Câu 1: Bằng lý luận Mác Lenin, tư tưởng HCM và thực tiễn những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế ký
XX, chứng minh rằng ĐCSVN ra đời là một tất yếu khách quan
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ chính những bài học thực tiễn trong
nước cũng như quốc tế vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam là một tất yếu khách quan. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn
giữa giai cấp thống trị và bị trị là tất yếu và không thể điều hòa. Cuộc đấu tranh giai cấp, đặc biệt là của giai
cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản, là con đường dẫn đến sự thay đổi xã hội triệt để, từ chế độ bóc lột
sang xã hội công bằng, không có giai cấp. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ vai trò lịch sử của giai cấp công
nhân trong việc lãnh đạo cách mạng, thiết lập nhà nước vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này
được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, trong bối cảnh đất nước đang
rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối cứu nước sau nhiều thất bại của các phong trào yêu nước
mang khuynh hướng phong kiến và tư sản.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa tại Việt Nam, khiến nhân dân lâm vào
cảnh lầm than. Các phong trào yêu nước lần lượt nổi lên như Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,
Duy Tân, Việt Nam Quốc dân đảng… nhưng đều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn và lực lượng lãnh đạo
hiệu quả. Trong khi đó, trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc đang bước vào giai đoạn tột cùng của sự bóc lột, đàn
áp các dân tộc thuộc địa. Tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tạo nên luồng
ánh sáng mới cho các dân tộc bị áp bức, khẳng định rằng con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của
một chính đảng kiểu mới là hoàn toàn khả thi. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản năm 1919 và sự truyền bá
mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, đã cổ vũ mạnh mẽ phong
trào cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc, sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, đã sớm tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, tin
tưởng tuyệt đối vào con đường cách mạng vô sản. Người không những truyền bá lý luận Mác – Lênin vào Việt
Nam mà còn tổ chức, huấn luyện cán bộ cách mạng, xây dựng tổ chức như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên. Từ năm 1929, các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện như Đông Dương Cộng sản Đảng, An
Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy nhiên, ba tổ chức này lại hoạt động riêng rẽ,
tranh chấp ảnh hưởng, dẫn đến yêu cầu cấp bách về sự thống nhất.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được
tổ chức tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Tại đây, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành
lập, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Việc thành lập Đảng không chỉ là sự kết tinh lý
luận chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là đáp án đúng đắn cho yêu cầu bức thiết của
phong trào đấu tranh trong nước lúc bấy giờ. Chánh cương, sách lược vắn tắt và chương trình hành động được
thông qua tại hội nghị thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhất quán, định hướng cho cách mạng Việt Nam phát
triển lâu dài.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa lý luận cách mạng khoa học và
phong trào cách mạng thực tiễn, giữa tinh thần yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Nó không chỉ khắc
phục được tình trạng khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho dân
tộc Việt Nam – thời kỳ đấu tranh có tổ chức, có lý luận cách mạng đúng đắn, có lực lượng lãnh đạo tiên phong
dẫn dắt nhân dân giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam là một bước ngoặt vĩ đại, một tất yếu khách quan của lịch sử Việt Nam trong thời đại mới.
Câu 2: Phân tích nội dung cơ bản, ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội Nghị thành
lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (02/1930) trang 27
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản diễn ra vào đầu tháng 2 năm
1930 tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì không chỉ đánh dấu sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn thông qua một văn kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: **Cương
lĩnh chính trị đầu tiên** của Đảng (thường được gọi là “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và
“Chương trình tóm tắt”). Cương lĩnh này đã xác định rõ đường lối cách mạng, mục tiêu, lực lượng, phương
pháp và vai trò lãnh đạo của Đảng, đặt nền móng lý luận và phương hướng hành động cho toàn bộ sự nghiệp
cách mạng dân tộc Việt Nam về sau.
Trước hết, Cương lĩnh đã xác định đúng đắn và kịp thời **mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam** là
làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Trong đó, cách mạng tư sản
dân quyền là bước đi đầu tiên nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và trao ruộng đất
cho nông dân. Đây là một bước phát triển vượt bậc về nhận thức lý luận so với các phong trào yêu nước trước
đó, vốn còn mơ hồ về mục tiêu và con đường đấu tranh. Việc đặt cách mạng dân tộc lên hàng đầu phản ánh
tinh thần yêu nước sâu sắc, đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam.
Thứ hai, Cương lĩnh nêu rõ **nhiệm vụ cụ thể của cách mạng**, bao gồm: đánh đổ đế quốc Pháp và phong
kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; tổ chức chính quyền công nông binh; tịch thu ruộng đất
của đế quốc, địa chủ chia cho dân cày nghèo; thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, phổ cập giáo dục, thực hiện
ngày làm việc 8 giờ… Những nội dung này thể hiện rõ lập trường giai cấp công nhân, lấy lợi ích của đa số
quần chúng lao động làm trung tâm, đồng thời mang tính cách mạng triệt để và tiến bộ. Cương lĩnh cũng thể
hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa **nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ**, phản ánh đúng đặc điểm của
xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến.
Về **lực lượng cách mạng**, Cương lĩnh nhấn mạnh vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân và xác định các
lực lượng quan trọng khác là nông dân, tiểu tư sản trí thức, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của tư sản dân tộc,
trung tiểu địa chủ trong giai đoạn đầu. Đây là một sự nhận thức đúng đắn và sắc bén, đặt giai cấp công nhân –
giai cấp tiên tiến nhất – vào vị trí lãnh đạo cách mạng, đồng thời xây dựng khối liên minh công – nông và mở
rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Việc xác định chính xác các lực lượng xã hội phù hợp đã tạo nên nền tảng
chính trị vững chắc cho sự nghiệp cách mạng sau này.
Cương lĩnh cũng đề cập đến **vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam**, được xác định là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, giữ vai trò lãnh đạo duy nhất đối với phong trào cách mạng. Đây là một nhận thức cách
mạng sâu sắc, phù hợp với lý luận Mác – Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng tiên phong trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Đảng được xác định là tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, gắn bó mật thiết
với quần chúng, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, bảo đảm cho cách mạng đi đúng hướng.
**Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên** là vô cùng to lớn. Thứ nhất, văn kiện này đã đánh dấu bước
trưởng thành vượt bậc về tư duy lý luận và đường lối cách mạng của phong trào yêu nước Việt Nam. Lần đầu
tiên trong lịch sử, một lực lượng chính trị đã đưa ra được cương lĩnh cách mạng có tính khoa học, cách mạng
và phù hợp với thực tiễn dân tộc. Thứ hai, Cương lĩnh trở thành kim chỉ nam cho phong trào cách mạng Việt
Nam, giúp thống nhất nhận thức, hành động và định hướng phát triển lâu dài cho cả dân tộc. Dưới ánh sáng
của Cương lĩnh, Đảng đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân, mở đầu cho cao trào cách mạng 1930 – 1931
với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ – Tĩnh. Thứ ba, Cương lĩnh chính trị đầu tiên khẳng định đường lối độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – tư tưởng lớn xuyên suốt quá trình cách mạng của Đảng ta cho đến ngày
nay.
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng vào tháng 2 năm 1930 là văn kiện
lịch sử có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện sự kết tinh giữa lý luận cách mạng tiên tiến và thực tiễn phong trào đấu
tranh yêu nước ở Việt Nam. Văn kiện này không chỉ là nền tảng tư tưởng – chính trị cho Đảng trong những
ngày đầu thành lập, mà còn là kim chỉ nam cho cả quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX và cả hiện tại. Đó là minh chứng rõ ràng cho vai trò lãnh đạo đúng đắn và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Câu 3: 3. Phân tích nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám
năm 1945? Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam. trang 60
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết tinh của tinh thần yêu nước, sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là ĐCSVN), và đặc biệt là nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ tài tình,
sáng suốt. Trong điều kiện đất nước chịu ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, sự nghiệp giải phóng
dân tộc vốn vô cùng gian nan. Tuy nhiên, chính nhờ sự chủ động chuẩn bị lực lượng, phân tích tình hình chính
trị trong nước và quốc tế một cách nhạy bén, Đảng ta đã tạo ra và chớp lấy thời cơ một cách nhanh chóng, dứt
khoát, dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi trong vòng chưa đầy hai tuần.
Trước hết, về nghệ thuật tạo thời cơ, Đảng ta đã không bị động chờ đợi thời cơ đến mà chủ động chuẩn bị lực
lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng suốt quá trình từ khi Nhật vào Đông Dương (1940)
cho đến năm 1945. Đảng phát động phong trào “Phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói”, xây dựng Việt Minh,
thành lập khu căn cứ địa Việt Bắc, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân. Đồng thời, Đảng cũng chủ động đề ra
khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Nhật - thực dân Pháp", tập hợp lực lượng rộng rãi, đặc biệt sau khi Nhật đảo
chính Pháp (9/3/1945), Đảng đã đề cao khẩu hiệu “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, chỉ đạo
phát triển lực lượng vũ trang và bán vũ trang, tổ chức các cuộc khởi nghĩa từng phần, tập dượt cho tổng khởi
nghĩa.
Khi thời cơ lịch sử thực sự đến vào giữa tháng 8 năm 1945 – tức là sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh, chính quyền tay sai Nhật rơi vào tình trạng hoảng loạn, hỗn loạn – Đảng ta đã thể hiện tài năng xuất sắc
trong nghệ thuật chớp thời cơ. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Ngày 16/8, Hội
nghị toàn quốc của Đảng diễn ra tại Tân Trào đã ra quyết định tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Trong vòng
một tuần, các địa phương đồng loạt vùng lên giành chính quyền. Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày
19/8 đã giành thắng lợi nhanh chóng, tạo hiệu ứng lan tỏa ra cả nước. Ngày 25/8, chính quyền về tay nhân dân
trên phạm vi cả nước. Việc chủ động phát động khởi nghĩa đúng thời điểm – khi kẻ thù hoàn toàn mất khả
năng kiểm soát, chính quyền tay sai rã rời, trong khi nhân dân sục sôi khí thế – thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh và
sự quyết đoán chiến lược hiếm có của Đảng.
Cách mạng Tháng Tám là một minh chứng lịch sử sống động về việc thời cơ không tự nhiên đến, mà cần
được tạo dựng bằng tầm nhìn chiến lược, sự chuẩn bị kỹ lưỡng, và hành động kịp thời. Nếu chậm trễ, lực
lượng Đồng minh vào Đông Dương và thiết lập lại trật tự thuộc địa, thì cách mạng Việt Nam có thể rơi vào
nguy hiểm, hoặc phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ hơn nữa.
Liên hệ với hiện nay, nghệ thuật nắm bắt thời cơ tiếp tục là yêu cầu quan trọng trong tiến trình phát triển đất
nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chuyển đổi số, trí tuệ
nhân tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức đang tạo ra những thời cơ vàng để Việt Nam bứt phá. Đảng
và Nhà nước ta đã nhận thức rõ điều này thông qua các chủ trương như chuyển đổi số quốc gia, xây dựng
chính phủ số, kinh tế số; đẩy mạnh cải cách thể chế, thu hút đầu tư chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực
trình độ cao, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Thời cơ cũng đến từ vị thế chính trị - ngoại giao ngày càng nâng cao của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế
đánh giá là quốc gia ổn định, có tiềm năng tăng trưởng, vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP…
cho thấy Việt Nam đang biết cách chủ động hội nhập, chứ không bị động hòa nhập.
Tuy nhiên, thách thức đi cùng thời cơ. Nếu thiếu chuẩn bị lực lượng, thiếu quyết đoán, hoặc để nội tại yếu
kém làm chậm bước đi, Việt Nam có thể để tuột mất cơ hội phát triển. Do đó, việc học tập tinh thần “tạo thời
cơ và chớp thời cơ” của Cách mạng Tháng Tám cần được vận dụng linh hoạt trong bối cảnh hiện đại: đầu tư
vào giáo dục, công nghệ, thể chế và con người để đón bắt dòng chảy của thời đại.
Tóm lại, nghệ thuật tạo và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là một bài học
kinh điển về tầm nhìn chiến lược và hành động cách mạng đúng thời điểm. Trong thời đại mới, tinh thần ấy
cần tiếp tục được phát huy để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và sánh vai với các cường quốc như
mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Câu 3: Trình bày đặc điểm tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945?. (TRANG 60)
Cách mạng tháng 8 mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Nó đã phá tan xiềng xích nô lệ của
thực dân Pháp hơn 80 năm và ách thống trị của Phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến trị
ngót chục thế kỷ ở nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đánh dấu một kỷ nguyên mới trong
lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do.
Sau ngày tuyên bố độc lập, lịch sử nước Việt Nam bước sang một chặng đường mới với nhiều thuận lợi căn
bản và khó khăn chồng chất.
+ Thuận lợi về quốc tế: sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những
sự thay đổi lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô trở thành trung tâm của chủ nghĩa xã hội. Với sự
giúp đỡ của Liên Xô, nhiều nước Đông Trung Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phong trào
giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ.
+ Thuận lợi ở trong nước: Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận
nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới. Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh
đạo cách mạng trong cả nước. Đặc biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống
nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân.
=> Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập và là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc Việt Nam. Quân đội quốc gia và lực lượng Công an; luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn
trương xây dựng và phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới.
+ Khó khăn về quốc tế:
- Phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”, ra sức tấn công, đàn
áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam.
- Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi,
khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng.
+ Khó khăn ở trong nước:
- Hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt; hậu
quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 cực kỳ nghiêm trọng.
- Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc này là âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một
lần nữa của thực dân Pháp. Ngày 2-9-1945, quân Pháp đã trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng
ngày độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn-Chợ Lớn.
Rạng sáng ngày 23-9-1945, Thực dân Pháp mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 ở Việt Nam. Từ cuối
tháng 8 năm 1945, theo Hiệp ước Potsdam, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch cùng lực lượng tay sai Việt
Quốc, Việt Cách vào miền Bắc Việt Nam dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất nhằm chống
phá Việt Minh cùng với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ” . Trong khi đó, 6 vạn quân Nhật vẫn còn hiện
diện tại Việt Nam.
=> Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam
trước tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong,
giặc ngoài.
Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt, là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, nhận định tình hình và
định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền, xác định rõ kẻ thù
chính là thực dân Pháp và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”; mọi hành động phải tập trung
vào nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản,
cải thiện đời sống cho nhân dân”.
+ Diệt giặc đói: là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ với các phong trào lớn như tăng
gia sản xuất, hũ gạo tiết kiệm,... Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định,
tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ.
+ Diệt giặc dốt: được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, góp
phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đến cuối
năm 1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Đời sống tinh thần của một
bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính
quyền cách mạng.
+ Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà nước
Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thức phổ
thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chính thức.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách
mạng non trẻ
Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập (2-9-1945), thực dân Pháp trắng trợn xâm lược Nam Bộ vào đêm 22 rạng
23-9-1945, mở đầu cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. Nhân dân và các lực lượng cách mạng đã
anh dũng chiến đấu, tổ chức chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng, củng cố căn cứ địa. Chính phủ và nhân
dân miền Bắc tích cực chi viện cho miền Nam.
Cùng lúc, để đối phó với âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của quân Tưởng, Đảng, Chính phủ
thực hiện chính sách nhân nhượng có nguyên tắc, triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp - Tưởng. Ký kết Hiệp
định sơ bộ 6-3-1946 để đưa quân Tưởng về nước, tạm thời hòa hoãn với Pháp, đồng thời chuẩn bị cho cuộc
kháng chiến lâu dài.
Trong năm 1946, Việt Nam nỗ lực đàm phán ngoại giao với Pháp nhưng không thành công do dã tâm xâm
lược của Pháp. Đảng, Chính phủ đập tan âm mưu đảo chính ở Hà Nội (vụ Ôn Như Hầu), chuẩn bị kháng chiến
toàn diện. Tiến hành tổng di chuyển cơ quan đầu não, củng cố căn cứ địa, thực hiện “vườn không nhà trống”
để ngăn chặn Pháp.
Những chủ trương đúng đắn của Đảng, tinh thần quyết đoán của Chính phủ và Hồ Chí Minh đã giúp bảo vệ
chính quyền non trẻ, kéo dài thời gian hòa bình, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Nêu cao ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập. Triệt để lợi
dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, thực hành nhân nhượng có nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Tăng cường đại đoàn kết dân tộc, dựa vào sự ủng hộ vật chất là chính trị, tinh thần của toàn dân. Phát triển
thực lực cách mạng. Đó là những thành công và kinh nghiệm nổi bật của Đảng trong lãnh đạo cách mạng, giai
đoạn 1945-1946.
5. Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng những
năm 1945-1946?. (TRANG 60)
Hoàn cảnh nước ta sau CMT8
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa gặp phải nhiều
khó khăn to lớn, hiểm nghèo.
Thuận lợi cơ bản là trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu được hình thành. Phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc điều kiện phát triển, trở thành một dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và
hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ. Ở trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ
thổng từ Trung ươnga đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của đất nước. Lực lượng vũ trang
nhân dân được tăng cường. Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Khó khăn nghiêm trọng là hậu quả do chế độ cũ để lại như nạn đói, nạn dốt rất nặng nề, ngân quỹ quốc gia
trống rỗng. Kinh nghiệm quản lý đất nước của cán bộ các cấp non yếu. Nền độc lập của nước ta chưa được
quốc gia nào trên thế giới công nhận, và đặt quan hệ ngoại giao. Với danh nghĩa Đồng minh đến tước khí giới
của phátxít Nhật, quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến khích bọn Việt
gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ nền độc lập và chia cắt nước ta. Nghiêm trọng nhất là
quân Anh, Pháp đã đồng lõa với nhau nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
"Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” là những hiểm họa đối với chế độ mới, vận mệnh dân tộc như "ngàn
cần treo sợi tóc", Tổ quốc lâm nguy.
Chủ trương của Đảng
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt, là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch con đường đi
lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng là:
+ Về xác định kẻ thù: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa
đấu tranh vào chúng”;
+ Về chỉ đạo chiến lược, nêu rõ mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải
phóng” và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”.
+ Về phương hướng và nhiệm vụ, mọi hành động phải tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là
củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”. cần
nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên
lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài; Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc
thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu "Hoa - Việt thân thiện" đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và "Độc lập
về chính trị, nhân nhượng về kinh tế" đối với Pháp.
Các hành động và biện pháp đề ra
+ Diệt giặc đói: là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ với các phong trào lớn như tăng
gia sản xuất, hũ gạo tiết kiệm,... Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định,
tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ.
+ Diệt giặc dốt: được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới,
góp phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đến cuối
năm 1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Đời sống tinh thần của một
bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính
quyền cách mạng.
+ Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà
nước Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc vào ngày
6-1-1946 theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chính thức. Bầu cử
thành công đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội
khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 2-3-1946 và lập ra Chính phủ chính thức, gồm
10 bộ và kiện toàn nhân sự bộ máy Chính phủ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc hội đã nhất trí bầu Ban
Thường trực Quốc hội do cụ Nguyễn Văn Tố làm Chủ tịch.
Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị
kháng chiến, kiến quốc đã chỉ ra kịp thời những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược cách mạng, nhất là
nêu rõ hai nhiệm vụ chiến lược mới của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám là xây đựng đất
nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể về đối nội, đối ngoại để khắc phục
nạn đói, nạn dốt, chống giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng.
Ý nghĩa
Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của Đảng, tinh thần quyết đoán, sáng tạo của
trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong những năm đầu chính quyền cách mạng non trẻ đã đem lại
thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng. chúng ta đã vận dụng một cách “triệt để lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù,
hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc”. Vạch trần và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các
kẻ thù; củng cố, giữ vững và bảo vệ bộ máy chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở và những thành
quả của cuộc Cách mạng tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn, tranh thủ xây dựng thực lực,
chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
6. Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945-1954). (TRANG 60)
Trong giai đoạn 1945-1954, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn đầy cam go và thử thách với hai nhiệm
vụ chiến lược trọng yếu là tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và đồng thời xây dựng, củng
cố chế độ mới – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa giành được độc lập. Đường lối kháng chiến và
xây dựng chế độ mới không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đảm bảo sự
thành công chung của cách mạng Việt Nam.
Trước hết, đường lối kháng chiến là nền tảng bảo vệ chế độ mới, bảo vệ chính quyền cách mạng khỏi sự tấn
công và phá hoại của thực dân Pháp cùng các thế lực phản cách mạng trong và ngoài nước. Kháng chiến toàn
dân, toàn diện không chỉ là cuộc đấu tranh quân sự mà còn là cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm
giữ vững nền độc lập dân tộc vừa giành được. Qua kháng chiến, chính quyền cách mạng có điều kiện rèn
luyện, hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp sức mạnh
toàn dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.
Ngược lại, xây dựng chế độ mới là điều kiện quan trọng để củng cố nội lực cho kháng chiến. Việc xây dựng
và phát triển nền chính trị – xã hội tiến bộ, ổn định tạo nền tảng cho việc huy động sức người, sức của vào
kháng chiến. Chính quyền cách mạng tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách như xóa đói giảm nghèo,
phát triển sản xuất nông nghiệp, cải cách ruộng đất, nâng cao dân trí và sức khỏe nhân dân nhằm cải thiện đời
sống, củng cố lòng tin của nhân dân đối với cách mạng. Qua đó, tạo ra hậu phương vững chắc về chính trị,
kinh tế và tinh thần cho cuộc chiến trường kỳ.
Bên cạnh đó, đường lối kháng chiến cũng định hướng và thúc đẩy xây dựng chế độ mới phù hợp với điều kiện
chiến tranh và hoàn cảnh đất nước. Những chủ trương như “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” được Đảng đề ra
nhằm giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ quan trọng. Việc tổ chức các chính quyền cơ sở, đẩy mạnh phong trào
cách mạng ở nông thôn, phát huy vai trò của liên minh công-nông- trí thức đã góp phần tạo ra thế trận lòng
dân vững chắc, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng chế độ xã hội mới trên nền tảng dân chủ
nhân dân.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới cũng thể hiện ở tính biện chứng
giữa đấu tranh bảo vệ và phát triển. Trong kháng chiến, chính quyền cách mạng không ngừng củng cố sức
mạnh nội bộ, giữ vững ổn định xã hội, đồng thời tiến hành các cải cách xã hội tiến bộ để nâng cao chất lượng
cuộc sống và tinh thần nhân dân, làm cho cuộc kháng chiến có sức lan tỏa sâu rộng, đạt hiệu quả cao hơn.
Ngược lại, việc xây dựng chế độ mới phải dựa trên sự thành công của kháng chiến để bảo vệ độc lập, chủ
quyền quốc gia, từ đó tạo điều kiện cho phát triển đất nước.
Tóm lại, trong giai đoạn 1945-1954, đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới là hai mặt không thể tách
rời, bổ trợ cho nhau nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kết hợp
hài hòa, linh hoạt giữa hai nhiệm vụ này đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống
Pháp, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng sau này.
7. Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị Trung Ương lần thứ 15 (1959)?.
* Hoàn cảnh lịch sử Hội nghị Trung ương lần thứ 15
Sau năm 1954, thế giới chứng kiến sự thay đổi lớn, với Mỹ thúc đẩy chiến lược phản cách mạng và hệ thống
XHCN vươn lên thành đối trọng quan trọng. Về phía Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ, đất nước tạm thời
chia cắt làm hai miền. Miền Bắc tập trung vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương vững chắc
cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Miền Nam, dưới sự chi phối của Mỹ và
chế độ Ngô Đình Diệm, tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để giành độc lập và thống nhất. Mỹ và Diệm
đã xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ và đàn áp mạnh mẽ phong trào cách mạng ở miền Nam, thông qua các chiến
dịch tấn công và luật lệ như Đạo luật 10/59. Trong bối cảnh này, phong trào cách mạng ở miền Nam bị tổn
thất nặng nề, mất mát lớn về cán bộ và cơ sở đảng, tạo ra một tình thế vô cùng nghiêm trọng. Để đáp ứng tình
hình, Đảng cần phải có một đường lối toàn diện và hoàn chỉnh cho cách mạng miền Nam, dựa trên các kết quả
đấu tranh thực tế và bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến.
Nội dung:
Tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết lãnh đạo
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, bàn về phương pháp cách mạng miền Nam là một nội
dung quan trọng của Hội nghị, nhiệm vụ cách mạng miền Nam, cụ thể như sau:
“1- Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân
tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
2- Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến,
đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên
hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của
nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực bảo vệ
hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”(2).
3- Con đường phát triển cơ bản của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân,
là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp
với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách
mạng của nhân dân”(3).
Nghị quyết 15 của ban Chấp hành Trung ương được cán bộ, đảng viên và nhân dân miền Nam khao khát đón
nhận. Đã giải tỏa được những đắng cay, uất ức, những thắc mắc, lo âu, cùng với niềm mong đợi của quần
chúng bị dồn nén suốt bấy lâu. Cán bộ, quần chúng ít ai nghĩ đấu tranh chính trị hay vũ trang là chủ yếu, mà
đều bí mật truyền cho nhau tin “Đảng đã cho đánh rồi!”, “phải làm tới”. Như vậy, Nghị quyết 15 đã thổi bùng
ngọn lửa cách mạng âm ỉ lâu nay thành khí thế đấu tranh sục sôi khắp nông thôn, thành thị và rừng núi của
quần chúng. Hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị,
chấm dứt thời kỳ bị động trước sự khủng bố dã man của địch, thổi bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên toàn miền
Nam.
Lực lượng cách mạng bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, lấy liên minh công – nông
làm nòng cốt, cần xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất riêng phù hợp thực tiễn miền Nam. Nghị quyết nhấn
mạnh vai trò then chốt của Đảng bộ miền Nam trong điều kiện hoạt động bí mật, phải được củng cố vững
mạnh về mọi mặt, xây dựng cơ sở an toàn để bảo vệ lực lượng.
Nghị quyết lần thứ 15 mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh dấu bước ngoặt về nhận thức và phương pháp
đấu tranh cách mạng miền Nam. Nó thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong đánh giá tình
hình và lựa chọn con đường bạo lực cách mạng đúng đắn, phù hợp với tình thế cách mạng đã chín muồi.
Ý nghĩa của Nghị quyết 15 (1959):
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 năm 1959 thể hiện rõ quan điểm độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng
trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm quốc tế, Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến
chống Pháp vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết khẳng định vai trò của bạo lực cách
mạng, đề cao việc xây dựng lực lượng vũ trang để đấu tranh giành chính quyền. Sự ra đời của Nghị quyết đã
tạo bước ngoặt căn bản cho phong trào cách mạng ở miền Nam, đáp ứng nguyện vọng cấp thiết của cán bộ,
đảng viên và quần chúng, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh một phía” của Mỹ và tay sai, đồng thời đặt nền
tảng cho các thắng lợi tiếp theo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới ánh sáng của Nghị quyết,
phong trào Đồng Khởi bùng nổ mạnh mẽ, tạo thế và lực mới cho cách mạng miền Nam. Được đánh giá là sản
phẩm trí tuệ tập thể của toàn Đảng, Nghị quyết đã thể hiện phương pháp cách mạng bạo lực một cách linh
hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế. Đến nay, trong bối cảnh đổi mới và phát triển đất nước, Nghị
quyết vẫn giữ nguyên giá trị về tinh thần độc lập, kiên trì bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
8. Đánh giá nhận định sau: Đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại đại hội III (9/1960)
thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa từng có tiền lệ lịch
sử? (Trang 100)
Đường lối cách mạng được đề ra tại Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 năm 1960 đánh dấu một
bước phát triển quan trọng trong tư duy và phương pháp lãnh đạo của Đảng. Nhận định rằng đường lối này thể
hiện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa từng có tiền lệ lịch sử
là hoàn toàn có cơ sở và đúng đắn.
Trước hết, trong bối cảnh cách mạng Việt Nam đang ở giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, Đảng Lao động Việt Nam đã nhận thức rõ sự thay đổi về quy mô, tính chất và mức độ phức tạp của
cuộc đấu tranh. Đại hội III đã đề ra đường lối cách mạng nhằm vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác – Lênin vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, khẳng định tính độc lập và tự chủ trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Điều
này thể hiện rõ qua việc Đảng không sao chép máy móc các mô hình cách mạng đã có ở các nước khác mà
căn cứ vào thực tiễn, điều kiện lịch sử – xã hội đặc thù của nước ta để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp.
Thứ hai, tính sáng tạo của Đảng được thể hiện trong việc đề ra chủ trương "đẩy mạnh đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở
miền Nam." Đây là một bài toán lịch sử chưa từng có tiền lệ, bởi trước đó, các phong trào cách mạng thường
tập trung vào một mặt trận duy nhất. Việc Đảng chủ động lựa chọn đường lối vừa đấu tranh giải phóng miền
Nam, vừa phát triển miền Bắc đã thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo, đồng thời là sự cân bằng khéo léo giữa yêu
cầu cách mạng với điều kiện thực tế đất nước.
Bên cạnh đó, đường lối Đại hội III cũng phản ánh tính độc lập trong quan điểm phát triển kinh tế – xã hội, xây
dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tự chủ, chủ động phát huy nội lực trong bối cảnh bị bao vây cấm vận.
Đảng đã đặt trọng tâm vào phát triển công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và giáo dục, đồng thời đề
cao vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, một quan điểm tiến bộ chưa từng được
thực hiện đồng bộ trước đó.
Cuối cùng, đường lối cách mạng này không chỉ dừng lại ở lý luận mà được Đảng cụ thể hóa thành các chính
sách, chiến lược và bước đi thực tiễn hiệu quả, góp phần tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong cả hai miền đất
nước, thúc đẩy kháng chiến thắng lợi và phát triển miền Bắc vững chắc.
Tóm lại, đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại Đại hội III năm 1960 thực sự thể hiện
tính độc lập, tự chủ và sáng tạo trong tư duy và hành động của Đảng. Đây là minh chứng cho sự trưởng thành
của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, góp phần
quan trọng vào thắng lợi của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch sử khó khăn, phức tạp và chưa từng có
tiền lệ đó.
9. Phân tích những đặc điểm tình hình miền Bắc khi thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
(1960-1975)? (Trang 101)
Trong giai đoạn 1960-1975, miền Bắc Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong điều kiện
đặc biệt vừa xây dựng kinh tế vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tình hình miền Bắc lúc này có những đặc điểm
nổi bật sau:
Trước hết, về , miền Bắc ổn định tương đối nhờ sự lãnh đạo vững chắc của Đảng Lao động chính trị - xã hội
Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đường lối của Đảng thể hiện rõ trong Đại hội III (9/1960),
khẳng định phát triển công nghiệp nặng, trọng điểm vào các ngành cơ khí, luyện kim, năng lượng và vật liệu
xây dựng. Đồng thời, Đảng tập trung phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân và ổn định xã hội, giữ vững chính
quyền nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa.
Về , miền Bắc duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với quốc doanh làm trung tâm. Đảng đề ra kinh tế
đường lối phát triển công nghiệp nặng là xương sống của nền kinh tế, kết hợp phát triển nông nghiệp tập thể
để đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội. Đây là bước đi chiến lược nhằm tạo nền tảng kinh tế vững
chắc cho đất nước trong tương lai. Công nghiệp hóa được tiến hành đồng bộ, kết hợp với tăng cường phát
triển các ngành công nghiệp chế biến và tiêu dùng.
Tuy nhiên, miền Bắc phải đối mặt với , đặc biệt là khó khăn lớn từ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
các đợt ném bom ác liệt (Chiến dịch Linebacker I và II). Các cuộc chiến tranh phá hoại này gây thiệt hại
nghiêm trọng về cơ sở vật chất, sản xuất công nghiệp và đời sống nhân dân. Nhưng với đường lối kiên định
“vừa chiến đấu vừa sản xuất” và “chiến tranh là động lực để phát triển”, miền Bắc đã vượt qua thử thách, vừa
bảo vệ được Tổ quốc, vừa tiếp tục phát triển kinh tế.
Về , miền Bắc chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề nguồn nhân lực
để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Đường lối của Đảng nhấn mạnh vai trò của khoa học kỹ thuật và lao
động có tay nghề cao trong phát triển sản xuất, coi đó là nhân tố then chốt.
Ngoài ra, miền Bắc nhận được sự như Liên Xô, Trung hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em
Quốc về vốn, kỹ thuật, thiết bị và đào tạo, giúp miền Bắc vượt qua nhiều khó khăn, đẩy mạnh phát triển công
nghiệp.
Tóm lại, đặc điểm tình hình miền Bắc trong giai đoạn 1960-1975 là sự kết hợp giữa đường lối công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa theo kế hoạch tập trung của Đảng, sự ổn định chính trị, tinh thần đoàn kết dân tộc, nguồn
lực con người ngày càng được nâng cao, cùng với ý chí kiên cường trong chiến tranh. Đây là nền tảng quan
trọng để miền Bắc vừa phát triển kinh tế, vừa đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
10. Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ
(1965-1975)?
Sau hai chiến thắng trong các cuộc phản công mùa khô (1965–1966, 1966–1967), Hội nghị Trung ương 13
(1/1967) chủ trương mở mặt trận ngoại giao với Mỹ bên cạnh đấu tranh quân sự, chính trị. Ta đưa ra lập
trường ngoại giao kiên quyết: Mỹ phải chấm dứt ném bom vô điều kiện thì mới đàm phán. Đồng thời, để buộc
Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, Bộ Chính trị phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, gây
chấn động mạnh và buộc Mỹ chuyển hướng chiến lược.
Khi chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao, Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính
trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt
trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên
chiến trường. Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường,
mà trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại
giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã có những bước tiến quan trọng trong
cuộc kháng chiến, nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa hoạt động quân sự, đấu tranh chính trị và
ngoại giao. Việc kết hợp cuộc chiến đấu trên chiến trường với đấu tranh quốc tế đã giúp ta giành được thắng
lợi lớn, khiến quân Mỹ phải giảm cường độ chiến tranh và rút quân về nước. Dù vậy, Mỹ vẫn tiếp tục chiến
lược "Việt Nam hóa chiến tranh", thay thế chiến lược "chiến tranh cục bộ", và mở rộng chiến tranh sang
Campuchia và Lào. Vì vậy, việc tiếp tục đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao càng trở
nên cấp thiết.
Trên chiến trường, trong giai đoạn 1971-1972, quân ta đã thực hiện các đợt hoạt động quân sự mạnh mẽ, đánh
bại nhiều cuộc hành quân, càn quét của quân Mỹ và quân ngụy, đặc biệt là tại các khu vực như Trị Thiên, Khu
5 và miền Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, quân ta cũng đối phó hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
hai của Mỹ, trong đó có cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa
phương khác vào cuối năm 1972. Về mặt chính trị và ngoại giao, ta đã đấu tranh mạnh mẽ trên trường quốc tế,
vạch trần âm mưu của Mỹ và các quốc gia đồng minh của họ, đồng thời tuyên truyền về cuộc kháng chiến
chính nghĩa, làm lên án sự tàn bạo của Mỹ khi sử dụng máy bay B52 để ném bom rải thảm vào thủ đô Hà Nội.
Một yếu tố quan trọng trong chiến thắng của ta là việc tận dụng năm 1972, năm bầu cử tổng thống Mỹ, để gây
sức ép lên chính quyền Mỹ, buộc họ phải nhanh chóng ký kết Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh và lập lại
hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định này chính thức đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, buộc
Mỹ phải rút quân về nước và không thể ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện không có lợi. Mặc dù Mỹ
có sức mạnh quân sự vượt trội, nhưng chiến lược "vừa đánh vừa đàm" của ta đã phát huy hiệu quả, khiến Mỹ
phải chấp nhận thương lượng theo điều kiện của ta.
Sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri, dù cuộc chiến tranh chưa hoàn toàn kết thúc, Đảng ta vẫn khẳng định chỉ có
thể giành thắng lợi toàn diện thông qua con đường bạo lực cách mạng. Đảng đã đưa ra hai khả năng: một là
giành thắng lợi thông qua phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, và hai là tiếp tục chiến tranh cách
mạng để tiến tới chiến thắng hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, phương châm đấu tranh của ta là kết hợp đấu tranh
quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời củng cố thế quân sự để không cho đối phương mở rộng chiến tranh
trở lại.
Cuối năm 1974, khi tình hình chiến trường có lợi cho ta, Đảng ta đã quyết định mở chiến dịch giải phóng
miền Nam, bắt đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên vào tháng 3-1975, trong đó Buôn Ma Thuột là mục tiêu chiến
lược đầu tiên. Thành công của chiến dịch này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng, mở ra khả năng giải phóng
miền Nam nhanh chóng. Chiến dịch Tây Nguyên không chỉ đánh bại quân địch mà còn tạo điều kiện để ta tiếp
tục tiến hành các chiến dịch lớn khác, tiến tới giải phóng Sài Gòn.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo và quyết đoán trong chỉ đạo
của Đảng. Nhờ sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, ta đã thay đổi hoàn toàn thế chiến
trường và làm suy yếu đối phương. Cuộc tổng tiến công này đã dẫn đến chiến thắng vang dội, hoàn thành
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giành lại độc lập cho dân tộc vào ngày 30-4-1975.
Tóm lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta là một minh chứng cho sức mạnh của sự kết hợp
giữa chiến tranh quân sự, đấu tranh chính trị và ngoại giao. Chính nhờ chiến lược "vừa đánh vừa đàm", sự
kiên trì và sáng tạo của Đảng ta, cùng với sự ủng hộ của quần chúng và sự hỗ trợ quốc tế, ta đã đánh bại hoàn
toàn chiến lược của Mỹ, giành lại độc lập cho đất nước và thống nhất đất nước.
Câu 11: Khái lược và đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng
(1975-1985)
Phần 1: Khái lược quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975-1985)
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn và thách thức
trong việc phát triển kinh tế – xã hội và ổn định đất nước. Giai đoạn 1975-1985 được coi là thời kỳ tìm tòi,
khảo nghiệm những bước đi đầu tiên trong công cuộc đổi mới nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp đã bộc lộ rõ.
Ngay từ cuối những năm 1970, Đảng đã nhận thấy tình hình kinh tế xã hội đất nước còn nhiều bất cập như sản
xuất trì trệ, thiếu nguyên vật liệu, đời sống nhân dân khó khăn, hệ thống quản lý cồng kềnh và chưa phù hợp
với điều kiện phát triển mới. Do đó, Đảng đã chủ trương thí điểm, thử nghiệm nhiều chính sách đổi mới kinh
tế nhằm thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và cải thiện đời sống nhân dân.
Năm 1979, Hội nghị Trung ương 5 (khóa IV) đã nhấn mạnh việc “phát huy sở hữu toàn dân, đồng thời khuyến
khích mọi thành phần kinh tế phát triển phù hợp với chủ nghĩa xã hội”. Đây là một bước mở đầu quan trọng
nhằm đa dạng hóa thành phần kinh tế, không còn chỉ tập trung vào kinh tế quốc doanh mà bắt đầu thí điểm và
cho phép kinh tế tư nhân, hợp tác xã phát triển.
Trong giai đoạn này, các mô hình kinh tế mới được triển khai như tăng cường tự quản lý, thí điểm phân phối
theo năng suất lao động, khuyến khích sản xuất hàng hóa… Những chính sách này tuy chưa mang tính toàn
diện nhưng đã mở đường cho các bước đổi mới mạnh mẽ hơn sau này.
Đồng thời, Đảng cũng tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu thực trạng kinh tế, lắng nghe ý kiến các tầng
lớp nhân dân và cán bộ, từ đó rút ra những bài học về mặt chính sách và quản lý để chuẩn bị cho công cuộc
đổi mới toàn diện sau này.
Phần 2: Đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975-1985)
Quá trình tìm tòi, khảo nghiệm trong giai đoạn 1975-1985 có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử phát triển
của cách mạng Việt Nam. Đây là thời kỳ thử nghiệm các chính sách nhằm thích nghi với thực tiễn mới, đồng
thời chuẩn bị nhận thức và tư duy đổi mới trong toàn Đảng.
Mặc dù các chính sách đổi mới trong giai đoạn này còn hạn chế và chưa thực sự hiệu quả, nhiều nơi còn duy
trì lối quản lý cũ, nhưng những nỗ lực thí điểm đã làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung và hệ thống quản lý quan liêu, bao cấp.
Điều này góp phần quan trọng tạo tiền đề lý luận và thực tiễn để Đảng có cơ sở tổng kết, đánh giá và đưa ra
quyết định đổi mới toàn diện vào cuối thập niên 1980 – cụ thể là Đại hội VI (1986), mở ra kỷ nguyên mới cho
công cuộc đổi mới đất nước.
Quá trình này cũng thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm của Đảng trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó
khăn, đồng thời thể hiện tính khoa học khi lấy thực tiễn làm thước đo để điều chỉnh chính sách.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận hạn chế là quá trình tìm tòi này chưa thực sự mạnh mẽ, còn bị cản trở bởi tư
tưởng bảo thủ, e dè và những quan điểm cứng nhắc trong Đảng, khiến đổi mới chưa được triển khai sâu rộng
và đồng bộ.
Tóm lại, giai đoạn 1975-1985 là bước chuẩn bị quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện, thể hiện sự
chuyển biến tư duy trong lãnh đạo Đảng, góp phần đưa đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và từng
bước phát triển bền vững hơn trong những năm sau.
12. Vì sao Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đường lối mới tại đại hội VI (1986) là một tất yếu? Theo
anh/chị, ý nghĩa của đổi mới đối với sự phát triển đất nước hiện nay là gì?
Khủng hoảng kinh tế - xã hội: Sau nhiều năm xây dựng nền kinh tế theo mô hình tập trung, bao cấp, đất
nước rơi vào khủng hoảng. Sản xuất trì trệ, thiếu hụt hàng hóa cơ bản, lạm phát cao và đời sống nhân dân
gặp khó khăn. Điều này khiến Đảng nhận ra sự bất hợp lý trong cơ chế cũ và cần thiết phải có sự thay đổi
mạnh mẽ.
Định hướng phát triển không phù hợp: Mặc dù Đảng đã xác định các nhiệm vụ chiến lược cho việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng việc áp dụng mô hình kinh tế tập trung, quan liêu đã không thể giải quyết được
các vấn đề thực tế. Cơ cấu sản xuất thiếu hiệu quả, quá chú trọng công nghiệp nặng mà bỏ qua phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Sự thay đổi trong nhận thức và yêu cầu của thời đại: Đảng nhận thấy cần phải thay đổi tư duy, nhất là tư
duy kinh tế, để thích ứng với thực tiễn và xu thế phát triển của thế giới. Đại hội VI đánh dấu sự chuyển mình
quan trọng từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện cho phát
triển bền vững.
Yêu cầu phát triển kinh tế gắn với ổn định xã hội: Để đạt được mục tiêu ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, cần phải có một chiến lược phát triển kinh tế hợp lý, chú trọng vào việc phát triển nông nghiệp, công
nghiệp nhẹ và xuất khẩu, điều này đòi hỏi phải thực hiện các cải cách về cơ cấu sản xuất và phân phối.
Khuyến khích sáng tạo và tự chủ trong sản xuất: Cải cách cần thiết để kích thích sản xuất, khôi phục động
lực phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (1986) đã chỉ rõ phải đổi mới cơ chế
quản lý, tách biệt chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý kinh doanh, tạo ra
quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế.
Ý nghĩa:
1. Thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội:
Đổi mới đã giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân
dân.
2. Tạo bước ngoặt trong tư duy lãnh đạo:
Đổi mới đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng, đặc biệt là trong kinh tế, khi
chuyển từ bao cấp sang quản lý theo cơ chế thị trường, tôn trọng quy luật khách quan và phát huy vai trò của
các thành phần kinh tế.
3. Mở rộng hội nhập quốc tế:
Đổi mới giúp Việt Nam mở cửa, tăng cường hợp tác với các nước, từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu.
4. Tăng cường sức mạnh nội lực:
Chính sách đổi mới giúp khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo và quyền tự chủ của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp – từ đó làm nền tảng cho sự phát triển bền vững.
5. Bảo đảm ổn định chính trị – xã hội:
Thông qua phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, Đổi mới đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
13. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta đặt vấn đề phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với bảo
vệ môi trường? Sinh viên cần làm gì để góp phần thực hiện mục tiêu này?
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai,
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được một số kết quả ban đầu quan trọng. Tuy nhiên, việc ứng
phó vẫn còn bị động, thiên tai ngày càng gây thiệt hại lớn, tài nguyên chưa được khai thác bền vững và ô
nhiễm môi trường gia tăng.
Nghị quyết Trung ương 7 (2016) nhấn mạnh việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài
nguyên, coi đây là vấn đề quan trọng quyết định sự phát triển bền vững. Các giải pháp bao gồm quản lý tổng
hợp, liên ngành và liên vùng, đánh giá đầy đủ giá trị tài nguyên và phát triển bền vững, nhằm bảo vệ tài
nguyên quốc gia, khai thác hiệu quả và kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.
+ Tăng trưởng kinh tế phải bền vững: Mặc dù CNH-HĐH mang lại sự phát triển về kinh tế, nhưng
nếu không chú trọng đến bảo vệ môi trường, việc tăng trưởng có thể không bền vững. Ô nhiễm môi trường,
suy thoái tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu sẽ đe dọa đến sự ổn định và phát triển lâu dài của đất
nước. Đảng ta nhận thức rằng phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường để bảo đảm sự phát triển toàn diện
và lâu dài.
+ Bảo vệ sức khỏe cộng đồng: Việc phát triển công nghiệp hóa mà không chú trọng đến bảo vệ môi
trường có thể dẫn đến ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất đai, gây ra các bệnh tật cho cộng đồng. Đặc biệt là
khi các KCN, làng nghề, hay các khu đô thị phát triển nhanh chóng mà không có hệ thống xử lý chất thải hợp
lý. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng sống mà còn gây ra gánh nặng cho hệ thống y tế.
+ Khắc phục tác động của công nghiệp hóa: Quá trình CNH-HĐH có thể gây ra sự gia tăng các vấn đề
về ô nhiễm và suy thoái tài nguyên. Nếu không có các biện pháp bảo vệ môi trường, các tác động tiêu cực sẽ
ảnh hưởng đến cả các thế hệ hiện tại và tương lai. Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng
ghép yếu tố bảo vệ môi trường vào chiến lược phát triển, để tránh những tổn hại không thể khắc phục được.
+ Đảm bảo sự phát triển đồng đều và công bằng: Việc phát triển công nghiệp, đô thị hóa nếu không
có sự kiểm soát môi trường sẽ dẫn đến sự mất cân đối, làm trầm trọng thêm các vấn đề như nghèo đói, sức
khỏe kém và bất công xã hội. Đảng ta xác định rằng một trong những mục tiêu của phát triển bền vững là bảo
vệ môi trường không chỉ vì lợi ích của hiện tại mà còn để bảo vệ quyền lợi của các thế hệ tương lai, nhằm
giảm thiểu sự phân hóa giữa các vùng miền, các tầng lớp trong xã hội.
+ Hướng tới mô hình tăng trưởng xanh: Đảng ta đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xanh, thân thiện
với môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội
phát triển các ngành nghề, công nghệ mới như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, sản xuất sạch, từ đó tạo
ra các giá trị kinh tế bền vững và mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước.
=> Coi trọng sự phát triển bền vững, đánh giá được tầm quan trọng của môi trường và tình trạng môi trường,
-> nếu quá chú trọn gcnh, hdh mà bỏ đi yếu tố môi trường sẽ gây mất cân bằng nghiêm trọng, dẫn tới các hậu
quả thiên tai, sự cố thiên nhiên không đong đếm được. cả hai phải cùng được chú trọng, vừa phát triển cn, hd
hoá đất nước vừa chú trọng bảo vệ môi trường để bảo toàn được sự phát triển bền vững về mọi mặt của đất
nước.
Sinh viên cần:
1. Sinh viên cần hiểu rõ vai trò của môi trường trong phát triển Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường:
bền vững, tham gia tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về các vấn đề như ô nhiễm và biến đổi khí hậu.
2. Vận dụng kiến thức học được để nghiên cứu, thực hiện các dự án liên Ứng dụng kiến thức vào thực tế:
quan đến công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, sản xuất sạch...
3. Chủ động tham gia phong trào như trồng cây, thu gom rác, tổ chức hội Tham gia hoạt động môi trường:
thảo, sinh hoạt CLB môi trường để lan tỏa hành động tích cực.
4. Lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường vào các đề tài nghiên cứu, học Thúc đẩy mô hình phát triển xanh:
tập như tái chế, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ nguồn nước sạch...
5. Áp dụng thói quen sống thân thiện với môi trường như tiết kiệm điện, hạn chế Thực hành lối sống xanh:
rác nhựa, tái chế và dùng phương tiện công cộng.
6. Lựa chọn ngành học, công việc liên quan đến bảo vệ môi trường như Định hướng nghề nghiệp bền vững:
công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, khoa học môi trường...
7. Đưa ra ý tưởng, giải pháp mới giúp giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên Phát huy sáng kiến sáng tạo:
và hỗ trợ doanh nghiệp, địa phương hướng tới phát triển bền vững.
14. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một
tất yếu? Yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn này?
Đảng, Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức phân phối, chủ
yếu phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì cần phát triển đất nước trong
bối cảnh nghèo nàn, lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá. Trước đây, Việt Nam đã áp dụng mô hình kinh tế kế
hoạch tập trung kiểu Xô-viết, nhưng nó bộc lộ nhiều khuyết điểm, nhất là trong giai đoạn hòa bình, dẫn đến trì
trệ và không phát triển hiệu quả. Sau Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức được cần đổi
mới, chấp nhận kinh tế hàng hóa và thị trường, đồng thời hướng đến xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội IX
(2001) chính thức khẳng định "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" là con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, kết hợp giữa lợi ích cá nhân, xã hội và quản lý của nhà nước, nhằm phát triển kinh tế và xây dựng xã
hội công bằng, dân chủ.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, kết hợp giữa kinh tế thị trường và các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội. Mô hình này không
phải là kinh tế thị trường tự do kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp. Đảng Cộng sản Việt
Nam đã chọn mô hình này nhằm phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và hướng tới mục
tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Kinh tế này bao gồm nhiều hình thức sở hữu, với vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước và các thành phần kinh tế khác. Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua chiến lược, kế
hoạch, và chính sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy sản xuất và phát triển xã hội. Mục tiêu
chính là phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nền văn hóa, giáo dục phù hợp với điều
kiện của Việt Nam. Mô hình này không đơn thuần là sự chuyển đổi kinh tế mà còn hướng đến mục tiêu xây
dựng xã hội chủ nghĩa hiện đại, khắc phục những hạn chế của các cơ chế kinh tế trước đây.
Sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là việc phát triển
lý luận chủ nghĩa xã hội, mà còn là một lựa chọn và khẳng định con đường phát triển thực tiễn mang tính cách
mạng và sáng tạo. Đây là quá trình tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển thời đại và đáp ứng yêu cầu phát
triển của đất nước. Tuy nhiên, việc phát triển mô hình này là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp và lâu dài, vì
còn mới mẻ, chưa có tiền lệ, và cần phải nghiên cứu, tổng kết, và rút kinh nghiệm. Các vấn đề lý luận, như
chế độ sở hữu, quản lý doanh nghiệp nhà nước, công bằng xã hội, và tăng cường sức mạnh của Nhà nước xã
hội chủ nghĩa, cần được làm sáng tỏ qua thực tiễn. Với phương châm "Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ
cho câu trả lời", hy vọng các vấn đề này sẽ được giải quyết từng bước, góp phần làm phong phú lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời đại hiện nay.
15. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 9 khoá XI (2014), Đảng ta đưa ra quan điểm: “Văn hoá là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bình vững đất nước”. Hãy trình bày ý kiến của
anh/chị về quan điểm trên?
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước – quan điểm
được Đảng ta khẳng định tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI năm 2014 không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu
sắc mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển toàn diện của đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là một định hướng đúng đắn, khẳng định vai trò trung tâm của văn
hóa trong sự nghiệp phát triển quốc gia bền vững.
Trước hết, khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, tức là thừa nhận văn hóa giữ vai trò cốt lõi trong
việc hình thành nhân cách con người, tạo dựng bản sắc dân tộc và điều chỉnh hành vi ứng xử trong cộng đồng.
Văn hóa bao gồm các giá trị truyền thống, đạo đức, phong tục, lối sống, tín ngưỡng, tri thức… góp phần tạo
nên tính ổn định và bản lĩnh của một dân tộc. Không có nền tảng văn hóa vững vàng, xã hội sẽ mất phương
hướng, dễ bị xâm nhập bởi những lối sống lệch chuẩn, thực dụng, gây nên sự khủng hoảng về đạo đức, niềm
tin và lối sống.
Thứ hai, văn hóa không chỉ là nền tảng, mà còn là mục tiêu của sự phát triển. Một đất nước phát triển thực sự
không chỉ dừng lại ở việc tăng trưởng kinh tế, mà còn phải đảm bảo sự phát triển toàn diện về đời sống tinh
thần, giáo dục, đạo đức và thẩm mỹ. Vì vậy, phát triển văn hóa chính là nâng cao chất lượng sống, nâng tầm
trí tuệ và nhân cách con người – điều làm nên chiều sâu của sự phát triển quốc gia. Văn hóa hướng tới sự hoàn
thiện con người, tạo nên một xã hội nhân văn, công bằng và văn minh.
Không những thế, văn hóa còn là động lực phát triển. Văn hóa khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên,
tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, thúc đẩy sự sáng tạo trong học tập, lao động và sản xuất. Đặc biệt, trong
nền kinh tế tri thức hiện nay, con người là yếu tố trung tâm và văn hóa chính là cái nuôi dưỡng, phát triển con
người ấy. Một dân tộc có bản sắc văn hóa mạnh mẽ sẽ tạo nên nội lực lớn để vượt qua khó khăn, thích ứng
nhanh với sự thay đổi của thế giới.
Tuy nhiên, để phát huy vai trò của văn hóa, cần có chính sách cụ thể và đồng bộ. Nhà nước cần tăng cường
đầu tư cho giáo dục, nghệ thuật, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, khuyến khích sáng tạo văn hóa trong giới trẻ.
Đồng thời, cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bài trừ các hiện tượng văn hóa lai căng, phản cảm.
Bên cạnh đó, mỗi người dân cũng cần có ý thức giữ gìn, tôn vinh và phát huy văn hóa truyền thống trong đời
sống hàng ngày.
Tóm lại, quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước” thể hiện rõ tư duy phát triển toàn diện của Đảng ta. Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng và phát triển văn
hóa không chỉ là nhu cầu tất yếu mà còn là điều kiện quyết định để đưa đất nước tiến lên hiện đại, hội nhập
nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng. Mỗi chúng ta cần hiểu rõ vai trò của văn hóa và hành động thiết thực để
vun đắp nền tảng ấy vững bền qua từng thế hệ.
16. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá là một
tất yếu? Nêu khó khăn, thách thức để thực hiện đường lối này trong giai đoạn hiện nay.
Từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIII (2021), Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước phát triển và hoàn thiện
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Đại hội VI khởi xướng công cuộc đổi mới, mở rộng quan hệ quốc tế, phá
thế bao vây, cấm vận trong khi vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ. Đại hội VII làm rõ mối quan hệ giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa.
Từ Đại hội VIII, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập
quốc tế. Đại hội IX, X và XI tiếp tục làm sâu sắc mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập, khẳng định
nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không để bị lệ thuộc. Đến Đại hội XII và XIII, Đảng xác định đây là một
trong những mối quan hệ lớn cần giải quyết, tiếp tục khẳng định rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trong
bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì
những lý do sau:
Bối cảnh quốc tế thay đổi sâu sắc: Thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa mạnh mẽ với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời, cục diện
quốc tế có nhiều biến động như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột lợi ích quốc gia, khủng
hoảng kinh tế và các thách thức an ninh phi truyền thống. Trong bối cảnh đó, nếu chỉ phụ thuộc vào một vài
đối tác thì sẽ dễ bị tổn thương, hạn chế không gian chiến lược.
Bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc: Đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại
với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, từ đó khai thác tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển
kinh tế - xã hội, đồng thời giữ vững được độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ: Đa phương hóa, đa dạng hóa là biểu hiện sinh động của
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ – tức là không lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia hay khối nào, mọi quyết định
đều dựa trên lợi ích quốc gia và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện: Trong quá trình đổi mới, Việt Nam chủ trương chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế. Muốn hội nhập hiệu quả thì tất yếu phải mở rộng quan hệ đối ngoại trên nhiều lĩnh
vực, với nhiều đối tác, trong nhiều tổ chức khu vực và toàn cầu.
Tóm lại, đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa là yêu cầu khách quan và phù hợp với xu thế thời đại, giúp
Việt Nam vừa bảo vệ vững chắc lợi ích dân
tộc, vừa chủ động vươn lên khẳng định vị thế trong cộng đồng quốc tế.
Trong bối cảnh khu vực và thế giới diễn biến phức tạp với nhiều thách thức như cạnh tranh chiến lược giữa
các nước lớn, tranh chấp lãnh thổ, khủng hoảng kinh tế, và các vấn đề an ninh phi truyền thống, đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò then chốt trong bảo vệ lợi ích
quốc gia - dân tộc. Được hình thành qua các thời kỳ cách mạng và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn đổi mới
và hội nhập quốc tế, đường lối này nhấn mạnh việc giữ vững độc lập, tự chủ trên mọi phương diện, đồng thời
chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Đảng ta xác định cần xử lý hài hòa các mối quan hệ: giữa độc
lập, tự chủ với hội nhập; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa nội lực và ngoại lực; giữa sức mạnh
dân tộc và sức mạnh thời đại. Đường lối này không chỉ bảo đảm sự tự chủ chiến lược mà còn góp phần khẳng
định vị thế Việt Nam là đối tác tin cậy, có trách nhiệm, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
17. Trình bày ý kiến của anh/chị về chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này?
Chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới là một quyết sách chiến lược đúng
đắn, phản ánh tầm nhìn sâu rộng và linh hoạt của Đảng trước những biến động phức tạp của tình hình khu vực
và thế giới. Hội nhập quốc tế không chỉ là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa mà còn là phương
thức quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc tế và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền quốc gia.
Trước hết, hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tận dụng các cơ hội từ toàn cầu hóa để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã mở
rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, hội nhập quốc tế là cơ sở để Việt Nam nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Bằng việc thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, Việt Nam đã trở thành đối tác
tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam bảo vệ lợi
ích quốc gia mà còn đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Thứ ba, hội nhập quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp
hòa bình. Thông qua việc thiết lập và củng cố các mối quan hệ quốc phòng song phương và đa phương, Việt
Nam đã xây dựng được môi trường quốc tế thuận lợi, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ.
Tuy nhiên, để hội nhập quốc tế thực sự hiệu quả, cần phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và
hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ là nền tảng để hội nhập sâu rộng, trong khi hội nhập quốc tế là phương tiện
để củng cố và phát huy độc lập, tự chủ. Việc kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại sẽ
tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam vững vàng trước những thách thức và biến động của tình hình thế
giới.
Tóm lại, chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới là một bước đi chiến lược,
phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện thực tiễn của đất nước. Việc thực hiện hiệu quả chủ
trương này sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa Việt Nam phát triển nhanh
và bền vững trong thời kỳ mới.
18. Theo anh/chị, tại sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc tế
toàn diện? Hãy phân tích lợi ích và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Vì sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện?
Hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên vì kinh tế là lĩnh vực nền tảng, có tính chất mở đường cho
các lĩnh vực khác như chính trị, quốc phòng, văn hóa – xã hội, khoa học – công nghệ… Việc mở cửa kinh tế
không chỉ tạo động lực cho phát triển trong nước mà còn giúp xây dựng lòng tin, thúc đẩy quan hệ đối tác, tạo
tiền đề cho sự hội nhập sâu rộng và toàn diện.
Ngoài ra, kinh tế là lĩnh vực dễ tìm được lợi ích chung giữa các quốc gia và thường ít nhạy cảm hơn so với
quốc phòng hay chính trị. Vì vậy, nó đóng vai trò như “cánh cửa” ban đầu để bước vào tiến trình hội nhập
toàn diện, từng bước nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
2. Phân tích lợi ích và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế
Lợi ích:

Preview text:

Câu 1: Bằng lý luận Mác Lenin, tư tưởng HCM và thực tiễn những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế ký
XX, chứng minh rằng ĐCSVN ra đời là một tất yếu khách quan
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ chính những bài học thực tiễn trong
nước cũng như quốc tế vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam là một tất yếu khách quan. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn
giữa giai cấp thống trị và bị trị là tất yếu và không thể điều hòa. Cuộc đấu tranh giai cấp, đặc biệt là của giai
cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản, là con đường dẫn đến sự thay đổi xã hội triệt để, từ chế độ bóc lột
sang xã hội công bằng, không có giai cấp. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ vai trò lịch sử của giai cấp công
nhân trong việc lãnh đạo cách mạng, thiết lập nhà nước vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng này
được Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, trong bối cảnh đất nước đang
rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về đường lối cứu nước sau nhiều thất bại của các phong trào yêu nước
mang khuynh hướng phong kiến và tư sản.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa tại Việt Nam, khiến nhân dân lâm vào
cảnh lầm than. Các phong trào yêu nước lần lượt nổi lên như Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục,
Duy Tân, Việt Nam Quốc dân đảng… nhưng đều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn và lực lượng lãnh đạo
hiệu quả. Trong khi đó, trên thế giới, chủ nghĩa đế quốc đang bước vào giai đoạn tột cùng của sự bóc lột, đàn
áp các dân tộc thuộc địa. Tuy nhiên, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tạo nên luồng
ánh sáng mới cho các dân tộc bị áp bức, khẳng định rằng con đường cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của
một chính đảng kiểu mới là hoàn toàn khả thi. Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản năm 1919 và sự truyền bá
mạnh mẽ của chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc, sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước, đã sớm tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, tin
tưởng tuyệt đối vào con đường cách mạng vô sản. Người không những truyền bá lý luận Mác – Lênin vào Việt
Nam mà còn tổ chức, huấn luyện cán bộ cách mạng, xây dựng tổ chức như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên. Từ năm 1929, các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện như Đông Dương Cộng sản Đảng, An
Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Tuy nhiên, ba tổ chức này lại hoạt động riêng rẽ,
tranh chấp ảnh hưởng, dẫn đến yêu cầu cấp bách về sự thống nhất.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được
tổ chức tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc). Tại đây, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức được thành
lập, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Việc thành lập Đảng không chỉ là sự kết tinh lý
luận chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là đáp án đúng đắn cho yêu cầu bức thiết của
phong trào đấu tranh trong nước lúc bấy giờ. Chánh cương, sách lược vắn tắt và chương trình hành động được
thông qua tại hội nghị thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhất quán, định hướng cho cách mạng Việt Nam phát triển lâu dài.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa lý luận cách mạng khoa học và
phong trào cách mạng thực tiễn, giữa tinh thần yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Nó không chỉ khắc
phục được tình trạng khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo, mà còn mở ra một thời kỳ mới cho dân
tộc Việt Nam – thời kỳ đấu tranh có tổ chức, có lý luận cách mạng đúng đắn, có lực lượng lãnh đạo tiên phong
dẫn dắt nhân dân giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam là một bước ngoặt vĩ đại, một tất yếu khách quan của lịch sử Việt Nam trong thời đại mới.
Câu 2: Phân tích nội dung cơ bản, ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội Nghị thành
lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (02/1930) trang 27
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản diễn ra vào đầu tháng 2 năm
1930 tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung Quốc) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì không chỉ đánh dấu sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn thông qua một văn kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: **Cương
lĩnh chính trị đầu tiên** của Đảng (thường được gọi là “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và
“Chương trình tóm tắt”). Cương lĩnh này đã xác định rõ đường lối cách mạng, mục tiêu, lực lượng, phương
pháp và vai trò lãnh đạo của Đảng, đặt nền móng lý luận và phương hướng hành động cho toàn bộ sự nghiệp
cách mạng dân tộc Việt Nam về sau.
Trước hết, Cương lĩnh đã xác định đúng đắn và kịp thời **mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam** là
làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Trong đó, cách mạng tư sản
dân quyền là bước đi đầu tiên nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và trao ruộng đất
cho nông dân. Đây là một bước phát triển vượt bậc về nhận thức lý luận so với các phong trào yêu nước trước
đó, vốn còn mơ hồ về mục tiêu và con đường đấu tranh. Việc đặt cách mạng dân tộc lên hàng đầu phản ánh
tinh thần yêu nước sâu sắc, đồng thời thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ hai, Cương lĩnh nêu rõ **nhiệm vụ cụ thể của cách mạng**, bao gồm: đánh đổ đế quốc Pháp và phong
kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; tổ chức chính quyền công nông binh; tịch thu ruộng đất
của đế quốc, địa chủ chia cho dân cày nghèo; thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, phổ cập giáo dục, thực hiện
ngày làm việc 8 giờ… Những nội dung này thể hiện rõ lập trường giai cấp công nhân, lấy lợi ích của đa số
quần chúng lao động làm trung tâm, đồng thời mang tính cách mạng triệt để và tiến bộ. Cương lĩnh cũng thể
hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa **nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ**, phản ánh đúng đặc điểm của
xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến.
Về **lực lượng cách mạng**, Cương lĩnh nhấn mạnh vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân và xác định các
lực lượng quan trọng khác là nông dân, tiểu tư sản trí thức, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của tư sản dân tộc,
trung tiểu địa chủ trong giai đoạn đầu. Đây là một sự nhận thức đúng đắn và sắc bén, đặt giai cấp công nhân –
giai cấp tiên tiến nhất – vào vị trí lãnh đạo cách mạng, đồng thời xây dựng khối liên minh công – nông và mở
rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Việc xác định chính xác các lực lượng xã hội phù hợp đã tạo nên nền tảng
chính trị vững chắc cho sự nghiệp cách mạng sau này.
Cương lĩnh cũng đề cập đến **vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam**, được xác định là đội tiên phong của
giai cấp công nhân, giữ vai trò lãnh đạo duy nhất đối với phong trào cách mạng. Đây là một nhận thức cách
mạng sâu sắc, phù hợp với lý luận Mác – Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng tiên phong trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Đảng được xác định là tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, gắn bó mật thiết
với quần chúng, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, bảo đảm cho cách mạng đi đúng hướng.
**Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên** là vô cùng to lớn. Thứ nhất, văn kiện này đã đánh dấu bước
trưởng thành vượt bậc về tư duy lý luận và đường lối cách mạng của phong trào yêu nước Việt Nam. Lần đầu
tiên trong lịch sử, một lực lượng chính trị đã đưa ra được cương lĩnh cách mạng có tính khoa học, cách mạng
và phù hợp với thực tiễn dân tộc. Thứ hai, Cương lĩnh trở thành kim chỉ nam cho phong trào cách mạng Việt
Nam, giúp thống nhất nhận thức, hành động và định hướng phát triển lâu dài cho cả dân tộc. Dưới ánh sáng
của Cương lĩnh, Đảng đã tập hợp được các tầng lớp nhân dân, mở đầu cho cao trào cách mạng 1930 – 1931
với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ – Tĩnh. Thứ ba, Cương lĩnh chính trị đầu tiên khẳng định đường lối độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – tư tưởng lớn xuyên suốt quá trình cách mạng của Đảng ta cho đến ngày nay.
Tóm lại, Cương lĩnh chính trị được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng vào tháng 2 năm 1930 là văn kiện
lịch sử có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện sự kết tinh giữa lý luận cách mạng tiên tiến và thực tiễn phong trào đấu
tranh yêu nước ở Việt Nam. Văn kiện này không chỉ là nền tảng tư tưởng – chính trị cho Đảng trong những
ngày đầu thành lập, mà còn là kim chỉ nam cho cả quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX và cả hiện tại. Đó là minh chứng rõ ràng cho vai trò lãnh đạo đúng đắn và sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng
sản Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Câu 3: 3. Phân tích nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám
năm 1945? Liên hệ với việc nắm bắt thời cơ hiện nay của Việt Nam. trang 60
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết tinh của tinh thần yêu nước, sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là ĐCSVN), và đặc biệt là nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ tài tình,
sáng suốt. Trong điều kiện đất nước chịu ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, sự nghiệp giải phóng
dân tộc vốn vô cùng gian nan. Tuy nhiên, chính nhờ sự chủ động chuẩn bị lực lượng, phân tích tình hình chính
trị trong nước và quốc tế một cách nhạy bén, Đảng ta đã tạo ra và chớp lấy thời cơ một cách nhanh chóng, dứt
khoát, dẫn tới cuộc tổng khởi nghĩa thắng lợi trong vòng chưa đầy hai tuần.
Trước hết, về nghệ thuật tạo thời cơ, Đảng ta đã không bị động chờ đợi thời cơ đến mà chủ động chuẩn bị lực
lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng suốt quá trình từ khi Nhật vào Đông Dương (1940)
cho đến năm 1945. Đảng phát động phong trào “Phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói”, xây dựng Việt Minh,
thành lập khu căn cứ địa Việt Bắc, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân. Đồng thời, Đảng cũng chủ động đề ra
khẩu hiệu "đánh đuổi phát xít Nhật - thực dân Pháp", tập hợp lực lượng rộng rãi, đặc biệt sau khi Nhật đảo
chính Pháp (9/3/1945), Đảng đã đề cao khẩu hiệu “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, chỉ đạo
phát triển lực lượng vũ trang và bán vũ trang, tổ chức các cuộc khởi nghĩa từng phần, tập dượt cho tổng khởi nghĩa.
Khi thời cơ lịch sử thực sự đến vào giữa tháng 8 năm 1945 – tức là sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh, chính quyền tay sai Nhật rơi vào tình trạng hoảng loạn, hỗn loạn – Đảng ta đã thể hiện tài năng xuất sắc
trong nghệ thuật chớp thời cơ. Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Ngày 16/8, Hội
nghị toàn quốc của Đảng diễn ra tại Tân Trào đã ra quyết định tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Trong vòng
một tuần, các địa phương đồng loạt vùng lên giành chính quyền. Đặc biệt, cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày
19/8 đã giành thắng lợi nhanh chóng, tạo hiệu ứng lan tỏa ra cả nước. Ngày 25/8, chính quyền về tay nhân dân
trên phạm vi cả nước. Việc chủ động phát động khởi nghĩa đúng thời điểm – khi kẻ thù hoàn toàn mất khả
năng kiểm soát, chính quyền tay sai rã rời, trong khi nhân dân sục sôi khí thế – thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh và
sự quyết đoán chiến lược hiếm có của Đảng.
Cách mạng Tháng Tám là một minh chứng lịch sử sống động về việc thời cơ không tự nhiên đến, mà cần
được tạo dựng bằng tầm nhìn chiến lược, sự chuẩn bị kỹ lưỡng, và hành động kịp thời. Nếu chậm trễ, lực
lượng Đồng minh vào Đông Dương và thiết lập lại trật tự thuộc địa, thì cách mạng Việt Nam có thể rơi vào
nguy hiểm, hoặc phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ hơn nữa.
Liên hệ với hiện nay, nghệ thuật nắm bắt thời cơ tiếp tục là yêu cầu quan trọng trong tiến trình phát triển đất
nước. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chuyển đổi số, trí tuệ
nhân tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức đang tạo ra những thời cơ vàng để Việt Nam bứt phá. Đảng
và Nhà nước ta đã nhận thức rõ điều này thông qua các chủ trương như chuyển đổi số quốc gia, xây dựng
chính phủ số, kinh tế số; đẩy mạnh cải cách thể chế, thu hút đầu tư chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực
trình độ cao, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Thời cơ cũng đến từ vị thế chính trị - ngoại giao ngày càng nâng cao của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế
đánh giá là quốc gia ổn định, có tiềm năng tăng trưởng, vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP, RCEP…
cho thấy Việt Nam đang biết cách chủ động hội nhập, chứ không bị động hòa nhập.
Tuy nhiên, thách thức đi cùng thời cơ. Nếu thiếu chuẩn bị lực lượng, thiếu quyết đoán, hoặc để nội tại yếu
kém làm chậm bước đi, Việt Nam có thể để tuột mất cơ hội phát triển. Do đó, việc học tập tinh thần “tạo thời
cơ và chớp thời cơ” của Cách mạng Tháng Tám cần được vận dụng linh hoạt trong bối cảnh hiện đại: đầu tư
vào giáo dục, công nghệ, thể chế và con người để đón bắt dòng chảy của thời đại.
Tóm lại, nghệ thuật tạo và chớp thời cơ của Đảng trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là một bài học
kinh điển về tầm nhìn chiến lược và hành động cách mạng đúng thời điểm. Trong thời đại mới, tinh thần ấy
cần tiếp tục được phát huy để đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và sánh vai với các cường quốc như
mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Câu 3: Trình bày đặc điểm tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945?. (TRANG 60)
Cách mạng tháng 8 mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Nó đã phá tan xiềng xích nô lệ của
thực dân Pháp hơn 80 năm và ách thống trị của Phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến trị
ngót chục thế kỷ ở nước ta, lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đánh dấu một kỷ nguyên mới trong
lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do.
Sau ngày tuyên bố độc lập, lịch sử nước Việt Nam bước sang một chặng đường mới với nhiều thuận lợi căn
bản và khó khăn chồng chất. +
Thuận lợi về quốc tế: sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những
sự thay đổi lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô trở thành trung tâm của chủ nghĩa xã hội. Với sự
giúp đỡ của Liên Xô, nhiều nước Đông Trung Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phong trào
giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh phát triển mạnh mẽ. +
Thuận lợi ở trong nước: Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận
nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới. Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh
đạo cách mạng trong cả nước. Đặc biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống
nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân.
=> Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập và là trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc Việt Nam. Quân đội quốc gia và lực lượng Công an; luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn
trương xây dựng và phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới. + Khó khăn về quốc tế:
- Phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thế giới”, ra sức tấn công, đàn
áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam.
- Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi,
khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng. + Khó khăn ở trong nước:
- Hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếu kém về nhiều mặt; hậu
quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 cực kỳ nghiêm trọng.
- Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc này là âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một
lần nữa của thực dân Pháp. Ngày 2-9-1945, quân Pháp đã trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng
ngày độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn-Chợ Lớn.
Rạng sáng ngày 23-9-1945, Thực dân Pháp mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 ở Việt Nam. Từ cuối
tháng 8 năm 1945, theo Hiệp ước Potsdam, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch cùng lực lượng tay sai Việt
Quốc, Việt Cách vào miền Bắc Việt Nam dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất nhằm chống
phá Việt Minh cùng với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ” . Trong khi đó, 6 vạn quân Nhật vẫn còn hiện diện tại Việt Nam.
=> Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam
trước tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong, giặc ngoài.
Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt, là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, nhận định tình hình và
định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền, xác định rõ kẻ thù
chính là thực dân Pháp và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”; mọi hành động phải tập trung
vào nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản,
cải thiện đời sống cho nhân dân”. +
Diệt giặc đói: là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ với các phong trào lớn như tăng
gia sản xuất, hũ gạo tiết kiệm,... Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định,
tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ. +
Diệt giặc dốt: được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, góp
phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đến cuối
năm 1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Đời sống tinh thần của một
bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. +
Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà nước
Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc theo hình thức phổ
thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chính thức.
Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
Sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập (2-9-1945), thực dân Pháp trắng trợn xâm lược Nam Bộ vào đêm 22 rạng
23-9-1945, mở đầu cho cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ. Nhân dân và các lực lượng cách mạng đã
anh dũng chiến đấu, tổ chức chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng, củng cố căn cứ địa. Chính phủ và nhân
dân miền Bắc tích cực chi viện cho miền Nam.
Cùng lúc, để đối phó với âm mưu “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” của quân Tưởng, Đảng, Chính phủ
thực hiện chính sách nhân nhượng có nguyên tắc, triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp - Tưởng. Ký kết Hiệp
định sơ bộ 6-3-1946 để đưa quân Tưởng về nước, tạm thời hòa hoãn với Pháp, đồng thời chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Trong năm 1946, Việt Nam nỗ lực đàm phán ngoại giao với Pháp nhưng không thành công do dã tâm xâm
lược của Pháp. Đảng, Chính phủ đập tan âm mưu đảo chính ở Hà Nội (vụ Ôn Như Hầu), chuẩn bị kháng chiến
toàn diện. Tiến hành tổng di chuyển cơ quan đầu não, củng cố căn cứ địa, thực hiện “vườn không nhà trống” để ngăn chặn Pháp.
Những chủ trương đúng đắn của Đảng, tinh thần quyết đoán của Chính phủ và Hồ Chí Minh đã giúp bảo vệ
chính quyền non trẻ, kéo dài thời gian hòa bình, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.
Nêu cao ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm bảo vệ nền tự do, độc lập. Triệt để lợi
dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch, thực hành nhân nhượng có nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Tăng cường đại đoàn kết dân tộc, dựa vào sự ủng hộ vật chất là chính trị, tinh thần của toàn dân. Phát triển
thực lực cách mạng. Đó là những thành công và kinh nghiệm nổi bật của Đảng trong lãnh đạo cách mạng, giai đoạn 1945-1946.
5. Trình bày chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng những năm 1945-1946?. (TRANG 60)
Hoàn cảnh nước ta sau CMT8
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đứng trước bối cảnh vừa có những thuận lợi cơ bản, vừa gặp phải nhiều
khó khăn to lớn, hiểm nghèo.
Thuận lợi cơ bản là trên thế giới, hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu được hình thành. Phong trào
cách mạng giải phóng dân tộc điều kiện phát triển, trở thành một dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và
hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ. Ở trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ
thổng từ Trung ươnga đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của đất nước. Lực lượng vũ trang
nhân dân được tăng cường. Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Khó khăn nghiêm trọng là hậu quả do chế độ cũ để lại như nạn đói, nạn dốt rất nặng nề, ngân quỹ quốc gia
trống rỗng. Kinh nghiệm quản lý đất nước của cán bộ các cấp non yếu. Nền độc lập của nước ta chưa được
quốc gia nào trên thế giới công nhận, và đặt quan hệ ngoại giao. Với danh nghĩa Đồng minh đến tước khí giới
của phátxít Nhật, quân đội các nước đế quốc ồ ạt kéo vào chiếm đóng Việt Nam và khuyến khích bọn Việt
gian chống phá chính quyền cách mạng nhằm xóa bỏ nền độc lập và chia cắt nước ta. Nghiêm trọng nhất là
quân Anh, Pháp đã đồng lõa với nhau nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
"Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” là những hiểm họa đối với chế độ mới, vận mệnh dân tộc như "ngàn
cần treo sợi tóc", Tổ quốc lâm nguy. Chủ trương của Đảng
Ngày 3-9-1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt, là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm.
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc, vạch con đường đi
lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Chủ trương kháng chiến kiến quốc của Đảng là: +
Về xác định kẻ thù: “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”; +
Về chỉ đạo chiến lược, nêu rõ mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải
phóng” và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”. +
Về phương hướng và nhiệm vụ, mọi hành động phải tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu, trước mắt “là
củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”. cần
nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên
lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài; Đảng chủ trương kiên trì nguyên tắc
thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu "Hoa - Việt thân thiện" đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và "Độc lập
về chính trị, nhân nhượng về kinh tế" đối với Pháp.
Các hành động và biện pháp đề ra +
Diệt giặc đói: là một nhiệm vụ lớn, quan trọng, cấp bách lúc bấy giờ với các phong trào lớn như tăng
gia sản xuất, hũ gạo tiết kiệm,... Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định,
tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam Bộ. +
Diệt giặc dốt: được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới,
góp phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân. Đến cuối
năm 1946, cả nước đã có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Đời sống tinh thần của một
bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. +
Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng: Để khẳng định địa vị pháp lý của Nhà
nước Việt Nam, Đảng và Hồ Chí Minh đã chủ trương sớm tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc vào ngày
6-1-1946 theo hình thức phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội và thành lập Chính phủ chính thức. Bầu cử
thành công đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội
khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 2-3-1946 và lập ra Chính phủ chính thức, gồm
10 bộ và kiện toàn nhân sự bộ máy Chính phủ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Quốc hội đã nhất trí bầu Ban
Thường trực Quốc hội do cụ Nguyễn Văn Tố làm Chủ tịch.
Những quan điểm và chủ trương, biện pháp lớn được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị
kháng chiến, kiến quốc đã chỉ ra kịp thời những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược cách mạng, nhất là
nêu rõ hai nhiệm vụ chiến lược mới của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám là xây đựng đất
nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Đề ra những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể về đối nội, đối ngoại để khắc phục
nạn đói, nạn dốt, chống giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng. Ý nghĩa
Những chủ trương, biện pháp, sách lược và đối sách đúng đắn của Đảng, tinh thần quyết đoán, sáng tạo của
trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoài, thù trong những năm đầu chính quyền cách mạng non trẻ đã đem lại
thắng lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng. chúng ta đã vận dụng một cách “triệt để lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù,
hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc”. Vạch trần và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các
kẻ thù; củng cố, giữ vững và bảo vệ bộ máy chính quyền cách mạng từ Trung ương đến cơ sở và những thành
quả của cuộc Cách mạng tháng Tám; tạo thêm thời gian hòa bình, hòa hoãn, tranh thủ xây dựng thực lực,
chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
6. Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945-1954). (TRANG 60)
Trong giai đoạn 1945-1954, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn đầy cam go và thử thách với hai nhiệm
vụ chiến lược trọng yếu là tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và đồng thời xây dựng, củng
cố chế độ mới – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ vừa giành được độc lập. Đường lối kháng chiến và
xây dựng chế độ mới không tồn tại tách rời mà có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đảm bảo sự
thành công chung của cách mạng Việt Nam.
Trước hết, đường lối kháng chiến là nền tảng bảo vệ chế độ mới, bảo vệ chính quyền cách mạng khỏi sự tấn
công và phá hoại của thực dân Pháp cùng các thế lực phản cách mạng trong và ngoài nước. Kháng chiến toàn
dân, toàn diện không chỉ là cuộc đấu tranh quân sự mà còn là cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm
giữ vững nền độc lập dân tộc vừa giành được. Qua kháng chiến, chính quyền cách mạng có điều kiện rèn
luyện, hoàn thiện bộ máy nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp sức mạnh
toàn dân trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.
Ngược lại, xây dựng chế độ mới là điều kiện quan trọng để củng cố nội lực cho kháng chiến. Việc xây dựng
và phát triển nền chính trị – xã hội tiến bộ, ổn định tạo nền tảng cho việc huy động sức người, sức của vào
kháng chiến. Chính quyền cách mạng tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách như xóa đói giảm nghèo,
phát triển sản xuất nông nghiệp, cải cách ruộng đất, nâng cao dân trí và sức khỏe nhân dân nhằm cải thiện đời
sống, củng cố lòng tin của nhân dân đối với cách mạng. Qua đó, tạo ra hậu phương vững chắc về chính trị,
kinh tế và tinh thần cho cuộc chiến trường kỳ.
Bên cạnh đó, đường lối kháng chiến cũng định hướng và thúc đẩy xây dựng chế độ mới phù hợp với điều kiện
chiến tranh và hoàn cảnh đất nước. Những chủ trương như “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” được Đảng đề ra
nhằm giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ quan trọng. Việc tổ chức các chính quyền cơ sở, đẩy mạnh phong trào
cách mạng ở nông thôn, phát huy vai trò của liên minh công-nông- trí thức đã góp phần tạo ra thế trận lòng
dân vững chắc, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng chế độ xã hội mới trên nền tảng dân chủ nhân dân.
Cuối cùng, mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới cũng thể hiện ở tính biện chứng
giữa đấu tranh bảo vệ và phát triển. Trong kháng chiến, chính quyền cách mạng không ngừng củng cố sức
mạnh nội bộ, giữ vững ổn định xã hội, đồng thời tiến hành các cải cách xã hội tiến bộ để nâng cao chất lượng
cuộc sống và tinh thần nhân dân, làm cho cuộc kháng chiến có sức lan tỏa sâu rộng, đạt hiệu quả cao hơn.
Ngược lại, việc xây dựng chế độ mới phải dựa trên sự thành công của kháng chiến để bảo vệ độc lập, chủ
quyền quốc gia, từ đó tạo điều kiện cho phát triển đất nước.
Tóm lại, trong giai đoạn 1945-1954, đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới là hai mặt không thể tách
rời, bổ trợ cho nhau nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kết hợp
hài hòa, linh hoạt giữa hai nhiệm vụ này đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống
Pháp, đặt nền móng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng sau này.
7. Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Hội nghị Trung Ương lần thứ 15 (1959)?.
* Hoàn cảnh lịch sử Hội nghị Trung ương lần thứ 15
Sau năm 1954, thế giới chứng kiến sự thay đổi lớn, với Mỹ thúc đẩy chiến lược phản cách mạng và hệ thống
XHCN vươn lên thành đối trọng quan trọng. Về phía Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ, đất nước tạm thời
chia cắt làm hai miền. Miền Bắc tập trung vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương vững chắc
cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Miền Nam, dưới sự chi phối của Mỹ và
chế độ Ngô Đình Diệm, tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ để giành độc lập và thống nhất. Mỹ và Diệm
đã xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ và đàn áp mạnh mẽ phong trào cách mạng ở miền Nam, thông qua các chiến
dịch tấn công và luật lệ như Đạo luật 10/59. Trong bối cảnh này, phong trào cách mạng ở miền Nam bị tổn
thất nặng nề, mất mát lớn về cán bộ và cơ sở đảng, tạo ra một tình thế vô cùng nghiêm trọng. Để đáp ứng tình
hình, Đảng cần phải có một đường lối toàn diện và hoàn chỉnh cho cách mạng miền Nam, dựa trên các kết quả
đấu tranh thực tế và bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến. Nội dung:
Tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp Hội nghị lần thứ 15 ra Nghị quyết lãnh đạo
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, bàn về phương pháp cách mạng miền Nam là một nội
dung quan trọng của Hội nghị, nhiệm vụ cách mạng miền Nam, cụ thể như sau:
“1- Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân
tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
2- Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến,
đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên
hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của
nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực bảo vệ
hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới”(2).
3- Con đường phát triển cơ bản của cách mạng ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân,
là con đường “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp
với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách
mạng của nhân dân”(3).
Nghị quyết 15 của ban Chấp hành Trung ương được cán bộ, đảng viên và nhân dân miền Nam khao khát đón
nhận. Đã giải tỏa được những đắng cay, uất ức, những thắc mắc, lo âu, cùng với niềm mong đợi của quần
chúng bị dồn nén suốt bấy lâu. Cán bộ, quần chúng ít ai nghĩ đấu tranh chính trị hay vũ trang là chủ yếu, mà
đều bí mật truyền cho nhau tin “Đảng đã cho đánh rồi!”, “phải làm tới”. Như vậy, Nghị quyết 15 đã thổi bùng
ngọn lửa cách mạng âm ỉ lâu nay thành khí thế đấu tranh sục sôi khắp nông thôn, thành thị và rừng núi của
quần chúng. Hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị,
chấm dứt thời kỳ bị động trước sự khủng bố dã man của địch, thổi bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên toàn miền Nam.
Lực lượng cách mạng bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, lấy liên minh công – nông
làm nòng cốt, cần xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất riêng phù hợp thực tiễn miền Nam. Nghị quyết nhấn
mạnh vai trò then chốt của Đảng bộ miền Nam trong điều kiện hoạt động bí mật, phải được củng cố vững
mạnh về mọi mặt, xây dựng cơ sở an toàn để bảo vệ lực lượng.
Nghị quyết lần thứ 15 mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đánh dấu bước ngoặt về nhận thức và phương pháp
đấu tranh cách mạng miền Nam. Nó thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong đánh giá tình
hình và lựa chọn con đường bạo lực cách mạng đúng đắn, phù hợp với tình thế cách mạng đã chín muồi.
Ý nghĩa của Nghị quyết 15 (1959):
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 năm 1959 thể hiện rõ quan điểm độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng
trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm quốc tế, Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến
chống Pháp vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết khẳng định vai trò của bạo lực cách
mạng, đề cao việc xây dựng lực lượng vũ trang để đấu tranh giành chính quyền. Sự ra đời của Nghị quyết đã
tạo bước ngoặt căn bản cho phong trào cách mạng ở miền Nam, đáp ứng nguyện vọng cấp thiết của cán bộ,
đảng viên và quần chúng, làm thất bại chiến lược “Chiến tranh một phía” của Mỹ và tay sai, đồng thời đặt nền
tảng cho các thắng lợi tiếp theo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới ánh sáng của Nghị quyết,
phong trào Đồng Khởi bùng nổ mạnh mẽ, tạo thế và lực mới cho cách mạng miền Nam. Được đánh giá là sản
phẩm trí tuệ tập thể của toàn Đảng, Nghị quyết đã thể hiện phương pháp cách mạng bạo lực một cách linh
hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế. Đến nay, trong bối cảnh đổi mới và phát triển đất nước, Nghị
quyết vẫn giữ nguyên giá trị về tinh thần độc lập, kiên trì bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
8. Đánh giá nhận định sau: Đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại đại hội III (9/1960)
thể hiện tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa từng có tiền lệ lịch sử? (Trang 100)
Đường lối cách mạng được đề ra tại Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 năm 1960 đánh dấu một
bước phát triển quan trọng trong tư duy và phương pháp lãnh đạo của Đảng. Nhận định rằng đường lối này thể
hiện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những vấn đề chưa từng có tiền lệ lịch sử
là hoàn toàn có cơ sở và đúng đắn.
Trước hết, trong bối cảnh cách mạng Việt Nam đang ở giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, Đảng Lao động Việt Nam đã nhận thức rõ sự thay đổi về quy mô, tính chất và mức độ phức tạp của
cuộc đấu tranh. Đại hội III đã đề ra đường lối cách mạng nhằm vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác – Lênin vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, khẳng định tính độc lập và tự chủ trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Điều
này thể hiện rõ qua việc Đảng không sao chép máy móc các mô hình cách mạng đã có ở các nước khác mà
căn cứ vào thực tiễn, điều kiện lịch sử – xã hội đặc thù của nước ta để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp.
Thứ hai, tính sáng tạo của Đảng được thể hiện trong việc đề ra chủ trương "đẩy mạnh đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở
miền Nam." Đây là một bài toán lịch sử chưa từng có tiền lệ, bởi trước đó, các phong trào cách mạng thường
tập trung vào một mặt trận duy nhất. Việc Đảng chủ động lựa chọn đường lối vừa đấu tranh giải phóng miền
Nam, vừa phát triển miền Bắc đã thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo, đồng thời là sự cân bằng khéo léo giữa yêu
cầu cách mạng với điều kiện thực tế đất nước.
Bên cạnh đó, đường lối Đại hội III cũng phản ánh tính độc lập trong quan điểm phát triển kinh tế – xã hội, xây
dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tự chủ, chủ động phát huy nội lực trong bối cảnh bị bao vây cấm vận.
Đảng đã đặt trọng tâm vào phát triển công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và giáo dục, đồng thời đề
cao vai trò của con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, một quan điểm tiến bộ chưa từng được
thực hiện đồng bộ trước đó.
Cuối cùng, đường lối cách mạng này không chỉ dừng lại ở lý luận mà được Đảng cụ thể hóa thành các chính
sách, chiến lược và bước đi thực tiễn hiệu quả, góp phần tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong cả hai miền đất
nước, thúc đẩy kháng chiến thắng lợi và phát triển miền Bắc vững chắc.
Tóm lại, đường lối cách mạng do Đảng Lao động Việt Nam đề ra tại Đại hội III năm 1960 thực sự thể hiện
tính độc lập, tự chủ và sáng tạo trong tư duy và hành động của Đảng. Đây là minh chứng cho sự trưởng thành
của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, góp phần
quan trọng vào thắng lợi của cách mạng nước ta trong giai đoạn lịch sử khó khăn, phức tạp và chưa từng có tiền lệ đó.
9. Phân tích những đặc điểm tình hình miền Bắc khi thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa (1960-1975)? (Trang 101)
Trong giai đoạn 1960-1975, miền Bắc Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong điều kiện
đặc biệt vừa xây dựng kinh tế vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tình hình miền Bắc lúc này có những đặc điểm nổi bật sau:
Trước hết, về chính trị - xã hội, miền Bắc ổn định tương đối nhờ sự lãnh đạo vững chắc của Đảng Lao động
Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Đường lối của Đảng thể hiện rõ trong Đại hội III (9/1960),
khẳng định phát triển công nghiệp nặng, trọng điểm vào các ngành cơ khí, luyện kim, năng lượng và vật liệu
xây dựng. Đồng thời, Đảng tập trung phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân và ổn định xã hội, giữ vững chính
quyền nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hóa.
Về kinh tế, miền Bắc duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với quốc doanh làm trung tâm. Đảng đề ra
đường lối phát triển công nghiệp nặng là xương sống của nền kinh tế, kết hợp phát triển nông nghiệp tập thể
để đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội. Đây là bước đi chiến lược nhằm tạo nền tảng kinh tế vững
chắc cho đất nước trong tương lai. Công nghiệp hóa được tiến hành đồng bộ, kết hợp với tăng cường phát
triển các ngành công nghiệp chế biến và tiêu dùng.
Tuy nhiên, miền Bắc phải đối mặt với khó khăn lớn từ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt là
các đợt ném bom ác liệt (Chiến dịch Linebacker I và II). Các cuộc chiến tranh phá hoại này gây thiệt hại
nghiêm trọng về cơ sở vật chất, sản xuất công nghiệp và đời sống nhân dân. Nhưng với đường lối kiên định
“vừa chiến đấu vừa sản xuất” và “chiến tranh là động lực để phát triển”, miền Bắc đã vượt qua thử thách, vừa
bảo vệ được Tổ quốc, vừa tiếp tục phát triển kinh tế.
Về nguồn nhân lực, miền Bắc chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề
để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Đường lối của Đảng nhấn mạnh vai trò của khoa học kỹ thuật và lao
động có tay nghề cao trong phát triển sản xuất, coi đó là nhân tố then chốt.
Ngoài ra, miền Bắc nhận được sự hỗ trợ to lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô, Trung
Quốc về vốn, kỹ thuật, thiết bị và đào tạo, giúp miền Bắc vượt qua nhiều khó khăn, đẩy mạnh phát triển công nghiệp.
Tóm lại, đặc điểm tình hình miền Bắc trong giai đoạn 1960-1975 là sự kết hợp giữa đường lối công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa theo kế hoạch tập trung của Đảng, sự ổn định chính trị, tinh thần đoàn kết dân tộc, nguồn
lực con người ngày càng được nâng cao, cùng với ý chí kiên cường trong chiến tranh. Đây là nền tảng quan
trọng để miền Bắc vừa phát triển kinh tế, vừa đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
10. Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ (1965-1975)?
Sau hai chiến thắng trong các cuộc phản công mùa khô (1965–1966, 1966–1967), Hội nghị Trung ương 13
(1/1967) chủ trương mở mặt trận ngoại giao với Mỹ bên cạnh đấu tranh quân sự, chính trị. Ta đưa ra lập
trường ngoại giao kiên quyết: Mỹ phải chấm dứt ném bom vô điều kiện thì mới đàm phán. Đồng thời, để buộc
Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, Bộ Chính trị phát động cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, gây
chấn động mạnh và buộc Mỹ chuyển hướng chiến lược.
Khi chủ trương mở mặt trận đấu tranh ngoại giao, Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính
trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt
trận ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên
chiến trường. Tuy nhiên đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường,
mà trong tình hình quốc tế hiện nay, đối với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, cuộc đấu tranh ngoại
giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã có những bước tiến quan trọng trong
cuộc kháng chiến, nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa hoạt động quân sự, đấu tranh chính trị và
ngoại giao. Việc kết hợp cuộc chiến đấu trên chiến trường với đấu tranh quốc tế đã giúp ta giành được thắng
lợi lớn, khiến quân Mỹ phải giảm cường độ chiến tranh và rút quân về nước. Dù vậy, Mỹ vẫn tiếp tục chiến
lược "Việt Nam hóa chiến tranh", thay thế chiến lược "chiến tranh cục bộ", và mở rộng chiến tranh sang
Campuchia và Lào. Vì vậy, việc tiếp tục đấu tranh trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao càng trở nên cấp thiết.
Trên chiến trường, trong giai đoạn 1971-1972, quân ta đã thực hiện các đợt hoạt động quân sự mạnh mẽ, đánh
bại nhiều cuộc hành quân, càn quét của quân Mỹ và quân ngụy, đặc biệt là tại các khu vực như Trị Thiên, Khu
5 và miền Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, quân ta cũng đối phó hiệu quả với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
hai của Mỹ, trong đó có cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các địa
phương khác vào cuối năm 1972. Về mặt chính trị và ngoại giao, ta đã đấu tranh mạnh mẽ trên trường quốc tế,
vạch trần âm mưu của Mỹ và các quốc gia đồng minh của họ, đồng thời tuyên truyền về cuộc kháng chiến
chính nghĩa, làm lên án sự tàn bạo của Mỹ khi sử dụng máy bay B52 để ném bom rải thảm vào thủ đô Hà Nội.
Một yếu tố quan trọng trong chiến thắng của ta là việc tận dụng năm 1972, năm bầu cử tổng thống Mỹ, để gây
sức ép lên chính quyền Mỹ, buộc họ phải nhanh chóng ký kết Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh và lập lại
hòa bình ở Việt Nam. Hiệp định này chính thức đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ, buộc
Mỹ phải rút quân về nước và không thể ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện không có lợi. Mặc dù Mỹ
có sức mạnh quân sự vượt trội, nhưng chiến lược "vừa đánh vừa đàm" của ta đã phát huy hiệu quả, khiến Mỹ
phải chấp nhận thương lượng theo điều kiện của ta.
Sau khi ký kết Hiệp định Pa-ri, dù cuộc chiến tranh chưa hoàn toàn kết thúc, Đảng ta vẫn khẳng định chỉ có
thể giành thắng lợi toàn diện thông qua con đường bạo lực cách mạng. Đảng đã đưa ra hai khả năng: một là
giành thắng lợi thông qua phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, và hai là tiếp tục chiến tranh cách
mạng để tiến tới chiến thắng hoàn toàn. Trong bối cảnh đó, phương châm đấu tranh của ta là kết hợp đấu tranh
quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời củng cố thế quân sự để không cho đối phương mở rộng chiến tranh trở lại.
Cuối năm 1974, khi tình hình chiến trường có lợi cho ta, Đảng ta đã quyết định mở chiến dịch giải phóng
miền Nam, bắt đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên vào tháng 3-1975, trong đó Buôn Ma Thuột là mục tiêu chiến
lược đầu tiên. Thành công của chiến dịch này đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng, mở ra khả năng giải phóng
miền Nam nhanh chóng. Chiến dịch Tây Nguyên không chỉ đánh bại quân địch mà còn tạo điều kiện để ta tiếp
tục tiến hành các chiến dịch lớn khác, tiến tới giải phóng Sài Gòn.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo và quyết đoán trong chỉ đạo
của Đảng. Nhờ sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, ta đã thay đổi hoàn toàn thế chiến
trường và làm suy yếu đối phương. Cuộc tổng tiến công này đã dẫn đến chiến thắng vang dội, hoàn thành
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giành lại độc lập cho dân tộc vào ngày 30-4-1975.
Tóm lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta là một minh chứng cho sức mạnh của sự kết hợp
giữa chiến tranh quân sự, đấu tranh chính trị và ngoại giao. Chính nhờ chiến lược "vừa đánh vừa đàm", sự
kiên trì và sáng tạo của Đảng ta, cùng với sự ủng hộ của quần chúng và sự hỗ trợ quốc tế, ta đã đánh bại hoàn
toàn chiến lược của Mỹ, giành lại độc lập cho đất nước và thống nhất đất nước.
Câu 11: Khái lược và đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975-1985)
Phần 1: Khái lược quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975-1985)
Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn và thách thức
trong việc phát triển kinh tế – xã hội và ổn định đất nước. Giai đoạn 1975-1985 được coi là thời kỳ tìm tòi,
khảo nghiệm những bước đi đầu tiên trong công cuộc đổi mới nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp đã bộc lộ rõ.
Ngay từ cuối những năm 1970, Đảng đã nhận thấy tình hình kinh tế xã hội đất nước còn nhiều bất cập như sản
xuất trì trệ, thiếu nguyên vật liệu, đời sống nhân dân khó khăn, hệ thống quản lý cồng kềnh và chưa phù hợp
với điều kiện phát triển mới. Do đó, Đảng đã chủ trương thí điểm, thử nghiệm nhiều chính sách đổi mới kinh
tế nhằm thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và cải thiện đời sống nhân dân.
Năm 1979, Hội nghị Trung ương 5 (khóa IV) đã nhấn mạnh việc “phát huy sở hữu toàn dân, đồng thời khuyến
khích mọi thành phần kinh tế phát triển phù hợp với chủ nghĩa xã hội”. Đây là một bước mở đầu quan trọng
nhằm đa dạng hóa thành phần kinh tế, không còn chỉ tập trung vào kinh tế quốc doanh mà bắt đầu thí điểm và
cho phép kinh tế tư nhân, hợp tác xã phát triển.
Trong giai đoạn này, các mô hình kinh tế mới được triển khai như tăng cường tự quản lý, thí điểm phân phối
theo năng suất lao động, khuyến khích sản xuất hàng hóa… Những chính sách này tuy chưa mang tính toàn
diện nhưng đã mở đường cho các bước đổi mới mạnh mẽ hơn sau này.
Đồng thời, Đảng cũng tiến hành nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu thực trạng kinh tế, lắng nghe ý kiến các tầng
lớp nhân dân và cán bộ, từ đó rút ra những bài học về mặt chính sách và quản lý để chuẩn bị cho công cuộc
đổi mới toàn diện sau này.
Phần 2: Đánh giá quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của Đảng (1975-1985)
Quá trình tìm tòi, khảo nghiệm trong giai đoạn 1975-1985 có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử phát triển
của cách mạng Việt Nam. Đây là thời kỳ thử nghiệm các chính sách nhằm thích nghi với thực tiễn mới, đồng
thời chuẩn bị nhận thức và tư duy đổi mới trong toàn Đảng.
Mặc dù các chính sách đổi mới trong giai đoạn này còn hạn chế và chưa thực sự hiệu quả, nhiều nơi còn duy
trì lối quản lý cũ, nhưng những nỗ lực thí điểm đã làm rõ được những điểm mạnh, điểm yếu của nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung và hệ thống quản lý quan liêu, bao cấp.
Điều này góp phần quan trọng tạo tiền đề lý luận và thực tiễn để Đảng có cơ sở tổng kết, đánh giá và đưa ra
quyết định đổi mới toàn diện vào cuối thập niên 1980 – cụ thể là Đại hội VI (1986), mở ra kỷ nguyên mới cho
công cuộc đổi mới đất nước.
Quá trình này cũng thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm của Đảng trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó
khăn, đồng thời thể hiện tính khoa học khi lấy thực tiễn làm thước đo để điều chỉnh chính sách.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận hạn chế là quá trình tìm tòi này chưa thực sự mạnh mẽ, còn bị cản trở bởi tư
tưởng bảo thủ, e dè và những quan điểm cứng nhắc trong Đảng, khiến đổi mới chưa được triển khai sâu rộng và đồng bộ.
Tóm lại, giai đoạn 1975-1985 là bước chuẩn bị quan trọng cho công cuộc đổi mới toàn diện, thể hiện sự
chuyển biến tư duy trong lãnh đạo Đảng, góp phần đưa đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và từng
bước phát triển bền vững hơn trong những năm sau.
12. Vì sao Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đường lối mới tại đại hội VI (1986) là một tất yếu? Theo
anh/chị, ý nghĩa của đổi mới đối với sự phát triển đất nước hiện nay là gì?
Khủng hoảng kinh tế - xã hội: Sau nhiều năm xây dựng nền kinh tế theo mô hình tập trung, bao cấp, đất
nước rơi vào khủng hoảng. Sản xuất trì trệ, thiếu hụt hàng hóa cơ bản, lạm phát cao và đời sống nhân dân
gặp khó khăn. Điều này khiến Đảng nhận ra sự bất hợp lý trong cơ chế cũ và cần thiết phải có sự thay đổi mạnh mẽ.
Định hướng phát triển không phù hợp: Mặc dù Đảng đã xác định các nhiệm vụ chiến lược cho việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng việc áp dụng mô hình kinh tế tập trung, quan liêu đã không thể giải quyết được
các vấn đề thực tế. Cơ cấu sản xuất thiếu hiệu quả, quá chú trọng công nghiệp nặng mà bỏ qua phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Sự thay đổi trong nhận thức và yêu cầu của thời đại: Đảng nhận thấy cần phải thay đổi tư duy, nhất là tư
duy kinh tế, để thích ứng với thực tiễn và xu thế phát triển của thế giới. Đại hội VI đánh dấu sự chuyển mình
quan trọng từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện cho phát triển bền vững.
Yêu cầu phát triển kinh tế gắn với ổn định xã hội: Để đạt được mục tiêu ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, cần phải có một chiến lược phát triển kinh tế hợp lý, chú trọng vào việc phát triển nông nghiệp, công
nghiệp nhẹ và xuất khẩu, điều này đòi hỏi phải thực hiện các cải cách về cơ cấu sản xuất và phân phối.
Khuyến khích sáng tạo và tự chủ trong sản xuất: Cải cách cần thiết để kích thích sản xuất, khôi phục động
lực phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt, Hội nghị Bộ Chính trị khóa V (1986) đã chỉ rõ phải đổi mới cơ chế
quản lý, tách biệt chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lý kinh doanh, tạo ra
quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế. Ý nghĩa:
1. Thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội:
Đổi mới đã giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài, từng bước chuyển sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
2. Tạo bước ngoặt trong tư duy lãnh đạo:
Đổi mới đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng, đặc biệt là trong kinh tế, khi
chuyển từ bao cấp sang quản lý theo cơ chế thị trường, tôn trọng quy luật khách quan và phát huy vai trò của các thành phần kinh tế.
3. Mở rộng hội nhập quốc tế:
Đổi mới giúp Việt Nam mở cửa, tăng cường hợp tác với các nước, từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy xuất khẩu.
4. Tăng cường sức mạnh nội lực:
Chính sách đổi mới giúp khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo và quyền tự chủ của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp – từ đó làm nền tảng cho sự phát triển bền vững.
5. Bảo đảm ổn định chính trị – xã hội:
Thông qua phát triển kinh tế gắn với tiến bộ xã hội, Đổi mới đã góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
13. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta đặt vấn đề phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với bảo
vệ môi trường? Sinh viên cần làm gì để góp phần thực hiện mục tiêu này?
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai,
quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đạt được một số kết quả ban đầu quan trọng. Tuy nhiên, việc ứng
phó vẫn còn bị động, thiên tai ngày càng gây thiệt hại lớn, tài nguyên chưa được khai thác bền vững và ô
nhiễm môi trường gia tăng.
Nghị quyết Trung ương 7 (2016) nhấn mạnh việc chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài
nguyên, coi đây là vấn đề quan trọng quyết định sự phát triển bền vững. Các giải pháp bao gồm quản lý tổng
hợp, liên ngành và liên vùng, đánh giá đầy đủ giá trị tài nguyên và phát triển bền vững, nhằm bảo vệ tài
nguyên quốc gia, khai thác hiệu quả và kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. +
Tăng trưởng kinh tế phải bền vững: Mặc dù CNH-HĐH mang lại sự phát triển về kinh tế, nhưng
nếu không chú trọng đến bảo vệ môi trường, việc tăng trưởng có thể không bền vững. Ô nhiễm môi trường,
suy thoái tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu sẽ đe dọa đến sự ổn định và phát triển lâu dài của đất
nước. Đảng ta nhận thức rằng phát triển phải đi đôi với bảo vệ môi trường để bảo đảm sự phát triển toàn diện và lâu dài. +
Bảo vệ sức khỏe cộng đồng: Việc phát triển công nghiệp hóa mà không chú trọng đến bảo vệ môi
trường có thể dẫn đến ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất đai, gây ra các bệnh tật cho cộng đồng. Đặc biệt là
khi các KCN, làng nghề, hay các khu đô thị phát triển nhanh chóng mà không có hệ thống xử lý chất thải hợp
lý. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng sống mà còn gây ra gánh nặng cho hệ thống y tế. +
Khắc phục tác động của công nghiệp hóa: Quá trình CNH-HĐH có thể gây ra sự gia tăng các vấn đề
về ô nhiễm và suy thoái tài nguyên. Nếu không có các biện pháp bảo vệ môi trường, các tác động tiêu cực sẽ
ảnh hưởng đến cả các thế hệ hiện tại và tương lai. Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lồng
ghép yếu tố bảo vệ môi trường vào chiến lược phát triển, để tránh những tổn hại không thể khắc phục được. +
Đảm bảo sự phát triển đồng đều và công bằng: Việc phát triển công nghiệp, đô thị hóa nếu không
có sự kiểm soát môi trường sẽ dẫn đến sự mất cân đối, làm trầm trọng thêm các vấn đề như nghèo đói, sức
khỏe kém và bất công xã hội. Đảng ta xác định rằng một trong những mục tiêu của phát triển bền vững là bảo
vệ môi trường không chỉ vì lợi ích của hiện tại mà còn để bảo vệ quyền lợi của các thế hệ tương lai, nhằm
giảm thiểu sự phân hóa giữa các vùng miền, các tầng lớp trong xã hội. +
Hướng tới mô hình tăng trưởng xanh: Đảng ta đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế xanh, thân thiện
với môi trường trong thời kỳ CNH-HĐH. Điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn mở ra cơ hội
phát triển các ngành nghề, công nghệ mới như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, sản xuất sạch, từ đó tạo
ra các giá trị kinh tế bền vững và mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước.
=> Coi trọng sự phát triển bền vững, đánh giá được tầm quan trọng của môi trường và tình trạng môi trường,
-> nếu quá chú trọn gcnh, hdh mà bỏ đi yếu tố môi trường sẽ gây mất cân bằng nghiêm trọng, dẫn tới các hậu
quả thiên tai, sự cố thiên nhiên không đong đếm được. cả hai phải cùng được chú trọng, vừa phát triển cn, hd
hoá đất nước vừa chú trọng bảo vệ môi trường để bảo toàn được sự phát triển bền vững về mọi mặt của đất nước. Sinh viên cần:
1. Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường: Sinh viên cần hiểu rõ vai trò của môi trường trong phát triển
bền vững, tham gia tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về các vấn đề như ô nhiễm và biến đổi khí hậu.
2. Ứng dụng kiến thức vào thực tế: Vận dụng kiến thức học được để nghiên cứu, thực hiện các dự án liên
quan đến công nghệ xanh, năng lượng tái tạo, sản xuất sạch...
3. Tham gia hoạt động môi trường: Chủ động tham gia phong trào như trồng cây, thu gom rác, tổ chức hội
thảo, sinh hoạt CLB môi trường để lan tỏa hành động tích cực.
4. Thúc đẩy mô hình phát triển xanh: Lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường vào các đề tài nghiên cứu, học
tập như tái chế, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ nguồn nước sạch...
5. Thực hành lối sống xanh: Áp dụng thói quen sống thân thiện với môi trường như tiết kiệm điện, hạn chế
rác nhựa, tái chế và dùng phương tiện công cộng.
6. Định hướng nghề nghiệp bền vững: Lựa chọn ngành học, công việc liên quan đến bảo vệ môi trường như
công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, khoa học môi trường...
7. Phát huy sáng kiến sáng tạo: Đưa ra ý tưởng, giải pháp mới giúp giảm thiểu ô nhiễm, tiết kiệm tài nguyên
và hỗ trợ doanh nghiệp, địa phương hướng tới phát triển bền vững.
14. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một
tất yếu? Yếu tố nào đã tác động đến sự lựa chọn này?
Đảng, Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức phân phối, chủ
yếu phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì cần phát triển đất nước trong
bối cảnh nghèo nàn, lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá. Trước đây, Việt Nam đã áp dụng mô hình kinh tế kế
hoạch tập trung kiểu Xô-viết, nhưng nó bộc lộ nhiều khuyết điểm, nhất là trong giai đoạn hòa bình, dẫn đến trì
trệ và không phát triển hiệu quả. Sau Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức được cần đổi
mới, chấp nhận kinh tế hàng hóa và thị trường, đồng thời hướng đến xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội IX
(2001) chính thức khẳng định "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" là con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, kết hợp giữa lợi ích cá nhân, xã hội và quản lý của nhà nước, nhằm phát triển kinh tế và xây dựng xã
hội công bằng, dân chủ.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, kết hợp giữa kinh tế thị trường và các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội. Mô hình này không
phải là kinh tế thị trường tự do kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp. Đảng Cộng sản Việt
Nam đã chọn mô hình này nhằm phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và hướng tới mục
tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Kinh tế này bao gồm nhiều hình thức sở hữu, với vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước và các thành phần kinh tế khác. Nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua chiến lược, kế
hoạch, và chính sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy sản xuất và phát triển xã hội. Mục tiêu
chính là phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và xây dựng nền văn hóa, giáo dục phù hợp với điều
kiện của Việt Nam. Mô hình này không đơn thuần là sự chuyển đổi kinh tế mà còn hướng đến mục tiêu xây
dựng xã hội chủ nghĩa hiện đại, khắc phục những hạn chế của các cơ chế kinh tế trước đây.
Sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ là việc phát triển
lý luận chủ nghĩa xã hội, mà còn là một lựa chọn và khẳng định con đường phát triển thực tiễn mang tính cách
mạng và sáng tạo. Đây là quá trình tất yếu, phù hợp với quy luật phát triển thời đại và đáp ứng yêu cầu phát
triển của đất nước. Tuy nhiên, việc phát triển mô hình này là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp và lâu dài, vì
còn mới mẻ, chưa có tiền lệ, và cần phải nghiên cứu, tổng kết, và rút kinh nghiệm. Các vấn đề lý luận, như
chế độ sở hữu, quản lý doanh nghiệp nhà nước, công bằng xã hội, và tăng cường sức mạnh của Nhà nước xã
hội chủ nghĩa, cần được làm sáng tỏ qua thực tiễn. Với phương châm "Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ
cho câu trả lời", hy vọng các vấn đề này sẽ được giải quyết từng bước, góp phần làm phong phú lý luận về chủ
nghĩa xã hội và con đường phát triển phù hợp với điều kiện Việt Nam trong thời đại hiện nay.
15. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 9 khoá XI (2014), Đảng ta đưa ra quan điểm: “Văn hoá là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bình vững đất nước”. Hãy trình bày ý kiến của
anh/chị về quan điểm trên?
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước – quan điểm
được Đảng ta khẳng định tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI năm 2014 không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu
sắc mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược cho sự phát triển toàn diện của đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là một định hướng đúng đắn, khẳng định vai trò trung tâm của văn
hóa trong sự nghiệp phát triển quốc gia bền vững.
Trước hết, khi nói văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, tức là thừa nhận văn hóa giữ vai trò cốt lõi trong
việc hình thành nhân cách con người, tạo dựng bản sắc dân tộc và điều chỉnh hành vi ứng xử trong cộng đồng.
Văn hóa bao gồm các giá trị truyền thống, đạo đức, phong tục, lối sống, tín ngưỡng, tri thức… góp phần tạo
nên tính ổn định và bản lĩnh của một dân tộc. Không có nền tảng văn hóa vững vàng, xã hội sẽ mất phương
hướng, dễ bị xâm nhập bởi những lối sống lệch chuẩn, thực dụng, gây nên sự khủng hoảng về đạo đức, niềm tin và lối sống.
Thứ hai, văn hóa không chỉ là nền tảng, mà còn là mục tiêu của sự phát triển. Một đất nước phát triển thực sự
không chỉ dừng lại ở việc tăng trưởng kinh tế, mà còn phải đảm bảo sự phát triển toàn diện về đời sống tinh
thần, giáo dục, đạo đức và thẩm mỹ. Vì vậy, phát triển văn hóa chính là nâng cao chất lượng sống, nâng tầm
trí tuệ và nhân cách con người – điều làm nên chiều sâu của sự phát triển quốc gia. Văn hóa hướng tới sự hoàn
thiện con người, tạo nên một xã hội nhân văn, công bằng và văn minh.
Không những thế, văn hóa còn là động lực phát triển. Văn hóa khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên,
tinh thần trách nhiệm với cộng đồng, thúc đẩy sự sáng tạo trong học tập, lao động và sản xuất. Đặc biệt, trong
nền kinh tế tri thức hiện nay, con người là yếu tố trung tâm và văn hóa chính là cái nuôi dưỡng, phát triển con
người ấy. Một dân tộc có bản sắc văn hóa mạnh mẽ sẽ tạo nên nội lực lớn để vượt qua khó khăn, thích ứng
nhanh với sự thay đổi của thế giới.
Tuy nhiên, để phát huy vai trò của văn hóa, cần có chính sách cụ thể và đồng bộ. Nhà nước cần tăng cường
đầu tư cho giáo dục, nghệ thuật, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, khuyến khích sáng tạo văn hóa trong giới trẻ.
Đồng thời, cần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, bài trừ các hiện tượng văn hóa lai căng, phản cảm.
Bên cạnh đó, mỗi người dân cũng cần có ý thức giữ gìn, tôn vinh và phát huy văn hóa truyền thống trong đời sống hàng ngày.
Tóm lại, quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất
nước” thể hiện rõ tư duy phát triển toàn diện của Đảng ta. Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng và phát triển văn
hóa không chỉ là nhu cầu tất yếu mà còn là điều kiện quyết định để đưa đất nước tiến lên hiện đại, hội nhập
nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng. Mỗi chúng ta cần hiểu rõ vai trò của văn hóa và hành động thiết thực để
vun đắp nền tảng ấy vững bền qua từng thế hệ.
16. Trong thời kỳ đổi mới, vì sao Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá là một
tất yếu? Nêu khó khăn, thách thức để thực hiện đường lối này trong giai đoạn hiện nay.
Từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIII (2021), Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước phát triển và hoàn thiện
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Đại hội VI khởi xướng công cuộc đổi mới, mở rộng quan hệ quốc tế, phá
thế bao vây, cấm vận trong khi vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ. Đại hội VII làm rõ mối quan hệ giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa.
Từ Đại hội VIII, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập
quốc tế. Đại hội IX, X và XI tiếp tục làm sâu sắc mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập, khẳng định
nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không để bị lệ thuộc. Đến Đại hội XII và XIII, Đảng xác định đây là một
trong những mối quan hệ lớn cần giải quyết, tiếp tục khẳng định rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia trong
bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta thực hiện đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa là một tất yếu vì những lý do sau:
Bối cảnh quốc tế thay đổi sâu sắc: Thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa mạnh mẽ với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học - công nghệ, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đồng thời, cục diện
quốc tế có nhiều biến động như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột lợi ích quốc gia, khủng
hoảng kinh tế và các thách thức an ninh phi truyền thống. Trong bối cảnh đó, nếu chỉ phụ thuộc vào một vài
đối tác thì sẽ dễ bị tổn thương, hạn chế không gian chiến lược.
Bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc: Đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại
với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, từ đó khai thác tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển
kinh tế - xã hội, đồng thời giữ vững được độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ: Đa phương hóa, đa dạng hóa là biểu hiện sinh động của
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ – tức là không lệ thuộc vào bất kỳ quốc gia hay khối nào, mọi quyết định
đều dựa trên lợi ích quốc gia và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện: Trong quá trình đổi mới, Việt Nam chủ trương chủ động,
tích cực hội nhập quốc tế. Muốn hội nhập hiệu quả thì tất yếu phải mở rộng quan hệ đối ngoại trên nhiều lĩnh
vực, với nhiều đối tác, trong nhiều tổ chức khu vực và toàn cầu.
Tóm lại, đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa là yêu cầu khách quan và phù hợp với xu thế thời đại, giúp
Việt Nam vừa bảo vệ vững chắc lợi ích dân
tộc, vừa chủ động vươn lên khẳng định vị thế trong cộng đồng quốc tế.
Trong bối cảnh khu vực và thế giới diễn biến phức tạp với nhiều thách thức như cạnh tranh chiến lược giữa
các nước lớn, tranh chấp lãnh thổ, khủng hoảng kinh tế, và các vấn đề an ninh phi truyền thống, đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò then chốt trong bảo vệ lợi ích
quốc gia - dân tộc. Được hình thành qua các thời kỳ cách mạng và phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn đổi mới
và hội nhập quốc tế, đường lối này nhấn mạnh việc giữ vững độc lập, tự chủ trên mọi phương diện, đồng thời
chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Đảng ta xác định cần xử lý hài hòa các mối quan hệ: giữa độc
lập, tự chủ với hội nhập; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữa nội lực và ngoại lực; giữa sức mạnh
dân tộc và sức mạnh thời đại. Đường lối này không chỉ bảo đảm sự tự chủ chiến lược mà còn góp phần khẳng
định vị thế Việt Nam là đối tác tin cậy, có trách nhiệm, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
17. Trình bày ý kiến của anh/chị về chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới.
Sinh viên cần làm gì để góp phần thúc đẩy quá trình này?
Chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới là một quyết sách chiến lược đúng
đắn, phản ánh tầm nhìn sâu rộng và linh hoạt của Đảng trước những biến động phức tạp của tình hình khu vực
và thế giới. Hội nhập quốc tế không chỉ là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa mà còn là phương
thức quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc tế và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.
Trước hết, hội nhập quốc tế giúp Việt Nam tận dụng các cơ hội từ toàn cầu hóa để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã mở
rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp cận công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, hội nhập quốc tế là cơ sở để Việt Nam nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Bằng việc thực
hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, Việt Nam đã trở thành đối tác
tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này không chỉ giúp Việt Nam bảo vệ lợi
ích quốc gia mà còn đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Thứ ba, hội nhập quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng các biện pháp
hòa bình. Thông qua việc thiết lập và củng cố các mối quan hệ quốc phòng song phương và đa phương, Việt
Nam đã xây dựng được môi trường quốc tế thuận lợi, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Tuy nhiên, để hội nhập quốc tế thực sự hiệu quả, cần phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và
hội nhập quốc tế. Độc lập, tự chủ là nền tảng để hội nhập sâu rộng, trong khi hội nhập quốc tế là phương tiện
để củng cố và phát huy độc lập, tự chủ. Việc kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại sẽ
tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Việt Nam vững vàng trước những thách thức và biến động của tình hình thế giới.
Tóm lại, chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới là một bước đi chiến lược,
phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và điều kiện thực tiễn của đất nước. Việc thực hiện hiệu quả chủ
trương này sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa Việt Nam phát triển nhanh
và bền vững trong thời kỳ mới.
18. Theo anh/chị, tại sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc tế
toàn diện? Hãy phân tích lợi ích và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế.
1. Vì sao hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên trong tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện?
Hội nhập kinh tế quốc tế được xem là bước đầu tiên vì kinh tế là lĩnh vực nền tảng, có tính chất mở đường cho
các lĩnh vực khác như chính trị, quốc phòng, văn hóa – xã hội, khoa học – công nghệ… Việc mở cửa kinh tế
không chỉ tạo động lực cho phát triển trong nước mà còn giúp xây dựng lòng tin, thúc đẩy quan hệ đối tác, tạo
tiền đề cho sự hội nhập sâu rộng và toàn diện.
Ngoài ra, kinh tế là lĩnh vực dễ tìm được lợi ích chung giữa các quốc gia và thường ít nhạy cảm hơn so với
quốc phòng hay chính trị. Vì vậy, nó đóng vai trò như “cánh cửa” ban đầu để bước vào tiến trình hội nhập
toàn diện, từng bước nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
2. Phân tích lợi ích và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế Lợi ích: