LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Câu 1: sao nói sự ra đời của ĐCSVN tất yếu? Hãy chỉ ra (và phân tích) tính sáng
tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Sự ra đời của ĐCSVN là tất yếu vì:
Hoàn cảnh lịch sử thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa. Chính bước chuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày
càng trở nên gay gắt. Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách
mạng thế giới chuyển sang phạm trù cách mạng sản, cách mạng XHCN. Đặc biệt sự
thống trị tàn bạo của CNĐQ làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ thực
dân ngày càng trở nên gay gắt và trở thành một vấn đề mang tính thời đại.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt khi
được trang bị bởi một học thuyết cách mạng khoa học, cuộc cách mạngsản đầu tiên nổ
ra giành thắng lợi tại Nga năm 1917. Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga đã
cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt
nhân dân các nước thuộc địa. Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ mạnh mẽ
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra
đời của hàng loạt các đảng cộng sản. Việc Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được nhiều
thành tựu, trở thành chỗ dựa, là điều kiện thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển.
Hoàn cảnh trong nước
Việt Nam, từ cuối năm 1929, thực dân Pháp quân sự hóa nền kinh tế, xóa bỏ những quyền
tự do, dân chủ, tăng cường đàn áp cách mạng, khủng bố, bắt hàng nghìn chiến cách mạng,
phá vỡ nhiều tổ chức yêu nước, dìm các cuộc khởi nghĩa và các phong trào yêu nước. Từ đây
đòi hỏi phải có một giai cấp, một tổ chức thống nhất lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước.
Phong trào “vô sản hóa” từ tháng 9/1928 làm cho CNMLN được truyền rộng rãi
vào phong trào yêu nước công nhân Việt Nam. Từ tháng 4/1929 đến đầu năm 1930 cả
nước diễn ra nhiều cuộc bãi công lớn. Các cuộc bãi công đã thu hút sự tham gia đông đảo của
nông dân cách tầng lớp thị dân xu hướng cộng sản hóa hơn. Qua đây thể thấy
giai cấp công nhân đã trưởng thành và phát triển hơn, chuyển từ tự phát sang tự giác.
Hội VNCMTN phát triển mạnh, sở lan rộng cả nước, số hội viên tăng lên đáng kể, mặc
khác nội bộ bị chia rẽ, đứng trước khả năng không đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tiếp
theo đó sự ra đời của 3 tổ chức đảng trong vòng 4 tháng An Nam CSĐ, Đông Dương
CSĐ, Đông Dương CS Liên Đoàn. Ba tổ chức này cùng theo CNMLN đường lối quốc tế
cộng sản nhưng khi tuyên truyền, tranh thủ quần chúng và xây dựng tổ chức lại đều phê phán,
công kích lẫn nhau. Tình trang phân tán về tư tưởng và tổ chức lan rộng dẫn đến nguy cơ chia
rẽ lớn các lực lượng cách mạng Việt Nam. Đòi hỏi phải tổ chức thống nhất các tổ chức
đảng lại đủ khả năng lãnh đạo cách mạng của nước, đó Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự
thành lập Đảng Cộng sản quy luật sự vận động của phong trào công nhân từ tự phát thành
tự giác, nó được trang bị bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tính sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên
Trong cuô mc đời hoạt đô mng cách mạng của mình, lãnh tn Nguyễn oi Quốc đã thể hiê mn npt
tinh thần đô mc mp tự chủ sáng tạo trong viê mc vâ mn dnng CNMácLN, truyền thống dân mc, kinh
nghiê mm của nước ngoài mô mt cách nhuần nhuyễn vào thực tiễn VN, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiê mp cách mạng đă mt ra được thể hiê mn ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
ta, thông qua tại Hô mi nghị thành lâ mp ĐCSVN (từ ngày 3-7/2/1930).
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã chs
ra phương hướng bản của cách mạng VN, đă mt nền móng cho viê mc xác định luâ mn, đường
lối, phương pháp cách mạng những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng chính đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân VN.
Một là, sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc giai cấp, giữa phản
đế và phản phong.
Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là những người đặt nền móng cho việc hình thành lý luận
về giải quyết mối quan hệ dân tộc giai cấp trong thời đại mới, thì Nguyễn oi Quốc - Hồ
Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam những người đầu tiên đã thành công trong việc vận
dnng phát triển sáng tạo luận đó vào điều kiện cn thể một nước thuộc địa nửa phong
kiến.
Ngay từ khi mới ra đời, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn oi Quốc soạn thảo, được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) đã nhận thấy yêu cầu khách quan, bức thiết
nhất của hội thuộc địa như Việt Nam phải tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp lên cao như ở các nước tư bản phương Tây. Đối tượng
trực tiếp của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa thực dân, chứ chưa phải là chủ nghĩa tư bản và
giai cấp sản nói chung. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng xác định phương hướng chiến lược
của cách mạng Việt Nam “làm sản dân quyền cách mạng thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản”. Chủ trương đó đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai bùng nổ, liên tiếp trong ba hội nghị: lần thứ Sáu (11-
1939), lần thứ Bảy (11-1940), đặc biệt Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (5-1941) do Nguyễn oi Quốc chủ trì, trên sở phân tích chuẩn xác những biến
chuyển của tình hình thế giới Đông Dương, đã quyết định chuyển hướng chs đạo chiến
lược với chủ trương đặt nhiệm vn chống đế quốc Việt gian tay sai để giải phóng dân tộc
lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp
hành Trung ương khẳng định: “Nhiệm vn giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước
một nhiệm vn trước tiên của Đảng ta của cách mạng Đông Dương”. Vấn đề ruộng đất
hội nghị bàn đến chs chia lại công điền, chia ruộng đất “tịch thu của Việt gian phản
quốc”, tức là ruộng đất đang nằm trong tay kẻ thù của dân tộc, chứ không phải của địa chủ nói
chung, nhằm đánh lại kẻ thù của dân tộc cả về chính trị kinh tế. thế, “Trong khi tuyên
truyền, không được dùng những khẩu hiệu quá thời... Không nên nói đánh đổ Nam triều
phong kiến và tịch thu ruộng đất của địa chủ mà nói diệt trừ bọn Việt gian phản quốc”.
Chủ trương nêu cao nhiệm vn giải phóng dân tộc của Đảng tiếp tnc được khẳng định trong
Nghị quyết Ban Thường vn Trung ương Đảng (2-1943): “Lúc này, nhiệm vn dân tộc giải
phóng cần kíp quan trọng hơn. Nên Đảng phải thống nhất mọi lực lượng cách mạng đặng
mau hoàn thành nhiệm vn ấy trước... Do đó khẩu hiệu thổ địa cách mạng không thể đề ra lúc
này”(3).
Như vậy, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đến Hội nghị Ban Thường vn Trung ương Đảng (2-
1943) đều xác định nhiệm vn mnc tiêu chiến lược của cách mạng sản dân quyền Việt
Nam đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc ruộng đất cho dân cày. Đó
chủ trương đúng, phù hợp với thực tiễn Việt Nam cũng như yêu cầu tập hợp lực lượng cách
mạng cho nhiệm vn giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, chủ trương đó đã thời kỳ vấp phải s
phản ứng phê phán gay gắt từ phía Quốc tế Cộng sản những người cùng chung chí
hướng. Song bằng bản lĩnh và trí tuệ của mình, Đảng ta, đứng đầu lãnh tn Hồ Chí Minh đã
bình tĩnh, vượt qua các rào cản của những tưởng khuôn mẫu giáo điều, kiên định với
mnc tiêu đã định. Nhờ đó, Đảng đã quy tn tập hợp được sức mạnh lực lượng của toàn
thể quốc gia dân tộc, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó chính
biểu hiện nhất của sự vận dnng sáng tạo luận Mác - Lênin về giải quyết mối quan hệ
dân tộc giai cấp, cũng như góp phần làm phong phú luận đó từ điều kiện cn thể một
nước thuộc địa nửa phong kiến.
Hai là, sáng tạo trong tập hợp lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc.
Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và đi sâu bàn
về liên minh công nông, coi đó nguyên tắc của cách mạng sản, thì Nguyễn oi Quốc
Đảng Cộng sản Việt Nam lại cho rằng lực lượng cách mạng toàn dân, tuy nhiên vị trí vai
trò của từng giai cấp, bộ phận lại không giống nhau. Theo đó, bộ phận trung tâm trong lực
lượng cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam liên minh công nông do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Trung thành với luận Mác - Lênin về liên minh công nông vai trò lãnh
đạo của giai cấp công nhân, song việc đánh giá vai trò của giai cấp nông dân trong khối liên
minh ấy của Nguyễn oi Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam những npt mới rất sáng tạo.
Nếu chủ nghĩa Mác- Lênin nhấn mạnh hạn chế của giai cấp nông dân tính chất hữu, thì
Nguyễn oi Quốc Đảng ta chs nêu hạn chế của họ không khả năng tự giải phóng,
không khả năng lãnh đạo cách mạng; đồng thời, nhấn mạnh mặt tích cực của nông dân,
nhất khả năng đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc của họ. Nguyễn oi Quốc
cho rằng: nền tảng của vấn đề dân tộc vấn đề nông dân, nông dân tối đại đa số trong
dân tộc. thế, cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân lực lượng chủ công của
cách mạng.
Nếu chủ nghĩa Mác - Lê nin coi tiểu tư sản, trí thức là tầng lớp trung gian trong cách mạng vô
sản, thì Nguyễn oi Quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lại coi tầng lớp này đồng minh gần
gũi của công nhân và nông dân. Cương lĩnh năm 1930 khẳng định: “Đảng phải hết sức liên lạc
với tiểu sản, trí thức, trung nông (...) để kpo họ đi vào phe sản giai cấp”, đồng thời
khẳng định tiểu tư sản là một trong những động lực của cách mạng...”.
Trọng trí thức là một chính sách được Nguyễn oi Quốc - Hồ Chí Minh sớm quan tâm và được
Đảng nhận thức ngày càng cn thể, rõ ràng hơn trong quá trình vận động cách mạng giải phóng
dân tộc nước ta. Sự mặt của tiểu sản, trí thức; vai trò ngày càng tích cực của tiểu
sản trí thức, sinh viên, học sinh thông qua các cuộc đấu tranh rất sôi nổi các đô thị trước
trong Cách mạng Tháng Tám 1945 đã chứng minh cho sự nhận định đúng đắn của Hồ Chí
Minh và Đảng ta về năng lực hoạt động cách mạng của những đội ngũ này.
Trong khi lý luận của C.Mác coi toàn bộ giai cấp tư sản là đối tượng của cách mạng vô sản thì
V.I.Lênin người đầu tiên nhận thấy đánh giá cao vai trò của giai cấp sản dân tộc. Cả
V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều nhận rõ hạn chế lớn nhất của giai cấp này là tính không triệt để
trong cách mạng. Cùng với ưu điểm tính dân chủ, thì Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh nhiều
hơn đến yếu tố dân tộc trong tầng lớp này. Thời kỳ 1936-1939, Đảng đã chủ trương tổ chức
Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, “không những chs nhân dân lao động gồm cả giai
cấp tư sản dân tộc”. Đặc biệt, tới Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), đã xác định tư sản dân tộc
đứng trong lực lượng “hậu bị quân của cách mạng”.
Trong điều kiện hoàn cảnh cn thể của mộthội thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh
Đảng ta đã phân biệt đặc điểm thái độ của từng bộ phận trong giai cấp địa chủ phong
kiến, thấy những yếu tố tích cực để lôi kpo họ về hàng ngũ cách mạng. thế, chủ trương
của Đảng ngay từ đầu đã xác định: bộ phận đại địa chủ phong kiến quyền lợi hoàn toàn
gắn với đế quốc, đứng hẳn về phía phản cách mạng thì phải kiên quyết đánh đổ. Còn lại,
bộ phận tiểu, trung địa chủ, số ít đại địa chủ thái độ còn đang “lừng chừng”, do dự thì
phải tranh thủ họ, lôi kpo họ về phía cách mạng để chống kẻ thù dân tộc hoặc “ít lâu làm cho
họ đứng trung lập”.
Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng trong
cách mạng giải phóng dân tộc nước thuộc địa nửa phong kiến, cn thể Việt Nam
không hề hẹp trong khuôn mẫu của luận, toàn thể dân tộc, đoàn kết thành một
khối thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng (bao gồm các giai cấp, tầng lớp có lòng yêu nước,
có tinh thần dân tộc). Đó là một đóng góp vừa sáng tạo, vừa thực tế.
Ba là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương phải giành chính quyền bằng bạo
lực cách mạng.
Một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh, kiên quyết
dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành, giữ bảo vệ hòa bình. Việt Nam, trong
15 năm đầu (khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm
1945) phương pháp sử dnng bạo lực cách mạng của quần chúng thể hiện rõ nhất qua hình thức
khởi nghĩa. Đảng ra đời với Cương lĩnh Chính trị đầu tiên xác định phương pháp cách mạng
“phải bằng con đường bạo lực cách mạng chứ không thể con đường cải lương thỏa hiệp -
không khi nào nhượng một chút lợi ích của công nông đi vào đường thỏa hiệp. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn hình thức đấu tranh giành chính quyền - không chs đấu
tranh giành chính quyền cho Đảng, đấu tranh để Đảng trở thành Đảng cầm quyền còn đấu
tranh giành quyền lực chính trị cho nhân dân. Đây cuộc đấu tranh vừa mang tính chất dân
chủ, vừa mang tính chất của cuộc cách mạng dân tộc – vì vậy Đại hội II gọi là cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân.
Câu 2: Phân tích yếu tố thời trong công cuộc giành chính quyền của Đảng Cộng Sản
Đông Dương (1939-1945) (đề HKII, 2017-2018)
Cách mạng Tháng Tám thành công là mô mt mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống giă mc
ngoại xâm hào hùng của dân mc ta. Thành quả của cuô mc Cách mạng Tháng Tám được kết hợp
từ lòng yêu nước mãnh liê mt của dân ta sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã dự đoán được tình hình cách mạng, bắt kịp với sự
chuyển biến mau lẹ của thời cuômc. Thực hiê mn tốt quá trình chuẩn bị thời cơ, quyết định chớp
lấy thời cơ, thực hiê mn hành đô mng kiên quyết đúng lúc. Điều đó đã làm nên thắng lợi vang mi
của cuô mc Cách mạng Tháng Tám, khai sinh ra nước V mt Nam Dân chủ mng hòa đem đô mc
mp, tự do cho toàn dân mc V mt Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta coi khởi
nghĩa mt nghê m thuâ mt. Đó nghê m thuâ mt chuẩn bị thời cơ, chớp lấy thời cơ, giành thế thắng
lợi trong mô mt thời khắc quyết định.
Vấn đề thời cũng đã được chủ nghĩa Mác-Lênin đề mp đến. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu
mn dnng sáng tạo vào điều kiê mn cn thể của cách mạng nước ta và linh hoạt, uyển chuyển theo
tình hình cách mạng thế giới. Đảng ta nhâ mn thức rõ rằng: Thời cơ là sự kết hợp hàng loạt nhân
tố chủ quan khách quan đã đến đô m chín muồi. Thời không tự đến, mt phần do ta
chuẩn bị nó, thúc đẩy nó.
Thứ nhất là, từ khi mới ra đời, Đảng ta đã ra sức xây dựng lực lượng về các mă mt, mở rô mng mă mt
trâ mn, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách
mạng, lực lượng cách mạng ở thành phố,…để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền khi thời
đến. Đồng thời, Đảng hết sức chăm chú theo dõi sự phát triển của tình hình, diễn biến của
chiến tranh thế giới lần thứ hai, dự đoán các khả năng, phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ
thù để có những quyết sách đúng đắn kịp thời.
Thứ hai , kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (1/9/1939), trong khoảng hai năm,
những thông cáo của Đảngcác Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, 7 đã dự đoán cn thể về
khả năng thắng lợi của cách mạng Việt Nam: Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra
Liên Xô, một nướchội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước
xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.
Tháng 5 năm 1941, dựa trên những dđoán ban đầu của tình hình cách mạng trong nước
thế giới. Hô mi nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đã nhâ mn định: Nếu như Liên Xô
thắng trâ mn và Trung Quốc phản công bọn phát xít Nhâ mt thì đây sẽ là những điều kiê mn thuâ mn lợi
để Đảng ta xây dựng lực lượng tiến tới khởi nghĩa mng lớn. Đồng thời, Đảng cũng chs ra
những điều kiê mn tạo nên thời cơ chín muồi. Đó là: Ta xây dựng được mă mt trâ mn cứu quốc thống
nhất trên toàn quốc. Nhân dân không thể sống dưới sự áp bức của Pháp - Nhâmt được nữa. Phe
thống trị Đông Dương bước vào khủng hoảng. tình hình thế giới chuyển biến thuâ mn
lợi cho ta như Trung Quốc thắng Nhâ mt, quân Đồng Minh thắng trâ mn,...
Từ nǎm 1942, Đảng nhận định rằng: Liên Xô chiến thắng phát xít Đức - Nhật điều khả
năng nhất. Tình thế sẽ diễn biến thuâ mn lợi cho ta. my, Đảng xác định chuẩn bị khởi nghĩa.
Tháng 9 năm 1944, Đảng đã dự kiến rằng, mâu thuẫn Nhật - Pháp sẽ dẫn tới Nhật đảo chính
lật đổ Pháp chs ra phương hướng hành động cho toàn Đảng. Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí
Minh gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 9 tháng 3 năm 1945,
Nhâ mt đảo chính Pháp, chiếm Đông Dương. Pháp nhanh chống đầu hàng, Ban Thường vn
Trung ương Đảng họp từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến ngày 10 tháng 3 năm 1945 đã đánh
giá tình hình, ra chs thị: “Nhâ mt, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Nội dung chủ yếu
của bản Chs thị: Xác định kẻ thù chính, cn thể, trước mắt duy nhất của nhân dân Đông
Dương phát xít Nhật. Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho
cuộc khởi nghĩa. Tuy nhiên Đảng ta xác định, sự kiê mn Nhâ mt đảo chính Pháp chs làm cho tình
hình chính trị tại Đông Dương lâm vào khủng hoảng chứ thời cơ cho khởi nghĩa chưa thâ mt sự
chín muồi.
Thứ ba là, tháng 8 năm 1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Cuô mc khủng hoảng
chính trị Đông Dương đã đến mt đô m. Phe phát xít thua trâ mn, phát xít Nhâ mt đã đầu hàng đồng
minh điều kiê mn. Chính phủ nhìn Trần Trọng Kim hoang man cực đô m. Đồng thời, ta đã
xây dựng lực lượng cách mạng hùng mu. Nhân dân ta không thể chịu đựng bị áp bức được
nữa, quyết tâm chiến đấu để giành đô mc mp tự do cho dân mc, không khí cách mạng sôi snc.
Bên cạnh đó, cách mạng phải chạy đua gấp rút với quân Anh, Mỹ trước khi chúng vào Đông
Dương giải giáp quân phát xít, mượn danh nghĩa pháp để chiếm nước ta. Trong tình hình
đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào
(Tuyên Quang). Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan khách quan đã chín muồi để
cuộc tổng khởi nghĩa thể nổ ra thắng lợi. Hội nghị quyết định: Đảng phải kịp thời phát
động lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi
quân Đồng minh vào Đông Dương. Hồ Chí Minh đã kiên quyết khẳng định: “Lúc này thời
thuâ mn lợi đã tới, hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương
quyết giành cho được đô mc lâ mp”.
Hưởng ứng sự lời kêu gọi của Đảng, nhân dân cả nước đã vùng lên khởi nghĩa giành chính
quyền từ tay phát xít Nhâ mt chính quyền tay sai. Chs trong vòng 12 ngày, từ ngày 14 đến
ngày 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Cách mạng
Tháng Tám thành công rực rỡ. Như my, ta thấy rằng Đảng ta đã nhanh chóng chớp lấy thời
“Nghìn năm mt” để thực hiê mn thắng lợi cuô mc cách mạng. Thời của Cách mạng
Tháng Tám trực tiếp xuất hiê mn khi.
Những yếu tố trên kết hợp tạo thành điều kiê mn thuâ mn lợi khiến cho thời cơ để nổ ra cuô mc Cách
mạng Tháng Tám đã chín muồi. Đây thời “nghìn năm mt”, chs xuất hiê mn mt lần
trong lịch sử. Thời không tự nhiên do chúng ta tác đô mng nó, thúc đẩy ra đời.
Trong suốt 15 năm Đảng ta luôn luôn chú trọng tới viê mc xây dựng lực lượng, củng cố đô mi ngũ
Đảng viên để làm nồng cốt cho cuômc cách mạng. Thực hiê mn tuyên truyền, giác ngô m mn đô mng
quần chúng nhân dânới mọi hình thức, trên tất cả các mt trâ mn. khi thời xuất hiê mn,
đạt đến đô m chín muồi, Đảng ta đã nhanh chóng cướp lấy mi này, phát đô mng khởi nghĩa
giành chính quyền. Thành lâ mp nước V mt Nam Dân chủ Cômng hòa, tuyên bố với nhân dân V mt
Nam thế giới, công nhâ mn nền đô mc mp của dânmc V mt Nam, chă mn đứng âm mưu xâmợc
của kẻ thù.
Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám minh chứng hùng hồn cho nghê m thuâ mt tạo thời
cơ, chớp lấy thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng ta. Thể hiê mn sự lãnh đạo sáng
suốt, tài tình của Đảng. Ngày nay, trong thời kỳ hô mi nhâ mp quốc tế, Đảng ta cũng cần phải sáng
suốt lãnh đạo nhân dân ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tạo thời cho chính mình. Bằng
viê mc đi tắt đón đầu, nhạy bpn tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuâ mt,…để tạo điều kiê mn phát
triển toàn diê mn đất nước. Xây dựng mt nước V mt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hô mi để xứng đáng với sự nghiê mp mà cha ông ta đã dày
công xây dựng.
Làm rõ yếu tố thời cơ của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay?
Những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám còn rất nhiều nhưng bài học về nắm bắt thời
cơ cho đến nay vẫn là bài học nóng hổi, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước
hôm nay. Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế đang trở thành một
trong những quốc gia phát triển trên thế giới. Một nước diện tích dân số thuộc vào
những nước đứng nhóm đầu, tiềm năng rất lớn còn cần được khai thác; một đất nước ổn định
về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố... tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối
ngoại. Đó là cơ sở xuất hiện những thời cơ để vươn lên dân giàu nước mạnh.
Ngày nay, thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra
những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa toàn cầu
hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tácphát triển cũng diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới. Đó những thời mới tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế của nước ta. Chính đường lối, chính sách hơn 20 năm đổi mới của Đảng
Nhà nước đã mang lại những thành tựu to lớn, tạo thời điều kiện cho đất nước tiến lên
theo xu thế phát triển chung của thời đại. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vững bước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện đường lối phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương
tích cực chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc nước ta gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO)dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đó còn kết quả của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các
quan hệ quốc tế.
Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu
sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và vận dnng
thành công trong thời kỳ giành và giữ chính quyền năm 1945 - 1946. Đóthước đo bản lĩnh
cách mạng, sự mẫn cảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.
Câu 3: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 – 1954)
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng chế độ dân chủ nhân
dân (1946-1954)
a) Hoàn cảnh lịch sử
Tháng 11-1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phổ Hải Phòng thị
Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta Nội.
Trung ương Đảng đã chs đạo tìm cách liên lạc với phía Pháp để giải quyết vấn đề bằng biện
pháp đàm phán, thương lượng.
Trước việc Pháp gửi tối hậu thư đòi ta tước khí của tự vệ Hà Nội, để cho chúng kiểm soát
an ninh trật tự Thủ đô, ngày 19-12-1946, Ban Thường vn Trung ương Đảng đã họp Hội
nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh để hoạch định
chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không
kết quả. Hội nghị cho rằng, hành động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một
lần nữa. Khả năng hòa hoãn không còn. Hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước. Trong thời
điểm lịch sử phải quyết đoán ngay, Hội nghị đã quyết định hạ quyết tâm phát động cuộc
kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch
đảo chính quân sự Hà Nội Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20 giờ ngày 19-.
12-1946, tất cả các chiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20-12-
1946, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài Tiếng nói
Việt Nam.
Thuận lợi của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là ta
chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta đánh địch trên đất nước của chính
mình “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Ta cũng đã sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt nên về
lâu dài, khả năng đánh thắng quân xâm lược. Trong khi đó, thực dân Pháp cũng nhiều
khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự trong nước tại Đông Dương không dễ thể
khắc phnc được ngay.
Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây bốn phía, chưa
được nước nào công nhận, giúp đỡ. Còn quân Pháp lại khí tối tân, đã chiếm đóng được
hai nước Campuchia, Lào một số nơi Nam Bộ Việt Nam, quân đội đứng chân trong
các thành thị lớn ở miền Bắc.
Những đặc điểm của sự khởi đầu các thuận lợi, khó khăn đó sở để Đảng xác định
đường lối cho cuộc kháng chiến.
b) Quá trình hình thành nội dung đường lối kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ
nhân dân
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành, bổ sung, hoàn chsnh qua thực tiễn. Ngay
sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Chs thị về kháng chiến kiến quốc, Đảng đã
nhận định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất của dân tộc ta thực dân Pháp xâm lược, phải tập
trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Trong quá trình chs đạo cuộc kháng chiến Nam Bộ,
Trung ương Đảng Hồ Chí Minh đã chs đạo kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại
giao để làm thất bại âm mưu của Pháp định tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
Ngày 19-10-1946, Thường vn Trung ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ
nhất, do Tổng thư Trường Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận định “không sớm thì muộn,
Pháp sẽ đánh mình mình cũng nhất định phải đánh Pháp”, Hội nghị đề ra những chủ
trương, biện pháp cn thể cả về tưởng tổ chức để quân dân cả nước sẵn sàng bước vào
cuộc chiến đấu mới. Trong Chs thị Công việc khẩn cấp bây giờ (5-11-1946), HChí Minh đã
nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cnc khi bước vào cuộc kháng chiến và khẳng định
lòng tin vào thắng lợi cuối cùng.
Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn
được soạn thảo công bố ngay trước sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đó
là văn kiện Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến của Hồ Chi Minh (19-12-1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của
Trường Chinh.
Nội dung đường lối:
Mục đích kháng chiến: Kế tnc phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, “Đánh phản
động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập”.
Tính chất kháng chiến: “Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng
của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. tính chất toàn dân, toàn diện lâu dài”. “Là
một cuộc chiến tranh tiến bộ tự do, độc lập, dân chủ hòa bình”. Đó cuộc kháng chiến
có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính. Kháng chiến toàn dân:
“Bất kỳ đàn ông đàn không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ.
Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm một pháo đài. Kháng chiến toàn diện, đánh địch về mọi mặt: chính
trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Trong đó:
Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các
đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình.
Về quân sự: Thực hiện trang toàn dân, xây dựng lực lượng trang nhân dân, tiêu diệt
địch, giải phóng nhân dân đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh
chính quy, là “Triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài...
Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ”.
Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.
Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo
ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng.
Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên hiệp với dân tộc
Pháp, chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam
độc lập.
Kháng chiến lâu dài (trường kỳ): Là để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để
thời gian phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của ta, chuyển hóa tương quan lực
lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt”, vì ta bị bao vây bốn phía, chưa
được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp
đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Triển vọng kháng chiến: Mặc lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi.
Đường lối kháng của Đảng với những nội dung bản như trên đúng đắn sáng tạo, vừa
kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên về chiến tranh cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến
của Đảng được công bố sớm đã tác dnng đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng đi vào ổn
đinh phát triển đúng hướng, từng bước đi tới thắng lợi. Tháng 1-1948, Hội nghị Trung
ương Đảng mở rộng đã đề ra nhiệm vn và biện pháp về quân sự, chính trị, văn hóa nhằm thúc
đẩy cuộc kháng chiến, phát động phong trào thi đua yêu nước xây dựng hậu phương vững
mạnh về mọi mặt. Tháng 1-1950, Hội nghị toàn quốc của Đảng chủ trương gấp rút hoàn thành
nhiệm vn chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công...
Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, từ năm 1947 đến năm 1950, Đảng đã tập trung
chs đạo cuộc chiến đấu giam chân địch trong các đô thị, củng cố các vùng tự do lớn, đánh bại
cuộc hành quân lớn của địch trên Việt Bắc; lãnh đạo đẩy manh xây dựng hậu phương. Tìm
cách chống phá thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
của thực dân pháp. Thắng lợi của chiến dịch Biên giới cuối năm 1950 đã giáng một đòn nặng
nề vào ý chí xâm lược của địch, quân ta dành được quyền chủ động chiến lược trên chiến
trường chính Bắc Bộ.
Về đường lối xây dựng chế độ dân chủ nhân dân:
Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương nhiều chuyển biến mới.
Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng
chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đã dành được những thắng lợi quan trọng. Song lợi
dnng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quổc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến
tranh Đông Dương. Điều kiện lịch sử đó đặt ra yêu cầu bổ sung và hoàn chsnh đường lối cách
mạng, đưa cuộc chiến tranh đến thắng lợi.
Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp Đại hội đại biểu lần
thứ II tại tsnh Tuyên Quang. Đại hội đã nhất trí tán thành Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày ra Nghị quyết chia tách Đảng Cộng
sản Đông Dương thành ba Đảng cánh mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của ba dân tộc
thắng lợi. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Báo
cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa hội do
Tổng thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội của Đảng Lao động Việt Nam đã kể thừa
phát triển đường lối cách mạng trong các cương lĩnh chính trị trước đây của Đảng thành
đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối đó được phản ánh trong Chính
cương của Đảng Lao động Việt Nam. Nội dung cơ bản là:
Tính chất hội: hội Việt Nam hiện nay gồm ba tính chất: dân chủ nhân dân, một
phần thuộc địa và nửa phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn
chủ yếu lúc này mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân tính chất thuộc địa. Mâu
thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân Việt Nam chống thực dân
pháp và bọn can thiệp.
Đối tượng cách mạng: Cách mạng Việt Nam hai đối tượng: đối tượng chính hiện nay
chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cn thể lúc này đế quốc Pháp bọn can thiệp Mỹ; đối tượng
phn hiện nay là phong kiến, cn thể lúc này là phong kiến phản động.
Nhiệm vụ cách mạng: Nhiệm vn cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn
đế quốc xâm lược, giành độc lập thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích
phong kiến nửa phong kiến, làm cho người cày ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân
đân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Ba nhiệm vn đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vn chính trước mắt hoàn thành giải
phóng dân tộc. Cho nên lúc này phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng
quân xâm lược.
Động lực của cách mạng: Gồm công nhân, nông dân, tiểu sản thành thị, tiểu sản trí
thức sản dân tộc; ngoài ra những thân (địa chủ) yêu nước tiến bộ. Những giai
cấp tầng lớp phần tử đó hợp thành nhân dân. Nền tảng của nhân dân công, nông lao
động tri thức
Đặc điểm cách mạng: Giải quyết những nhiệm vn cơ bản nói trên do nhân dân làm động lực,
công nông lao động trí thức làm nền tảng giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt
Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Cách mạng đó không phải là
cách mạng dân chủ sản lối cũng không phải cách mạng hội chủ nghĩa
một thứ cách mạng dân chủ tư sản đổi mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Đó một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải qua
ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vn chủ yếu hoàn thành giải phóng dân tộc; giai
đoạn thứ hai, nhiệm vn chủ yếu xỏa bỏ những di tích phong kiến nửa phong kiến, thực
hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chsnh chế độ dân chủ nhân dân; giai
đoạn thứ ba, nhiệm vn chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ
nghĩa xã hội. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau.
Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân.
Đảng Lao động Việt Nam Đảng của giai cấp công nhân nhân dân lao động Việt Nam.
Mnc đích của Đảng phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ hội chủ nghĩa
Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tất cả
các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam.
Chính sách của Đảng: 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của
các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô; thực hiện đoàn kết
Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào.
Đường lối, chính sách của Đại hội đã được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương
tiếp theo.
Nghị quyết (từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951) đã nêu lênHội nghị Trung ương lần thứ hai
chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên sở thực hiện tốt ba nhiệm vn lớn “ra sức
tiêu diệt sinh lực của địch, tiến tới giành ưu thế quân sự”; “ra sức phá âm mưu thâm độc của
địch: lấy chiến tranh nuôi chiến tranh dùng người Việt đánh người Việt", đẩy mạnh kháng,
chiến vùng tạm bị chiếm; “củng cố phát triển sức kháng chiến của toàn quốc, toàn dân,
củng cố và phát triển đoàn kết”.
Tại (tháng 1-1953), vấn đề cách mạng ruộng đất đượcHội nghị Trung ương lần th
Đảng tập trung nghiên cứu, kiểm điểm và đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị
tiến tới cải cách ruộng đất. Hội nghị cho rằng: muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ
nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế chính trị của
nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân.
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 11- 1953), Đảng quyết định phát động quần
chúng triệt để giảm tô tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến. “Cải cách ruộng đất
để đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi”. “Cải cách ruộng đất là chính sách chung của cả nước,
nhưng phải làm từng bước tùy điều kiện mà nơi thì làm trước nơi thì làm sau”. Hội nghị cũng
khẳng định: "Cải cách ruộng đất một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc giai cấp đấu
tranh nông thôn, rất rộng lớn, gay go phức tạp. Cho nên chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế
hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt chẽ.
Đường lối hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ
nghĩa hội của Đảng được thực hiện trên thực tế trong giai đoạn 1951-1954.
Câu 4: Tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng trong giai đoạn 1959 – 1964.
Tháng 9/1954 bộ chính trị ra nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vn mới chính sách mới
của Đảng. Nghị quyết đã chs ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng
Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; nước nhà tạm
chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung.
Tại HNTƯ lần thứ bảy (3/1955) lần thứ tám (8/1955), Trung ương Đảng nhận định:
muốn chống đế quốc Mỹ tay sai, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc
lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Tháng 12/1957, tại HNTƯ lần thứ 13, đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách
mạng được xác định: “Mnc tiêu nhiệm vn cách mạng của toàn đảng, toàn dân ta hiện nay
là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tnc đấu tranh để thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình.”
Tháng 1/1959 HNTƯ lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam. Sau nhiều lần họp
thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam.
Nội dung HNTƯ 15
Hội nghị xác định tính chất hội miền Nam sau 1954 hội thuộc địa kiểu mới nửa
phong kiến.
Mâu thuẫn bản của hội miền Nam mâu thuẫn giữa nhân dân ta miền Nam với đế
quốc Mỹ xâm lược tay sai của chúng. Mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam chủ yếu
nông dân với địa chủ phong kiến. Trong hai mâu thuẫn trên, thì mâu thuẫn chủ yếu miền
Nam mâu thuẫn giữa nhân dân ta miền Nam với đế quốc mỹ xâm lược cùng tập đoàn
thống trị Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, đại diện cho bọn địa chủ phong kiến và
sản mại bản thân Mỹ phản động nhất.
Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Hai nhiệm vn chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu với nhau nhằm
phương hướng chung giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện
thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranhNhiệm vụ bản của cách mạng miền Nam
chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập
một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc các
quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất
nước nhà trênsở độc lập dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình Đông Nam á và
trên thế giới.
+ khởi nghĩa giành chính quyềnCon đường phát triển bản của cách mạng miền Nam
về tay nhân dân. Đó con đường lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị
của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng trang để đánh đổ quyền thống trị của đế
quốc phong kiến, dựng lên chính quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên
chính quyền cách mạng của nhân dân.
+ Cần sách lược lợi dnng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thùPhương pháp cách mạng:
phân hoá cao độ đế quốc M tay sai của chúng. Sử dnng, kết hợp những hình thức đấu
tranh hợp pháp, nửa hợp pháp, phối hợp chặt chẽ phong trào đô thị với phong trào nông
thôn và vùng căn cứ. Cần kiên quyết giữ vững đường lối hoà bình thống nhất nước nhà. Đồng
thời hội nghị dự báo đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất cho nên trong bất kỳ điều kiện
nào, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh
trang trường kỳ và thắng lợi nhất định thuộc về ta.
+ Về mặt trận: Hội nghị chủ trương cần mặt trận dân tộc thống nhất riêng miền Nam
tính chất, nhiệm vn và thành phần thích hợp nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc
và tay sai.
+ Hội nghị chs rõ sự tồn tạitrưởng thành của Đảng bộVề vai trò của Đảng bộ miền Nam:
miền Nam dưới chế độ độc tài phát xít một yếu tố quyết định thắng lợi phong trào cách
mạng miền Nam. Phải củng cố Đảng vững mạnh về chính trị, tưởng, tổ chức, đề cao công
tác mật, triệt để khả năng hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp để che dấu lực lượng đề
phòng sự xâm nhập phá hoại của bọn gián điệp và những phần tử đầu hàng, phản bội chui vào
phá hoại Đảng. Nghị quyết hội Nghị lần thứ 15 ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở
đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo
của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Quá trình đề ra chs đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính quá trình
hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được hoàn chsnh tại Đại hội
lần thứ III của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) tại Nội đã xác
định:
+ “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình,Nhiệm vụ chung:
đẩy mạnh cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập dân chủ,
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủgiàu mạnh, thiết thực
góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam o và thế giới.”
+ Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vn chiếnNhiệm vụ chiến lược:
lược:
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ bọn tay sai, thực hiện
thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
+ “Nhiệm vn cách mạng miền Bắc nhiệm vn cách mạng miềnMục tiêu chiến lược:
Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vn nhằm giải quyết yêu cầu cn thể của mỗi
miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm vn đó lại nhằm giải quyết mâu
thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện
mnc tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc”.
+ Do cùng thực hiện một mnc tiêu chung nên “HaiMối quan hệ của cách mạng hai miền:
nhiệm vn chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dnng thúc đẩy lẫn nhau”.
+ Vị trí, tác dụng:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vn xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ
địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách
mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất cả nước.
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với
sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ tay sai, thực
hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong
cả nước.
+ Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng,
Đảng kiên trì con đường hoà bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực
hiện hiệp thương tổng tuyển cử hoà bình thống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được
sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta phù hợp với xu hướng chung của thế giới. "Nhưng
chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc
Mỹ bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân
dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập thống nhất Tổ
quốc".
+ Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà
là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ
tay sai của chúng miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta,
Nam Bắc nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Câu 5: Phân tích mối quan hệ giữa chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến
chống Mỹ (1965 – 1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao để
chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chs mặt khi kết thúc
chiến tranh để đi đến một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi bên. Trái lại, trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn
có vai trò, vị trí, nhiệm vn nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung
ương (khóa III), tháng 1/1967 đã khẳng định nhiệm vn to lớn đẩy mạnh đấu tranh ngoại
giao, chủ động tiến công địch, phnc vn sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan
trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây dựng lực lượng, đồng
thời phải phnc vn phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp
đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vn lớn. Nhiệm
vụ thứ nhất tăng cường hậu phương quốc tế của ta làm suy yếu hậu phương của địch.
Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao nhiệm vn thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề
ra thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến
những người chs đồng tình với ta một điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc
Mỹ nhằm mnc tiêu chung của loài người, của thời đại, từ mnc tiêu cao là chủ nghĩa hội,
cho đến mnc tiêu thấp hòa bình, độc lập dân tộc. Ai đồng tình với ta trên schiến lược
đi tới chủ nghĩa hội đều bạn của ta. Ai chs đồng tình với ta chs trên sở chủ
nghĩa nhân đạo, ta cũng coi bạn. Ta tranh thủ kết bạn với mọi người từ mức thấp tới mức
cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta nhìn
vấn đề với đầu óc rất sáng suốt thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn như Mỹ, cuộc
đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chs khi nào ta buộc đối phương phải quy hàng mới kết
thúc. Phải có khái niệm thật rõ thế nàota thắng, thế nào là địch thua thì mới xác định được
giải pháp. Ta thắng tức là khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của
ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền
dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ mà chịu
nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm sao đạt được thực chất vấn
đề như vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế ta lại một nước nhỏ thì phải ngoại
giao đóng góp vào đó, thực hiện phương châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn
toàn. Phải có ngoại giao để giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về
chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế giới
như vậy, điều tối cần thiết đối với ta phải tạo lập được một mặt trận nhân dân thế giới ủng
hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mnc đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu hướng vào
bốn nội dung: thứ nhất nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai nêu cao quyết tâm
giành độc lập của Việt Nam, thứ ba nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam, thứ tố
cáo tội ác chiến tranh và vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến s còn thế giằng co quyết liệt, nhiệm vn
ngoại giao chủ yếu vẫn tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối loạn hậu
phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965)
của Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”, song
đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy
đánh để pp địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ những năm 1965-
1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định
Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân
dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi. Thông
thường, dùng trung gian chs một phương thức tính chất quá độ để mở đường cho đàm
phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng
trung gian đã được xem như một thủ đoạn nhằm những mnc đích khác như: thu thập tin tức về
ý đồ chiến lược hoặc về lập trường đàm phán cn thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt
làm cho đối phương chập chững, hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc pp, đe dọa hoặc ve
vãn dn dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức pp sang đối phương; gây hiểu
lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ.
Để thực hiện những mnc đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Làm trung
gian cho Mỹ không những là các nước đồng minh của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn
cả nước hội chủ nghĩa nữa; không những nhân vật trong chính giới các nước cả
những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời gian chưa
cuộc đàm phán Paris, cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tnc dùng trung gian. Thủ
đoạn này thâm độc chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải đồng tình
hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta ta bác đi,
như vậy nghĩa ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước
đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 tới cuối năm 1967 đầu 1968, gây sức pp bên ngoài với ta vừa để thu
thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về
khả năng ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên dùng “mồi kinh tế” lôi kpo được bốn
nước Đông Âu làm trung gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ
dùng các nước hội chủ nghĩa làm trung gian với mnc đích phân hóa mặt trận đoàn kết
hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức pp từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với ta hòng
tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác của
Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, cho họ biết đến lúc chín
muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa đối phó với
Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của
Mỹ, tăng cường hậu phương ta và chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Câu 7: Vì sao trong quá trình xây dựng CNH-HĐH thời kỳ đổi mới, Đảng ta lại gắn vấn
đề CNH-HĐH với vấn đề bảo vệ môi trường?
Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị Nghị quyết 41 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa mnc
tiêu, vừa một nội dung bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.
Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội
dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình CNH-HĐH. Một điểm
mới so với Đại hội X là đưa thêm nội dung phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường;
từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đảng và Nhà nước ta chủ
trương ưu tiên việc bảo vệ môi trường với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa vì:
Thứ nhất là, quá trình CNH-HĐH đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường. Chs tiêu
tăng GDP gấp 2,2 lần trong 10 năm tới với mức tăng trưởng công nghiệp hằng năm sẽ làm
trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm các KCN vùng đô thị; việc CNH-HĐH các ngành
công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi trường. Trong khi đó,
theo số liệu của Ủy ban Khoa học Công nghệ Môi trường của Quốc hội cho thấy, chs mới
60 KCN trạm xử nước thải tập trung (chiếm 42% số KCN đã vận hành). Mỗi ngày, các
KCN thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải độc hại ra môi trường. Hầu hết các cnm, điểm, KCN
chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường.
Thứ hai là, việc đẩy mạnh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn động lực lớn phát
triển các làng nghề. Theo thống kê, cả nước có gần 1500 làng nghề và tạo ra 11 triệu việc làm
thường xuyên không thường xuyên. Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dnng công nghệ lạc
hậu nên phần lớn các làng nghề gây ô nhiễm môi trường. Một cuộc khảo sát của Bộ Y tế tại 3
tsnh Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên đã cho kết luận, hầu hết các làng nghề không hệ
thống xử lý nước thải và kiểm soát chất thải rắn.
Thứ ba là, CHH-HĐH sẽ kpo theo đô thị hóa. Đây thực sự sức pp lớn về môi trường trong
quản đô thị. Theo nghiên cứu của Bộ KH-CN, các đô thị Nội, TP. Hồ Chí Minh, Việt
Trì, Ninh Binh, Quy Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa... những tn điểm phát thải các chất độc
hại. Riêng Hà Nội, mỗi năm thải vào môi trường nước khoảng 3.600 tấn chất hữu cơ, 320 tấn
dầu mỡ, hàng chnc tấn kim loại nặng,...
Thứ là, song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang phải chịu những áp lực về thay
đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng lộ
rõ. Do đó, các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghpp ngay từ quá trình ra các quyết
định về phát triến kinh tế hội. nghĩa là, cần cn thể hóa nội dung chuyển dịch cấu
kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận hình tăng trưởng xanh. Trong đó,
Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dnng và phát
triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng...; đây động lực chủ
yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng phát triển bền vững.
Thực tế này một thách thức đòi hỏi phải quyết tâm chính trị lớn nhằm vừa tạo ra bước
đột phá lớn trong chuyển đổi hình tăng trưởng vừa theo hướng bảo vệ môi trường, phát
triển xanh.
Bước đột phá ở đây là chuyển đổi quyết liệt từ cơ chế nặng về '”bao cấp”, sang cơ chế kinh tế
hóa, tài chính hóa trong quản tài nguyên, môi trường. Thực tế hiện nay, nhà nước bỏ ra rất
nhiều kinh phí, trang thiết bị nguồn nhân lực cho công tác điều tra tài nguyên khoáng sản,
khí tượng, thủy văn... nhưng thường cung cấp với khoản phí không đủcho các nhà đầu tư.
Đó sự đắp không cân xứng dẫn đến không đủ nguồn lực cho công tác quy hoạch tài
nguyên và môi trường.
Thứ năm là, Nhà nước cũng cần sử dnng công cn tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào các
ngành sản xuất các sản phẩm sử dnng công nghệ sạch; sản xuất sử dnng năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo, các sản phẩm bao không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái
chế sử dnng các sản phẩm tái chế. Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây
khẳng định, chúng ta đủ năng lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang hình phát
triển bền vững. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, khí tự
động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm nano, những
thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật học,
hóa học... cho thấy nếu đủ quyết tâm cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng
bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại đi cùng với việc bảo vệ môi trường.
Thứ sáu là, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có khả
năng phòng ngừa hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH. Những yếu kpm, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời
gian qua chủ yếu do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng
trưởng kinh tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường. Do đó, cần sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng toàn hội về nhận thức
hành động, trong chs đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT. Trước hết, tất cả
các dự án đầu tư phải báo cáo đánh giá tác động môi trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên
- Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt. Đồng thời, tăng cường việc kiểm soát ô
nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất thải trong sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vn y tế. Khắc phnc các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng
cao khả năng nguồn lực điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để kế hoạch bảo vệ,
khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học. Nói cách khác, bảo vệ môi trường phải vừa là mnc
tiêu, vừa là nội dung của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Câu 8: Tại sao nói phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là bước
phát triển mới về duy luận, sự vận dụng sáng tạo, độc lập của Đảng Cộng Sản
Việt Nam.
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế kỹ thuật lạc hậu, trình độhội còn thấp, lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mnc tiêu lý tưởng của những người cộng sản
và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi
lên chủ nghĩa hội bằng cách nào? Đó câu hỏi lớn cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật
không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dnng mô
hình chủ nghĩa hội kiểu Xô-viết, hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp.
Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công
tác chs đạo cũng phạm phải một số sai lầm nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó
bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn
trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Trên sở nhận thức đúng đắn hơn đầy đủ hơn về chủ nghĩa hội con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề
ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng
chủ nghĩa hội. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình
thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích nhân, tập thể hội; chăm lo
toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tuân theo qua luật cung
cầu để xác định giá cả số lượng sản xuất. Nhờ sự điều tiết chi phối của quy luật cung
cầu hàng hóa được đáp ứng theo nhu cầu cần thiết, không gây thừa, lãng phí tài
nguyên. Từ đó giúp nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Trên sở vận dnng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm phát triển
của các quốc gia trên thế giới, và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường
lối phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa. Đây bước phát triển mới
về tư duy lý luận, một sự vận dnng độc lập, sáng tạo của Đảng ta.
Nền kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa Việt Nam đang hướng tới một
kiểu nền kinh tế vận hành theo các quy luật thị trường phù hợp với những đặc trưng riêng
của Việt Nam, phản ánh trình độ phát triển, điều kiện lịch sử hoàn cảnh chính trị -
hội của Việt Nam. Đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một hội đó
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sự điều tiết thích hợp của Nhà
Nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo.
Định hướng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua các Đại hội
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan
điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa
hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ
sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tnc nói hơn chủ trương
này khẳng định đây chủ trương chiến lược, con đường đi lên chủ nghĩa hội của
Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa hội của
Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng hội
chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất
hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa hội thành tựu phát triển của nền văn minh
nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ
nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị
trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-
2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại
hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa đường lối chiến
lược nhất quán, làhình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Việt Nam. Đây kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; bước
phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lựa chọn hình kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa không phải sự gán ghpp
chủ quan giữa kinh tế thị trường chủ nghĩa hội, sự nắm bắt vận dnng xu thế
vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam
trên sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại sự khái quát, đúc rút từ kinh
nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng hội chủ nghĩa, nhằm sử dnng kinh tế thị trường để thực hiện mnc tiêu
từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa hội. Đây một kiểu kinh tế thị trường
mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng thể nói kinh tế thị trường “cái
phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa “cái đặc thù” của Việt Nam,
phù hợp với điều kiện và đặc điểm cn thể của Việt Nam.
Nói kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa nghĩa đây không phải kinh tế thị
trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu
tập trung quan liêu;cũng chưa hoàn toànkinh tế thị trường hội chủ nghĩa, bởi vì như
trên đã nói, Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, vừa vừa chưa
đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng hội chủ nghĩa sự tiếp thu chọn
lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong
việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất,hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho hội cải thiện đời
sống nhân dân; đồng thời phải những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của
kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột phân
hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự
giác con đường hình phát triển trên sở quán triệt luận Mác Lê-nin, nắm bắt
đúng quy luật khách quan vận dnng sáng tạo vào điều kiện cn thể của Việt Nam.
Câu 9: sao ĐCSVN coi “Văn hoánền tảng tinh thần cho hội, mục tiêu, động
lực phát triển bền vững đất nước”?
Văn hóa mặt trong nhiều thành tựu to lớn, ý nghĩa lịch sử tạo nên đồ, tiềm
lực, vị thế uy tín quốc tế của nước ta ngày nay. Không thể phủ nhận sự đồng hành của văn
hóa, sự hiện diện của văn hóa trong các bình diện của đời sống xã hội đã tạo thành sức mạnh
nội sinh, vừa nguồn lực, vừa thành quả của phát triển. Về vai trò của văn hóa đối với sự
phát triển bền vững, Trong Nghị quyết Trung ương IX khoá 11 (năm 2014), ĐCSVN đã đề ra
quan điểm: “Văn hoá nền tảng tinh thần cho hội, mnc tiêu, động lực phát triển bền
vững đất nước”. Quan điểm ấy được thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần cho xã hội.
Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng
của Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần
của hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh thì không sự phát triển kinh tế -
hội bền vững. Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của hội được thấm
nhuần trong mỗi con người cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền
phát huy qua các thế hệ người VN, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại
hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ. vậy, chúng
ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống hội để các giá trị văn hóa trở
thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng
ta cần phải mở rộng giao lưu quốc tế khu vực, tiếp thu chọn lọc cái hay, cái tiến bộ
trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên
bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế, làm cho văn hóa VN bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại trong thời đại ngày nay
chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa nền tảng
tinh thần của hội, nghĩa đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững
đất nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa “tài sản” giá, tận cho sự phát
triển kinh tế - hội, đó còn sở tinh thần cho sự ổn định hội sự bền vững của chế
độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mnc tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội ở nước taxây dựng một
hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng chính mnc tiêu
của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2020 xác định: Mnc tiêu động lực chính của sự phát triểncon người, do con
người. Đồng thời nêu yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ công bằng
hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá,
nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng
hội chủ nghĩa, đó phải nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa nhân
hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh
thoái, tạosở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn
hóa, sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chứchoạt động của nền kinh tế vì mnc tiêu phát
triển hội, phát triển con người, đó chính vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong
văn hóa. Văn hóa với cách đời sống tinh thần hội, một mnc tiêu đặc biệt quan trọng,
nhu cầu phong phú, cùng, tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn
nhu cầu nhân văn cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con
người, xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, sự khác vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên
nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội
tiến bộ chính nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người thông qua việc nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh
của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một
dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn,
phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa.
Kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới nước ta đã chứng minh rằng, ngay
bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chs do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động
lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa. Trong điều kiện của
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác độnglàm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế,
phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chs dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên, mặc yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều hạn thể bị khai thác
cạn kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức,
thông tin, sáng tạo đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất tinh thần ngày
càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân hội, đó tức văn hóa, vai trò của văn
hóa trong phát triển, chs có sự tham gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng
tạo này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi nhân cộng
đồng. Chs có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt,
các nguồn lực khác sẽ không được sự dnng hiệu quả nếu không có những con người đủ trí
tuệ năng lực khai khác chúng, thì các nguồn lực đó phong phú, đa dạng, thì cũng
không thể tham gia và phát huy tác dnng vào trong phát triển
Câu 10: Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất
nước?
Trong thời kỳ mới, phát triển bền vững đã trở thành yêu cầu tất yếu chung của nhiều quốc gia
dân tộc, đó là bền vững về kinh tế,hội và môi trường, đây cũng chính mnc tiêuViệt
Nam đang hướng tới, để đạt được điều đó, cần phải nhận thức đúng đắn vai trò và sự tham gia
của văn hóa vào trong phát triển, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống hội
và vào từng con người, văn hóa phải trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mnc tiêu, động
lực của sự phát triển bền vững đất nước.
1. Quan niệm về văn hóa và phát triển bền vững
Hiện nay, nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, vai trò của văn hóa đối với sự phát
triển bền vững, cách tiếp cận nào thì vai trò của văn hóa hết sức quan trọng, mặt trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống hội. vậy, nhận thức ứng xử đúng đối với vai trò của
văn hóa là chìa khóa mở cánh cửa và tạo lập một xã hội phát triển bền vững.
Trước hết, văn hóa khái niệm rất rộng đa nghĩa, không có một định nghĩa nào bao hàm,
đầy đủ cho văn hóa, phải được nhìn nhận, tiếp cận dưới nhiều gốc độ khác nhau: , coiMột
văn hóa như một hoạt động cho sự phát triển, hoạt động cơ bản của con người đó là hoạt động
sản xuất vật chất hoạt động sản xuất tinh thần, nhưng không phải hoạt động nào cũng
văn hóa. , văn hóa giá trị hệ giá trị, nghĩa văn hóa mang hệ giá trị phổ biến Hai
phổ quát của nhân loại, như vậy văn hóa được cấu thành từ khoa học - đạo đức - nghệ thuật;
Ba Bốn , nhìn nhận văn hóa như sự sáng tạo, nghĩa văn hóa sáng tạo, đổi mới; ,
văn hóa được nhìn nhận như bộ lọc, điều chsnh, nghĩa chức năng dùng văn hóa như bộ
lộc, điều chsnh hành vi, ứng xử, đạo đức của con người.
Quan niệm về phát triển bền vững được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội tính tất
yếu trong việc giải quyết những khó khăn bất ổn về kinh tế - hội Theo đó, ba trn cột
phát triển bền vững được xác định là: , bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinhThứ nhất
tế bền vững phát triển nhanh an toàn, chất lượng; , bền vững về mặt hội Thứ hai
công bằng hội phát triển con người, chs số phát triển con người (HDI) tiêu chí cao
nhất về phát triển hội. , bền vững về sinh thái môi trường khai thác sử dnngThứ ba
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống.
2. Quan điểm của Đảng ta về vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững đất nước
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này được
thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của
hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ lành mạnh thì không sự phát triển kinh tế -
hội bền vững, Một trong những mnc tiêu quan trọng Đảng ta nhấn mạnh là: “Xây dựng
nền văn hóa con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm
nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ khoa học. Văn hóa thật sự trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc của mi, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền
vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mnc tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
Do vậy, phát triển bền vững phải nhằm mnc tiêu văn hóa, hội công bằng, dân chủ, văn
minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa kết quả của kinh tế, sức mạnh nội sinh
quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựngphát triển văn hóa cũng một
mnc tiêu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của hội được thấm nhuần trong mỗi
con người và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các thế
hệ người Việt Nam, đó tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại hướng đến
tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ. vậy, chúng ta làm cho
văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống hội để các giá trị văn hóa trở thành nền
tảng tinh thần bền vững của xã hội.

Preview text:

LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Câu 1: Vì sao nói sự ra đời của ĐCSVN là tất yếu? Hãy chỉ ra (và phân tích) tính sáng
tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên?
Sự ra đời của ĐCSVN là tất yếu vì:
Hoàn cảnh lịch sử thế giới
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn
đế quốc chủ nghĩa. Chính bước chuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày
càng trở nên gay gắt. Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách
mạng thế giới chuyển sang phạm trù cách mạng vô sản, cách mạng XHCN. Đặc biệt là sự
thống trị tàn bạo của CNĐQ làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ thực
dân ngày càng trở nên gay gắt và trở thành một vấn đề mang tính thời đại.
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khi
được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoa học, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ
ra và giành thắng lợi tại Nga năm 1917. Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga đã
cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt
là nhân dân các nước thuộc địa. Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự ra
đời của hàng loạt các đảng cộng sản. Việc Liên Xô xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt được nhiều
thành tựu, trở thành chỗ dựa, là điều kiện thúc đẩy phong trào cách mạng thế giới phát triển. Hoàn cảnh trong nước
Ở Việt Nam, từ cuối năm 1929, thực dân Pháp quân sự hóa nền kinh tế, xóa bỏ những quyền
tự do, dân chủ, tăng cường đàn áp cách mạng, khủng bố, bắt hàng nghìn chiến sĩ cách mạng,
phá vỡ nhiều tổ chức yêu nước, dìm các cuộc khởi nghĩa và các phong trào yêu nước. Từ đây
đòi hỏi phải có một giai cấp, một tổ chức thống nhất lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước.
Phong trào “vô sản hóa” từ tháng 9/1928 làm cho CNMLN được truyền bá rộng rãi
vào phong trào yêu nước và công nhân Việt Nam. Từ tháng 4/1929 đến đầu năm 1930 cả
nước diễn ra nhiều cuộc bãi công lớn. Các cuộc bãi công đã thu hút sự tham gia đông đảo của
nông dân và cách tầng lớp thị dân và có xu hướng cộng sản hóa rõ hơn. Qua đây có thể thấy
giai cấp công nhân đã trưởng thành và phát triển hơn, chuyển từ tự phát sang tự giác.
Hội VNCMTN phát triển mạnh, cơ sở lan rộng cả nước, số hội viên tăng lên đáng kể, mặc
khác nội bộ bị chia rẽ, đứng trước khả năng không đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tiếp
theo đó là sự ra đời của 3 tổ chức đảng trong vòng 4 tháng là An Nam CSĐ, Đông Dương
CSĐ, Đông Dương CS Liên Đoàn. Ba tổ chức này cùng theo CNMLN và đường lối quốc tế
cộng sản nhưng khi tuyên truyền, tranh thủ quần chúng và xây dựng tổ chức lại đều phê phán,
công kích lẫn nhau. Tình trang phân tán về tư tưởng và tổ chức lan rộng dẫn đến nguy cơ chia
rẽ lớn các lực lượng cách mạng ở Việt Nam. Đòi hỏi phải có tổ chức thống nhất các tổ chức
đảng lại và đủ khả năng lãnh đạo cách mạng của nước, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự
thành lập Đảng Cộng sản là quy luật sự vận động của phong trào công nhân từ tự phát thành
tự giác, nó được trang bị bằng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tính sáng tạo trong cương lĩnh chính trị đầu tiên Trong cuô m c đời hoạt đô m
ng cách mạng của mình, lãnh tn Nguyễn oi Quốc đã thể hiê m n rõ npt tinh thần đô m c lâ m
p tự chủ sáng tạo trong viê m c vâ m
n dnng CNMácLN, truyền thống dân tô m c, kinh nghiê m m của nước ngoài mô m
t cách nhuần nhuyễn vào thực tiễn VN, đáp ứng yêu cầu của sự nghiê m p cách mạng đă m t ra và được thể hiê m
n ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta, thông qua tại Hô m i nghị thành lâ m
p ĐCSVN (từ ngày 3-7/2/1930).
Ngay từ khi Đảng CSVN mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã chs
ra phương hướng cơ bản của cách mạng VN, đă m t nền móng cho viê m c xác định lý luâ m n, đường
lối, phương pháp cách mạng và những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng chính đảng kiểu mới
của giai cấp công nhân VN.
Một là, sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, giữa phản đế và phản phong.
Nếu C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là những người đặt nền móng cho việc hình thành lý luận
về giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong thời đại mới, thì Nguyễn oi Quốc - Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam là những người đầu tiên đã thành công trong việc vận
dnng và phát triển sáng tạo lý luận đó vào điều kiện cn thể ở một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Ngay từ khi mới ra đời, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn oi Quốc soạn thảo, được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) đã nhận thấy yêu cầu khách quan, bức thiết
nhất của xã hội thuộc địa như Việt Nam là phải tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp lên cao như ở các nước tư bản phương Tây. Đối tượng
trực tiếp của cách mạng thuộc địa là chủ nghĩa thực dân, chứ chưa phải là chủ nghĩa tư bản và
giai cấp tư sản nói chung. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng xác định phương hướng chiến lược
của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản”. Chủ trương đó đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử Việt Nam.
Khi chiến tranh thế giới lần thứ Hai bùng nổ, liên tiếp trong ba hội nghị: lần thứ Sáu (11-
1939), lần thứ Bảy (11-1940), và đặc biệt là Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (5-1941) do Nguyễn oi Quốc chủ trì, trên cơ sở phân tích chuẩn xác những biến
chuyển của tình hình thế giới và Đông Dương, đã quyết định chuyển hướng chs đạo chiến
lược với chủ trương đặt nhiệm vn chống đế quốc và Việt gian tay sai để giải phóng dân tộc
lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp
hành Trung ương khẳng định: “Nhiệm vn giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước là
một nhiệm vn trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương”. Vấn đề ruộng đất mà
hội nghị bàn đến chs là chia lại công điền, và chia ruộng đất “tịch thu của Việt gian phản
quốc”, tức là ruộng đất đang nằm trong tay kẻ thù của dân tộc, chứ không phải của địa chủ nói
chung, nhằm đánh lại kẻ thù của dân tộc cả về chính trị và kinh tế. Vì thế, “Trong khi tuyên
truyền, không được dùng những khẩu hiệu quá thời... Không nên nói đánh đổ Nam triều
phong kiến và tịch thu ruộng đất của địa chủ mà nói diệt trừ bọn Việt gian phản quốc”.
Chủ trương nêu cao nhiệm vn giải phóng dân tộc của Đảng tiếp tnc được khẳng định trong
Nghị quyết Ban Thường vn Trung ương Đảng (2-1943): “Lúc này, nhiệm vn dân tộc giải
phóng cần kíp và quan trọng hơn. Nên Đảng phải thống nhất mọi lực lượng cách mạng đặng
mau hoàn thành nhiệm vn ấy trước... Do đó khẩu hiệu thổ địa cách mạng không thể đề ra lúc này”(3).
Như vậy, từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đến Hội nghị Ban Thường vn Trung ương Đảng (2-
1943) đều xác định nhiệm vn và mnc tiêu chiến lược của cách mạng tư sản dân quyền ở Việt
Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày. Đó là
chủ trương đúng, phù hợp với thực tiễn Việt Nam cũng như yêu cầu tập hợp lực lượng cách
mạng cho nhiệm vn giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, chủ trương đó đã có thời kỳ vấp phải sự
phản ứng và phê phán gay gắt từ phía Quốc tế Cộng sản và những người cùng chung chí
hướng. Song bằng bản lĩnh và trí tuệ của mình, Đảng ta, đứng đầu là lãnh tn Hồ Chí Minh đã
bình tĩnh, vượt qua các rào cản của những tư tưởng và khuôn mẫu giáo điều, kiên định với
mnc tiêu đã định. Nhờ đó, Đảng đã quy tn và tập hợp được sức mạnh và lực lượng của toàn
thể quốc gia dân tộc, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó chính
là biểu hiện rõ nhất của sự vận dnng sáng tạo lý luận Mác - Lênin về giải quyết mối quan hệ
dân tộc và giai cấp, cũng như góp phần làm phong phú lý luận đó từ điều kiện cn thể ở một
nước thuộc địa nửa phong kiến.
Hai là, sáng tạo trong tập hợp lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc.
Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và đi sâu bàn
về liên minh công nông, coi đó là nguyên tắc của cách mạng vô sản, thì Nguyễn oi Quốc và
Đảng Cộng sản Việt Nam lại cho rằng lực lượng cách mạng là toàn dân, tuy nhiên vị trí vai
trò của từng giai cấp, bộ phận lại không giống nhau. Theo đó, bộ phận trung tâm trong lực
lượng cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là liên minh công nông do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Trung thành với lý luận Mác - Lênin về liên minh công nông và vai trò lãnh
đạo của giai cấp công nhân, song việc đánh giá vai trò của giai cấp nông dân trong khối liên
minh ấy của Nguyễn oi Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam có những npt mới rất sáng tạo.
Nếu chủ nghĩa Mác- Lênin nhấn mạnh hạn chế của giai cấp nông dân ở tính chất tư hữu, thì
Nguyễn oi Quốc và Đảng ta chs nêu hạn chế của họ là không có khả năng tự giải phóng,
không có khả năng lãnh đạo cách mạng; đồng thời, nhấn mạnh mặt tích cực của nông dân,
nhất là khả năng đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc của họ. Nguyễn oi Quốc
cho rằng: nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong
dân tộc. Vì thế, cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân là lực lượng chủ công của cách mạng.
Nếu chủ nghĩa Mác - Lê nin coi tiểu tư sản, trí thức là tầng lớp trung gian trong cách mạng vô
sản, thì Nguyễn oi Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam lại coi tầng lớp này là đồng minh gần
gũi của công nhân và nông dân. Cương lĩnh năm 1930 khẳng định: “Đảng phải hết sức liên lạc
với tiểu tư sản, trí thức, trung nông (...) để kpo họ đi vào phe vô sản giai cấp”, đồng thời
khẳng định tiểu tư sản là một trong những động lực của cách mạng...”.
Trọng trí thức là một chính sách được Nguyễn oi Quốc - Hồ Chí Minh sớm quan tâm và được
Đảng nhận thức ngày càng cn thể, rõ ràng hơn trong quá trình vận động cách mạng giải phóng
dân tộc ở nước ta. Sự có mặt của tiểu tư sản, trí thức; vai trò ngày càng tích cực của tiểu tư
sản trí thức, sinh viên, học sinh thông qua các cuộc đấu tranh rất sôi nổi ở các đô thị trước và
trong Cách mạng Tháng Tám 1945 đã chứng minh cho sự nhận định đúng đắn của Hồ Chí
Minh và Đảng ta về năng lực hoạt động cách mạng của những đội ngũ này.
Trong khi lý luận của C.Mác coi toàn bộ giai cấp tư sản là đối tượng của cách mạng vô sản thì
V.I.Lênin là người đầu tiên nhận thấy và đánh giá cao vai trò của giai cấp tư sản dân tộc. Cả
V.I.Lênin và Hồ Chí Minh đều nhận rõ hạn chế lớn nhất của giai cấp này là tính không triệt để
trong cách mạng. Cùng với ưu điểm là tính dân chủ, thì Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh nhiều
hơn đến yếu tố dân tộc trong tầng lớp này. Thời kỳ 1936-1939, Đảng đã chủ trương tổ chức
Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, “không những chs có nhân dân lao động mà gồm cả giai
cấp tư sản dân tộc”. Đặc biệt, tới Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), đã xác định tư sản dân tộc
đứng trong lực lượng “hậu bị quân của cách mạng”.
Trong điều kiện hoàn cảnh cn thể của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã phân biệt rõ đặc điểm và thái độ của từng bộ phận trong giai cấp địa chủ phong
kiến, thấy rõ những yếu tố tích cực để lôi kpo họ về hàng ngũ cách mạng. Vì thế, chủ trương
của Đảng ngay từ đầu đã xác định: bộ phận đại địa chủ phong kiến mà quyền lợi hoàn toàn
gắn bó với đế quốc, đứng hẳn về phía phản cách mạng thì phải kiên quyết đánh đổ. Còn lại,
bộ phận tiểu, trung địa chủ, và số ít đại địa chủ mà thái độ còn đang “lừng chừng”, do dự thì
phải tranh thủ họ, lôi kpo họ về phía cách mạng để chống kẻ thù dân tộc hoặc “ít lâu làm cho họ đứng trung lập”.
Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng trong
cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa nửa phong kiến, mà cn thể là ở Việt Nam
không hề bó hẹp trong khuôn mẫu của lý luận, mà là toàn thể dân tộc, đoàn kết thành một
khối thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng (bao gồm các giai cấp, tầng lớp có lòng yêu nước,
có tinh thần dân tộc). Đó là một đóng góp vừa sáng tạo, vừa thực tế.
Ba là, về phương pháp cách mạng, Đảng chủ trương phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng.
Một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh, kiên quyết
dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành, giữ và bảo vệ hòa bình. Việt Nam, trong
15 năm đầu (khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm
1945) phương pháp sử dnng bạo lực cách mạng của quần chúng thể hiện rõ nhất qua hình thức
khởi nghĩa. Đảng ra đời với Cương lĩnh Chính trị đầu tiên xác định phương pháp cách mạng
“phải bằng con đường bạo lực cách mạng chứ không thể là con đường cải lương thỏa hiệp -
không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn hình thức đấu tranh giành chính quyền - không chs là đấu
tranh giành chính quyền cho Đảng, đấu tranh để Đảng trở thành Đảng cầm quyền mà còn đấu
tranh giành quyền lực chính trị cho nhân dân. Đây là cuộc đấu tranh vừa mang tính chất dân
chủ, vừa mang tính chất của cuộc cách mạng dân tộc – vì vậy Đại hội II gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Câu 2: Phân tích yếu tố thời cơ trong công cuộc giành chính quyền của Đảng Cộng Sản
Đông Dương (1939-1945) (đề HKII, 2017-2018)
Cách mạng Tháng Tám thành công là mô m
t mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống giă m c
ngoại xâm hào hùng của dân tô m
c ta. Thành quả của cuô m
c Cách mạng Tháng Tám được kết hợp
từ lòng yêu nước mãnh liê m
t của dân ta và sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng. Trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã dự đoán được tình hình cách mạng, bắt kịp với sự
chuyển biến mau lẹ của thời cuô m c. Thực hiê m
n tốt quá trình chuẩn bị thời cơ, quyết định chớp
lấy thời cơ, thực hiê m n hành đô m
ng kiên quyết đúng lúc. Điều đó đã làm nên thắng lợi vang dô m i của cuô m
c Cách mạng Tháng Tám, khai sinh ra nước Viê m t Nam Dân chủ Cô m ng hòa đem đô m c lâ m
p, tự do cho toàn dân tô m c Viê m
t Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta coi khởi nghĩa là mô m t nghê m thuâ m t. Đó là nghê m thuâ m
t chuẩn bị thời cơ, chớp lấy thời cơ, giành thế thắng lợi trong mô m
t thời khắc quyết định.
Vấn đề thời cơ cũng đã được chủ nghĩa Mác-Lênin đề câ m
p đến. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu vâ m
n dnng sáng tạo vào điều kiê m
n cn thể của cách mạng nước ta và linh hoạt, uyển chuyển theo
tình hình cách mạng thế giới. Đảng ta nhâ m
n thức rõ rằng: Thời cơ là sự kết hợp hàng loạt nhân
tố chủ quan và khách quan đã đến đô m chín muồi. Thời cơ không tự đến, mô t m phần là do ta
chuẩn bị nó, thúc đẩy nó.
Thứ nhất là, từ khi mới ra đời, Đảng ta đã ra sức xây dựng lực lượng về các mă m t, mở rô m ng mă m t trâ m
n, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách
mạng, lực lượng cách mạng ở thành phố,…để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền khi thời
cơ đến. Đồng thời, Đảng hết sức chăm chú theo dõi sự phát triển của tình hình, diễn biến của
chiến tranh thế giới lần thứ hai, dự đoán các khả năng, phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ
thù để có những quyết sách đúng đắn kịp thời.
Thứ hai là, kể từ khi chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (1/9/1939), trong khoảng hai năm,
những thông cáo của Đảng và các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, 7 đã dự đoán cn thể về
khả năng thắng lợi của cách mạng Việt Nam: Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra
Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước
xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công.
Tháng 5 năm 1941, dựa trên những dự đoán ban đầu của tình hình cách mạng trong nước và thế giới. Hô m
i nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 đã nhâ m
n định: Nếu như Liên Xô thắng trâ m
n và Trung Quốc phản công bọn phát xít Nhâ m
t thì đây sẽ là những điều kiê m n thuâ m n lợi
để Đảng ta xây dựng lực lượng tiến tới khởi nghĩa rô m
ng lớn. Đồng thời, Đảng cũng chs ra những điều kiê m
n tạo nên thời cơ chín muồi. Đó là: Ta xây dựng được mă m t trâ m n cứu quốc thống
nhất trên toàn quốc. Nhân dân không thể sống dưới sự áp bức của Pháp - Nhâ m t được nữa. Phe
thống trị ở Đông Dương bước vào khủng hoảng. Và tình hình thế giới có chuyển biến thuâ m n
lợi cho ta như Trung Quốc thắng Nhâ m
t, quân Đồng Minh thắng trâ m n,...
Từ nǎm 1942, Đảng nhận định rằng: Liên Xô chiến thắng phát xít Đức - Nhật là điều có khả
năng nhất. Tình thế sẽ diễn biến thuâ m n lợi cho ta. Vì vâ m
y, Đảng xác định chuẩn bị khởi nghĩa.
Tháng 9 năm 1944, Đảng đã dự kiến rằng, mâu thuẫn Nhật - Pháp sẽ dẫn tới Nhật đảo chính
lật đổ Pháp và chs ra phương hướng hành động cho toàn Đảng. Tháng 10 năm 1944, Hồ Chí
Minh gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhâ m
t đảo chính Pháp, chiếm Đông Dương. Pháp nhanh chống đầu hàng, Ban Thường vn
Trung ương Đảng họp từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đến ngày 10 tháng 3 năm 1945 đã đánh
giá tình hình, ra chs thị: “Nhâ m
t, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Nội dung chủ yếu
của bản Chs thị: Xác định kẻ thù chính, cn thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông
Dương là phát xít Nhật. Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho
cuộc khởi nghĩa. Tuy nhiên Đảng ta xác định, sự kiê m n Nhâ m
t đảo chính Pháp chs làm cho tình
hình chính trị tại Đông Dương lâm vào khủng hoảng chứ thời cơ cho khởi nghĩa chưa thâ m t sự chín muồi.
Thứ ba là, tháng 8 năm 1945, tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Cuô m c khủng hoảng
chính trị ở Đông Dương đã đến tô m t đô m . Phe phát xít thua trâ m n, phát xít Nhâ m t đã đầu hàng đồng minh vô điều kiê m
n. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim hoang man cực đô m . Đồng thời, ta đã
xây dựng lực lượng cách mạng hùng hâ m
u. Nhân dân ta không thể chịu đựng bị áp bức được
nữa, quyết tâm chiến đấu để giành đô m c lâ m p tự do cho dân tô m
c, không khí cách mạng sôi snc.
Bên cạnh đó, cách mạng phải chạy đua gấp rút với quân Anh, Mỹ trước khi chúng vào Đông
Dương giải giáp quân phát xít, mượn danh nghĩa pháp lý để chiếm nước ta. Trong tình hình
đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào
(Tuyên Quang). Sau khi phân tích những điều kiện chủ quan và khách quan đã chín muồi để
cuộc tổng khởi nghĩa có thể nổ ra và thắng lợi. Hội nghị quyết định: Đảng phải kịp thời phát
động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi
quân Đồng minh vào Đông Dương. Hồ Chí Minh đã kiên quyết khẳng định: “Lúc này thời cơ thuâ m
n lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương
quyết giành cho được đô m c lâ m p”.
Hưởng ứng sự lời kêu gọi của Đảng, nhân dân cả nước đã vùng lên khởi nghĩa giành chính
quyền từ tay phát xít Nhâ m
t và chính quyền tay sai. Chs trong vòng 12 ngày, từ ngày 14 đến
ngày 25 tháng 8 năm 1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Cách mạng
Tháng Tám thành công rực rỡ. Như vâ m
y, ta thấy rằng Đảng ta đã nhanh chóng chớp lấy thời cơ “Nghìn năm có mô m t” để thực hiê m n thắng lợi cuô m
c cách mạng. Thời cơ của Cách mạng
Tháng Tám trực tiếp xuất hiê m n khi.
Những yếu tố trên kết hợp tạo thành điều kiê m n thuâ m
n lợi khiến cho thời cơ để nổ ra cuô m c Cách
mạng Tháng Tám đã chín muồi. Đây là thời cơ “nghìn năm có mô m t”, chs xuất hiê m n mô m t lần
trong lịch sử. Thời cơ không tự nhiên có mà do chúng ta tác đô m
ng nó, thúc đẩy nó ra đời.
Trong suốt 15 năm Đảng ta luôn luôn chú trọng tới viê m
c xây dựng lực lượng, củng cố đô m i ngũ
Đảng viên để làm nồng cốt cho cuô m c cách mạng. Thực hiê m
n tuyên truyền, giác ngô m vâ n m đô m ng
quần chúng nhân dân dưới mọi hình thức, trên tất cả các mă m t trâ m
n. Và khi thời cơ xuất hiê m n,
đạt đến đô m chín muồi, Đảng ta đã nhanh chóng cướp lấy cơ hô i m này, phát đô m ng khởi nghĩa
giành chính quyền. Thành lâ m p nước Viê m t Nam Dân chủ Cô m
ng hòa, tuyên bố với nhân dân Viê m t
Nam và thế giới, công nhâ m n nền đô m c lâ m p của dân tô m c Viê m t Nam, chă m
n đứng âm mưu xâm lược của kẻ thù.
Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho nghê m thuâ t m tạo thời
cơ, chớp lấy thời cơ, khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng ta. Thể hiê m n sự lãnh đạo sáng
suốt, tài tình của Đảng. Ngày nay, trong thời kỳ hô m i nhâ m
p quốc tế, Đảng ta cũng cần phải sáng
suốt lãnh đạo nhân dân ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tạo thời cơ cho chính mình. Bằng viê m
c đi tắt đón đầu, nhạy bpn tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuâ m
t,…để tạo điều kiê m n phát triển toàn diê m
n đất nước. Xây dựng mô m t nước Viê m
t Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh. Đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hô m
i để xứng đáng với sự nghiê m p mà cha ông ta đã dày công xây dựng.
Làm rõ yếu tố thời cơ của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay?
Những bài học lịch sử về Cách mạng Tháng Tám còn rất nhiều nhưng bài học về nắm bắt thời
cơ cho đến nay vẫn là bài học nóng hổi, mang tính thời sự trong công cuộc phát triển đất nước
hôm nay. Chúng ta đã ra khỏi chiến tranh, ra khỏi sự kiệt quệ kinh tế và đang trở thành một
trong những quốc gia phát triển trên thế giới. Một nước có diện tích và dân số thuộc vào
những nước đứng nhóm đầu, tiềm năng rất lớn còn cần được khai thác; một đất nước ổn định
về chính trị, an ninh quốc phòng ngày càng được củng cố... tạo ra nhiều lợi thế đối nội và đối
ngoại. Đó là cơ sở xuất hiện những thời cơ để vươn lên dân giàu nước mạnh.
Ngày nay, thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, tạo ra
những kỹ thuật mũi nhọn đưa năng suất lao động lên rất cao. Xu thế khu vực hóa và toàn cầu
hóa kinh tế ngày càng tăng mạnh. Đồng thời, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển cũng diễn
ra mạnh mẽ trên thế giới. Đó là những thời cơ mới tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế của nước ta. Chính đường lối, chính sách hơn 20 năm đổi mới của Đảng và
Nhà nước đã mang lại những thành tựu to lớn, tạo thời cơ và điều kiện cho đất nước tiến lên
theo xu thế phát triển chung của thời đại. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vững bước đi lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện đường lối phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trương
tích cực và chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Việc nước ta gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) là dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đó còn là kết quả của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế.
Để tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới, chúng ta phải luôn quán triệt sâu
sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và vận dnng
thành công trong thời kỳ giành và giữ chính quyền năm 1945 - 1946. Đó là thước đo bản lĩnh
cách mạng, sự mẫn cảm và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta.
Câu 3: Mối quan hệ giữa đường lối kháng chiến và xây dựng chế độ mới (1945 – 1954)
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân (1946-1954) a) Hoàn cảnh lịch sử
Tháng 11-1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng cả thành phổ Hải Phòng và thị xã
Lạng Sơn, đổ bộ lên Đà Nẵng và gây nhiều cuộc khiêu khích, tàn sát đồng bào ta ở Hà Nội.
Trung ương Đảng đã chs đạo tìm cách liên lạc với phía Pháp để giải quyết vấn đề bằng biện
pháp đàm phán, thương lượng.
Trước việc Pháp gửi tối hậu thư đòi ta tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, để cho chúng kiểm soát
an ninh trật tự ở Thủ đô, ngày 19-12-1946, Ban Thường vn Trung ương Đảng đã họp Hội
nghị mở rộng tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh để hoạch định
chủ trương đối phó. Hội nghị đã cử phái viên đi gặp phía Pháp để đàm phán, song không có
kết quả. Hội nghị cho rằng, hành động của Pháp chứng tỏ chúng cố ý muốn cướp nước ta một
lần nữa. Khả năng hòa hoãn không còn. Hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước. Trong thời
điểm lịch sử phải quyết đoán ngay, Hội nghị đã quyết định hạ quyết tâm phát động cuộc
kháng chiến trong cả nước và chủ động tiến công trước khi thực dân Pháp thực hiện màn kịch
đảo chính quân sự ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20 giờ ngày 19-
12-1946, tất cả các chiến trường trong cả nước đã đồng loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20-12-
1946, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát đi trên Đài Tiếng nói Việt Nam.
Thuận lợi của nhân dân ta khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là ta
chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc và ta đánh địch trên đất nước của chính
mình “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Ta cũng đã có sự chuẩn bị cần thiết về mọi mặt nên về
lâu dài, có khả năng đánh thắng quân xâm lược. Trong khi đó, thực dân Pháp cũng có nhiều
khó khăn về chính trị, kinh tế, quân sự ở trong nước và tại Đông Dương không dễ gì có thể khắc phnc được ngay.
Khó khăn của ta là tương quan lực lượng quân sự yếu hơn địch. Ta bị bao vây bốn phía, chưa
được nước nào công nhận, giúp đỡ. Còn quân Pháp lại có vũ khí tối tân, đã chiếm đóng được
hai nước Campuchia, Lào và một số nơi ở Nam Bộ Việt Nam, có quân đội đứng chân trong
các thành thị lớn ở miền Bắc.
Những đặc điểm của sự khởi đầu và các thuận lợi, khó khăn đó là cơ sở để Đảng xác định
đường lối cho cuộc kháng chiến.
b) Quá trình hình thành và nội dung đường lối kháng chiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành, bổ sung, hoàn chsnh qua thực tiễn. Ngay
sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong Chs thị về kháng chiến kiến quốc, Đảng đã
nhận định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất của dân tộc ta là thực dân Pháp xâm lược, phải tập
trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Trong quá trình chs đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ,
Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã chs đạo kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại
giao để làm thất bại âm mưu của Pháp định tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam.
Ngày 19-10-1946, Thường vn Trung ương Đảng mở Hội nghị Quân sự toàn quốc lần thứ
nhất, do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì. Xuất phát từ nhận định “không sớm thì muộn,
Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”, Hội nghị đề ra những chủ
trương, biện pháp cn thể cả về tư tưởng và tổ chức để quân dân cả nước sẵn sàng bước vào
cuộc chiến đấu mới. Trong Chs thị Công việc khẩn cấp bây giờ (5-11-1946), Hồ Chí Minh đã
nêu lên những việc có tầm chiến lược, toàn cnc khi bước vào cuộc kháng chiến và khẳng định
lòng tin vào thắng lợi cuối cùng.
Đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn
được soạn thảo và công bố ngay trước và sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đó
là văn kiện Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến của Hồ Chi Minh (19-12-1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh. Nội dung đường lối:
Mục đích kháng chiến: Kế tnc và phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, “Đánh phản
động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập”.
Tính chất kháng chiến: “Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng
của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài”. “Là
một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình”. Đó là cuộc kháng chiến
có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Kháng chiến toàn dân:
“Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ.
Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, thực hiện mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài. Kháng chiến toàn diện, đánh địch về mọi mặt: chính
trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Trong đó:
Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các
đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình.
Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt
địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh
chính quy, là “Triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài...
Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ”.
Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.
Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo
ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng.
Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên hiệp với dân tộc
Pháp, chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
Kháng chiến lâu dài (trường kỳ): Là để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để có
thời gian phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của ta, chuyển hóa tương quan lực
lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt”, vì ta bị bao vây bốn phía, chưa
được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp
đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi.
Đường lối kháng của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là đúng đắn và sáng tạo, vừa
kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của
chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến
của Đảng được công bố sớm đã có tác dnng đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng đi vào ổn
đinh và phát triển đúng hướng, từng bước đi tới thắng lợi. Tháng 1-1948, Hội nghị Trung
ương Đảng mở rộng đã đề ra nhiệm vn và biện pháp về quân sự, chính trị, văn hóa nhằm thúc
đẩy cuộc kháng chiến, phát động phong trào thi đua yêu nước xây dựng hậu phương vững
mạnh về mọi mặt. Tháng 1-1950, Hội nghị toàn quốc của Đảng chủ trương gấp rút hoàn thành
nhiệm vn chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công...
Thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng, từ năm 1947 đến năm 1950, Đảng đã tập trung
chs đạo cuộc chiến đấu giam chân địch trong các đô thị, củng cố các vùng tự do lớn, đánh bại
cuộc hành quân lớn của địch trên Việt Bắc; lãnh đạo đẩy manh xây dựng hậu phương. Tìm
cách chống phá thủ đoạn “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
của thực dân pháp. Thắng lợi của chiến dịch Biên giới cuối năm 1950 đã giáng một đòn nặng
nề vào ý chí xâm lược của địch, quân ta dành được quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Về đường lối xây dựng chế độ dân chủ nhân dân:
Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều chuyển biến mới.
Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng
chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đã dành được những thắng lợi quan trọng. Song lợi
dnng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quổc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến
tranh Đông Dương. Điều kiện lịch sử đó đặt ra yêu cầu bổ sung và hoàn chsnh đường lối cách
mạng, đưa cuộc chiến tranh đến thắng lợi.
Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp Đại hội đại biểu lần
thứ II tại tsnh Tuyên Quang. Đại hội đã nhất trí tán thành Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và ra Nghị quyết chia tách Đảng Cộng
sản Đông Dương thành ba Đảng cánh mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của ba dân tộc
thắng lợi. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Báo
cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội do
Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội của Đảng Lao động Việt Nam đã kể thừa và
phát triển đường lối cách mạng trong các cương lĩnh chính trị trước đây của Đảng thành
đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối đó được phản ánh trong Chính
cương của Đảng Lao động Việt Nam. Nội dung cơ bản là:
Tính chất xã hội: Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân dân, một
phần thuộc địa và nửa phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn
chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc địa. Mâu
thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân Việt Nam chống thực dân pháp và bọn can thiệp.
Đối tượng cách mạng: Cách mạng Việt Nam có hai đối tượng: đối tượng chính hiện nay là
chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cn thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ; đối tượng
phn hiện nay là phong kiến, cn thể lúc này là phong kiến phản động.
Nhiệm vụ cách mạng: Nhiệm vn cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn
đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích
phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân
đân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.
Ba nhiệm vn đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vn chính trước mắt là hoàn thành giải
phóng dân tộc. Cho nên lúc này phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược.
Động lực của cách mạng: Gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí
thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ. Những giai
cấp tầng lớp và phần tử đó hợp thành nhân dân. Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động tri thức
Đặc điểm cách mạng: Giải quyết những nhiệm vn cơ bản nói trên do nhân dân làm động lực,
công nông và lao động trí thức làm nền tảng và giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt
Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Cách mạng đó không phải là
cách mạng dân chủ tư sản lối cũ mà cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là
một thứ cách mạng dân chủ tư sản đổi mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: Đó là một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải qua
ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vn chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai
đoạn thứ hai, nhiệm vn chủ yếu là xỏa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực
hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chsnh chế độ dân chủ nhân dân; giai
đoạn thứ ba, nhiệm vn chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ
nghĩa xã hội. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau.
Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân.
Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.
Mnc đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả
các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam.
Chính sách của Đảng: Có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của
các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô; thực hiện đoàn kết
Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào.
Đường lối, chính sách của Đại hội đã được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương tiếp theo.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951) đã nêu lên
chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên cơ sở thực hiện tốt ba nhiệm vn lớn là “ra sức
tiêu diệt sinh lực của địch, tiến tới giành ưu thế quân sự”; “ra sức phá âm mưu thâm độc của
địch: lấy chiến tranh nuôi chiến tranh ,dùng người Việt đánh người Việt", đẩy mạnh kháng
chiến ở vùng tạm bị chiếm; “củng cố và phát triển sức kháng chiến của toàn quốc, toàn dân,
củng cố và phát triển đoàn kết”.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 1-1953), vấn đề cách mạng ruộng đất được
Đảng tập trung nghiên cứu, kiểm điểm và đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị
tiến tới cải cách ruộng đất. Hội nghị cho rằng: muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ
nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của
nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân.
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 11- 1953), Đảng quyết định phát động quần
chúng triệt để giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến. “Cải cách ruộng đất
để đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi”. “Cải cách ruộng đất là chính sách chung của cả nước,
nhưng phải làm từng bước tùy điều kiện mà nơi thì làm trước nơi thì làm sau”. Hội nghị cũng
khẳng định: "Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc giai cấp đấu
tranh ở nông thôn, rất rộng lớn, gay go và phức tạp. Cho nên chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế
hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt chẽ.
Đường lối hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng được thực hiện trên thực tế trong giai đoạn 1951-1954.
Câu 4: Tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng trong giai đoạn 1959 – 1964.
Tháng 9/1954 bộ chính trị ra nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vn mới và chính sách mới
của Đảng. Nghị quyết đã chs ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng
Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; nước nhà tạm
chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung.
Tại HNTƯ lần thứ bảy (3/1955) và lần thứ tám (8/1955), Trung ương Đảng nhận định:
muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc
lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.
Tháng 12/1957, tại HNTƯ lần thứ 13, đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách
mạng được xác định: “Mnc tiêu và nhiệm vn cách mạng của toàn đảng, toàn dân ta hiện nay
là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tnc đấu tranh để thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình.”
Tháng 1/1959 HNTƯ lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền Nam. Sau nhiều lần họp và
thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam. Nội dung HNTƯ 15
Hội nghị xác định tính chất xã hội miền Nam sau 1954 là xã hội thuộc địa kiểu mới và nửa phong kiến.
Mâu thuẫn cơ bản của xã hội miền Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với đế
quốc Mỹ xâm lược và tay sai của chúng. Mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam mà chủ yếu là
nông dân với địa chủ phong kiến. Trong hai mâu thuẫn trên, thì mâu thuẫn chủ yếu ở miền
Nam là mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với đế quốc mỹ xâm lược cùng tập đoàn
thống trị Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, đại diện cho bọn địa chủ phong kiến và tư
sản mại bản thân Mỹ phản động nhất.
Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Hai nhiệm vn chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau nhằm
phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện
thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
+ Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập
một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các
quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất
nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam á và trên thế giới.
+ Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền
về tay nhân dân. Đó là con đường lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị
của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế
quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên
chính quyền cách mạng của nhân dân.
+ Phương pháp cách mạng: Cần có sách lược lợi dnng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù
phân hoá cao độ đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Sử dnng, kết hợp những hình thức đấu
tranh hợp pháp, nửa hợp pháp, phối hợp chặt chẽ phong trào ở đô thị với phong trào nông
thôn và vùng căn cứ. Cần kiên quyết giữ vững đường lối hoà bình thống nhất nước nhà. Đồng
thời hội nghị dự báo đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất cho nên trong bất kỳ điều kiện
nào, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ
trang trường kỳ và thắng lợi nhất định thuộc về ta.
+ Về mặt trận: Hội nghị chủ trương cần có mặt trận dân tộc thống nhất riêng ở miền Nam có
tính chất, nhiệm vn và thành phần thích hợp nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và tay sai.
+ Về vai trò của Đảng bộ miền Nam: Hội nghị chs rõ sự tồn tại và trưởng thành của Đảng bộ
miền Nam dưới chế độ độc tài phát xít là một yếu tố quyết định thắng lợi phong trào cách
mạng miền Nam. Phải củng cố Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đề cao công
tác bí mật, triệt để khả năng hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp để che dấu lực lượng đề
phòng sự xâm nhập phá hoại của bọn gián điệp và những phần tử đầu hàng, phản bội chui vào
phá hoại Đảng. Nghị quyết hội Nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở
đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo
của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Quá trình đề ra và chs đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính là quá trình
hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được hoàn chsnh tại Đại hội
lần thứ III của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9-1960) tại Hà Nội đã xác định:
+ Nhiệm vụ chung: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình,
đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ,
xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực
góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam o và thế giới.”
+ Nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vn chiến lược:
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện
thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
+ Mục tiêu chiến lược: “Nhiệm vn cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vn cách mạng ở miền
Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vn nhằm giải quyết yêu cầu cn thể của mỗi
miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm vn đó lại nhằm giải quyết mâu
thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện
mnc tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc”.
+ Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mnc tiêu chung nên “Hai
nhiệm vn chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dnng thúc đẩy lẫn nhau”. + Vị trí, tác dụng:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vn xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ
địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách
mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất cả nước.
Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với
sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực
hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
+ Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng,
Đảng kiên trì con đường hoà bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực
hiện hiệp thương tổng tuyển cử hoà bình thống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được
sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta và phù hợp với xu hướng chung của thế giới. "Nhưng
chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc
Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân
dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc".
+ Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà
là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ
và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta,
Nam Bắc nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Câu 5: Phân tích mối quan hệ giữa chính trị - quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao để
chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chs có mặt khi kết thúc
chiến tranh để đi đến ký một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi bên. Trái lại, trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta có mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn
có vai trò, vị trí, nhiệm vn nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung
ương (khóa III), tháng 1/1967 đã khẳng định nhiệm vn to lớn là đẩy mạnh đấu tranh ngoại
giao, chủ động tiến công địch, phnc vn sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng Tư 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan
trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây dựng lực lượng, đồng
thời phải phnc vn và phối hợp với đấu tranh quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp
đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vn lớn. Nhiệm
vụ thứ nhất là tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương của địch.
Đối với hậu phương quốc tế của ta, ngoại giao có nhiệm vn thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề
ra là thêm bạn bớt thù, tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến
những người chs đồng tình với ta một điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc
Mỹ là nhằm mnc tiêu chung của loài người, của thời đại, từ mnc tiêu cao là chủ nghĩa xã hội,
cho đến mnc tiêu thấp là hòa bình, độc lập dân tộc. Ai đồng tình với ta trên cơ sở chiến lược
là đi tới chủ nghĩa xã hội đều là bạn của ta. Ai chs đồng tình với ta dù chs là trên cơ sở chủ
nghĩa nhân đạo, ta cũng coi là bạn. Ta tranh thủ kết bạn với mọi người từ mức thấp tới mức
cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao là giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta nhìn
vấn đề với đầu óc rất sáng suốt và thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn như Mỹ, cuộc
đấu tranh của ta chống Mỹ không thể chs khi nào ta buộc đối phương phải quy hàng mới kết
thúc. Phải có khái niệm thật rõ thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua thì mới xác định được
giải pháp. Ta thắng tức là khi nào ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của
ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân, chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền
dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ mà chịu
nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm sao đạt được thực chất vấn
đề như vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế mà ta lại là một nước nhỏ thì phải có ngoại
giao đóng góp vào đó, thực hiện phương châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn
toàn. Phải có ngoại giao để giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về
chính trị và tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế giới
như vậy, điều tối cần thiết đối với ta là phải tạo lập được một mặt trận nhân dân thế giới ủng
hộ Việt Nam đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mnc đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu hướng vào
bốn nội dung: thứ nhất là nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai là nêu cao quyết tâm
giành độc lập của Việt Nam, thứ ba là nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam, thứ tư là tố
cáo tội ác chiến tranh và vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn ở thế giằng co quyết liệt, nhiệm vn
ngoại giao chủ yếu vẫn là tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối loạn hậu
phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965)
của Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”, song
đã tính đến lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy
đánh để pp địch đàm phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ những năm 1965-
1967, ta chưa tính đến đàm phán nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định
Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu và đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân
dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi. Thông
thường, dùng trung gian chs là một phương thức có tính chất quá độ để mở đường cho đàm
phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc tranh chấp. Nhưng với Mỹ, việc dùng
trung gian đã được xem như một thủ đoạn nhằm những mnc đích khác như: thu thập tin tức về
ý đồ chiến lược hoặc về lập trường đàm phán cn thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt
làm cho đối phương chập chững, mơ hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc pp, đe dọa hoặc ve
vãn dn dỗ; xoa dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức pp sang đối phương; gây hiểu
lầm chia rẽ giữa đối phương với bạn bè của họ.
Để thực hiện những mnc đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Làm trung
gian cho Mỹ không những là các nước đồng minh của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn
cả nước xã hội chủ nghĩa nữa; không những là nhân vật trong chính giới các nước mà cả
những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất mạnh trong thời gian chưa
có cuộc đàm phán Paris, mà cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tnc dùng trung gian. Thủ
đoạn này thâm độc ở chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải đồng tình
hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta mà ta bác đi,
như vậy có nghĩa là ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, và mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước
đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 tới cuối năm 1967 đầu 1968, gây sức pp bên ngoài với ta vừa để thu
thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về
khả năng và ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên Xô dùng “mồi kinh tế” lôi kpo được bốn
nước Đông Âu làm trung gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ
dùng các nước xã hội chủ nghĩa làm trung gian với mnc đích phân hóa mặt trận đoàn kết xã
hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, gây sức pp từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với ta hòng
tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác của
Mỹ, tại sao ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, và cho họ biết đến lúc chín
muồi ta sẽ trực tiếp đàm phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa đối phó với
Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn mà bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của
Mỹ, tăng cường hậu phương ta và chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Câu 7: Vì sao trong quá trình xây dựng CNH-HĐH thời kỳ đổi mới, Đảng ta lại gắn vấn
đề CNH-HĐH với vấn đề bảo vệ môi trường?
Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có Nghị quyết 41 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mnc
tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.
Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội
dung BVMT được nâng lên một tầm cao mới, gắn chặt với quá trình CNH-HĐH. Một điểm
mới so với Đại hội X là đưa thêm nội dung phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường;
từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đảng và Nhà nước ta chủ
trương ưu tiên việc bảo vệ môi trường với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa vì:
Thứ nhất là, quá trình CNH-HĐH đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết đối với môi trường. Chs tiêu
tăng GDP gấp 2,2 lần trong 10 năm tới với mức tăng trưởng công nghiệp hằng năm sẽ làm
trầm trọng hơn tình trạng ô nhiễm ở các KCN và vùng đô thị; việc CNH-HĐH các ngành
công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi trường. Trong khi đó,
theo số liệu của Ủy ban Khoa học Công nghệ Môi trường của Quốc hội cho thấy, chs mới có
60 KCN có trạm xử lý nước thải tập trung (chiếm 42% số KCN đã vận hành). Mỗi ngày, các
KCN thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải độc hại ra môi trường. Hầu hết các cnm, điểm, KCN
chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường.
Thứ hai là, việc đẩy mạnh tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn là động lực lớn phát
triển các làng nghề. Theo thống kê, cả nước có gần 1500 làng nghề và tạo ra 11 triệu việc làm
thường xuyên và không thường xuyên. Tuy nhiên do sản xuất tự phát, sử dnng công nghệ lạc
hậu nên phần lớn các làng nghề gây ô nhiễm môi trường. Một cuộc khảo sát của Bộ Y tế tại 3
tsnh Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên đã cho kết luận, hầu hết các làng nghề không có hệ
thống xử lý nước thải và kiểm soát chất thải rắn.
Thứ ba là, CHH-HĐH sẽ kpo theo đô thị hóa. Đây thực sự là sức pp lớn về môi trường trong
quản lý đô thị. Theo nghiên cứu của Bộ KH-CN, các đô thị Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Việt
Trì, Ninh Binh, Quy Nhơn, Nha Trang, Biên Hòa... là những tn điểm phát thải các chất độc
hại. Riêng Hà Nội, mỗi năm thải vào môi trường nước khoảng 3.600 tấn chất hữu cơ, 320 tấn
dầu mỡ, hàng chnc tấn kim loại nặng,...
Thứ tư là, song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang phải chịu những áp lực về thay
đổi cấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng lộ
rõ. Do đó, các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghpp ngay từ quá trình ra các quyết
định về phát triến kinh tế và xã hội. Có nghĩa là, cần cn thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh. Trong đó,
Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dnng và phát
triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng...; vì đây là động lực chủ
yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng phát triển bền vững.
Thực tế này là một thách thức đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị lớn nhằm vừa tạo ra bước
đột phá lớn trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa theo hướng bảo vệ môi trường, phát triển xanh.
Bước đột phá ở đây là chuyển đổi quyết liệt từ cơ chế nặng về '”bao cấp”, sang cơ chế kinh tế
hóa, tài chính hóa trong quản lý tài nguyên, môi trường. Thực tế hiện nay, nhà nước bỏ ra rất
nhiều kinh phí, trang thiết bị và nguồn nhân lực cho công tác điều tra tài nguyên khoáng sản,
khí tượng, thủy văn... nhưng thường là cung cấp với khoản phí không đủcho các nhà đầu tư.
Đó là sự bù đắp không cân xứng dẫn đến không đủ nguồn lực cho công tác quy hoạch tài nguyên và môi trường.
Thứ năm là, Nhà nước cũng cần sử dnng công cn tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào các
ngành sản xuất các sản phẩm sử dnng công nghệ sạch; sản xuất và sử dnng năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái
chế và sử dnng các sản phẩm tái chế. Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây
khẳng định, chúng ta có đủ năng lực, điều kiện để chuyên đổi thành công sang mô hình phát
triển bền vững. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, cơ khí tự
động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm nano, những
thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học,
hóa học... cho thấy nếu có đủ quyết tâm và cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng
bước vào quỹ đạo phát triển hiện đại đi cùng với việc bảo vệ môi trường.
Thứ sáu là, chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có khả
năng phòng ngừa và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH-HĐH. Những yếu kpm, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời
gian qua chủ yếu là do các cấp các ngành thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng
trưởng kinh tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường. Do đó, cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức
và hành động, trong chs đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT. Trước hết, tất cả
các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, được Bộ hoặc Sở Tài nguyên
- Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt. Đồng thời, tăng cường việc kiểm soát ô
nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất thải trong sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vn y tế. Khắc phnc các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái; nâng
cao khả năng và nguồn lực điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên để có kế hoạch bảo vệ,
khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học. Nói cách khác, bảo vệ môi trường phải vừa là mnc
tiêu, vừa là nội dung của quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Câu 8: Tại sao nói phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa là bước
phát triển mới về tư duy lý luận, sự vận dụng sáng tạo, độc lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị chiến
tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mnc tiêu lý tưởng của những người cộng sản
và nhân dân Việt Nam, là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Nhưng đi
lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là câu hỏi lớn và cực kỳ hệ trọng, muốn trả lời thật
không đơn giản. Suốt một thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dnng mô
hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô-viết, mô hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao cấp.
Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mô hình này bộc lộ những khuyết điểm; và trong công
tác chs đạo cũng phạm phải một số sai lầm mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là
bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, không tôn
trọng quy luật khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12-1986) đã đề
ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với những hình
thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo
toàn diện và phát huy nhân tố con người, có nhận thức mới về chính sách xã hội.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tuân theo qua luật cung
cầu để xác định giá cả và số lượng sản xuất. Nhờ sự điều tiết và chi phối của quy luật cung
cầu mà hàng hóa được đáp ứng theo nhu cầu cần thiết, không gây dư thừa, lãng phí tài
nguyên. Từ đó giúp nền kinh tế phát triển tốt hơn.
Trên cơ sở vận dnng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm phát triển
của các quốc gia trên thế giới, và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường
lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước phát triển mới
về tư duy lý luận, một sự vận dnng độc lập, sáng tạo của Đảng ta.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng tới là một
kiểu nền kinh tế vận hành theo các quy luật thị trường phù hợp với những đặc trưng riêng
của Việt Nam, phản ánh trình độ phát triển, điều kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị - xã
hội của Việt Nam. Đồng thời góp phần hướng tới từng bước xác lập một xã hội mà ở đó
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và có sự điều tiết thích hợp của Nhà
Nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo.
Định hướng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa qua các Đại hội
Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), khóa VI, phát triển thêm một bước, đưa ra quan
điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã
hội, coi “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ
sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Đến Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tnc nói rõ hơn chủ trương
này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của
Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của
Đảng khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: “Sản xuất
hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh
nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ
nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị
trường, chưa dùng khái niệm “kinh tế thị trường”. Phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4-
2001) mới chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đại
hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến
lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước
phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là sự gán ghpp
chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dnng xu thế
vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt Nam
trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh
nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dnng kinh tế thị trường để thực hiện mnc tiêu
từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô
hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu kinh tế thị trường
mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có thể nói kinh tế thị trường là “cái
phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là “cái đặc thù” của Việt Nam,
phù hợp với điều kiện và đặc điểm cn thể của Việt Nam.
Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa đây không phải là kinh tế thị
trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng không phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu
tập trung quan liêu; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như
trên đã nói, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa có vừa chưa có
đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn
lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong
việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật – công nghệ, nâng
cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời
sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của
kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bóc lột và phân
hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự
giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác – Lê-nin, nắm bắt
đúng quy luật khách quan và vận dnng sáng tạo vào điều kiện cn thể của Việt Nam.
Câu 9: Vì sao ĐCSVN coi “Văn hoá là nền tảng tinh thần cho xã hội, là mục tiêu, động
lực phát triển bền vững đất nước”?
Văn hóa có mặt trong nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử tạo nên cơ đồ, tiềm
lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày nay. Không thể phủ nhận sự đồng hành của văn
hóa, sự hiện diện của văn hóa trong các bình diện của đời sống xã hội đã tạo thành sức mạnh
nội sinh, vừa là nguồn lực, vừa là thành quả của phát triển. Về vai trò của văn hóa đối với sự
phát triển bền vững, Trong Nghị quyết Trung ương IX khoá 11 (năm 2014), ĐCSVN đã đề ra
quan điểm: “Văn hoá là nền tảng tinh thần cho xã hội, là mnc tiêu, động lực phát triển bền
vững đất nước”. Quan điểm ấy được thể hiện qua những nội dung cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần cho xã hội.
Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng
của Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần
của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế -
xã hội bền vững. Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm
nhuần trong mỗi con người và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và
phát huy qua các thế hệ người VN, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại
và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát chân - thiện - mỹ. Vì vậy, chúng
ta làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở
thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng
ta cần phải mở rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thu có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ
trong tinh hoa văn hóa các dân tộc khác để làm giàu thêm cho nền văn hóa dân tộc, tạo nên
bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc
tế, làm cho văn hóa VN bắt kịp sự phát triển của văn hóa nhân loại trong thời đại ngày nay và
chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với văn hóa. Đảng ta coi văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, nghĩa là đề cao, coi trọng nguồn lực văn hóa của sự phát triển bền vững
đất nước. Hệ thống di sản văn hóa, các giá trị văn hóa là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát
triển kinh tế - xã hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, văn hóa là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mnc tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một
xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng chính là mnc tiêu
của văn hóa, nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của văn hóa. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2020 xác định: Mnc tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con
người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng
xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển bằng mọi giá,
nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân
và xã hội, giữa kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh
thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến văn
hóa, sự tham gia của văn hóa vào trong tổ chức và hoạt động của nền kinh tế vì mnc tiêu phát
triển xã hội, phát triển con người, đó chính là vai trò của văn hóa trong kinh tế, kinh tế trong
văn hóa. Văn hóa với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mnc tiêu đặc biệt quan trọng,
vì nó là nhu cầu phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn là
nhu cầu nhân văn và là cứu cánh của con người, văn hóa ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con
người, xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt được niềm tin, sự khác vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên
nhiên, thậm chí còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội
tiến bộ chính là nhờ coi trọng yếu tố văn hóa, con người thông qua việc nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển. Như vậy, nguồn lực nội sinh
của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong văn hóa, con người. Sự phát triển của một
dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội nguồn,
phát triển phải vựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hóa.
Kinh nghiệm qua hơn 30 năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay
bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chs do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động
lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong văn hóa. Trong điều kiện của
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về phát triển kinh tế,
phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chs dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên, mặc dù yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều có hạn và có thể bị khai thác
cạn kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức,
thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày
càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng của cá nhân và xã hội, đó tức là văn hóa, vai trò của văn
hóa trong phát triển, chs có sự tham gia của văn hóa mới đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng
tạo này nằm trong văn hóa, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và cộng
đồng. Chs có nguồn lực này là vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt,
các nguồn lực khác sẽ không được sự dnng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí
tuệ và năng lực khai khác chúng, thì các nguồn lực đó dù có phong phú, đa dạng, thì cũng
không thể tham gia và phát huy tác dnng vào trong phát triển
Câu 10: Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước?
Trong thời kỳ mới, phát triển bền vững đã trở thành yêu cầu tất yếu chung của nhiều quốc gia
dân tộc, đó là bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, đây cũng chính là mnc tiêu mà Việt
Nam đang hướng tới, để đạt được điều đó, cần phải nhận thức đúng đắn vai trò và sự tham gia
của văn hóa vào trong phát triển, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội
và vào từng con người, văn hóa phải trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mnc tiêu, động
lực của sự phát triển bền vững đất nước.
1. Quan niệm về văn hóa và phát triển bền vững
Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, vai trò của văn hóa đối với sự phát
triển bền vững, dù cách tiếp cận nào thì vai trò của văn hóa hết sức quan trọng, có mặt trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, nhận thức và ứng xử đúng đối với vai trò của
văn hóa là chìa khóa mở cánh cửa và tạo lập một xã hội phát triển bền vững.
Trước hết, văn hóa là khái niệm rất rộng và đa nghĩa, không có một định nghĩa nào bao hàm,
đầy đủ cho văn hóa, phải được nhìn nhận, tiếp cận dưới nhiều gốc độ khác nhau: Một là, coi
văn hóa như một hoạt động cho sự phát triển, hoạt động cơ bản của con người đó là hoạt động
sản xuất vật chất và hoạt động sản xuất tinh thần, nhưng không phải hoạt động nào cũng là
văn hóa. Hai là, văn hóa là giá trị và hệ giá trị, nghĩa là văn hóa mang hệ giá trị phổ biến và
phổ quát của nhân loại, như vậy văn hóa được cấu thành từ khoa học - đạo đức - nghệ thuật;
Ba là, nhìn nhận văn hóa như là sự sáng tạo, nghĩa là văn hóa là sáng tạo, đổi mới; Bốn là,
văn hóa được nhìn nhận như là bộ lọc, điều chsnh, nghĩa là chức năng dùng văn hóa như bộ
lộc, điều chsnh hành vi, ứng xử, đạo đức của con người.
Quan niệm về phát triển bền vững được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất
yếu trong việc giải quyết những khó khăn và bất ổn về kinh tế - xã hội Theo đó, ba trn cột
phát triển bền vững được xác định là: Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh
tế bền vững là phát triển nhanh và an toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là
công bằng xã hội và phát triển con người, chs số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao
nhất về phát triển xã hội. Thứ ba, bền vững về sinh thái môi trường là khai thác và sử dnng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống.
2. Quan điểm của Đảng ta về vai trò của văn hóa đối với phát triển bền vững đất nước
Về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này được
thể hiện qua mấy nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan diểm này một lần nữa khẳng định vai trò của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của
xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, Một trong những mnc tiêu quan trọng mà Đảng ta nhấn mạnh là: “Xây dựng
nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm
nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thật sự trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc của xã hô m
i, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền
vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mnc tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Do vậy, phát triển bền vững phải nhằm mnc tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, con người phát triển toàn diện. Văn hóa là kết quả của kinh tế, là sức mạnh nội sinh
quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và phát triển văn hóa cũng là một
mnc tiêu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Các giá trị văn hóa tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi
con người và cả dân tộc. Các giá trị văn hóa được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các thế
hệ người Việt Nam, đó là tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và hướng đến
tương lai, tương lai của những giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho
văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền
tảng tinh thần bền vững của xã hội.