảng cầm quyền. Vì vậy, xác định
được điều đó, ngay từ ĐCSVN ra đời, các đại biểu đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách
lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, đó được xem như Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng.
Mặc dù còn sơ lược, vắn tắt nhưng nó đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, khoa học và thể
hiện cô đọng các luận điểm cách mạng cơ bản, đánh giá chính xác tính chất chất xã hội VN lúc
bấy giờ; xác định đường lối phát triển, chiến lược, sách lược của cách mạng VN được thực hiện
bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc do ĐCSVN lãnh đạo. Do đó, nó nhanh chóng trở thành
kim chỉ nam cho tư tưởng và hành động của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng, và đặc biệt có
giá trị trong thời đại ngày nay.
a) Tính đúng đắn của Cương lĩnh được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh cách mạng và
xây dựng đất nước, được thể hiện qua những vấn đề sau:
Một là, Cương lĩnh xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền (sau
này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc, chống phong kiến, thực hiện
độc lập dân tộc và người cày có ruộng. Xuất phát từ chế độ thuộc địa nửa phong kiến, Cương
lĩnh đã phân tích mối quan hệ gắn bó giữa hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc và chống phong
kiến gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng trước hết phải đánh đổ đế quốc, “làm cho nước VN hoàn
toàn độc lập”. Đây là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.
Chỉ có độc lập tự do của đất nước mới đủ điều kiện để thực hiện quyền con người, quyền công dân.
Hai là, chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc được xây dựng từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên là tư
tưởng chỉ đạo xuyên suốt cách mạng VN trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến xây
dựng đất nước theo định hướng XHCN hiện nay. Chủ nghĩa yêu nước là nền tảng cơ sở cho sự
thống nhất trong khác biệt nhằm tập hợp lực lượng, mà nòng cốt là liên minh công – nông, tạo
ra sức mạnh tổng hợp của quốc gia.
Ba là, xác định rõ sứ mệnh lãnh đạo của ĐCSVN. Vai trò của ĐCSVN là Đảng của giai cấp vô
sản; Đảng được tổ chức ra để dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo quần chúng đấu tranh giải phóng
khi bị áp bức, bóc lột “để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”.
b) Tính sáng tạo của Cương lĩnh:
So với Chủ nghĩa Mác – Lê-nin quy định giải quyết vấn đề giai cấp trước, vấn đề dân tộc sau.
Tính sáng tạo của Cương lĩnh chính trị (đầu năm 1930) được thể hiện rõ nét nhất ở việc: Tuy
ngắn gọn vắn tắt nhưng đã kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc và giai cấp, thắm đượm
tính dân tộc và thời đại.
Thứ nhất, về đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam:
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, độc lập dân
tộc là bước đi đầu tiên, là điều kiện tiên quyết để đi đến xã hội cộng sản. Với việc xác định đường
lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản đã cho thấy, ngay từ trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng đã xác định con 3
đường phát triển của cách mạng Việt Nam là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp
giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Thứ hai, về nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng:
Nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam được xác định là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp
và bọn phong kiến, làm cho đất nước hoàn toàn độc lập”. Cương lĩnh xác định: Chống đế quốc
và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày,
trong đó chống chế quốc, giành độc lập được đặt ở vị trí hàng đầu.
Về phương diện xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; Nam nữ bình quyền; Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
Về phương diện kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; Thâu hết sản nghiệp lớn (như công
nghiệp, vận tải, ngân hàng...) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công
nông binh quản lý; Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; Mở mang công nghiệp và nông nghiệp; Thi hành luật ngày làm 8 giờ.
Về phương diện chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; Làm cho nước
Nam được hoàn toàn độc lập; Dựng ra Chính phủ công nông binh; Tổ chức ra quân đội công nông.
Thứ ba, về lực lượng cách mạng:
Phải đoàn kết công nhân, nông dân – đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh
đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập
trung chống đế quốc và tay sai, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm: Công nhân, Nông dân,
Tiểu tư sản, Trí thức, Trung nông...
Đồng thời, tranh thủ, làm trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản. Trong đó, Sách lược vắn
tắt viết: Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình
lãnh đạo được dân chúng”; “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào
hạng dân cày nghèo”; “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông (...) để kéo
họ đi vào phe vô sản giai cấp”, “Đối với (...) phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản (...) thì phải lợi
dụng, ít lâu mới làm chí họ đứng trung lập”
Thứ tư, về phương pháp cách mạng:
Cương lĩnh xác định phương pháp thực hiện độc lập dân tộc, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
phải tiến hành bằng con đường cách mạng, sử dụng phương pháp cách mạng bạo lực; không đi
vào con đường cải lương, thỏa hiệp. Quan điểm dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản
cách mạng của được nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên là cơ sở cho đường lối quân sự với
phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng, là một trong những
yếu tố hết sức quan trọng để đưa tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành chính quyền.
Thứ năm, xác định tinh thần đoàn kết quốc tế:
Cương lĩnh chỉ rõ trong khi thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh thủ sự đoàn
kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Nội dung này thể hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp cuộc đấu tranh
giải phóng của dân tộc Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, với phong trào đấu tranh của
các dân tộc bị áp bức và với nhân loại tiến bộ là một vấn đề khách quan. Như vậy, ngay từ khi 4
thành lập, ĐCSVN đã nêu cao chủ nghĩa đế quốc và mang bản chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Thứ sáu, xác định vai trò lãnh đạo của Đảng:
Cương lĩnh xác định lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam, “đội
tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Nội dung
này vừa khẳng định vai trò và bản chất giai cấp của Đảng, vừa là sự định hướng quan trọng cho
công tác xây dựng Đảng. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn
khẳng định và quan tâm bồi đắp bản chất giai cấp công nhân của Đảng; khẳng định chủ nghĩa
Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm
cơ bản của cách mạng Việt Nam, là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng
tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc với
tư tưởng cốt lõi “Độc lập – Tự do” cho dân tộc.
D. Ý nghĩa của việc thành lập ĐCSVN
● ĐCSVN ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, đưa cách mạng Việt
Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ đại: cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận
khăng khít của cách mạng vô sản thế giới.
● Đó là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lê nin.
● Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô
sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
● ĐCSVN cùng với CLCT đầu tiên đã khẳng định lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một
bạn cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã Việt Nam, đáp ứng
những yêu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế thời đại, định
hướng chiến lược đúng đắn.
● Khẳng định con đường cách mạng vô sản là đúng đắn, giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và giải phóng con người.
● Là nhân tố hàng đầu quyết định được cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách
mạng thế giới. Với đường lối đúng đắn, sáng tạo, từ khi ra đời và cho đến nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết được các lực lượng yêu nước, đã lãnh đạo phong trào cách mạng
Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền
với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng.
Câu 1: Trình bày tính tất yếu của sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam, là sản phẩm của sự kết hợp giữa lý luận cách mạng với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước sục sôi ỏ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
● Lý luận cách mạng (chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) đóng vai trò là nền
tảng tư tưởng và vũ khí tinh thần của Đảng. Từ khi có lý luận cách mạng, các phong trào
công nhân và phong trào yêu nước phát triển một cách có tổ chức và tự giác.
● Giai cấp công nhân là lực lượng xã hội, là sức mạnh vật chất của Đảng. Chỉ qua hoạt
động của giai cấp công nhân, lý luận tiên tiến mới biến thành hiện thực sinh động. Được 5
soi sáng bằng lý luận Mác-Lênin, phong trào công nhân mới có khả năng đấu tranh chính
trị và giành được thắng lợi.
● Hoạt động truyền bá lý luận Mác-Lênin vào trong nước, sự phát triển bồng bột của phong
trào công nhân đã vượt quá khả năng lãnh đạo của Hội thanh niên - một hình thức tổ
chức quá độ. Từ sự phân hóa của Hội thanh niên, đã ra đời hai tổ chức cộng sản: Đông
Dương cộng sản Đảng (6- 1929) và An Nam cộng sản Đảng (7-1929).
● Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta.
Chính khát vọng giải phóng dân tộc và sự thất bại của các phong trào yêu nước trước năm 1930
đã đặt ra yêu cầu phải có lãnh tụ chính trị mới.
● Từ lực lượng yêu nước, các thành phần tiên tiến, xuất sắc tích cực tham gia vào tổ chức Đảng Cộng sản.
● Xét về phía công nhân, sự tham gia của phong trào công nhân cũng chính là sự tham gia
của phong trào yêu nước vào việc thành lập Đảng, vì bản thân phong trào công nhân
cũng là phong trào yêu nước. Điển hình cho sự chuyển hóa từ phong trào yêu nước thành
phong trào cộng sản là tổ chức Tân Việt dẫn đến sự hình thành Đông Dương cộng sản
Liên đoàn (cuối 1929 - đầu 1930). Bản thân Hội thanh niên ban đầu cũng là một tổ chức yêu nước.
Sự tác động giữa các yếu tố đã thúc đẩy lẫn nhau, đưa phong trào cách mạng Việt Nam không
ngừng phát triển, dẫn đến điều kiện cho sự ra đời của Đảng đã chín muồi.
Nghiên cứu tính tất yếu của sự ra đời của Đảng và các yếu tố tạo thành Đảng sẽ hình dung rõ
hơn cội nguồn sức mạnh của Đảng và những phương hướng tác động để xây dựng Đảng vững mạnh.
Câu 2: Phân tích yếu tố thời cơ trong đường lối giành chính quyền của ĐCSĐD (1939 -
1945) và liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam.
Trong chiến tranh, vấn đề thời cơ là vấn đề quan trọng. Bởi vì, bên nào nắm được thời cơ thì
chắc chắn bên đó sẽ giành được thắng lợi. Vấn đề thời cơ cũng đã được chủ nghĩa Mác-Lênin
đề cập đến. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của cách mạng
nước ta và linh hoạt, uyển chuyển theo tình hình cách mạng thế giới. Đảng ta nhận thức rõ rằng:
Thời cơ là sự kết hợp hàng loạt nhân tố chủ quan và khách quan đã đến độ chín muồi. Thời cơ
không tự đến, một phần là do ta chuẩn bị nó, thúc đẩy nó.
a) Khái niệm về thời cơ: Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Thời cơ là thời gian, điều kiện, hoàn
cảnh chủ quan, khách quan thuận lợi để tiến hành thắng lợi một việc gì đó.
b) Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, HNTW 6 (11/1939) dự báo Nhật sẽ vào
Đông Dương, quyết định tạm gác cách mạng ruộng đất, xác định nhiệm vụ là đánh đổ đế
quốc, tay sai; thành lập Mặt trận dân tộc phản đế, đối các hội phân để thành hội cứu quốc.
Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ. Ở Đông
Dương, chính quyền thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống
trị, thủ tiêu mọi quyền tự do cơ bản của nhân dân thuộc địa, cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng
Cộng sản ngoài vòng pháp luật, đồng thời tăng cường vơ vét sức người sức của, áp bức bóc lột
công khai các thuộc địa phục vụ cho chiến tranh ở chính quốc. 6
Nhận thức được tình hình đó, Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác
về nông thôn, đồng thời vẫn chú trọng các đô thị. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(11/1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) phân tích tình hình, dự báo Nhật sẽ vào Đông Dương
và chỉ rõ: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác
hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da
vàng để giành lấy giải phóng độc lập”. Vì Hội nghị xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất
ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, Hội nghị xác
định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai,
giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc, giành
độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác lại khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” và thay bằng
các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa
chủ phản bội quyền lợi dân tộc chia cho dân cày.
Lần đầu tiên, Hội nghị làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, xác
định rõ nhiệm vụ phản đế là quan trọng, làm rõ thêm tính chất khăng khít nhưng không tiến hành
nhất loạt ngang nhau giữa hai nhiệm vụ đó.
Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân thống nhất phản đế Đông Dương, tập hợp các
dân dựa trên cơ sở liên minh công nông là "hai lực lượng chính của cách mạng" để đoàn kết tất
cả các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái và cá nhân yêu nước nhằm đánh đổ đế quốc Pháp
và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương.
c) Năm 1940, phân tích tình hình thế giới và Đông Dương, HNTW Đảng lần thứ 7 (11/1940)
nhận định về thời cơ của cách mạng Việt Nam.
Trong khi chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra, tháng 6/1940, quân đội phát xít Đức kéo vào
nước Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Ở Viễn Đông, quân phiệt Nhật cũng đẩy
mạnh xâm lược Trung Quốc và cho quân tiến sát biên giới Việt - Trung. Thực dân Pháp ở Đông
Dương đứng trước hai nguy cơ: một là, ngọn lửa cách mạng giải phóng của nhân dân Đông
Dương sớm muộn sẽ bùng cháy: hai là, phát xít Nhật đang lăm le hất cẳng chúng. Sau khi đầu
hàng Nhật ở Lạng Sơn (9/1940), rồi mở cửa cho chúng vào Đông Dương, thực dân Pháp đã suy
yếu rõ rệt. Sau đó, thực dân Pháp bắt tay với Nhật cùng thống trị, đàn áp, bóc lột nhân dân Đông Dương.
Tháng 11/1940, hơn một tháng sau khi Nhật vào Đông Dương, Hội nghị Trung ương Đảng lần
thứ 7 do đồng chí Trường Chinh chủ trì đã được tổ chức tại làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn, Bắc
Ninh). Hội nghị khẳng định: “Tình thế hiện tại không thay đổi gì tính chất cơ bản của cuộc cách
mạng tư sản dân quyền Đông Dương”, chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu
cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 là đúng. Hội nghị xác định tính chất của cách mạng Đông
Dương là cách mạng giải phóng dân tộc với hai nhiệm vụ phản đế và thổ địa. Cách mạng phản
đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước cái làm sau. Hội nghị chỉ ra
rõ, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc này là đế quốc chủ nghĩa Pháp, Nhật. Kẻ thù phụ
là phong kiến bản xứ. Kẻ thù nguy hiểm nhất là “đội quân thứ nǎm” của bọn phát xít Nhật và bọn
Việt gian thân Pháp. Tuy nhiên, Trung ương Đảng vẫn chưa thực sự dứt khoát với chủ trương
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra tại Hội nghị tháng 11/1939.
d) Năm 1941, đánh giá chủ nghĩa phát xít sẽ thất bại, HNTW 8 (5/1941) đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Tháng 5 năm 1941, dựa trên những dự đoán ban đầu của tình hình cách mạng trong nước và
thế giới. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã nhận 7
định: Nếu như Liên Xô thắng trận và Trung Quốc phản công bọn phát xít Nhật thì đây sẽ là những
điều kiện thuận lợi để Đảng ta xây dựng lực lượng tiến tới khởi nghĩa rộng lớn. Đồng thời, Đảng
cũng chỉ ra những điều kiện tạo nên thời cơ chín muồi. Đó là: Ta xây dựng được mặt trận cứu
quốc thống nhất trên toàn quốc. Nhân dân không thể sống dưới sự áp bức của Pháp - Nhật được
nữa. Phe thống trị ở Đông Dương bước vào khủng hoảng. Và tình hình thế giới có chuyển biến
thuận lợi cho ta như Trung Quốc thắng Nhật, quân Đồng Minh thắng trận…
Hội nghị đề ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khẳng định: “Vấn đề chính là nhận định cuộc cách
mạng trước mắt của Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh,
khẩu hiệu chính là: Đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập, hoãn cách
mạng ruộng đất”. Hội nghị nêu ra sáu nội dung quan trọng:
1) Nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa
dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp và phát xít Nhật.
2) Khẳng định dứt khoát chủ trương “phải thay đổi chiến lược” và giải thích rằng cuộc cách
mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, giải quyết
hai vấn đề: phản đế và điền địa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề
“dân tộc giải phóng”.
3) Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, thi hành chính sách
“dân tộc tự quyết”.
4) Tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc. Các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt Minh
đều mang tên “cứu quốc”.
5) Chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà nước “của chung cả toàn thể dân tộc”.
6) Xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khắc phục triệt để những hạn chế của
của Luận cương chính trị tháng 10/1930 và khẳng định lại đường lối cách mạng giải phóng dân
tộc đúng đắn trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân
tộc của Nguyễn Ái Quốc.
e) Trước khi thời cơ xuất hiện nhưng chưa chín mùi
Từ nǎm 1942, Đảng nhận định rằng: Liên Xô chiến thắng phát xít Đức - Nhật là điều có khả năng
nhất. Tình thế sẽ diễn biến thuận lợi cho ta. Vì vậy, Đảng xác định chuẩn bị khởi nghĩa. Tháng 9
năm 1944, Đảng đã dự kiến rằng, mâu thuẫn Nhật - Pháp sẽ dẫn tới Nhật đảo chính lật đổ Pháp
và chỉ ra phương hướng hành động cho toàn Đảng.
Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày
9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chiếm Đông Dương. Pháp nhanh chống đầu hàng,
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9/3/1945 đến ngày 10/3/1945 đã đánh giá tình
hình, ra chỉ thị: “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Nội dung chủ yếu của bản
Chỉ thị: Xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát
xít Nhật. Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc khởi nghĩa.
Tuy nhiên Đảng ta xác định, sự kiện Nhật đảo chính Pháp chỉ làm cho tình hình chính trị tại Đông
Dương lâm vào khủng hoảng chứ thời cơ cho khởi nghĩa chưa thật sự chín muồi.
f) Thời cơ chín muồi và Cách mạng tháng tám thành công 1945
Tháng 8/1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông
Dương đã đến tột độ.
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô truy
kích phát xít Đức trên chiến trường châu Âu, giải phóng nhiều nước ở Đông Âu và tiến về phía 8
Béclin (Đức). Ngày 9/5/1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh kết thúc ở châu Âu.
Ngày 08/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiến công như vũ bão vào quân đội Nhật. Phe phát xít thua
trận, phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc.
Theo thỏa thuận của các nước Đồng minh, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, quân đội Anh và
Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong khi đó, thực dân Pháp lăm le dựa
vào Đồng minh hòng khôi phục địa vị thống trị của mình; đế quốc Mỹ đứng sau các thế lực này
cũng sẵn sàng can thiệp vào Đông Dương; những phần tử phản động, ngoan cố trong chính
quyền tay sai Nhật đang âm mưu thay thầy đổi chủ, chống lại cách mạng.
Ở trong nước, với sự chuẩn bị từ trước, ngày 9/3/1945, Nhật nổ súng đảo chính lật đổ Pháp, độc
chiếm Đông Dương. Pháp chống cự yếu ớt rồi nhanh chóng đầu hàng.
Dự đoán đúng tình hình, ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật –
Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, chỉ rõ bản chất hành động của Nhật ngày 9/3/1945
là một cuộc đảo chính giành lợi ích giữa Nhật và Pháp; xác định kẻ thù cụ thể, trước mắt và duy
nhất của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phát xít Nhật; thay khẩu hiệu “Đánh đuổi
phát xít Nhật – Pháp” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”.
Đồng thời, cách mạng Việt Nam ta lúc bấy giờ đã có đủ các điều kiện cần thiết: Thứ nhất, về việc
xác định thời cơ đã hoàn toàn chín muồi. Thứ hai, về chủ trương. Thứ ba, về lực lượng, đây là
sự chuẩn bị lâu dài. Thứ tư, về các chỉ đạo cụ thể.
Trong tình hình đó, ngày 12/8/1945, Ủy ban lâm thời Khu giải phóng hạ lệnh khởi nghĩa trong
khu. Ngày 13/8/1945, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn
quốc; 23 giờ cùng ngày, ban bố “Quân lệnh số 1”, phát đi lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước.
Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ngày 14 và 15/8/1945 tại Tân Trào (Tuyên Quang). Sau khi
phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi để cuộc tổng khởi nghĩa có thể
nổ ra và thắng lợi. Hội nghị quyết định: Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng
khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương
với khẩu hiệu đấu tranh lúc này là: “Phản đối xâm lược! Hoàn toàn độc lập! Chính quyền nhân
dân!”. Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước với quyết tâm: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới,
dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập”.
Hưởng ứng sự lời kêu gọi của Đảng, nhân dân cả nước đã vùng lên khởi nghĩa giành chính
quyền từ tay phát xít Nhật và chính quyền tay sai. Chỉ trong vòng 12 ngày, từ ngày 14 đến ngày
25 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Tám thành công rực rỡ.
g) Kết luận:
Như vậy, ta thấy rằng Đảng ta đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ “nghìn năm có một” để thực hiện
thắng lợi cuộc cách mạng. Thời cơ của Cách mạng Tháng Tám trực tiếp xuất hiện kết hợp với
điều kiện cụ thể của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi khiến cho thời cơ để nổ ra cuộc Cách
mạng Tháng Tám đã chín muồi. Thời cơ không tự nhiên có mà do chúng ta tác động nó, thúc
đẩy nó ra đời. Trong suốt 15 năm Đảng ta luôn luôn chú trọng tới việc xây dựng lực lượng, củng
cố đội ngũ Đảng viên để làm nồng cốt cho cuộc cách mạng. Thực hiện tuyên truyền, giác ngộ
vận động quần chúng nhân dân dưới mọi hình thức, trên tất cả các mặt trận. Và khi thời cơ xuất
hiện, đạt đến độ chín muồi, Đảng ta đã nhanh chóng cướp lấy cơ hội này, phát động khởi nghĩa
giành chính quyền. Thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố với nhân dân Việt
Nam và thế giới, công nhận nền độc lập của dân tộc Việt Nam, chặn đứng âm mưu xâm lược của kẻ thù. 9
e) Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam
Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Đảng ta cũng cần phải sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta
nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tạo thời cơ cho chính mình. Đứng trước tình hình toàn cầu hóa
và biến động khôn lường của thế giới hiện nay, cùng với cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4,
chúng ta có thể nắm bắt thời cơ này để hội nhập và chọn lựa cách “đi tắt, đón đầu” đưa nước
nhà vượt qua khó khăn, phát triển bền vững. Xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh. Đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội để xứng đáng với sự nghiệp mà cha
ông ta đã dày công xây dựng.
Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang
tính tất yếu. Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập trên
mọi lĩnh vực, từ kinh tế, văn hoá, thể thao đến chính trị. VN gia nhập ASEAN, trở thành thành
viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an
Liên Hiệp Quốc… và có những bước phát triển mới, đảm nhiệm vai trò quan trọng, nâng cao uy
tín trên trường quốc tế.
Thời cơ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, chớp lăy thời cơ là chớp lấy cơ hội, vì vậy, việc nắm
bắt và vận dụng thời cơ của Cách mạng Tháng Tám vẫn là bài học lớn của Đảng, của đất nước
trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay và mai sau!
Câu 3: Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam rơi vào tình thế ngàn cân
treo sợi tóc?
“Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn” là tổng kết thiên tài của Lênin - là sự phát
hiện một nguyên lý phổ quát. Phải chăng, sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Việt Nam đã phải vượt qua những thử thách, khó khăn hơn rất nhiều để giữ vững chính
quyền cách mạng và bảo vệ nền độc lập cho đến ngày nay?
A. Tình hình khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945
a) Trên thế giới
Trên thế giới, phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thế
giới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Cách mạng Việt Nam.
Do lợi ích cục bộ của mình, các nước lớn không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công
nhận địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam nằm trong vòng vây
của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Cách mạng ba
nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi,
khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng. b) Trong nước
1. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời đã phải đối phó với nhiều kẻ thù.
Lực lượng phản động trong nước và quốc tế ráo riết chống phá cách mạng. Theo quy định của
hiệp định Potsdam. Cuối tháng 8 đầu tháng 9 từ vĩ tuyến 16:
Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, từ cuối tháng 8/1945, hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch (Trung
Hoa dân quốc) kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân Đồng
minh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo các tổ chức phản động Việt Nam Quốc dân đảng (Việt
Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) nhằm lật đổ chính quyền cách mạng
của nhân dân ta, thành lập chính quyền tay sai.
Ở phía Nam vĩ tuyến 16, cũng với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, hơn một vạn quân đội Anh
đổ bộ vào Sài Gòn làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận. Quân đội Anh đã trực tiếp bảo 10
trợ, sử dụng quân đội Nhật giúp sức quân Pháp, ngày 2/9/1945, quân Pháp đã xả súng bắn vào
đồng bào Việt Nam đang mít tinh mừng Ngày Độc lập ở Sài Gòn và ngang nhiên nổ súng gây
hấn đánh chiếm Sài Gòn – Chợ Lớn (Nam Bộ) vào rạng sáng ngày 23/9/1945, mở đầu chiến
tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Trên đất nước ta lúc này lại còn khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải pháp, trong đó có một bộ
phận theo lệnh của đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp
mở rộng phạm vi chiếm đóng. Lợi dụng sự chiếm đóng của quân Trung Hoa dân quốc, Anh,
Pháp, Nhật trên đất nước ta, các thế lực phản động ở trong nước nổi dậy hoạt động chống phá.
Ở Việt Nam có các lực lượng thân Pháp cũng nổi lên chống phá cách mạng hết sức quyết liệt.
Lôi kéo nhân dân chia rẽ dân tộc tôn giáo.
2. Hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về
nhiều mặt, thiếu kiến thức và trình độ quản lý, hậu quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề.
3. Kinh tế - tài chính: Do chính sách cai trị khắc nghiệt của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã để
lại hậu quả hết sức nặng nề:
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công thương
nghiệp đình đốn, công nhân không có việc làm, hàng hóa khan hiếm; nông nghiệp bị hoang hóa,
50% ruộng đất bị bỏ hoang;
Nhân dân ta vừa trải qua nạn đói 1945. Nguy cơ nạn đói mới đe dọa, sản xuất nông nghiệp chưa
được phục hồi, năm 1946 lại xảy ra hạn hán đe doạ đời sống nhân dân.
Tài chính cạn kiệt, ngân khố trống rỗng, thuế chưa thu được.
4. Văn hóa – xã hội: các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục,
cùng với di sản văn hóa do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức tai hại.
5. Giáo dục: do chính sách ngu dân mà thực dân Pháp đã áp dụng với nước ta khiến cho 95%
dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói.
6. Quân đội: Lực lượng quân đội: chưa có đủ thời gian và điều kiện phát triển lực lượng vũ trang
và quân đội chính quy. Lực lượng vũ trang còn non yếu, trang bị thô sơ thiếu kinh nghiệm chiến
đấu. Sau cách mạng tháng 8 lực lượng quân đội chính quy của ta chỉ có khoảng 5 nghìn người với vũ khí thô sơ.
7. Ngoại giao: Chưa có nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta kể cả Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa làm cho chúng ta cô lập với thế giới – không thể tranh thủ được
sự ủng hộ của quốc tế.
B. Kết luận
Sau cách mạng tháng 8 đất nước ta, dân tộc ta đứng trước tình thế vô cùng hiểm nghèo, ta vừa
giành được chính quyền lại đứng trước nguy cơ mất chính quyền vận mệnh dân tộc chẳng khác
nào: “Ngàn cân treo sợi tóc” giữ vững chính quyền là điều không tưởng. Tình hình trên đặt ra
một yêu cầu cấp bách trước mắt cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải bảo vệ nền độc lập, tự do,
bảo vệ chính quyền cách mạng vừa giành được. Và bằng tài năng sáng suốt Đảng đã lãnh đạo
nhân dân vượt qua những khó khăn này.
Câu 4: Anh/ chị hãy trình bày và phân tích vai trò của Nghị quyết Ban Chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ 15 (1/1959) đối với cách mạng miền Nam.
A. Hoàn cảnh lịch sử ra đời nghị quyết 15 (1/1959) 11
Về phía địch, chính quyền Mỹ-Diệm đã thi hành hàng loạt các chính sách khủng bố, đàn áp dã
man những người cộng sản, cán bộ chiến sĩ và người dân yêu nước của ta như chính sách tố
Cộng diệt Cộng tàn bạo, ban hành luật 10/59 đặt ĐCS ngoài vòng pháp luật, tiến hành công khai
chiến lược chiến tranh Đơn Phương chống lại nhân dân Việt Nam... Trong khi đó, về phía ta lại
nghiêm chỉnh thực hiện chủ trương thống nhất đất nước bằng con đường ngoại giao hòa bình
thì phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ như trước đó không còn phù hợp
với tình hình thực tế nữa.
Ðiều này đòi hỏi Ðảng phải có sự chuyển hướng chỉ đạo kịp thời để duy trì và phát triển phong
trào cách mạng, đáp ứng nhu cầu của toàn dân, cán bộ cả nước, nhu cầu cấp bách của lịch sử
đặt ra lúc bấy giờ để đưa sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta
vượt qua thử thách. Vào tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng đã tổ chức Hội nghị
lần thứ 15 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề trên.
B. Nội dung Nghị quyết 15:
1) Mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam
Sau khi phân tích tình hình nước ta, Hội nghị chỉ ra hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng Việt
Nam phải giải quyết: Một là, mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ, địa chủ phong kiến, tư sản mại bản tay
sai của Mỹ ở miền Nam với nhân dân miền Nam nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói
chúng; Hai là, mâu thuẫn giữa con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa và con đường tiến lên tư bản
chủ nghĩa ở miền Bắc. Trong đó mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn này.
2) Nhiệm vụ cơ bản của Cách mạng Việt Nam
Từ đó, Hội nghị cho rằng: "Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ
chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền nam". Hai nhiệm vụ chiến lược trên tuy tính chất khác nhau, nhưng lại có quan hệ hữu cơ
biện chứng, tiến hành song song, ảnh hưởng và tác động sâu sắc lẫn nhau, hỗ trợ mạnh mẽ cho
nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung là giữ vững hòa bình, thống nhất đất nước, tạo điều kiện
thuận lợi để đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3) Mâu thuẫn cơ bản của cách mạng miền Nam
Một là, giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ xâm lược; hai là, giữa nông dân với địa chủ
phong kiến. Trong đó, mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn cách mạng này.
4) Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam:
Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và
người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh. Thực hiện đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ
tập đoàn thống trị độc tài tay sai của Mỹ - Ngô Ðình Diệm, thiết lập chính quyền liên hiệp dân tộc
dân chủ ở miền Nam, thực hiện các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân. Giữ vững
hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập, dân chủ. Lực lượng cách mạng gồm
lực lượng Công - nông - tiểu tư sản - tư sản dân tộc. Trong đó, động lực cách mạng là công –
nông – tiểu tư sản. Liên minh công nông làm cơ sở.
5) Phương pháp cách mạng của cách mạng miền Nam
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Hội nghị khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách
mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân" bằng phương 12
pháp bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với
đấu tranh chính trị, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân.
6) Về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ miền Nam
Nghị quyết nhận định: Sự tồn tại và trưởng thành của Đảng bộ miền Nam là một nhân tố quyết
định thắng lợi của phong trào cách mạng miền Nam. Vấn đề mấu chốt hết sức cấp bách hiện nay
là phải củng cố, xây dựng Đảng bộ miền Nam thật vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp đảng bộ và nhất là của chi bộ đối với
sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ. Trong hoàn cảnh mới, Đảng bộ miền Nam phải hết sức
đề cao công tác bí mật, phải biết triệt để sử dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp để
che giấu lực lượng của Đảng, không ngừng nâng cao cảnh giác, tỉnh táo đề phòng mọi sự xâm
nhập, phá hoại của bọn gián điệp và những phần tử đầu hàng, phản bội, nhằm bảo vệ các cơ
quan đầu não và che giấu cán bộ, cần xây dựng ở các địa phương những cơ sở an toàn và khu an toàn…
C. Quá trình phát triển đường lối cách mạng Việt Nam
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, diễn ra trong 2 đợt:
+ Đợt 1 (1/1959) tại HN, do Chủ tịch HCM chủ trì đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của miền Nam là:
“Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ Tập
đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên
hiệp dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân
chủ. Cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở
độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”. Phương pháp
cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân bằng bạo lực của nhân
dân: “Cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành đấu tranh vũ
trang trường kỳ giữa ta và địch và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta. Trong khi lãnh đạo, Đảng
phải thấy trước khả năng ấy để chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó trong mọi tình thế”.
+ Đợt 2 (7-1959), Hội nghị xác định: “Cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam còn lâu dài, gian
khổ, khó khăn và phức tạp, Đảng bộ miền Nam tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng
và Chủ tịch HCM, cách mạng miền Nam nhất định sẽ thắng lợi, hòa bình độc lập, dân chủ, thống
nhất trong toàn quốc sẽ được thực hiện”.
Trên cơ sở thống nhất ý kiến của hai đợt họp, tháng 7-1959 Hội nghị Trung ương 15 chính thức
thông qua Nghị quyết. Trong đó xác định cách mạng VN do Đảng lãnh đạo có hai nhiệm vụ chiến
lược song song tiến hành là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ tùy tính chất khác nhau nhưng có quan hệ hữu cơ, cùng tác động,
ảnh hưởng và hỗ trợ lẫn nhau chung mục tiêu là “đánh đổ chế độ thống trị Mỹ - Diệm, giải phóng
miền Nam là nhiệm vụ chung, vì lợi ích và yêu cầu chung của nhân dân cả nước”. Nghị quyết
nêu rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc
và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, góp phần xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
giàu mạnh… Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ
xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành
lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các
quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữa vững hòa bình, thực hiện thống nhất
nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và
thế giới”. Đồng thời Nghị quyết xác định phương pháp tiến hành đấu tranh ở miền Nam là: “Khởi
nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân” và theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách 13
mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần
chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và
phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đưa cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã đến với các địa phương ở miền Nam bằng nhiều
con đường, đi vào quần chúng đúng lúc họ đang ở vào tình thế “không muốn sống như cũ” và
đang khát khao mong đợi đường lối của Đảng. Vì vậy khi cán bộ, quần chúng hiểu Nghị quyết
với tinh thần là “Đảng cho đánh rồi” đã nổi dậy và tạo nên phong trào Đồng khởi rộng khắp các
tỉnh miền Nam nhằm phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng, theo phương
châm dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với sự hỗ trợ của lực lượng
vũ trang, tiêu biểu là tỉnh Bến Tre. Thắng lợi phong trào Đồng khởi tỉnh Bến Tre đã tác động mạnh
đến phong trào cách mạng hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Lực lượng vũ trang nhân dân phát triển
mạnh với 3 hình thức: Các đội tự vệ, du kích xã; các đội vũ trang ở huyện, tỉnh; các đơn vị bộ đội
tập trung của khu ngày càng lớn mạnh, là sức mạnh lớn của phong trào cách mạng ở miền Nam.
Phong trào Đồng khởi ở nông thôn miền Nam đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị ở các
đô thị diễn ra mạnh mẽ. Phong trào đã giành thắng lợi khiến quân địch thua thảm hại; đẩy chính
quyền địch vào thế khó khăn, khủng hoảng kéo dài triền miên dẫn đến hàng loạt những cuộc đảo
chính, ly khai và đồng thời cũng thu hút sự ủng hộ và đồng tình của các nước xã hội chủ nghĩa
và loài người tiến bộ.
D. Ý nghĩa của Nghị quyết Trung ương 15 (1/1959) đối với cách mạng miền Nam Việt Nam
Nghị quyết Trung ương 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến
lên, đã xoay chuyển tình thế, dẫn đến cuộc đồng khởi oanh liệt của toàn miền Nam năm 1960,
làm xoay chuyển cả tình thế.
Nghị quyết Trung ương 15 là một mốc lịch sử vô cùng quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới
về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Ðảng ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, hoàn chỉnh đường lối cách mạng trên cả nước nói chung và ở miền Nam nói riêng. Nó phản
ánh đúng tình thế chín muồi của cách mạng miền Nam, đáp ứng được yêu cầu bức thiết của
thực tế tình hình cách mạng miền Nam lúc bấy giờ, phù hợp với nguyện vọng tha thiết của đồng
bào, cán bộ, chiến sĩ và xu thế phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam.
Nghị quyết 15 như một luồng sinh khí mới thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của quần chúng cách
mạng, đáp ứng nhu cầu bức xúc của quần chúng dẫn đến cao trào Đồng thởi oanh liệt của miền Nam năm 1960.
Đồng thời, Nghị quyết đánh dấu bước trưởng thành của Đảng ta, thể hiện sâu sắc tinh thần độc
lập tự chủ, năng động, sáng tạo trong đánh giá, so sánh lực lượng, trong vận dụng lý luận Mác-
Lênin vào cách mạng miền Nam, mở đường cho cách mạng miền Nam vượt qua thử thách để tiến lên.
Câu 5: Tại sao phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về
tư duy lý luận, sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng?/ Vì sao ĐCSVN lựa chọn mô hình
KTTT định hướng XHCN là một tất yếu?
Mở: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển kinh tế
tổng quát của VN hiện nay. Đây là quá trình nhận thức, hoàn thiện tư duy lý luận và tổng kết
thực tiễn của Đảng để thấy rõ hơn về sự tất yếu khách quan, những nội dung và đặc trưng cơ
bản, những việc cần thực hiện để đẩy mạnh phát triển kinh tế ở VN. 14
Đối với VN, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước, theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (1986) và ngày càng được hoàn thiện. Thực tế 20 năm đổi
mới và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chứng minh
rằng, kinh tế thị trường là con đường phát triển kinh tế có hiệu quả, từ đó quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Đây là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát
các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của VN.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm 2001) khẳng định: “... thực hiện nhất quán và lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: “Để đi
lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa...”
Như vậy, trải qua các kỳ Đại hội, chúng ta luôn khẳng định con đường mà chúng ta lựa chọn đó
là CNXH và để đi lên CNXH chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường. Nhận thức về CNXH và
con đường đi lên CNXH ở nước ta được Đảng khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) với 6 đặc trưng cơ bản và đến nay Đại hội Đảng X
tiếp tục khẳng định ngày càng sáng tỏ hơn với 8 đặc trưng cơ bản là:
● Là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
● Do nhân dân làm chủ.
● Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
● Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.- Con người được giải phóng khỏi áp
bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện.
● Các dân tộc trong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ.
● Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
● Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn
diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc
gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với quy
luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị trường là một phạm trù kinh
tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy luật riêng vốn có của nó dù nó tồn
tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song, trong thực tế không có một nền kinh tế thị
trường trừu tượng, chung chung cho mọi giai đoạn phát triển, mà gắn với mỗi giai đoạn phát
triển nhất định của xã hội là những nền kinh tế hàng hóa cụ thể.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế thị
trường cũng là cơ sở kinh tế khách quan của sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa. Đó
là sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa
quy định. Có nghĩa là kinh tế thị trường tồn tại cả trong chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ 15
quá độ lên CNXH. Kinh tế thị trường XHCN dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể do
ĐCS lãnh đạo, mục đích của nền kinh tế thị trường là phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, xóa bỏ chế độ bóc lột, giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở VN, Đảng ta khẳng định: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ
đi lên chủ nghĩa xã hội ở VN. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực
tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản VN.
Nhận định về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư
duy lý luận, là sự sáng tạo độc lập của Đảng:
Tiến lên XHCN là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử VN, và quá trình đó nhất thiết phải trải qua
một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển dưới nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội
đan xen. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một trong những phương hướng
cơ bản để thực hiện thành công quá trình cách mạng ấy.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là “một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của
kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản
chất của CNXH”. Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của thị trường được sử dụng để “phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH, nâng cao
đời sống của nhân dân.”, còn tính định hướng XHCN được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ
sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối.
Với nền kinh tế thị trường thì Đảng đã nhìn nhận sự phát triển về tư duy như sau:
Một là, kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển
chung của nhân loại.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội hóa, sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng
cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường. Trong quá hình sản xuất và trao đổi, các trường
tố như cung – cầu, giá cả có tác động điều tiết quá trình sản xuất hàng hóa, phân bố các nguồn
lực kinh tế và tài nguyên thiên nhiên như vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động… phục vụ cho sản
xuất và lưu thông. Thị trường giữ vai trò là một công cụ bổ sung các nguồn kinh tế. Trong một
nền kinh tế, khi các nguồn kinh tế, được bổ sung bằng trường nguyên tắc thì đó là trường kinh tế.
Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng đến nay nó mới thể hiện rõ nhất trong tư
bản chủ nghĩa. Trong chủ nghĩa tư bản, nó đạt đến mức độ cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc
sống của con người trong xã hội đó. Song, chủ nghĩa tư bản không sản xuất kinh tế hàng hóa.
Do đó, kinh tế thị trường với tư cách là kinh tế hàng hóa ở độ cao không phải là sản phẩm riêng
của tư bản chủ nghĩa mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại.
Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Kinh tế thị trường xét dưới góc độ "một kiểu tổ chức kinh tế" là phương thức tổ chức, vận hành
nền kinh tế, là phương tiện điều tiết kinh tế trên cơ chế lấy thị trường làm cơ sở để phân bổ các
nguồn lực kinh tế. Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, tồn tại và phát
triển ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ 16
tư hữu, vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho chúng. Vì vậy, kinh tế thị trường
tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế thị
trường không phải là phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và tất
nhiên, xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng không dẫn đến phủ định kinh tế thị trường.
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ có thể dùng cơ chế thị trường làm cơ sở phân
bổ các nguồn lực kinh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủng loại và số lượng hàng hóa, điều
hòa quan hệ cung cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy cái tiến bộ,
đào thải cái lạc hậu, yếu kém.
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế thị trường nhưng đã biết thừa kế và
khai thác có hiệu quả các lợi thế của kinh tế thị trường để phát triển. Thực tiễn đổi mới ở nước
ta cũng đã chứng minh sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng kinh tế thị trường làm phương
tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Kế thừa tư duy của Đại hội IX, Đại hội X và XI đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định
hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí:
Về mục tiêu: Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm giải
phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh
xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người cùng lao động chính đáng, giúp đỡ người khác và cùng vươn lên.
Về phương hướng: Phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mỗi cá nhân và mọi vùng
miền... phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế. Trong nền kinh tế nhiều thành
phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết nền kinh tế,
định hướng cho sự phát triển. Mặt khác, tiến lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải
được dựa trên nền tảng của sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Về định hướng xã hội: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn
hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Hạn
chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường.
Về định hướng phân phối: Trong lĩnh vực phân phối, định hướng XHCN được thể hiện qua chế
độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi
xã hội. Đồng thời, để huy động mọi nguồn lực kinh tế cho sự phát triển chúng ta còn thực hiện
phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác.
Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền
kinh tế của Nhà Nước Pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể hiện sự
khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, đảm bảo
quyền lợi chính đáng của mọi người
Câu 6: Tại Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, ĐCSVN khẳng định: “văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Ý kiến của anh/ chị 17
về vấn đề nêu trên./ Vì sao nói “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động
lực phát triển bền vững đất nước”?
Bối cảnh:
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, đất nước đã đạt được thành
tựu nổi bật về văn hóa. Tuy nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác
động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời
sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa
giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn.
Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục;
tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng...
Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI ban hành nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước”. Văn hóa phải được đặt
ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học.
Quan điểm ấy được thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của Đảng
và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội.
Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền
vững. Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong
mỗi con người và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các
thế hệ người VN. Đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và hướng đến
tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho văn
hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh
thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần
phải mở rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh hoa
văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa
dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho văn hóa
VN bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại trong thời đại ngày nay và chống lại cái đã trở nên
lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nghĩa là
đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững đất nước. Hệ thống di sản văn
hóa, các giá trị văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đó còn là cơ
sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã hội
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng chính là mục tiêu của văn hóa,
nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời 18
nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn
hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận
tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội,
giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thái, tạo cơ sở
nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn hóa, sự tham gia
của văn hóa vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển xã hội, phát
triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong văn hóa. Văn hóa với
tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó là nhu cầu phong
phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn là nhu cầu nhân văn và là cứu
cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội tiến bộ, vừa thúc
đẩy con người đạt được niềm tin, sự khác vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên, thậm
chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ chính là
nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của
một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới
cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn, phát triển phải dựa trên
cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa.
Kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân
sự phát triển kinh tế cũng không chỉ do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự
đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa. Trong điều kiện của cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế, phát triển bền vững,
phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, mặc dù yếu tố
này phong phú, đa dạng nhưng đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt, mà dần dần chuyển
sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng tạo và đổi mới
không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng
của cá nhân và xã hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn hóa trong phát triển, chỉ có sự tham gia
của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Nhiệm vụ: 1) xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện; 2) xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh; 3) xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế; 4) nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động văn hóa; 5) phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn
hóa; 6) chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Kết luận: Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để
phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trong tâm là chăm lo cho con người có nhân cách,
lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần
cù, sáng tạo. Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng;
phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và xây dựng con người mới. Xây dựng và phát triển văn
hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng
tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo này
nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và cộng đồng. Chỉ có
nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, các nguồn lực
khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và năng lực 19
khai thác chúng, thì các nguồn lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và
phát huy tác dụng vào trong phát triển.
Liên hệ bản thân hoặc chính sách văn hóa ngày nay của Đảng
Câu 7: Vì sao trong thời kỳ đổi mới, ĐCSVN phải lựa chọn phương châm đối ngoại theo
hướng đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu?/ Trong lĩnh vực đối ngoại từ năm 1986
đến nay, ĐCSVN đã đổi mới tư duy theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối
ngoại. Anh/ chị lý giải vì sao ĐCSVN có sự lựa chọn này?
Đối ngoại: là tiến hành trong việc đàm phán dàn xếp thương lượng giữa những người đại diện
cho một nhóm hay một quốc gia.
Đa dạng hóa: các quan hệ đối ngoại là làm cho hoạt động đối ngoại trở nên đa dạng hơn quan
hệ trên nhiều mặt nhiều phương diện về kinh tế chính trị xã hội.
Đa phương hóa: các quan hệ đối ngoại bài là việc thực hiện đối ngoại với nhiều bên cùng một
lúc nói cách khác là quan hệ đối ngoại có sự thỏa thuận hay tham gia của nhiều bên.
A. Cơ sở để ĐCSVN quyết định thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại theo phương châm đa
phương hóa, đa dạng hóa:
1) Hoàn cảnh lịch sử:
Tình hình quốc tế:
Tình hình chung của thế giới: Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX tình hình thế giới có nhiều
biến động. Các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ đã tác
động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Xu thế chạy đua
phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hoà hoãn giữa các nước lớn. Trên phạm vi thế giới, những
cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới lúc bấy
giờ là hòa bình và hợp tác phát triển. Các nước đang phát triển cũng dần đổi mới chính sách,
thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với
thời đại, thực hiện chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế để tranh thủ sự
hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và công nghệ. Các chính sách chủ trương này cũng có những ảnh hưởng
không nhỏ đến chính sách ngoại giao của các nước, trong đó có các nước Đông Nam Á.Trong
khi đó, các nước XHCN lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Đến đầu những năm 90, chế độ xã
hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ hoàn toàn. Sự tan rã của trật tự thế giới hai cực đã
hình thành trật tự thế giới mới: trật tự thế giới đa cực, đã dẫn đến những biến đổi to lớn về quan
hệ quốc tế. Các quốc gia thay đổi tư duy về sức mạnh quốc gia, trước đây sức mạnh quốc gia là
sức mạnh quân sự, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các quốc gia xem xét lại sức mạnh quốc
gia là sức mạnh tổng hợp.
Tình hình Việt Nam
Trước đổi mới, do không nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc hội nhập quốc tế và thiết
lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, những khuyết điểm của Đảng trong thời kỳ
1975-1986 kéo dài về chủ trương chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực
hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm khuyết điểm đó, đặc biệt là trên lĩnh
vực kinh tế, là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo
nguyện vọng chủ quan, là tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh vừa hữu khuynh.
Khi đó, Việt Nam vẫn đang bị các đế quốc và thế lực thù địch bao vây cô lập. Lấy cớ "sự kiện
Campuchia" các nước ASEAN và một số nước khác thực hiện cấm vận chúng ta, Mỹ ba lần phủ
quyết chúng ta gia nhập Liên Hợp Quốc. Trước tình hình bị cô lập cấm vận trên, vừa bị các thế 20