Chủ đề 5: Quá trình Đảng lãnh đạo khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn
lực lượng sang thế tiến công giai đoạn 1954 - 1960.
1. Bối cảnh quốc tế và trong nước sau tháng 7 năm 1951
1.1 Thuận lợi:
Trên trường quốc tế (khách quan):
+ Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa
học kỹ thuật, nhất là sự lớn mạnh của Liên Xô.
+ Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi và
Mĩ Latinh.
+ Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước TBCN.
Trong nước (chủ quan):
+ Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa, hậu phương cho
cả nước.
+ Thế và lực cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến.
+ Có ý chí độc lập thống nhất của nhân dân từ Bắc tới Nam.
1.2 Khó khăn:
Tuy nhiên lúc này cách mạng VN cũng gặp những khó khăn.
Trên trường quốc tế (khách quan):
+ Đế quốc Mỹ trở thành đế quốc hùng mạnh có âm mưu bá chủ thế giới,
với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng được cái đời tổng thống nối
tiếp nhau xây dựng và thực hiện.
+ Thế giới đi vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, đồng thời
xuất hiện xu thế hòa hoãn.
+ Xuất hiện sự bất đồng, chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là
giữa Liên Xô và Trung Quốc, trong đó có vấn đề đánh giá về vấn đề xu
hướng đi lên của thế giới, đánh giá về sức mạnh chủ nghĩa đế quốc,...
Trong nước (chủ quan):
+ Đất nước bị chia cắt thành hai miền có hai chế độ chính trị khác nhau,
miền Nam do đế quốc, tay sai kiểm soát, không chịu thực hiện hòa bình
thống nhất đất nước.
- > Do đó việc đi lên như thế nào là một vấn đề khó.
+ Miền Bắc tuy được giải phóng nhưng kinh tế miền Bắc còn nghèo nàn,
lạc hậu.
+ Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
- > Trước tình hình nêu trên đã đặt Đảng ta một yêu cầu bức thiết là phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa CMVN tiến lên phù hợp với
tình hình mới của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời
đại. Trải qua nhiều hội nghị của BCH TW và Bộ Chính trị, chủ trương chiến
lược CMVN trong giai đoạn mới của Đảng từng bước hình thành.
2. Khôi phục kinh tế ở miền Bắc 1954-1957 ( lấy nông nghiệp làm
trọng tâm)
2.1. khôi phục sản xuất nông nghiệp:
Miền bắc được giải phóng, song một số nội dung của cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân chưa hoàn thành. vì vậy nhiệm vụ khôi phục kinh tế
hàn gắn vết thương chiến tranh và thực hiện khẩu hiệu “người cày có
ruộng” được Đảng chú trọng lãnh đạo ngay khi miền bắc có hòa bình.
- Thực trạng: Nền nông nghiệp ở miền bắc với thực trạng lúc bấy giờ
là hơn 1.400.000 hecta đất bị bỏ hoang. Hàng chục vạn nông dân
không có nhà ở, nhiều công trình thủy lợi bị tàn phá; hàng chục vạn
trâu bò bị Pháp giết trong chiến dịch càn quét.
- Đồng thời Đảng ta cũng nhận thức rõ kinh tế miền Bắc cơ bản là sản
xuất nông nghiệp, Đảng đã chỉ đạo lấy khôi phục và phát triển sản
xuất nông nghiệp làm trọng tâm. Việc khôi phục sản xuất nông
nghiệp kết hợp với cải cách ruộng đất và vận động đổi công, giúp
nhau sản xuất đồng thời chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho nông
nghiệp.
=> kết quả: đến năm 1957, cơ bản nông nghiệp miền bắc đã đạt được
năng suất và sản lượng của năm 1939, năm cao nhất dưới thời Pháp
thuộc; nhờ đó nạn đói bị đẩy lùi, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề cơ
bản trong nền kinh tế dân quốc, góp phần ổn định chính trị, trật tự an ninh
xã hội.
2.2. khôi phục công nghiệp, cùng các lĩnh vực khác
- Thực trạng:
+ trong công nghiệp hầu hết các cơ sở sản xuất thiếu máy móc,
vật liệu, hoặc trang bị quá lạc hậu. Ngành khai thác mỏ giảm
chỉ còn một nửa so với trước chiến tranh.
+ Về cơ sở hạ tầng nhất là hệ thống giao thông bị ngưng trệ vì
không có tuyến quốc lộ, tỉnh nào không bị tàn phá.
- Do đó cùng với việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, việc khôi phục
công nghiệp và giao thông vận tải cũng được quan tâm và hoàn
thành.
=> K ết quả: hầu hết các xí nghiệp quan trọng đã được phục hồi sản xuất
và tăng thêm thiết bị , một số nhà máy mới được xây dựng. Ngoài ra các
nh vực văn hóa, giáo dục, y tế được phát triển nhanh.
2.3. Công cuộc giảm tô, giảm tức là một phần quan trọng trong chính
sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong giai đoạn 1954 - 1960.
- Mục tiêu chính của công cuộc này nhằm giảm bớt gánh nặng cho
nông dân, đặc biệt là những người dân nghèo thông qua việc giảm tô
(nghĩa là thuế đất) và giảm tức (là lợi tức từ các khoản cho thuê đất.
Đồng thời cải cách ruộng đất để phân phối lại đất cho những người
không có đất hoặc có rất ít đất.
- Đối với vấn đề ruộng đất, để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
cải cách ruộng đất Đảng chủ trương dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn
kết với trung nông , đánh đổ giai cấp địa chủ, tịch thu ruộng đất của
địa chủ chia đều cho dân cày nghèo.
=> kết quả: đến tháng 7/1956 cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành ở
đồng bằng, trung du, và miền núi. chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến
ở miền bắc nước ta đến đây bị xóa bỏ hoàn toàn. Hơn 9 triệu người trong
hơn 2 triệu hộ nông dân lao động được chia hơn 810.000 ha ruộng đất.
2.4.Trong quá trình cải cách ruộng đất, bên cạnh những kết quả đạt
được, ta đã phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo
dài trong chỉ đạo thực hiện.
- Thứ nhất, trong chỉ đạo, thực hiện cải cách ruộng đất, đã cường
điệu hóa đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộng quá mức
đối tượng đấu tranh; sử dụng hình thức, phương pháp không phù
hợp với đối tượng là địa chủ ở nông thôn Việt Nam
- Thứ hai, trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tình hình tổ
chức cơ sở Đảng ở nông thôn, cho rằng về cơ bản đã bị địch lũng
đoạn, từ đó dẫn đến xử lý oan những cán bộ, đảng viên tốt. Sai lầm
này đã gây ra một tổn thất đối với Đảng và quan hệ giữa Đảng vớisố
nhân dân.
Những sai lầm trên chủ yếu xuất phát từ sự chủ quan, giáo điều; không
xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhất là những thay đổi về quan hệ giai cấp,
xã hội ở nông thôn miền Bắc sau ngày được hoàn toàn giải phóng.
*Trước những sai lầm đó, Đảng đã chỉ đạo, tiến hành khẩn thiết, kiên
quyết, khẩn trương, thận trọng và có kế hoạch chặt chẽ đã từng bước
đã khắc phục được những sai lầm đã xảy ra.
- Bước đầu, tuyên truyền giáo dục chính sách sửa sai nhằm ổn định tư
tưởng cán bộ, nhân dân để mọi người yên tâm và tham gia sửa sai
theo kế hoạch, giữ vững trật tự an ninh. Củng cố các cơ quan lãnh
đạo chủ yếu ở xã. Giải quyết một số công việc cấp bách trước mắt
có quan hệ trực tiếp đến đời sống của nhân dân.
- Bước thứ 2, trên cơ sở tuyên truyền và giáo dục chính sách cho
nhân dân mà tiến hành sửa sai về thành phần, và đền bù tài sản cho
những người bị quy sai, đồng thời sửa chữa những sai lầm về các
chính sách khác mà trong cải cách ruộng đất đã phạm phải.
- Bước cuối cùng, kiểm điểm công tác sửa sai và bàn tiếp tục giải
quyết những vấn đề còn lại. Nơi nào cần thiết thì bầu lại cơ quan
lãnh đạo, như Ủy ban Hành chính và Ban chấp hành nông hội xã.
=>Kết quả của ba năm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ
nghĩa (1958 - 1960) đã tạo nên những chuyển biến cách mạng trong nền
kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố, từng bước
đi lên chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam
3. Tiếp tục cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam
3.1. Mỹ thay chân Pháp xâm lược Việt Nam, chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm xuất hiện
- Ở miền Nam, từ năm 1954, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực
dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thay chân Pháp thống trị miền Nam
Việt Nam. Mục đích của chúng đối với miền Nam là biến nơi đây thành
thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam; xây dựng miền Nam thành
một căn cứ quân sự để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa
từ phía Đông Nam khi có điều kiện
- Với âm mưu xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, Mỹ đã ép Pháp và Bảo
Đại buộc thủ tướng bù nhìn Bửu Lộc (thân Pháp) từ chức và dựng lên
chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm tổng thống.
Ngô Đình Diệm đã tiến hành đàn áp, khủng bố nhân dân và tàn sát những
người kháng chiến cũ. Bộ máy chính quyền, lực lượng quân đội, cảnh sát
đã trở thành công cụ đắc lực nhằm thi hành chính sách thực dân mới của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam Đầu năm 1955, chính quyền Diệm đã mở “chiến
dịch tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam, coi đây là “quốc sách”, để tiêu
diệt những người cộng sản. Thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi
hành hiệp định Giơ – ne – vơ của các tầng lớp nhân dân; gây ra nhiều vụ
thảm sát đẫm máu ở Bến Tre, Quảng Nam, Phú Yên (thuyết trình nhớ nêu
số liệu). Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã xé bỏ hiệp định Giơ – ne –
vơ, cự tuyệt tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ngày 13/5/1957, Ngô
Đình Diệm thăm Mỹ và tuyên bố: “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến
17”, đó là lập trường và hành động bán nước trắng trợn. Tháng 3/1959,
Ngô Đình Diệm công khai tuyên bố miền Nam ở trong tình trạng chiến
tranh, huy động toàn bộ quân đội, cảnh sát vào các cuộc hành quân càn
quét, đánh vào căn cứ của ta. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành
“Luật 10-59” vào tháng 5/1959, đặt những người cộng sản, những người
yêu nước ngoài vòng pháp luật. Chính sách độc tài phát xít của Diệm thực
thi ở miền Nam đã làm nảy sinh những mâu thuẫn dẫn tới phong trào đấu
tranh của quần chúng chống Mỹ - Diệm. Mỹ - Diệm trở thành kẻ thù trực
tiếp không chỉ của nhân dân miền Nam mà còn của cả dân tộc Việt Nam.
3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng để giành lại độc lập, thống nhất
đất nước
- Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và đich, từ tháng 7/1954,
Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự sang đấu tranh
chính trị, lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi đối phương phải thi hành hiệp
định, tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
- Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ ngày 15-
17/1954) đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế
giới, và nó đang trở thành chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương,
cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ.
- Ngày 22/7/1954, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và cán bộ chiến sĩ
cả nước “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống
nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng
- Nghị quyết Bộ Chính trị, 9/1954, nêu rõ 3 nhiệm vụ cụ thể trước mắt của
cách mạng miền Nam là:
+ Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định
+ Chuyển hướng công tác cho phù hợp điều kiện mới
+ Tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình, thống nhất, độc lập,
đấu tranh nhằm lật đổ chính quyền bù nhìn thân Mỹ, hoàn thành thống
nhất Tổ Quốc
- Hội nghị xứ Uỷ Nam Bộ (1956), dự thảo “Đề cương đường lối cách mạng
Việt Nam ở miền Nam” do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo, nêu rõ chế độ
thống trị của Mỹ Diệm ở miền Nam là 1 chế độ độc tài, phát xít, hiếu chiến.
Để chống đế quốc Mỹ và tay sai, nhân dân miền Nam chỉ có con đường
cứu nước và tự cứu mình là con đường cách mạng.
- Theo chủ trương của Đảng, hàng trăm tổ chức quần chúng công khai,
trong đó có các Ủy ban đấu tranh đòi hòa bình được thành lập ở miền
Nam. Các phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống bầu
cử lừa bịp,…phát triển mạnh ở cả nông thôn và thành thị với hàng triệu
lượt người tham gia
- Để giữ gìn lực lượng và duy trì hoạt động trong điều kiện quân thù khủng
bố dã man, các Đảng bộ ở miền Nam đã sắp xếp lại tổ chức và rút vào
hoạt động bí mật
- Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã ra nghị quyết về cách
mạng miền Nam với tinh thần cơ bản là tiếp tục cuộc cách mạng DTDC
nhân dân, sử dụng bạo lực cách mạng với 2 lực lượng chính trị và vũ
trang, kết hợp đấu tranh với đấu tranh quân sự, tiến tới khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền
=>>>>> Như vậy, Nghị quyết 15 đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng âm ỉ lâu
nay thành khí thế đấu tranh sục sôi khắp nông thôn, thành thị và rừng núi
của quần chúng. Hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích
cực cho phong trào đấu tranh chính trị, chấm dứt thời kỳ bị động trước sự
khủng bố dã man của địch, thổi bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên toàn miền
Nam.
- Thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, miền Bắc đã mở đường chi viện cho cách mạng miền Nam.
** Cách mạng XHCN ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát
triển của cách mạng cả nước, vừa đánh giặc, vừa là hậu phương vững
chắc cho miền Nam
** Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định
trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Kiên quyết đấu tranh
chống đế quốc Mỹ và tay sai, đánh đổ ách thống trị, thống nhất nước nhà
=>>> Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến
lượ khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền
trong hoàn cảnh nước nhà tạm chia cắt làm hai. Song hai nhiệm vụ đó
trước mắt đều có 1 mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ
quốc
3.3 Phong trào Đồng Khởi : hiện thực hóa bước chuyển chiến lược
được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Đảng
Bối cảnh: sau khi thiết lập được chính quyền tay sai ở Miền Nam
Việt Nam, Mỹ-Diệm thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, luật
10/59, lập “khu trù mật”, “khu dinh điền”, dồn dân vào các trại tập
trung để đàn áp phong trào yêu nước, xóa bỏ các cơ sở cách
mạng của nhân dân ta
=> cách mạng miền nam bị đẩy vào thế khó khăn chưa từng thấy.
Hành động tàn bạo của kẻ thù đã thổi bùng ngọn lửa căm thù
khắp hai miền Nam-Bắc.
Các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, thống nhất Tổ quốc ở
miền Nam diễn ra liên tục đã làm lung lay chế độ độc tài, tay sai
Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, do những khó khăn của miền Bắc sau
giải phóng cùng với xu thế “tâm lí hòa bình chủ nghĩa”, không
muốn đối đầu với Mỹ của các nước lớn trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa nên việc hoạch định đường lối cách mạng miền Nam gặp
nhiều khó khăn.
Tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa II đã vạch ra đường lối, phương pháp cách mạng miền
Nam.
=> Nghị quyết xác định : nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Miền nam
“giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong
kiến, thực hiện độc lập dân tộc người cày ruộng, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh’.
=> Phương pháp cách mạng, nghị quyết chỉ : “con đường phát
triển bản của cách mạng Việt Nam miền Nam khởi nghĩa
giành chính quyền về tay nhân dân”.
=> Hội nghị lần thứ 15 của Đảng cũng đã nhận định khả năng phát
triển của tình hình : “Đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên
trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền
Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường
kỳ...và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”.
Những quan điểm của Nghị quyết 15 tạo ra bước ngoặt chiến
lược về đường lối, phương pháp cách mạng miền Nam. Được
ánh sáng Nghị quyết 15 soi đường, phong trào đấu tranh của
nhân dân miền Nam đã bùng nổ dữ dội và ngày càng lan rộng
với sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang và lực
lượng chính trị; giữa chính trị, quân sự và binh vận.
phong trào Đồng Khởi chính là biểu hiện cụ thể, sinh động của
vận dụng sáng tạo nghị quyết vào thực tiễn đấu tranh của các
cấp ủy Đảng và Nhân dân miền Nam.
=> cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi đã làm tan cấu
chính quyền địch nhiều vùng nông thôn. Vùng giải phóng ra đời
trên phạm vi rộng lớn, nối liền từ Tây Nguyên đến miền Tây Nam
Bộ và đồng bằng liên khu V.
3.4 Kết quả và ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi
Kết quả : phong trào Đồng Khởi thắng lợi đã làm xoay chuyển
tình thế, đưa cách mạng thoát khỏi thế hiểm nghèo, mở đường
cho cách mạng miền Nam tiến lên, tạo tiền đề quan trọng cho
quân và dân ta đánh bại các chiến lược quân sự của Mỹ trong
những năm tiếp .
Ý nghĩa : phong trào Đồng Khởi là bước nhảy vọt có ý nghĩa
lịch sử của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa
từng phần sang chiến tranh cách mạng chống chủ nghĩa thực
dân mới của Mỹ.
=> Phong trào Đồng Khởi đã chứng minh sự chuyển hướng về
đường lối, phương pháp cách mạng được xác định trong Nghị
quyết 15 của Đảng là hoàn toàn đúng, để lại bài học quý cho sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải quán triệt, thực hiện
nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, phương châm chỉ đạo của
Đảng về bảo vệ tổ quốc, làm định hướng “kiên quyết, kiên trì đấu
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và môi
trường hòa bình để xây dựng, bảo vệ đất nước”. vận dụng đúng
đắn quan điểm về đối tác, đối tượng... làm định hướng xây dựng
quân đội, từng đơn vị vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững
mạnh về chính trị làm cơ sở, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
thắng lợi trong mọi tình huống.

Preview text:

Chủ đề 5: Quá trình Đảng lãnh đạo khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn

lực lượng sang thế tiến công giai đoạn 1954 - 1960.
1. Bối cảnh quốc tế và trong nước sau tháng 7 năm 1951 1.1 Thuận lợi:
Trên trường quốc tế (khách quan):
+ Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa
học kỹ thuật, nhất là sự lớn mạnh của Liên Xô.
+ Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh.
+ Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước TBCN. Trong nước (chủ quan):
+ Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa, hậu phương cho cả nước.
+ Thế và lực cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến.
+ Có ý chí độc lập thống nhất của nhân dân từ Bắc tới Nam. 1.2 Khó khăn:
Tuy nhiên lúc này cách mạng VN cũng gặp những khó khăn.
Trên trường quốc tế (khách quan):
+ Đế quốc Mỹ trở thành đế quốc hùng mạnh có âm mưu bá chủ thế giới,
với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng được cái đời tổng thống nối
tiếp nhau xây dựng và thực hiện.
+ Thế giới đi vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, đồng thời
xuất hiện xu thế hòa hoãn.
+ Xuất hiện sự bất đồng, chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là
giữa Liên Xô và Trung Quốc, trong đó có vấn đề đánh giá về vấn đề xu
hướng đi lên của thế giới, đánh giá về sức mạnh chủ nghĩa đế quốc,... Trong nước (chủ quan):
+ Đất nước bị chia cắt thành hai miền có hai chế độ chính trị khác nhau,
miền Nam do đế quốc, tay sai kiểm soát, không chịu thực hiện hòa bình thống nhất đất nước.
- > Do đó việc đi lên như thế nào là một vấn đề khó.
+ Miền Bắc tuy được giải phóng nhưng kinh tế miền Bắc còn nghèo nàn, lạc hậu.
+ Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
- > Trước tình hình nêu trên đã đặt Đảng ta một yêu cầu bức thiết là phải
vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa CMVN tiến lên phù hợp với
tình hình mới của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời
đại. Trải qua nhiều hội nghị của BCH TW và Bộ Chính trị, chủ trương chiến
lược CMVN trong giai đoạn mới của Đảng từng bước hình thành
.
2. Khôi phục kinh tế ở miền Bắc 1954-1957 ( lấy nông nghiệp làm trọng tâm)
2.1. khôi phục sản xuất nông nghiệp:
Miền bắc được giải phóng, song một số nội dung của cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân chưa hoàn thành. vì vậy nhiệm vụ khôi phục kinh tế
hàn gắn vết thương chiến tranh và thực hiện khẩu hiệu “người cày có
ruộng” được Đảng chú trọng lãnh đạo ngay khi miền bắc có hòa bình.
- Thực trạng: Nền nông nghiệp ở miền bắc với thực trạng lúc bấy giờ
là hơn 1.400.000 hecta đất bị bỏ hoang. Hàng chục vạn nông dân
không có nhà ở, nhiều công trình thủy lợi bị tàn phá; hàng chục vạn
trâu bò bị Pháp giết trong chiến dịch càn quét.
- Đồng thời Đảng ta cũng nhận thức rõ kinh tế miền Bắc cơ bản là sản
xuất nông nghiệp, Đảng đã chỉ đạo lấy khôi phục và phát triển sản
xuất nông nghiệp làm trọng tâm. Việc khôi phục sản xuất nông
nghiệp kết hợp với cải cách ruộng đất và vận động đổi công, giúp
nhau sản xuất đồng thời chăm lo xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp.
=> kết quả: đến năm 1957, cơ bản nông nghiệp miền bắc đã đạt được
năng suất và sản lượng của năm 1939, năm cao nhất dưới thời Pháp
thuộc; nhờ đó nạn đói bị đẩy lùi, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề cơ
bản trong nền kinh tế dân quốc, góp phần ổn định chính trị, trật tự an ninh xã hội.

2.2. khôi phục công nghiệp, cùng các lĩnh vực khác - Thực trạng:
+ trong công nghiệp hầu hết các cơ sở sản xuất thiếu máy móc,
vật liệu, hoặc trang bị quá lạc hậu. Ngành khai thác mỏ giảm
chỉ còn một nửa so với trước chiến tranh.
+ Về cơ sở hạ tầng nhất là hệ thống giao thông bị ngưng trệ vì
không có tuyến quốc lộ, tỉnh nào không bị tàn phá.
- Do đó cùng với việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, việc khôi phục
công nghiệp và giao thông vận tải cũng được quan tâm và hoàn thành. => K ết quả:
hầu hết các xí nghiệp quan trọng đã được phục hồi sản xuất
và tăng thêm thiết bị , một số nhà máy mới được xây dựng. Ngoài ra các
lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế được phát triển nhanh.

2.3. Công cuộc giảm tô, giảm tức là một phần quan trọng trong chính
sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc trong giai đoạn 1954 - 1960.

- Mục tiêu chính của công cuộc này nhằm giảm bớt gánh nặng cho
nông dân, đặc biệt là những người dân nghèo thông qua việc giảm tô
(nghĩa là thuế đất) và giảm tức (là lợi tức từ các khoản cho thuê đất.
Đồng thời cải cách ruộng đất để phân phối lại đất cho những người
không có đất hoặc có rất ít đất.
- Đối với vấn đề ruộng đất, để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
cải cách ruộng đất Đảng chủ trương dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn
kết với trung nông , đánh đổ giai cấp địa chủ, tịch thu ruộng đất của
địa chủ chia đều cho dân cày nghèo.
=> kết quả: đến tháng 7/1956 cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn thành ở
đồng bằng, trung du, và miền núi. chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến
ở miền bắc nước ta đến đây bị xóa bỏ hoàn toàn. Hơn 9 triệu người trong
hơn 2 triệu hộ nông dân lao động được chia hơn 810.000 ha ruộng đất.

2.4.Trong quá trình cải cách ruộng đất, bên cạnh những kết quả đạt
được, ta đã phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo
dài trong chỉ đạo thực hiện.

- Thứ nhất, trong chỉ đạo, thực hiện cải cách ruộng đất, đã cường
điệu hóa đấu tranh giai cấp ở nông thôn, dẫn đến mở rộng quá mức
đối tượng đấu tranh; sử dụng hình thức, phương pháp không phù
hợp với đối tượng là địa chủ ở nông thôn Việt Nam
- Thứ hai, trong chỉnh đốn tổ chức, đã nhận định sai về tình hình tổ
chức cơ sở Đảng ở nông thôn, cho rằng về cơ bản đã bị địch lũng
đoạn, từ đó dẫn đến xử lý oan những cán bộ, đảng viên tốt. Sai lầm
này đã gây ra một số tổn thất đối với Đảng và quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Những sai lầm trên chủ yếu xuất phát từ sự chủ quan, giáo điều; không
xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhất là những thay đổi về quan hệ giai cấp,
xã hội ở nông thôn miền Bắc sau ngày được hoàn toàn giải phóng.
*Trước những sai lầm đó, Đảng đã chỉ đạo, tiến hành khẩn thiết, kiên
quyết, khẩn trương, thận trọng và có kế hoạch chặt chẽ đã từng bước
đã khắc phục được những sai lầm đã xảy ra.

- Bước đầu, tuyên truyền giáo dục chính sách sửa sai nhằm ổn định tư
tưởng cán bộ, nhân dân để mọi người yên tâm và tham gia sửa sai
theo kế hoạch, giữ vững trật tự an ninh. Củng cố các cơ quan lãnh
đạo chủ yếu ở xã. Giải quyết một số công việc cấp bách trước mắt
có quan hệ trực tiếp đến đời sống của nhân dân.
- Bước thứ 2, trên cơ sở tuyên truyền và giáo dục chính sách cho
nhân dân mà tiến hành sửa sai về thành phần, và đền bù tài sản cho
những người bị quy sai, đồng thời sửa chữa những sai lầm về các
chính sách khác mà trong cải cách ruộng đất đã phạm phải.
- Bước cuối cùng, kiểm điểm công tác sửa sai và bàn tiếp tục giải
quyết những vấn đề còn lại. Nơi nào cần thiết thì bầu lại cơ quan
lãnh đạo, như Ủy ban Hành chính và Ban chấp hành nông hội xã.
=>Kết quả của ba năm phát triển kinh tế - văn hóa và cải tạo xã hội chủ
nghĩa (1958 - 1960) đã tạo nên những chuyển biến cách mạng trong nền
kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố, từng bước
đi lên chủ nghĩa xã hội và trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam

3. Tiếp tục cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam
3.1. Mỹ thay chân Pháp xâm lược Việt Nam, chính quyền tay sai Ngô
Đình Diệm xuất hiện

- Ở miền Nam, từ năm 1954, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực
dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào thay chân Pháp thống trị miền Nam
Việt Nam. Mục đích của chúng đối với miền Nam là biến nơi đây thành
thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài Việt Nam; xây dựng miền Nam thành
một căn cứ quân sự để tiến công miền Bắc và hệ thống xã hội chủ nghĩa
từ phía Đông Nam khi có điều kiện
- Với âm mưu xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, Mỹ đã ép Pháp và Bảo
Đại buộc thủ tướng bù nhìn Bửu Lộc (thân Pháp) từ chức và dựng lên
chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm tổng thống.
Ngô Đình Diệm đã tiến hành đàn áp, khủng bố nhân dân và tàn sát những
người kháng chiến cũ. Bộ máy chính quyền, lực lượng quân đội, cảnh sát
đã trở thành công cụ đắc lực nhằm thi hành chính sách thực dân mới của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam Đầu năm 1955, chính quyền Diệm đã mở “chiến
dịch tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam, coi đây là “quốc sách”, để tiêu
diệt những người cộng sản. Thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi
hành hiệp định Giơ – ne – vơ của các tầng lớp nhân dân; gây ra nhiều vụ
thảm sát đẫm máu ở Bến Tre, Quảng Nam, Phú Yên (thuyết trình nhớ nêu
số liệu). Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã xé bỏ hiệp định Giơ – ne –
vơ, cự tuyệt tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Ngày 13/5/1957, Ngô
Đình Diệm thăm Mỹ và tuyên bố: “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến
17”, đó là lập trường và hành động bán nước trắng trợn. Tháng 3/1959,
Ngô Đình Diệm công khai tuyên bố miền Nam ở trong tình trạng chiến
tranh, huy động toàn bộ quân đội, cảnh sát vào các cuộc hành quân càn
quét, đánh vào căn cứ của ta. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành
“Luật 10-59” vào tháng 5/1959, đặt những người cộng sản, những người
yêu nước ngoài vòng pháp luật. Chính sách độc tài phát xít của Diệm thực
thi ở miền Nam đã làm nảy sinh những mâu thuẫn dẫn tới phong trào đấu
tranh của quần chúng chống Mỹ - Diệm. Mỹ - Diệm trở thành kẻ thù trực
tiếp không chỉ của nhân dân miền Nam mà còn của cả dân tộc Việt Nam.
3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng để giành lại độc lập, thống nhất đất nước
- Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và đich, từ tháng 7/1954,
Đảng quyết định thay đổi phương thức đấu tranh quân sự sang đấu tranh
chính trị, lãnh đạo quần chúng đấu tranh đòi đối phương phải thi hành hiệp
định, tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
- Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ ngày 15-
17/1954) đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế
giới, và nó đang trở thành chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương,
cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”
.
- Ngày 22/7/1954, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào và cán bộ chiến sĩ
cả nước “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống
nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”

- Nghị quyết Bộ Chính trị, 9/1954, nêu rõ 3 nhiệm vụ cụ thể trước mắt của cách mạng miền Nam là:
+ Đấu tranh đòi thi hành Hiệp định
+ Chuyển hướng công tác cho phù hợp điều kiện mới
+ Tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình, thống nhất, độc lập,
đấu tranh nhằm lật đổ chính quyền bù nhìn thân Mỹ, hoàn thành thống nhất Tổ Quốc

- Hội nghị xứ Uỷ Nam Bộ (1956), dự thảo “Đề cương đường lối cách mạng
Việt Nam ở miền Nam” do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo, nêu rõ chế độ
thống trị của Mỹ Diệm ở miền Nam là 1 chế độ độc tài, phát xít, hiếu chiến.
Để chống đế quốc Mỹ và tay sai, nhân dân miền Nam chỉ có con đường
cứu nước và tự cứu mình là con đường cách mạng.
- Theo chủ trương của Đảng, hàng trăm tổ chức quần chúng công khai,
trong đó có các Ủy ban đấu tranh đòi hòa bình được thành lập ở miền
Nam. Các phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống bầu
cử lừa bịp,…phát triển mạnh ở cả nông thôn và thành thị với hàng triệu lượt người tham gia
- Để giữ gìn lực lượng và duy trì hoạt động trong điều kiện quân thù khủng
bố dã man, các Đảng bộ ở miền Nam đã sắp xếp lại tổ chức và rút vào hoạt động bí mật
- Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã ra nghị quyết về cách
mạng miền Nam với tinh thần cơ bản là tiếp tục cuộc cách mạng DTDC
nhân dân, sử dụng bạo lực cách mạng với 2 lực lượng chính trị và vũ
trang, kết hợp đấu tranh với đấu tranh quân sự, tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
=>>>>> Như vậy, Nghị quyết 15 đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng âm ỉ lâu
nay thành khí thế đấu tranh sục sôi khắp nông thôn, thành thị và rừng núi
của quần chúng. Hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích
cực cho phong trào đấu tranh chính trị, chấm dứt thời kỳ bị động trước sự
khủng bố dã man của địch, thổi bùng ngọn lửa “đồng khởi” trên toàn miền Nam.

- Thực hiện Nghị quyết 15 của Đảng và sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, miền Bắc đã mở đường chi viện cho cách mạng miền Nam.
** Cách mạng XHCN ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát
triển của cách mạng cả nước, vừa đánh giặc, vừa là hậu phương vững chắc cho miền Nam

** Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có vai trò quyết định
trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam. Kiên quyết đấu tranh
chống đế quốc Mỹ và tay sai, đánh đổ ách thống trị, thống nhất nước nhà

=>>> Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và miền Nam thuộc hai chiến
lượ khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền
trong hoàn cảnh nước nhà tạm chia cắt làm hai. Song hai nhiệm vụ đó
trước mắt đều có 1 mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc
3.3 Phong trào Đồng Khởi : hiện thực hóa bước chuyển chiến lược
được xác định trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Đảng

●Bối cảnh: sau khi thiết lập được chính quyền tay sai ở Miền Nam
Việt Nam, Mỹ-Diệm thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, luật
10/59, lập “khu trù mật”, “khu dinh điền”, dồn dân vào các trại tập
trung để đàn áp phong trào yêu nước, xóa bỏ các cơ sở cách mạng của nhân dân ta
●=> cách mạng miền nam bị đẩy vào thế khó khăn chưa từng thấy.
Hành động tàn bạo của kẻ thù đã thổi bùng ngọn lửa căm thù
khắp hai miền Nam-Bắc.

●Các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, thống nhất Tổ quốc ở
miền Nam diễn ra liên tục đã làm lung lay chế độ độc tài, tay sai
Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên, do những khó khăn của miền Bắc sau
giải phóng cùng với xu thế “tâm lí hòa bình chủ nghĩa”, không
muốn đối đầu với Mỹ của các nước lớn trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa nên việc hoạch định đường lối cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn.
●Tháng 1-1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa II đã vạch ra đường lối, phương pháp cách mạng miền Nam.
=> Nghị quyết xác định : nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Miền nam
là “giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong
kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh’.

=> Phương pháp cách mạng, nghị quyết chỉ rõ : “con đường phát
triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa
giành chính quyền về tay nhân dân”.

=> Hội nghị lần thứ 15 của Đảng cũng đã nhận định khả năng phát
triển của tình hình : “Đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên
trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền
Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường
kỳ...và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”.

●Những quan điểm của Nghị quyết 15 tạo ra bước ngoặt chiến
lược về đường lối, phương pháp cách mạng miền Nam. Được
ánh sáng Nghị quyết 15 soi đường, phong trào đấu tranh của
nhân dân miền Nam đã bùng nổ dữ dội và ngày càng lan rộng
với sự phối hợp nhịp nhàng giữa lực lượng vũ trang và lực
lượng chính trị; giữa chính trị, quân sự và binh vận.
●phong trào Đồng Khởi chính là biểu hiện cụ thể, sinh động của
vận dụng sáng tạo nghị quyết vào thực tiễn đấu tranh của các
cấp ủy Đảng và Nhân dân miền Nam.
=> cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi đã làm tan rã cơ cấu
chính quyền địch ở nhiều vùng nông thôn. Vùng giải phóng ra đời
trên phạm vi rộng lớn, nối liền từ Tây Nguyên đến miền Tây Nam
Bộ và đồng bằng liên khu V.

3.4 Kết quả và ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi
●Kết quả : phong trào Đồng Khởi thắng lợi đã làm xoay chuyển
tình thế, đưa cách mạng thoát khỏi thế hiểm nghèo, mở đường
cho cách mạng miền Nam tiến lên, tạo tiền đề quan trọng cho
quân và dân ta đánh bại các chiến lược quân sự của Mỹ trong những năm tiếp .
●Ý nghĩa : phong trào Đồng Khởi là bước nhảy vọt có ý nghĩa
lịch sử của cách mạng miền Nam, chuyển cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, từ khởi nghĩa
từng phần sang chiến tranh cách mạng chống chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.
=> Phong trào Đồng Khởi đã chứng minh sự chuyển hướng về
đường lối, phương pháp cách mạng được xác định trong Nghị
quyết 15 của Đảng là hoàn toàn đúng, để lại bài học quý cho sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải quán triệt, thực hiện
nghiêm túc, hiệu quả các quan điểm, phương châm chỉ đạo của
Đảng về bảo vệ tổ quốc, làm định hướng “kiên quyết, kiên trì đấu
tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội và môi
trường hòa bình để xây dựng, bảo vệ đất nước”. vận dụng đúng
đắn quan điểm về đối tác, đối tượng... làm định hướng xây dựng
quân đội, từng đơn vị vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững
mạnh về chính trị làm cơ sở, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu
thắng lợi trong mọi tình huống.