Lch s v n minh th gi i ă ế
A. Nhập môn
1) Phân tích và đưa các ví dụ minh họa các khái niệm:
a) Văn hóa
Văn hóa tổng thể các giá trị vật chất tinh thần con người sáng tạo ra trong
quá trình lịch sử.
Các thuộc tính:
Là dấu hiệu để phân biệt giữ con người và tự nhiên.
Xuất hiện gần như đồng thời với sự xuất hiện của loài người (khi con người
chế tạo ra công cụ đá).
Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
b) Văn minh
Văn minh trạng thái phát triển của văn hóa vật chất văn hóa tinhcao, tiến bộ
thần.
Ví dụ: văn minh phương Đông, văn minh Hi Lạp...
Các thuộc tính:
Nảy sinh trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất.
Đối lập với văn minh là trạng thái dã man, hoang dã, lạc hậu.
Xuất hiện cùng với sự xã hội có giai cấp và nhà nước.
Có văn minh vật chất và văn minh tinh thần
PHÂN BIỆT VĂN HÓA VỚI VĂN MINH:
Văn hóa Văn minh
Giống
nhau Cả hai đều chỉ những giá trị vật chất tinh thần do con người
sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử (phát triển theo thời gian)
Mang tính nhân bản (nhu cầu cơ bản nhất của con người)
Mang tính lịch sử sâu sắc
Kháu
nhau Mang tính dân tộc, giai cấp
và vùng miền
Có bề dày lịch sử
trước văn minh (xuất
hiện khi con người ->
nay)
Thường liên quan đến tinh
thần
Xu hướng tìm đến cái riêng
Văn hóa là sự khác biệt
Mang tính quốc tế, siêu
dân tộc
Là lát cắt đồng đại
Xuất hiện khi có Nhà nước
Thiên về vật chất, kinh tế,
tổ chức hội (luật pháp,
tổ chức nhà nước, định chế
xã hội...)
Xu hướng tìm đến cái
chung, cái phổ biến
Thể hiện sự cao thấp
c) Nền văn minh
Có 2 cách hiểu:
Theo quốc gia, dân tộc: nền văn minh về văn hóa vật chất trạng thái tiến bộ
tinh thần của trong tiến trình lịch sử một cộng đồng dân tộc nhất định ( dụ: nền
văn minh Ai Cập, Ấn Độ...).
Theo quan hệ sản xuất: nền văn minh cũng được hiểu như trình độ phát triển cao
của một kiểu xã hội (Ví dụ: nền văn minh TBCN, nền văn minh XHCN...)
K. Marx:
Mỗi nền văn minh một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tác
động lẫn nhau.
dụ: Sự phát triển kinh tế tác động đến văn hóa tinh thần: bổ sung đời sống tinh
thần, nguồn lực thúc đẩy đời sống tinh thần ngày càng phong phú hơn. Hàn Quốc:
trước khi các công ty Hàn đổ bộ vào, phim ảnh âm nhạc đã đổ bộ trước vào nước
ta.
Ví dụ: một nền kinh tế yếu không thể nào giúp đất nước ấy phát triển được.
Diện mạo của nền văn minh nào được xác định bởi PTSX của thời đại văn minh
ấy.
“Những thời đại khác nhau không phải chỗ chúng sản xuất ra cái gì, chỗ
chúng sản xuất ra thứ ấy như thế nào.”
“Khi thay đổi PTSX thì... người ta thay đổi mọi QHSX của mình. Cái cối xay bằng
tay đưa lại cho người ta một hội lãnh chúa đứng đầu, cái cối xay chạy bằng hơi
nước đưa lại cho người ta một xã hội có nhà tư bản công nghiệp.”
dụ: Ngày xưa, con trâu đầu nghiệp. Nhưng ngày nay, không còn quan niệm
đó, bây giờ trâu bò không còn phải ra đồng nữa, đời sống của trâu bò sẽ rút ngắn (do
không để cày cấy mà dùng để giết thịt).
Phân loại văn minh: có nhiều cách phân loại, về cơ bản có thể hình dung như sau:
Nền văn minh: VM NN, VM CN
Khu vực văn minh: gồm 2 khu vực lớn
oVăn minh phương Đông: tiêu biểu Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa,
Rập
oVăn minh phương Tây: trải qua 4 thời kỳ phát triển: cổ đại -> trung đại -> cận đại
-> hiện đại
2) Các phương pháp nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
Có nhiều cách tiếp cận văn minh: xã hội học, văn hóa học...
Cách tiếp cận của khoa học lịch sử:
oKhông 1 nền văn minh duy nhất xuyên suốt toàn bộ chiều dài lịch sử nhân
loại
oMỗi nền văn minh cụ thể đều tính lịch sử được hình thành phát triển
trong sự tác động của nhiều nhân tố.
a) Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử: phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua các giai
đoạn cụ thể của (ra đời, phát triển tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể của nó.
(làm cho người ta lạc trong rừng lịch sử)
Phương pháp logic: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng
quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, quy luật chung trong sự vận động của cái khách
quan được nhận thức. (chỉ lấy những sự kiện tiêu biểu gắn với sự thay đổi lớn của xã
hội, đất nước nên không hiểu đầy đủ, kĩ càng)
Hai phương pháp này những điểm giống nhau khác nhau nhưng quan hệ
chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất.
Lịch sử mà không có logic => mù mờ
Logic mà không có lịch sử => sáo rỗng, không có thật
Những sai lầm:
Bệnh đóng màu và bệnh giai thoại dật sử
Bệnh công thức, bệnh giáo điều
Hiện đại hóa lịch sử
Chất đống tài liệu
Kể chuyện giai thoại, dật sử thay cho việc nghiên cứu lịch sử
b) Phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại
Phương pháp nghiên cứu đồng đại: còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo
không gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành .theo đường ngang
Đó phương pháp nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong
cùng một giai đoạn nhưng những không gian khác nhau. Từ đó cho thấy sự giống
nhau sự khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau về chúng.
Qua đó, người nghiên cứu nắm bắt được cái riêng, cái chung, thấy được tính đặc thù,
phổ biến, hệ thống của sự kiện hiện tượng, quá trình là sự cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu lịch đại: còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo thời
gian hay phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường thẳng”.
Phương pháp này xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển
- nguyên tắc luận trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải
luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển.
Phương pháp luật đại đòi hỏi người viết khi nghiên cứu, biên soạn các sự kiện, hiện
tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát triển trước kia của nó.
Đồng thời, có thể dự báo khunh hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng.
Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình những
đặc điểm yếu tố của giai đoạn trước ngược lại. Giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề,
định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau.
Phương pháp lịch đại giúp cho chúng ta thấy được sự vận động, phát triển của các sự
kiện, hiện tượng lịch sử.
Phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại được gọi chung là phương pháp
so sánh lịch sử. Cả 2 phương pháp đều những ưu điểm riêng. Việc kết hợp 2
phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh bức tranh
tổng thể của lịch sử văn minh thế giới.
Một số phương pháp nghiên cứu lịch sử: pp định lượng, pp dân tộc học, pp liên ngành...
Cấu trúc nghiên cứu LSVM:
Cơ ở điều kiện: hình thành và phát triển của 1 nền/ khu vực văn minh
Thành tựu: tiêu biểu của nền văn minh
Đặc điểm: vai trò, vị trí của các nền/ khu vực văn minh trong tiến trình lịch sử
nhân loại
B. Các tư tưởng tôn giáo
1) Quá trình hình thành truyền của PHẬT GIÁO Ấn Độ để thấy rằng
Phật giáo từ tôn giáo địa phương thành tôn giáo thế giới
Quá trình hình thành Phật giáo ở Ấn Độ:
Dựa 3 cơ sở chính đáng lưu ý:
a. Xã hội:
Khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN, từ những công cổ xưa đã hình thành hàng loạt
tiểu quốc hai bên bờ sông Hồng (miền Bắc Ấn Độ có khoảng 23 tiểu quốc).
Các vương quốc điều kiện tự nhiên khác nhau, kinh tế, chính trị, hội phát triển
không đồng đều => các vương quốc luôn mâu thuẫn, cạnh tranh thôn tính lẫn nhau
=> Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên làm tình hình chính trị bất ổn, tâm dân
chúng bất an.
Đến thế kỷ V TCN chỉ còn 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis.
b. Chính trị (4 đẳng cấp)
Mâu thuẫn đẳng cấp tăng lữ, quý tộc sự phân hoá giai cấp mạnh mẽ, trở thành nỗi
bức xúc lớn trong xã hội bấy giờ.
oTăng lữ (Brahman) thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vét tài
sản, bắt dân chúng nộp thuế cao và nghĩa vụ khác.
oQuý tộc (Ksatria) bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết
định trong chiến tranh nhưng địa vị lãnh đạo lại không ràng do dưới đẳng
cấp tăng lữ.
oDân thường (Vaisya) cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa
nhưng thuế không giảm và những áp lực của tôn giáo đè nặng.
oNô lệ (Soudra) là kẻ thấp hèn, có một số dân thường bị phá sản trở thành nô lệ,
một số phải đi ăn xin. Họ chịu cuộc sống cực khổ dẫn đến tâm chán nản,
tuyệt vọng.
c. Kinh tế:
Công cụ bằng đồng thau sau đó kim loại đã làm thay đổi bản chất của sản xuất.
Nhiều ngành kinh tế đã ra đời ngày càng mở rộng, làm xuất hiện tầng lớp mới,
trong đó thương nhân. Thương nhân tầng lớp tiềm lực về kinh tế, nên muốn
thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp. Lúc đầu, tầng lớp này không được xếp vào
đẳng cấp nào cuối cùng bị đẩy xuống đẳng cấp lệ, đẳng cấp thấp hèn nhất
(Soudra).
d. Tôn giáo:
Cuộc sống khổ cực càng làm cho nhân dân lao động thêm căm ghét những kẻ bóc lột
mình, oán ghét chế độ đẳng cấp, không còn tin vào các vị thần Bàlamôn.
Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo ngày càng khó hiểu làm
cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này.
Trong bối cảnh đó vào thế kỷ VI TCN Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn
giáo, triết học mới chủ trương xa lánh thực tại, khổ hạnh, ép xác, tiêu cực, tự kỉ nhưng
một điểm chung trực tiếp gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn chế độ đẳng
cấp. Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó và được xem là một dòng tư tưởng
chống đạo Bàlamôn.
Tiền đề tưởng - chính trị: Đạo La Môn đã xác lập được vai trò vững chắc
Ấn Độ, chi phối đời sống tưởng chính trị của các đẳng cấp khác trong hội Ấn
Độ
PG do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu Thích ca Mâu ni sáng lập. Đạo Phật ra đời với
giáo đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại chế độ đẳng cấp, với
tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân
dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên sau khi ra đời đạo Phật nhanh
chóng được phổ biến. Tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỷ nguyên
Phật giáo.
Học thuyết PG:
Nội dung chủ yếu của học thuyết của PG “chỉ một vị cứu vớt” (Phật Thích ca).
Chân về nỗi đau khổ sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện trong
thuyết “tứ diệu đế” gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
oKhổ đế: chân về các nỗi khổ. Theo Phật, con người 8 nỗi khổ sinh, lão,
bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy
5 uẩn ( vật chất tạo thành thân thể, - cảm giác, quan niệm, sắc thụ tưởng hành
– hàng động, – nhận thức).thức
oTập đế: chân về nguyên nhân các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu do luân
hồi, nguyên nhân của luân hồi nghiệp, của nghiệp la do ham muốn (ham
sống, ham lạc thú, ham giàu sang...). Ham muốn không dứt thì nghiệp không dứt,
nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.
oDiệt đế: chân về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân đau khổ luân hồi,
vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì
phải chấm dứt nghiệp => nên muốn diệt trừ hết nỗi khổ thì phải trừ bỏ hết ham
muốn.
oĐạo đế: chân về con đường diệt khổ tức phương pháp thực hiện diệt khổ -
“bát chính đạo” ( – tín ngưỡng đúng đắn, suy nghĩ đúngchính kiến chính tư duy
đắn, - nói năng đúng đắn, hành động đúng đắn, chính ngữ chính nghiệp chính
mệnh chính sống đúng đắn mở tưởng những cái đúng đắn, , chính tịnh tiến
niệm chính định tưởng nhớ những cái đúng đắn, tập trung tưởng ngẫm
nghĩ đúng đắn) => chung quy là suy nghĩ, nói năng và hàng động đúng đắn.
Về mặt thế giới quan, nội dung bản của học thuyết PG thuyết MọiDuyên khởi.
vật đều do nhân duyên hòa hợp thành. Học thuyết PG lại giải thích rằng, duyên
khởi do tâm mà ra. Tâm nguồn gốc của duyên khởi thì cũng nguồn gốc của vạn
vật.
Về mặt hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp đạo cho rằng nguồn
gốc xuất thân của mỗi người không phải điều kiện để cứu vớt. Đồng thời, đạp Phật
mong muốn một hội vua đạo đức dựa vào pháp luật để trị nước, còn
dân thì được an cư lạc nghiệp.
Như vậy, ban đầu PG chỉ học thuyết khuyên người ta từ bỏ ham muốn, tránh điều
ác, làm điều thiện để cứu vớt không thừa nhận thượng đế các thần bảo hộ, do đó
không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng.
Quá trình truyền bá của PG ở Ấn Độ:
Từ thế kỷ V TCN đến thế kỷ V sau CN quá trình truyền phát triển đạo Phật.
Quá trình đó trải qua bốn lần đại hội Phật giáo.
Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền nhanh chống miền Bắc Ấn Độ. Để soạn
thảo giáo lí, quy chế chấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ VIII TCN, đạo Phật đã triệu
tập 3 cuộc đại hội ở nước Magađa, quốc gia lớn nhất Ấn Độ lúc bấy giờ.
Đại hội PG lần1: Tổ chức tại Magada vào thế kỷ V TCN, có 500 đại biểu tham gia
kéo dài trong 7 tháng. Đại hội soạn ra kinh điển của đạo Phật gồm Kinh tạng
(Pharma) Luật tạng (Vinaya). Pharma gồm những lời thuyết giáo của Phật được
chép lại trong ức của các đệ tử lúc bấy giờ, còn Vinaya quy chế của hội PG do
đại hội thảo ra.
Đại hội PG lần 2: Sau 100 năm nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết
trong giới luật, nên khoảng vào thế kỷ IV TCN với 700 tăng ni tham dự, đại hội diễn
ra trong 8 tháng. Trong Đại hội này, một số tỳ kheo khác lại chủ trương canh tân, đưa
ra 10 điều luật mới sửa lại luật, họ bị đại hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng
gọi là Đại chúng bộ, là mầm móng của phái Đại thừa sau này.
Đại hội PG lần 3: Diễn ra vào khoảng thế kỉ III TCN (253 TCN) với 1000 tăng ni
tham dự trong 9 tháng. Hội nghị thảo luận hình thành phần Luận tạng. Với sự giúp
đỡ của vua Asoka, nhiệm vụ chính chấn chỉnh lại tổ chức giáo của giáo hội,
đồng thời đặt ra kinh kệ và các nghi thức. Asoka cho xây dựng nhiều chùa tháp, thành
lập nhiều tăng đoàn, khuyến khích việc truyền đạo Phật đến nhiều vùng đất trên
báo đảo Ấn Độ một số quốc gia khác (Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Indo...). Đây
thời kỳ cực thịnh của PG, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh. Tuy nhiên sau khi
vương quốc Magada tan rã, đạo Phật cũng suy yếu dần.
Đại hội PG lần 4: Đến thế kỉ I sau CN, người Cusan chiếm được miền Tây Bắc Ấn Độ
thành lập đây một nhà nước của mình.Với sự giúp đỡ của vua Kanisca, đại hội
Phật giáo lần IV triệu tập với 500 tăng ni tham dự Carmia. Đại hội này thông qua
giáo của đạo Phật cải cách phái Phật giáo mới này được gọi phái Đại Thừa để
phân biệt với phái Phật giáo gọi phái tiểu Thừa. Phái Đại thừa truyền về phía
Bắc nên còn gọi Bắc tông, phái Tiểu thừa truyền về phía Nam nên còn gọi Nam
tông.
Giống nhau giữa hai phái Tiểu thừa và Đại thừa: cùng mục đích tôn chỉ của đạo Phật
Khác nhau:
Phái Tiểu thừa:
oNghĩa là “cổ xe nhỏ”, “con đường cứu vớt hẹp” cho rằng chỉ có người xuất gia
đi tu mới được cứu vớt.
oChỉ có một Phật duy nhấtPhật Thích Ca, việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật
mới làm được và người thường không thể thành Phật.
oNiết bàn cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn khổ
đau.
Phái Đại thừa:
oNghĩa “cổ xe lớn”, “con đường cứu vớt rộng” cho rằng không chỉ người tu
hành mà cả người trần tục quy y theo Phật đều được cứu vớt.
oPhật Thích Ca Phật cao nhất còn nhiều Phật khác như (Phật Di Lặc,
Phật A Di Đà...). Ai cũng thể thành Phật (thực tế các Bồ tát như Phổ
Hiền, Quan Âm, Địa Tạng...)
oNiết n thế giới của Phật giống như thiên đường của các tôn giáo khác.
Ngoài ra, phái Đại thừa còn tạo ra địa ngục, nơi đọa đày những kẻ tội lỗi.
oĐề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ kẻ trung gian giữa tín đồ Bồ
tát.
Qua quá trình hình thành truyền PG Ấn Độ, thể thấy được từ lúc bắt
đầu PG ra đời để giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong lòng hội lúc bấy
giờ (chính trị tồn tại 4 đẳng cấp -> mâu thuẫn -> sự đàn áp của người giàu với
người nghèo -> sự bất bình đẳng) => tôn giáo địa phương.
Sau đại hội PG lần 4, các nhà càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền
đạo => được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và TQ. Những thế kỷ tiếp sau đó,
đạo Phật suy dần Ấn Độ, nhưng lại phát triển phần lớn Châu Á trở thành
quốc giáo của một số quốc gia như Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Cam, Lào...
=> tôn giáo thế giới.
2) Quá trình hình thành truyền của THIÊN CHÚA GIÁO La thời
kỳ cổ đại
Bối cảnh ra đời:
Cơ sở kinh tế - xã hội:
Năm 63 TCN, La đánh chiếm biến vùng Palextine thành một bộ phận lãnh thổ
của đế quốc mình. Tại đây, người La đã áp dụng một chính sách cai trị hết sức
khắc nghiệt. Đời sống của nhân dân vùng phía Đông Địa Trung Hải càng cực khổ.
lệ, dân nghèo, thợ thủ công đều phải gánh chịu cuộc sống bất công, bị áp bức,
cuộc sống không lối thoát.
thế, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại sự thống trị, bóc lột của nhà nước -
chủ La đặc biệt người Zealot, nhưng đều bị đàn áp hết sức man. Khối
quần chúng nhất lệ, dân nghèo nảy sinh tâm bi quan, chán nản, tuyệt vọng,
mất niềm tin vào tự do, hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực. Họ tìm lối thoát trong
ảo tưởng về tôn giáo, trông chờ vào sự cứu giúp của một lực lượng siêu nhiên thể
giúp họ thoát khỏi ách thống trị, xây dựng một vương quốc công bằng, bình đẳng. Do
vậy, Kitô giáo trở thành tôn giáo của những người bị áp bức như nô lệ, dân nghèo, thợ
thủ công...
Cơ sở tư tưởng, tôn giáo:
Hình thành dựa trên thần thoại của các tôn giáo cổ phương Đông. Vùng đất Palextin
vùng đất sinh sống chủ yếu của người Do thái phải chịu nhiều bất hạnh trong lịch
sử của mình. Tổ tiên của họ là người Hebre, một tộc người sống du mục. Khoảng giữa
thế kỷ XIII TCN, dưới sự dẫn dắt của Moises, người Do thái đã từ Ai Cập trở về
Palextin lập nên quốc gia Do thái vào khoảng cuối thiên niên kỷ II TCN. Từ đó,
người Do thái đã tin đi theo một tôn giáo nhất thần - thờ vị thần duy nhất đó
Chúa Giêhôva. Họ tin rằng dân tộc Do thái dân được Chúa trọn, Chúa chỉ nói
chuyện với người Do thái thông qua sứ giả của Người Moises. Năm 586, quốc gia
Do thái bị Tân Babilon cai trị, nền độc lập của quốc gia này đã không còn tồn tại
trong một thời gian dài. Trong bối cảnh đó, các nhà tiên tri Do thái giáo đã dự đoán
rằng sẽ một vị Chúa Cứu Thế sắp xuống trần gian để cứu vớt loài người, tiêu diệt
kẻ xấu, giải thoát những đau khổ của con người, giải cứu khỏi kiếp nô lệ trầm luân.
Cơ sở tư tưởng triết học:
Từ giữa thế kỷ I TCN trở đi, nhà nước La chuyển dần từ hưng thịnh sang suy
thoái. Giai cấp chủ muốn lợi dụng tôn giáo để duy trì trật tự hội. Do vậy triết
học La chuyển dần sang duy tâm luận, quay về với trường phái triết học khắc kỉ -
Stoicism được hình thành Hy Lạp khoảng cuối thế kỷ IV TCN. Với các nội dung
như thần thống trị thế giới, sống nhẫn nhục chịu đựng đức tính tốt đẹp, mọi người
đều bình đẳng, đang được lưu hành ở La Mã.
Tiêu biểu cho trường phái này ở La Mã là các tư tưởng của Seneque và Philo.
oSeneque: ông muốn thiết lập một hệ thống luân dựa trên nguyên tắc khiêm
nhường nhẫn nhục. Ông cho rằng thể xác gánh nặng của linh hồn, sự
trừng phạt đối với linh hồn. Cuộc sống trần gian chỉ khúc dạo đầu cho thế
giới bên kia của linh hồn - thế giới con người sau khi chết. Cái thế giới bên kia
ấy, nô lệ - nghèo khó, giàu có - quý tộc đều có thể đạt được như nhau, nếu con
người biết nhẫn nhục, nhường nhịn, chịu đựng gian khổ, lấy sự phục tùng làm
đức tính tốt đẹp nhất của con người.
oPhilo: thế giới vật chất, trong đó có cả con người là can nguyên của tội lỗi, thể
xác là ngục thất của linh hồn. Giữa thể xác và linh hồn có một vực thẳm không
thể đến với nhau được trung gian của vực thẳm đó cái ông gọi
Thiên Đạo - Đấng Cứu Thế. Con người muốn được giải thoát chỉ cần niềm
tin và một cuộc sống đạo đức.
Chính giáo lí của đạo Do thái, tư tưởng của phái triết học khắc kỉ và đời sống cực
khổ không lối thoát của nhân dân bị áp bức những yếu tố dẫn đến sự ra đời
của đạo Thiên chúa.
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Kito (Thiên chúa giáo) chúa Giêsu Crit,
con của chúa Trời đầu thai vào người con gái đồng trinh Maria được sinh ra
Bétleem vùng Palextin. Đến năm 30 tuổi, chua Giêsu vừa truyền đạo, vừa chữa bệnh,
có thể làm cho người chết sống li.
Nội dung đạo Thiên chúa:
Trong khi truyền đạo, chúa Giêsu khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi
đau khổ đời, sau khi chết sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn thiên đường. Đồng
thời chúa lên án sự giàu có, cho rằng người giàu muốn lên nước chúa cũng khó như
con lạc đà muốn chui qua lỗ kim.
Kế thừa nhiều quan điểm của đạo Do thái, đạo Kito cho rằng Chúa Trời sáng tạo ra tất
cả, kể cả loài người. Song họ lại đưa ra thuyết tam vị nhất thể tức Chúa Trời (Chúa
cha), Chúa Giêsu (Chúa con) Thánh thần tuyba nhưng vốn là một. Đạo cũng
quan niệm về thiên đường, địa ngục, linh hồn bất tử, thiên thần, ma quỷ.
Kinh thánh gồm 2 phần . Cựu ước kinh thánh của đạo DoCựu ước Tân ước
thái Kito giáo tiếp nhận, còn Tân ước kinh thánh thực s của đạo Kito. Kinh
Tân ước viết bằng tiếng Hi Lạp, gồm có 4 phần là Phúc âm, Hoạt động của các sứ đồ,
Thư tín và Khải thi lục.
Đạo Kito có 7 nghi lễ quan trọng gọi là 7 bí tích:
oRửa tội: nghi thức vào đạo
oThêm sức: củng cố lòng tin
oThánh thể: ăn bánh thánh
oGiải tội: xưng tội để được xá tội
oXức dầu: xoa nước thánh vào người sắp chết
oTruyền chức: phong chức cho giáo sĩ
oHôn phối
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ của đạo gồm lệ, lệ được giải phóng, dân nghèo
thành thị. Họ thành lập những công nhỏ, những đoàn thể của các giáo hữu, tổ
chức giúp đỡ lẫn nhau làm việc từ thiện. Các công đều quỹ chung để tiêu
dùng tổ chức những bữa tiệc chung. Mọi thành viên đều bình đẳng. Quyền lãnh
đạo trong thời này thuộc về các nhà truyền giáo lưu động, các sứ đồ - đều đại
biểu của quần chúng nghèo khổ.
Quá trình truyền bá và phát triển: trải qua 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: từ TK I đến đầu TK IV sau CN (cuối TK III)
Đây giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ một bộ phận tín đồ
Palestine tham gia. Sau cái chết của Chúa Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo
của ngài truyền ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang Roma để truyền đạo
thì thấy ở đây đã có nhiều tín đồ Kitô giáo.
Ban đầu giới cầm quyền La giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng
Chúa Jesus cho rằng đế quốc La một "mụ đàn đầy tội lỗi tức lên án tầng
lớp giàu có, thống trị và đế quốc La Mã sẽ sớm bị diệt vong", tín đồ Kitô giáo sẽ được
sống trong vương quốc của Chúa. Đây chính là những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại
của chế độ và nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã. Điều đó khiến giới cầm quyn và quý
tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín đồ Kitô là lũ phiến loạn và tiến hành đàn áp khốc
liệt, đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nêrôn. Tuy bị đàn áp
nhưng Kitô giáo vẫn tiếp tục phát triển.
Nguyên nhân: chế độ chiếm hữu lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong
hội càng sâu sắc, sự bần cùng hoá, áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên. Kitô
tôn giáo duy nhất giới lao động những người nghèo khổ thể tìm thấy được
con đường giải phóng.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công vừa mang tính
chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Họ giúp người lao động, người
nghèo tìm công ăn việc làm.
Đến thế kỉ II, các công Kitô dần phát triển thành Giáo hội. Trong hàng ngũ tín đồ
không chỉ người nghèo ngày càng nhiều người khá giả giàu sang cũng
theo đạo. Quyn lãnh đạo giáo hội cũng thuộc tầng lớp trên. Những hình thức tăng
thêm tình hữu ái trước kia (ăn tiệc mừng, phân chia tài sản...) chấm dứt thay bằng
việc bố thí từ thiện.
Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xả hội rất tích cực - đó
cuộc vận động của dân nghèo chống chế độ áp bức.
Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho
Chúa trời” tức không dính dáng đến chính trị. Saun 200 năm truyền bá, Kitô giáo
đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn. Trước sự
phát triển này đàn áp mãi không được, giới cầm quyền La quyết định “sống
chung”, thay đổi chính sách đối với Kito giáo.
Giai đoạn 2: từ đầu TK IV sau CN trở về sau
Năm 311, Hoàng đế La Mã Galerius đã ra lệnh ngừng sát hại các tín đồ Kitô giáo.
Năm 313, hai hoàng đế Cônxtantinút và Lixiniút ban hành sắc lệnh Milanô, chính
thức công nhận địa vị hợp pháp của giáo hội Kitô.
Năm 325, hoàng đế Cônxtantinút triệu tập cuộc đại hội các giáo chủ đạo Kitô lần thứ
nhất tại Nixê (Tiểu Á). Đại hội đã giải quyết được 2 vấn đề lớn: một là, thống nhất lại
cuối cùng nội dung của Kinh thánh: Chọn ra 4 phần tương đối trùng khớp, ít mâu
thuẫn, loại bỏ bớt yếu tố tín dị đoan, thống nhất rồi đưa vào Tân ước; hai là, chấn
chỉnh tổ chức giáo hội.
Sau đại hội này, Kitô giáo trở thành một bộ phận trong bộ máy của giai cấp thống trị
La Mã.
Năm 337, Cônxtantinút hoàng đế La đầu tiên theo Kitô giáo. Đến cuối TK IV,
đạo Kito chính thức được thừa nhận là quốc giáo của đế quốc La Mã. Sau đó, Gierôm
đã dịch kinh Cựu ước kinh Tân ước từ tiếng Hi Lạp ra tiếng Latinh kinh thánh
chính thức của đạo.
Các quan lại cũng đua nhau theo đạo. Ngân quỹ quốc gia cũng được chi ra để đóng
góp cho Nhà thờ. Đạo Kito được truyền rộng khắp ra các tầng lớp hội quanh
Địa Trung Hải. Đến giai đoạn này, tính chất tiến bộ ban đầu của Kito giáo không còn
nữa, các giáo dần dần trở thành các quan lại của nhà nước, giáo hội trở thành công
cụ trong tay giai cấp thống trị. Do bất đồng trong sự giải thích thuyết “tam vị nhất
thể” cả việc đụng chạm nhau về khu vực truyền đạo nên đến năm 1054, giáo hội
Kitô La đã bị chia làm hai: giáo hội Thiên chúa (giáo hội phương Tây, giáo
hội La Mã) và giáo hội Chính thống (giáo hội ở phương Đông, giáo hội Hy Lạp).
Ý nghĩa lịch sử:
Kitô giáo ra đời biểu hiện phong trào phản kháng của đông đảo quần chúng bị áp
búc sau đó lan rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội. Trải qua bao thăng trầm lịch sử,
Kitô giáo từ chỗ tôn giáo của những người nghèo, chống lại chính quyền cai trị, đã
trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần, vật chất của chính quyền Rôma một
bộ phận của chính quyền thống trị La Mã. Kito giáo ra đời một sự kiện lịch sử rất
lớn sau này đã tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, hội
tưởng của người Châu Âu.
C. Các thành tựu văn minh
1) Thành tự về ở thời kỳ cổ đại khoa học – kĩ thuật
a) Ai Cập cổ đại có nhiều thành tựu quan trọng, nhất là số học và thiên văn
Toán học:
Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên thực tế cuộc
sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số
hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu
xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc… những nguyên nhân thúc đẩy toán học
ra đời.
TNK III TCN xuất hiện những quan niệm trừu tượng về các con số.
TNK II TCN, người Ai Cập đã thành công với phép đếm. Họ đã biết dùng phép đếm
lấy 10 làm sở. Các chữ số được dùng chữ tượng hình để biểu thị nhưng do không
có số 0 nên các viết chữ số tương đối phức tạp (đơn vị: hình nhiều cái que, chục: hình
đoạn dây thừng, trăm: hình một vòng dây thừng, ngàn: hình cây sậy...)
Về phép tính cơ bản, người AC chỉ mới biết phép cộng và pháp trừ. Còn nhân và chia,
dùng phương pháp cộng và trừ liên tiếp.
Thời Trung vương quốc, mầm mống đại số học xuất hiện, giải được phương trình bậc
nhất, biết được cấp số cộng và cấp số nhân.
Về hình học, biết cách tính S tam giác, S hình cầu, biết được số π=3,16, S hình tháp
đáy vuông biết vận dụng mầm móng của lượng giác học khi giải toán hình học
không gian xây dựng Kim tự tháp.
Thường được ghi trên giấy Papyrus, rộng khoảng 8cm, dài 544cm.
Thiên văn học:
Để nắm được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác
nông nghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp.
Với những dụng cụ thô như sợi dây dọi, mảnh ván khe hở, nhà thiên văn AC
thường ngồi trên nóc đền miếu để quan sát bầu trời. Họ đã vẽ hình thiên thể lên trần
các đền miếu, đã biết được 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh như s.Thủy,
s.Kim, s.Hỏa, s.Mộc, s.Thổ.
Để đo thời gian, thi Cổ vương quốc người AC đã nhật khuê nhưng chỉ xem được
thời gian ban ngày khi đang nắng. Đến thời vương triều XVII, phát minh ra
đồng hồ nước. Nhìn vào mực nước thể biết được thời gian, khắc phục được
nhược điểm của nhật khuê.
Thành tựu quan trọng nhất là việc đặt ra lịch, dựa trên kết quả quan sát tinh quy
luật dâng nước của sông Nin. Họ lấy thời gian 1 năm (365 ngày), chia làm 12
tháng, mỗi tháng 30 ngày, 5 ngày còn lại xếp vào cuối năm ăn tết, chia làm 3 mùa,
mỗi mùa 4 tháng (mùa Nước dâng, mùa Ngũ cốc, mùa Thu hoạch) nắm được quy=>
luật thời gian, biết tính ngày tháng năm
Như vậy, lịch của AC cổ đại được phát minh rất sớm (khoảng TNK IV TCN), tương
đối chính xác thuận tiện. Tuy nhiên, so với lịch mặt trời còn thiếu mất ¼ ngày,
chưa biết đặt ra năm nhuận.
Y học:
Do tục xác ước thịnh hành, người AC đã hiểu biết tương đối về cấu tạo thể con
người => tạo điều kiện cho y học phát triển sớm.
Nhiều thành tựu của y học AC cổ đại được ghi trên giấy Papyrus và truyền tải cho đến
ngày nay. Các tài liệu đề cập đến nguyên nhân của bệnh tật, tả về óc, nói về quan
hệ giữa ti và mạch máu, các loại bệnh, cách khám bệnh, khả năng chữa trị...
Về nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật, thừa nhận không do ma quỷ hay mụ phù thủy
gây nên do sự không bình thường của mạch máu. Từ thời Trung vương quốc, đã
biết được tầm quan trọng của óc và tim đối với sức khỏe con người, nhận biết được sự
liên hệ giữa tim và mạch máu.
Các tài liệu còn mô tả về nhiều loại bệnh: bệnh đường ruột dạ dày, bệnh đường
hấp, bệnh ngoài da...
Các tài liệu cũng ghi lại nhiều bài thuốc phương pháp chữa trị. dụ, bệnh đường
ruột dùng phương pháp rửa ruột hoặc cho nôn mửa. Các thầy thuốc còn biết dùng
phẫu thuật để chữa một số bệnh.
Phân biệt được các chuyên khoa trong y học, người chuyên chữa mắt, người kia chữa
bệnh đau đầu, người thứ ba chữa răng, người nữa chữa bệnh dạ dày, người khác chữa
các bệnh trong nội tạng.
Sách thuốc: Papyrus Medicad ra đời khong 1500 – 1450 TCN.
Ngoài ra, các lịnh vực khác như vật lí học hóa học... cũng có hiểu biết đáng kể.
b) Ấn Độ
Toán học:
Phát triển sớm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo
Người Ấn có một phát minh vô cùng quan trọng là sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay
được dùng rộng rãi trên thế giới. Tư liệu sớm nhất của những chữ số này là bia đá của
Axôca khắc từ TK III TCN. Người Ấn Độ cũng ra minh ra con số 0.
Đến TK VI, người Ấn Độ đã tính được chính xác số
π
3,1416, đồng thời còn phát
minh ra đại số học và về sau được truyền sang A rập.
Về hình học, biết tính S hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, đa giác biết tính
những khái niệm cơ bản về Sin, Cosin, Tang, Cotang.
Thiên văn và lịch pháp:
Từ rất sớm, người Ấn biết chia 1 năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30
giờ. Cứ 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận => tính độ dài của một năm, các tháng âm lịch
chính xác hơn người Hy Lạp, La Mã.
Biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kì trăng tròn, trăng khuyết, khảo sát
được hiện tượng nhật thực và lập bản thiên văn, đoán trước các hiện tượng xảy ra trên
bầu trời.
Xác định được 5 tinh tú: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh Thổ tinh; biết
được một số chòm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.
Tác phẩm Thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ quyển ra đời vào khoảng TKXitđanta
V TCN.
Vì sao người Ấn dùng âm lịch?
Y học:
Các thầy thuốc Ấn Độ biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ TK VI, V TCN, người
Ấn đã biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận, lấy sạn
trong bàng quang, giải phẫu thẩm mỹ chữa mũi, môi, tai... khám phá ra dược liệu
cả vô cơ và hữu cơ.
Những thầy thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta, Saraca:
Xusruta sống vào TK V TCN, vừa thầy thuốc vừa thầy giáo dạy trường Y
khoa. Ông viết một quyển sách về phương pháp khám bệnh và chữ bệnh, trong đó
tả về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Ông chủ trương phải mổ tử thi để
nghiên cứu và thực tập. Chính ông là người đầu tiên lột một miếng da trên thân thể để
đắp vào vành tai bị cắt đứt.
Saraca sống vào TKII, là ngự y của vua thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm y học của
ông Samhita, xác định bổn phận của người thầy thuốc trị bệnh thì đừng nghĩ đến
mình, đừng vì lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ thế.
Các tập Vêđa cũng những tác phẩm dược học cổ nhất, nêu ra hàng trăm loại thuốc
thảo mộc. Song song với sự phát triển của thuật giải phẫu, người Ấn đã biết chế thuốc
tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.
Nhiều tác phẩm y học được xuất bản như “y học toát yếu”, “luận cảo về trị liệu”
Vật lí học:
Các nhà khoa học kiêm triết học đã nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập ra trường
phái triết học Vaisêsica cho rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất
khác nhau do mỗi loại một thứ nguyên tử khác với loại khác. Còn các nhà triết
học đạo Jain cho rằng, nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ cách tổ hợp khác nhau
mà thôi.
Biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào TK V TCN đã ghi: "Quả đất
do trọng lực của nó, hút tất cả mọi vật về nó".
Ngoài ra, còn các hiểu biết về môn Hoá học, Sinh học, Nông học, đã phục vụ đắt
lực cho các lĩnh vực khoa học khác các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm,
thuộc da...
c) Trung Quốc
Toán học:
Từ thời Hoàng Đế, biết sử dụng phép tính thập phân rất sớm.
Thời Tây Hán, tác phẩm nói về lịch pháp, thiên văn, hình học (tamChu bễ toán kinh
giác, tứ giác ngũ giác), số học (phân số, số thường)... sớm nói về quan hệ giữa 3
cạnh tam giác vuông như định lý Pitago.
Thời Đông Hán chứa đựng 4 phép tính, phương pháp khaiCửu chương toán thuật,
căn bậc 2 3, phương trình bậc 1, số âm số dương, cách tính S các hình, V các hình
khối, Sxq và V hình cầu...
Thời Nam Bắc triều, Lưu Huy Tổ Xung Chi 2 nhà toán học nổi tiếng nhất. Cả
hai đều tham gia chú giải , đặc biệt Tổ Xung Chi tìm ra số pi Cửu chương toán thuật
chính xác đến con số thập phân thứ 10 (pi=3,1415926203).
Thời Đường, nhà Nhất Hạnh nêu ra công thức phương trình bậc 2, Vương Hiếu
Thông soạn sách , dùng phương trình bậc 3 giải quyết nhiều vấn đềTập cổ toán kinh
toán học.
Thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh Giả Hiển tìm được phương pháp giải phương
trình bậc cao, Thẩm Quát nêu ra ý kiến về cấp số, cách tính độ dài của cung dây
cung. Đặc biệt, thời Tông, Nguyên đã phát minh ra cái bàn tính, tiện lợi cho tính toán.
Thiên văn:
Thời Hoàng Đế Nghiêu Ruấn, đã biết quan sát thiên văn.
Thời Ngũ Đế đã biết làm lịch.
Thời Thương, đã ghi chép về nhật thực nguyệt thực. TQ biết kết hợp giữa vòng
quay của mặt trăng xung quanh mặt trời để làm ra lịch. Loại lịch chia 1 năm làm 12
tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày, đã thêm vào một tháng nhuận cho
khớp với vòng quay.
Thời Hán đế (104 TCN), năm Thái thứ nhất, đã dùng một loại lịch cải cách
lịch Thái sơ, lấy tháng giêng âm lịch làm tháng đầu tiên, về cơ bản đưc dùng cho đến
ngày nay. Lịch Thái sơ chia một năm thành 24 tiết (4 mùa) => việc bố trí tháng nhuận
có quy luật, không còn tùy tiện như trước nữa.
Thời Đông Hán, Trương Hành (78 139) nhà thiên văn nổi tiếng nhất TQ. Ông đã
biết ánh ng mặt trăng nhận được của mặt trời, giải thích đúng nguyệt thực do
mặt trăng đứng sau mặt trời. Tác phẩm của ông đã nêu ra những nhận thứcLinh hiến
đúng đắn như trụ là hạn, sự vận hành của hành tinh nhanh hay chậm là do cự li
cách quả đất gần hay xa.
Ông phát minh ra dụng cụ đo động đất sớm nhất thế giới gọi “địa động nghi”
thể đo chínhc phương hướng của động đất hình thiên thể dùng sức nước để
chuyển động khi hình này chuyển động thì“hồn thiên ghi” hay “hồn trương”,
các vì sao trên đó cũng di chuyển như tình tình thực ngoài bầu trời.
Thời Nguyên, Quách Thủ Kính soạn ra Thụ thời lịch vào năm 1230 chính xác
một năm 365,2425 ngày.
Y học:
Có lịch sử phát triển lâu đời, giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện nay.
Thời Chiến quốc, tác phẩm nêu ra những vấn đề về sinh lí, bệnh Hoàng đế nội kinh
nguyên tắc chữa bệnh. Thầy thuốc nổi tiếng sớm nhất Biển Thước, chữa trị tai,
mắt, mũi, chữ bệnh cho trẻ em và được tôn sùng là người khởi xướng ngành mạch học
ở TQ.
Cuối thời Đông Hán, Trương Trọng Cảnh soạn sách Thương hàn tạp bệnh luận chủ
yếu nói về cách chữa bệnh thương hàn.
Từ đời hán về sau, thầy thuốc nổi tiếng Hoa Đà, giỏi về các khoa nội, ngoại, phụ,
nhu sở trường ngoại khoa. Ông biết dùng rượu gây để phẫu thuật từ thế kỉ
thứ II. Ông cũng chủ trương muốn không bênh tật thì phải tập luyện thân thể để huyết
mạch được lưu thông.
Thời Minh, sách bản thảo cương mục đã ghi chép được nhiều loại dược liệu, phân
loại, đặt tên, giới thiệu tính chất, công dụng và vẽ hình các cây thuốc đó.
luận về đông y hình thành trên sở thuyết Âm dương, Ngũnh (y triết gắn
chặt với nhau), đúc kết trong cuốn “Thần nông bổn thảo kinh”, “Hoàng đế nội kinh”
và biết cách trị gãy xương.
Phương pháp canh nông:
4 phát minh vĩ đại của người Trung Quốc trong thời trung đại
Kỹ thuật làm giấy:
TK II TCN, phát minh ra phương pháp dùng gai để chế tạo giấy, tuy nhiên giấy
còn xấu, mặt không phẳng, khó viết nên chủ yếu dùng để gói...
Thời Đông Hán, năm 195, Sái Luân phát minh ra kỹ thuật làm giấy tiến bộ hơn, từ vỏ
cây, mạt cưa, vải vụn... chế tạo ra loại giấy chất lượng tốt. Từ đó giấy được dùng
phổ biến thay thế cho các loi vật liệu trước đó.
Vào khoảng TK III, nghề làm giấy truyền sang VN, TK IV truyền sang Triều Tiên,
sau đó nữa truyền sang NB, Ấn Độ, Arập... Sau khi được truyền rộng rãi, các chất
liệu trước kia như lá cây ở Ấn, papyrus ở AC, da cừu ở châu Âu đều bị giấy thay thế.
Nghề in
Bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có từ trưc đời Tần.
từ thời nhà Tùy, đầu tiên in bản khắc sẵn. Đây phát minh rất quan trọng giúp
người ta có thể in nhiều bản trong thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn giản, ít tốn,
do đó kĩ thuật này được sử dụng rất lâu.
Đến thời Tống (thập kỉ 40 của TK XI), một dân thườngTất Thăng đã phát minh ra
cách in bản chữ rời (con chữ bằng đất sét nung). Chữ được sắp xếp lên một tấm sắt
sáp, rồi đem nóng cho chảy sáp, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để
nguội. Như vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in => một tiến bộ nhảy vọt của
nghề in nhưng vẫn còn một số nhược điểm như chữ hay mòn, khó tô mực, chữ không
sắc nét.
Thời Nguyên, Vương Trinh cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bằng gỗ, khắc
phục nhược điểm trước đó.
Từ đời Đường, thuật in ván khắc được truyền sang Triều Tiên, VN, NB, Arập...
sang dần châu Phi, châu Âu.
La bàn: Có dấu vết từ thời Chiến quốc (muộn nhất), truyền thuyết từ thời Hoàng đế -
dùng trong thuật phong thủy. Đến thời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra
kim nam chân nhân tạo. Dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm, rồi dùng kim
đó làm la bàn. Lúc đầu, la bàn còn thô sơ, xâu kim nam châm qua cọng rơm, sợi bấc
đèn rồi thả nổi trên bát nước gọi là “thủy la bàn” hoặc treo bằng một sợichỗ kín
gió.
La bàn được các thầy phong thủy sử dụng đầu tiên để xem hướng đất. Đến cuối thời
Bắc Tống, la bàn được sử dụng trong hàng hải.
Hỏa dược: liên quan đến nghề luyện đan của Đạo Gia, bằng chứng xác thực từ
thời Đường. Đạo gia thịnh hàng, thuật luyện đan rất phát triển. “Chân nguyên diệu
đạo yếu lược” cho biết công thức: . Trong quá trìnhsunphat + lưu huỳnh + tro củi
luyện thuốc tiên, thường xảy ra bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà... tình phát minh ra
thuốc súng.
Đầu TK X, thuốc sung bắt đầu làm khí như tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, đạn, pháo...
tác dụng chỉ để đốt doanh trại đối phương. Đời Tống, khí bằng thuốc súng được
cải tiến. Năm 1132, TQ phát minh ra khí hình ống, gọi . Đến thế kỷhỏa thương
XIII truyền sang Châu Âu.
d) Hi Lạp
Khoa học tự nhiên
Ban đầu, nền khoa học tự nhiên trong văn minh Hi Lạp gắn liền với triết học, sau mới
tách ra phát triển độc lập. Hi Lạp những cống hiến các mặt Toán học, Vật
học và Thiên văn học, Y học.
Toán học:
Thales/Talét (TK VII – VI TCN), tiếp thu được các thành tựu của của Babilon và AC.
Phát minh quan trọng nhất là tỉ lệ thức. Dựa vào đó ông đã tính được chiều cao của
Kim tự tháp bằng cách đo bóng của nó.
Pithagore/Pitago (khoảng 580 – 500 TCN), ông đi du lịch ở nhiều nước phương Đông,
tiếp thu Toán học của họ => phát triển thành công định mang tên ông về quan hệ
giữa 3 cạnh tam giác vuông, phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và số không chia hết.
Euclide/Ơcơlít (khoảng 330 – 275 TCN), trên cơ sở tổng kết các thành tựu nghiên cứu
của những người trước, ông soạn thành sách – cơ sở môn Hình học,Toán học sơ đẳng
chứa đựng định đề Ơclit nổi tiếng.
Archimede/Acsimét (khoảng 287 212 TCN), tính được số pi bằng một trị số nằm
giữa hai số 3
10
71
3
10
70
(là số pi chính xác sớm nhất trong lịch sử phương Tây), tìm
được cách tính thể tích và diện tích toàn phần của nhiều hình khối.
Vật lí học:
Archimede, nguyên đòn bẩy phát minh qaun trọng nhất về mặt lực học (với
nguyên này, thể dùng một lực nhỏ để nâng một vật nặng gấp nhiều lần). Ngoài
ra, ông còn phát minh ra đường xoắn ốc, ròng rọc, bánh xe răng cưa...
Ông cũng phát hiện ra một nguyên quan trọng về thủy lực học lực đẩy
Archimede (tất cả mọi vật thả xuống nước đều phải chịu một lực đẩy từ dưới lên trên
bằng trọng lượng nước phải di chuyển)
Thiên văn học:
Thales, tính được ngày nhật thực. Tuy nhiên, ông đã nhận thức sai về trái đất ông
cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời hình bán cầu úp trên mặt đất.
Pitago, tiến bộ hơn Talet => nhận thức được quả đất hình cầu chuyển động theo
quỹ đạo nhất định.
Aristarque/Arixtác (310 -230 TCN), nêu ra thuyết hệ thống mặt trời, tính toán khá
chính xác thể tích của mặt trời, quả đất, mặt trăng khoảng cách giữa các thiên thể
ấy. Ý kiến quan trọng nhất của ông trái đất tự quay quanh trục của quay
quanh mặt trời không được thừa nhận bị buộc tội 1800 năm sau Copernic

Preview text:

Lịch sử văn minh thế gi i ớ A. Nhập môn
1) Phân tích và đưa các ví dụ minh họa các khái niệm: a) Văn hóa
Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Các thuộc tính:
●Là dấu hiệu để phân biệt giữ con người và tự nhiên.
●Xuất hiện gần như đồng thời với sự xuất hiện của loài người (khi con người
chế tạo ra công cụ đá).
●Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. b) Văn minh
Văn minh là trạng thái phát triển cao, tiến bộ của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Ví dụ: văn minh phương Đông, văn minh Hi Lạp... Các thuộc tính:
●Nảy sinh trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất.
Đối lập với văn minh là trạng thái dã man, hoang dã, lạc hậu.
●Xuất hiện cùng với sự xã hội có giai cấp và nhà nước.
●Có văn minh vật chất và văn minh tinh thần
PHÂN BIỆT VĂN HÓA VỚI VĂN MINH: Văn hóa Văn minh Giống
nhau ●Cả hai đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử (phát triển theo thời gian)
●Mang tính nhân bản (nhu cầu cơ bản nhất của con người)
●Mang tính lịch sử sâu sắc Kháu
nhau ●Mang tính dân tộc, giai cấp
●Mang tính quốc tế, siêu và vùng miền dân tộc ●Có bề dày lịch sử
●Là lát cắt đồng đại
●Có trước văn minh (xuất
●Xuất hiện khi có Nhà nước
hiện khi có con người ->
●Thiên về vật chất, kinh tế, nay)
tổ chức xã hội (luật pháp,
●Thường liên quan đến tinh
tổ chức nhà nước, định chế thần xã hội...)
●Xu hướng tìm đến cái riêng
●Xu hướng tìm đến cái chung, cái phổ biến
●Văn hóa là sự khác biệt
●Thể hiện sự cao thấp
c) Nền văn minh Có 2 cách hiểu:
Theo quốc gia, dân tộc: nền văn minh là trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và
tinh thần của một cộng đồng dân tộc nhất định trong
tiến trình lịch sử (Ví dụ: nền
văn minh Ai Cập, Ấn Độ...).
Theo quan hệ sản xuất: nền văn minh cũng được hiểu như trình độ phát triển cao
của một kiểu xã hội (Ví dụ: nền văn minh TBCN, nền văn minh XHCN...) K. Marx:
Mỗi nền văn minh là một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tác động lẫn nhau.
Ví dụ: Sự phát triển kinh tế tác động đến văn hóa tinh thần: bổ sung đời sống tinh
thần, nguồn lực thúc đẩy đời sống tinh thần ngày càng phong phú hơn. Hàn Quốc:
trước khi các công ty Hàn đổ bộ vào, phim ảnh và âm nhạc đã đổ bộ trước vào nước ta.

Ví dụ: một nền kinh tế yếu không thể nào giúp đất nước ấy phát triển được.
Diện mạo của nền văn minh nào được xác định bởi PTSX của thời đại văn minh ấy.
“Những thời đại khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ
chúng sản xuất ra thứ ấy như thế nào.”
“Khi thay đổi PTSX thì... người ta thay đổi mọi QHSX của mình. Cái cối xay bằng
tay đưa lại cho người ta một xã hội có lãnh chúa đứng đầu, cái cối xay chạy bằng hơi
nước đưa lại cho người ta một xã hội có nhà tư bản công nghiệp.”
Ví dụ: Ngày xưa, con trâu là đầu cơ nghiệp. Nhưng ngày nay, không còn quan niệm
đó, bây giờ trâu bò không còn phải ra đồng nữa, đời sống của trâu bò sẽ rút ngắn (do
không để cày cấy mà dùng để giết thịt).

Phân loại văn minh: có nhiều cách phân loại, về cơ bản có thể hình dung như sau: Nền văn minh: VM NN, VM CN
Khu vực văn minh: gồm 2 khu vực lớn
oVăn minh phương Đông: tiêu biểu là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa, Ả Rập
oVăn minh phương Tây: trải qua 4 thời kỳ phát triển: cổ đại -> trung đại -> cận đại -> hiện đại
2) Các phương pháp nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
Có nhiều cách tiếp cận văn minh: xã hội học, văn hóa học...
Cách tiếp cận của khoa học lịch sử:
oKhông có 1 nền văn minh duy nhất xuyên suốt toàn bộ chiều dài lịch sử nhân loại
oMỗi nền văn minh cụ thể đều có tính lịch sử được hình thành và phát triển
trong sự tác động của nhiều nhân tố.
a) Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử: là phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua các giai
đoạn cụ thể của nó (ra đời, phát triển và tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể của nó.
(làm cho người ta lạc trong rừng lịch sử)
Phương pháp logic: là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng
quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, quy luật chung trong sự vận động của cái khách
quan được nhận thức. (chỉ lấy những sự kiện tiêu biểu gắn với sự thay đổi lớn của xã
hội, đất nước nên không hiểu đầy đủ, kĩ càng)

⇨ Hai phương pháp này có những điểm giống nhau và khác nhau nhưng quan hệ
chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất.
Lịch sử mà không có logic => mù mờ
Logic mà không có lịch sử => sáo rỗng, không có thật Những sai lầm:
●Bệnh đóng màu và bệnh giai thoại dật sử
●Bệnh công thức, bệnh giáo điều
●Hiện đại hóa lịch sử ●Chất đống tài liệu
●Kể chuyện giai thoại, dật sử thay cho việc nghiên cứu lịch sử
b) Phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại
Phương pháp nghiên cứu đồng đại: còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo
không gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường ngang”.
Đó là phương pháp nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong
cùng một giai đoạn nhưng ở những không gian khác nhau. Từ đó cho thấy sự giống
nhau sự khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau về chúng.
Qua đó, người nghiên cứu nắm bắt được cái riêng, cái chung, thấy được tính đặc thù,
phổ biến, hệ thống
của sự kiện hiện tượng, quá trình là sự cụ thể.
Phương pháp nghiên cứu lịch đại: còn gọi là phương pháp so sánh lịch sử theo thời
gian
hay phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường thẳng”.
Phương pháp này xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê nin về sự phát triển
- là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải
luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển.
Phương pháp luật đại đòi hỏi người viết khi nghiên cứu, biên soạn các sự kiện, hiện
tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát triển trước kia của nó.
Đồng thời, có thể dự báo khunh hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng.
Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình nó những
đặc điểm và yếu tố của giai đoạn trước và ngược lại. Giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề,
định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau.
Phương pháp lịch đại giúp cho chúng ta thấy được sự vận động, phát triển của các sự
kiện, hiện tượng lịch sử.
⇨ Phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại được gọi chung là phương pháp
so sánh lịch sử. Cả 2 phương pháp đều có những ưu điểm riêng. Việc kết hợp 2
phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh bức tranh
tổng thể của lịch sử văn minh thế giới.

Một số phương pháp nghiên cứu lịch sử: pp định lượng, pp dân tộc học, pp liên ngành...
Cấu trúc nghiên cứu LSVM:
●Cơ ở điều kiện: hình thành và phát triển của 1 nền/ khu vực văn minh
●Thành tựu: tiêu biểu của nền văn minh
●Đặc điểm: vai trò, vị trí của các nền/ khu vực văn minh trong tiến trình lịch sử nhân loại
B. Các tư tưởng tôn giáo
1) Quá trình hình thành và truyền bá của PHẬT GIÁO ở Ấn Độ để thấy rằng
Phật giáo từ tôn giáo địa phương thành tôn giáo thế giới
Quá trình hình thành Phật giáo ở Ấn Độ:
Dựa 3 cơ sở chính đáng lưu ý: a. Xã hội:
Khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN, từ những công xã cổ xưa đã hình thành hàng loạt
tiểu quốc hai bên bờ sông Hồng (miền Bắc Ấn Độ có khoảng 23 tiểu quốc).
Các vương quốc có điều kiện tự nhiên khác nhau, kinh tế, chính trị, xã hội phát triển
không đồng đều => các vương quốc luôn mâu thuẫn, cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau
=> Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên làm tình hình chính trị bất ổn, tâm lý dân chúng bất an.
Đến thế kỷ V TCN chỉ còn 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis.
b. Chính trị (4 đẳng cấp)
Mâu thuẫn đẳng cấp tăng lữ, quý tộc và sự phân hoá giai cấp mạnh mẽ, trở thành nỗi
bức xúc lớn trong xã hội bấy giờ.
oTăng lữ (Brahman) thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài
sản, bắt dân chúng nộp thuế cao và nghĩa vụ khác.
oQuý tộc (Ksatria) bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết
định trong chiến tranh nhưng địa vị lãnh đạo lại không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp tăng lữ.
oDân thường (Vaisya) có cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa
nhưng thuế không giảm và những áp lực của tôn giáo đè nặng.
oNô lệ (Soudra) là kẻ thấp hèn, có một số dân thường bị phá sản trở thành nô lệ,
một số phải đi ăn xin. Họ chịu cuộc sống cực khổ dẫn đến tâm lí chán nản, tuyệt vọng. c. Kinh tế:
Công cụ bằng đồng thau và sau đó là kim loại đã làm thay đổi bản chất của sản xuất.
Nhiều ngành kinh tế đã ra đời và ngày càng mở rộng, làm xuất hiện tầng lớp mới,
trong đó có thương nhân. Thương nhân là tầng lớp có tiềm lực về kinh tế, nên muốn
thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp. Lúc đầu, tầng lớp này không được xếp vào
đẳng cấp nào và cuối cùng bị đẩy xuống đẳng cấp nô lệ, đẳng cấp thấp hèn nhất (Soudra). d. Tôn giáo:
Cuộc sống khổ cực càng làm cho nhân dân lao động thêm căm ghét những kẻ bóc lột
mình, oán ghét chế độ đẳng cấp, không còn tin vào các vị thần Bàlamôn.
Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí ngày càng khó hiểu làm
cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này.
Trong bối cảnh đó vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn
giáo, triết học mới chủ trương xa lánh thực tại, khổ hạnh, ép xác, tiêu cực, tự kỉ nhưng
có một điểm chung là trực tiếp và gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn và chế độ đẳng
cấp. Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó và được xem là một dòng tư tưởng chống đạo Bàlamôn.
Tiền đề tư tưởng - chính trị: Đạo Bà La Môn đã xác lập được vai trò vững chắc ở
Ấn Độ, chi phối đời sống tư tưởng chính trị của các đẳng cấp khác trong xã hội Ấn Độ
PG do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu Thích ca Mâu ni sáng lập. Đạo Phật ra đời với
giáo lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại chế độ đẳng cấp, với
tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân
dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên sau khi ra đời đạo Phật nhanh
chóng được phổ biến. Tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỷ nguyên Phật giáo. Học thuyết PG:
Nội dung chủ yếu của học thuyết của PG “chỉ có một vị là cứu vớt” (Phật Thích ca).
Chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện trong
thuyết “tứ diệu đế” gồm khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
oKhổ đế: chân lý về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có 8 nỗi khổ là sinh, lão,
bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy
5 uẩn (sắc – vật chất tạo thành thân thể, thụ - cảm giác, tưởng – quan niệm, hành
– hàng động, thức – nhận thức).
oTập đế: chân lý về nguyên nhân các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu là do luân
hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, của nghiệp la do ham muốn (ham
sống, ham lạc thú, ham giàu sang...). Ham muốn không dứt thì nghiệp không dứt,
nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.
oDiệt đế: chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân đau khổ là luân hồi,
vì vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì
phải chấm dứt nghiệp => nên muốn diệt trừ hết nỗi khổ thì phải trừ bỏ hết ham muốn.
oĐạo đế: chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện diệt khổ -
“bát chính đạo” (chính kiến – tín ngưỡng đúng đắn, chính tư duy – suy nghĩ đúng
đắn, chính ngữ - nói năng đúng đắn, chính nghiệp –
hành động đúng đắn, chính
mệnh – sống đúng đắn, chính tịnh tiến – mở tưởng những cái đúng đắn, chính
niệm – tưởng nhớ những cái đúng đắn, chính định – tập trung tư tưởng ngẫm
nghĩ đúng đắn) => chung quy là suy nghĩ, nói năng và hàng động đúng đắn.
Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của học thuyết PG là thuyết Duyên khởi. Mọi
vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành. Học thuyết PG lại giải thích rằng, duyên
khởi do tâm mà ra. Tâm là nguồn gốc của duyên khởi thì cũng là nguồn gốc của vạn vật.
Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp vì đạo cho rằng nguồn
gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để cứu vớt. Đồng thời, đạp Phật
mong muốn có một xã hội mà vua có đạo đức và dựa vào pháp luật để trị nước, còn
dân thì được an cư lạc nghiệp.
Như vậy, ban đầu PG chỉ là học thuyết khuyên người ta từ bỏ ham muốn, tránh điều
ác, làm điều thiện để cứu vớt không thừa nhận thượng đế và các thần bảo hộ, do đó
không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thầy cúng.
Quá trình truyền bá của PG ở Ấn Độ:
Từ thế kỷ V TCN đến thế kỷ V sau CN là quá trình truyền bá và phát triển đạo Phật.
Quá trình đó trải qua bốn lần đại hội Phật giáo.
Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chống ở miền Bắc Ấn Độ. Để soạn
thảo giáo lí, quy chế và chấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ VIII TCN, đạo Phật đã triệu
tập 3 cuộc đại hội ở nước Magađa, quốc gia lớn nhất Ấn Độ lúc bấy giờ.
Đại hội PG lần1: Tổ chức tại Magada vào thế kỷ V TCN, có 500 đại biểu tham gia và
kéo dài trong 7 tháng. Đại hội soạn ra kinh điển của đạo Phật gồm Kinh tạng
(Pharma) và Luật tạng (Vinaya). Pharma gồm những lời thuyết giáo của Phật được
chép lại trong kí ức của các đệ tử lúc bấy giờ, còn Vinaya là quy chế của hội PG do đại hội thảo ra.
Đại hội PG lần 2: Sau 100 năm có nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết
trong giới luật, nên khoảng vào thế kỷ IV TCN với 700 tăng ni tham dự, đại hội diễn
ra trong 8 tháng. Trong Đại hội này, một số tỳ kheo khác lại chủ trương canh tân, đưa
ra 10 điều luật mới sửa lại luật, họ bị đại hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng
gọi là Đại chúng bộ, là mầm móng của phái Đại thừa sau này.
Đại hội PG lần 3: Diễn ra vào khoảng thế kỉ III TCN (253 TCN) với 1000 tăng ni
tham dự trong 9 tháng. Hội nghị thảo luận và hình thành phần Luận tạng. Với sự giúp
đỡ của vua Asoka, nhiệm vụ chính là chấn chỉnh lại tổ chức và giáo lý của giáo hội,
đồng thời đặt ra kinh kệ và các nghi thức. Asoka cho xây dựng nhiều chùa tháp, thành
lập nhiều tăng đoàn, khuyến khích việc truyền bá đạo Phật đến nhiều vùng đất trên
báo đảo Ấn Độ và một số quốc gia khác (Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Indo...). Đây
là thời kỳ cực thịnh của PG, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh. Tuy nhiên sau khi
vương quốc Magada tan rã, đạo Phật cũng suy yếu dần.
Đại hội PG lần 4: Đến thế kỉ I sau CN, người Cusan chiếm được miền Tây Bắc Ấn Độ
và thành lập ở đây một nhà nước của mình.Với sự giúp đỡ của vua Kanisca, đại hội
Phật giáo lần IV triệu tập với 500 tăng ni tham dự ở Carmia. Đại hội này thông qua
giáo lí của đạo Phật cải cách và phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại Thừa để
phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là phái tiểu Thừa. Phái Đại thừa truyền về phía
Bắc nên còn gọi là Bắc tông, phái Tiểu thừa truyền về phía Nam nên còn gọi là Nam tông.
Giống nhau giữa hai phái Tiểu thừa và Đại thừa: cùng mục đích tôn chỉ của đạo Phật Khác nhau: Phái Tiểu thừa:
oNghĩa là “cổ xe nhỏ”, “con đường cứu vớt hẹp” cho rằng chỉ có người xuất gia
đi tu mới được cứu vớt.
oChỉ có một Phật duy nhất là Phật Thích Ca, việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật
mới làm được và người thường không thể thành Phật.
oNiết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không còn khổ đau. Phái Đại thừa:
oNghĩa là “cổ xe lớn”, “con đường cứu vớt rộng” cho rằng không chỉ người tu
hành mà cả người trần tục quy y theo Phật đều được cứu vớt.
oPhật Thích Ca là Phật cao nhất và còn có nhiều Phật khác như (Phật Di Lặc,
Phật A Di Đà...). Ai cũng có thể thành Phật (thực tế là các Bồ tát như Phổ
Hiền, Quan Âm, Địa Tạng...)
oNiết bàn là thế giới của Phật giống như thiên đường của các tôn giáo khác.
Ngoài ra, phái Đại thừa còn tạo ra địa ngục, nơi đọa đày những kẻ tội lỗi.
oĐề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.
Qua quá trình hình thành và truyền bá PG ở Ấn Độ, có thể thấy được từ lúc bắt
đầu PG ra đời để giải quyết những mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội lúc bấy
giờ (chính trị tồn tại 4 đẳng cấp -> mâu thuẫn -> sự đàn áp của người giàu với
người nghèo -> sự bất bình đẳng) => tôn giáo địa phương.
Sau đại hội PG lần 4, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền
đạo => được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và TQ. Những thế kỷ tiếp sau đó,
đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại phát triển ở phần lớn Châu Á và trở thành
quốc giáo của một số quốc gia như Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Cam, Lào... => tôn giáo thế giới.
2) Quá trình hình thành và truyền bá của THIÊN CHÚA GIÁO ở La Mã thời kỳ cổ đại
Bối cảnh ra đời:
Cơ sở kinh tế - xã hội:
Năm 63 TCN, La Mã đánh chiếm và biến vùng Palextine thành một bộ phận lãnh thổ
của đế quốc mình. Tại đây, người La Mã đã áp dụng một chính sách cai trị hết sức
khắc nghiệt. Đời sống của nhân dân ở vùng phía Đông Địa Trung Hải càng cực khổ.
Nô lệ, dân nghèo, thợ thủ công đều phải gánh chịu cuộc sống bất công, bị áp bức,
cuộc sống không lối thoát.
Vì thế, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại sự thống trị, bóc lột của nhà nước -
chủ nô La Mã đặc biệt là người Zealot, nhưng đều bị đàn áp hết sức dã man. Khối
quần chúng nhất là nô lệ, dân nghèo nảy sinh tâm lý bi quan, chán nản, tuyệt vọng,
mất niềm tin vào tự do, hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực. Họ tìm lối thoát trong
ảo tưởng về tôn giáo, trông chờ vào sự cứu giúp của một lực lượng siêu nhiên có thể
giúp họ thoát khỏi ách thống trị, xây dựng một vương quốc công bằng, bình đẳng. Do
vậy, Kitô giáo trở thành tôn giáo của những người bị áp bức như nô lệ, dân nghèo, thợ thủ công...
Cơ sở tư tưởng, tôn giáo:
Hình thành dựa trên thần thoại của các tôn giáo cổ phương Đông. Vùng đất Palextin
là vùng đất sinh sống chủ yếu của người Do thái phải chịu nhiều bất hạnh trong lịch
sử của mình. Tổ tiên của họ là người Hebre, một tộc người sống du mục. Khoảng giữa
thế kỷ XIII TCN, dưới sự dẫn dắt của Moises, người Do thái đã từ Ai Cập trở về
Palextin và lập nên quốc gia Do thái vào khoảng cuối thiên niên kỷ II TCN. Từ đó,
người Do thái đã tin và đi theo một tôn giáo nhất thần - thờ vị thần duy nhất đó là
Chúa Giêhôva. Họ tin rằng dân tộc Do thái là dân được Chúa trọn, Chúa chỉ nói
chuyện với người Do thái thông qua sứ giả của Người là Moises. Năm 586, quốc gia
Do thái bị Tân Babilon cai trị, nền độc lập của quốc gia này đã không còn tồn tại
trong một thời gian dài. Trong bối cảnh đó, các nhà tiên tri Do thái giáo đã dự đoán
rằng sẽ có một vị Chúa Cứu Thế sắp xuống trần gian để cứu vớt loài người, tiêu diệt
kẻ xấu, giải thoát những đau khổ của con người, giải cứu khỏi kiếp nô lệ trầm luân.
Cơ sở tư tưởng triết học:
Từ giữa thế kỷ I TCN trở đi, nhà nước La Mã chuyển dần từ hưng thịnh sang suy
thoái. Giai cấp chủ nô muốn lợi dụng tôn giáo để duy trì trật tự xã hội. Do vậy triết
học La Mã chuyển dần sang duy tâm luận, quay về với trường phái triết học khắc kỉ -
Stoicism được hình thành ở Hy Lạp khoảng cuối thế kỷ IV TCN. Với các nội dung
như thần thống trị thế giới, sống nhẫn nhục chịu đựng là đức tính tốt đẹp, mọi người
đều bình đẳng, đang được lưu hành ở La Mã.
Tiêu biểu cho trường phái này ở La Mã là các tư tưởng của Seneque và Philo.
oSeneque: ông muốn thiết lập một hệ thống luân lý dựa trên nguyên tắc khiêm
nhường và nhẫn nhục. Ông cho rằng thể xác là gánh nặng của linh hồn, là sự
trừng phạt đối với linh hồn. Cuộc sống trần gian chỉ là khúc dạo đầu cho thế
giới bên kia của linh hồn - thế giới con người sau khi chết. Cái thế giới bên kia

ấy, nô lệ - nghèo khó, giàu có - quý tộc đều có thể đạt được như nhau, nếu con
người biết nhẫn nhục, nhường nhịn, chịu đựng gian khổ, lấy sự phục tùng làm
đức tính tốt đẹp nhất của con người.

oPhilo: thế giới vật chất, trong đó có cả con người là can nguyên của tội lỗi, thể
xác là ngục thất của linh hồn. Giữa thể xác và linh hồn có một vực thẳm không
thể đến với nhau được và trung gian của vực thẳm đó là cái mà ông gọi là
Thiên Đạo - Đấng Cứu Thế. Con người muốn được giải thoát chỉ cần có niềm
tin và một cuộc sống đạo đức.

Chính giáo lí của đạo Do thái, tư tưởng của phái triết học khắc kỉ và đời sống cực
khổ không có lối thoát của nhân dân bị áp bức là những yếu tố dẫn đến sự ra đời của đạo Thiên chúa.
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Kito (Thiên chúa giáo) là chúa Giêsu Crit,
con của chúa Trời đầu thai vào người con gái đồng trinh Maria và được sinh ra ở
Bétleem vùng Palextin. Đến năm 30 tuổi, chua Giêsu vừa truyền đạo, vừa chữa bệnh,
có thể làm cho người chết sống lại.
Nội dung đạo Thiên chúa:
Trong khi truyền đạo, chúa Giêsu khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi
đau khổ ở đời, sau khi chết sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn ở thiên đường. Đồng
thời chúa lên án sự giàu có, cho rằng người giàu muốn lên nước chúa cũng khó như
con lạc đà muốn chui qua lỗ kim.
Kế thừa nhiều quan điểm của đạo Do thái, đạo Kito cho rằng Chúa Trời sáng tạo ra tất
cả, kể cả loài người. Song họ lại đưa ra thuyết tam vị nhất thể tức là Chúa Trời (Chúa
cha), Chúa Giêsu (Chúa con) và Thánh thần tuy là ba nhưng vốn là một. Đạo cũng có
quan niệm về thiên đường, địa ngục, linh hồn bất tử, thiên thần, ma quỷ.
Kinh thánh gồm 2 phần là Cựu ước và Tân ước. Cựu ước là kinh thánh của đạo Do
thái mà Kito giáo tiếp nhận, còn Tân ước là kinh thánh thực sự của đạo Kito. Kinh
Tân ước viết bằng tiếng Hi Lạp, gồm có 4 phần là Phúc âm, Hoạt động của các sứ đồ,
Thư tín và Khải thi lục.
Đạo Kito có 7 nghi lễ quan trọng gọi là 7 bí tích:
oRửa tội: nghi thức vào đạo
oThêm sức: củng cố lòng tin
oThánh thể: ăn bánh thánh
oGiải tội: xưng tội để được xá tội
oXức dầu: xoa nước thánh vào người sắp chết
oTruyền chức: phong chức cho giáo sĩ oHôn phối
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ của đạo gồm nô lệ, nô lệ được giải phóng, dân nghèo
thành thị. Họ thành lập những công xã nhỏ, là những đoàn thể của các giáo hữu, là tổ
chức giúp đỡ lẫn nhau và làm việc từ thiện. Các công xã đều có quỹ chung để tiêu
dùng và tổ chức những bữa tiệc chung. Mọi thành viên đều bình đẳng. Quyền lãnh
đạo trong thời kì này thuộc về các nhà truyền giáo lưu động, các sứ đồ - đều là đại
biểu của quần chúng nghèo khổ.
Quá trình truyền bá và phát triển: trải qua 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: từ TK I đến đầu TK IV sau CN (cuối TK III)
Đây là giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ có một bộ phận tín đồ ở
Palestine tham gia. Sau cái chết của Chúa Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý
của ngài truyền bá ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang Roma để truyền đạo
thì thấy ở đây đã có nhiều tín đồ Kitô giáo.
Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng
Chúa Jesus cho rằng đế quốc La Mã là một "mụ đàn bà đầy tội lỗi – tức lên án tầng
lớp giàu có, thống trị và đế quốc La Mã sẽ sớm bị diệt vong", tín đồ Kitô giáo sẽ được
sống trong vương quốc của Chúa. Đây chính là những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại
của chế độ và nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã. Điều đó khiến giới cầm quyền và quý
tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín đồ Kitô là lũ phiến loạn và tiến hành đàn áp khốc
liệt, đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nêrôn. Tuy bị đàn áp
nhưng Kitô giáo vẫn tiếp tục phát triển.
Nguyên nhân: chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong
xã hội càng sâu sắc, sự bần cùng hoá, áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên. Kitô là
tôn giáo duy nhất mà giới lao động và những người nghèo khổ có thể tìm thấy được con đường giải phóng.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa mang tính
chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Họ giúp người lao động, người
nghèo tìm công ăn việc làm.
Đến thế kỉ II, các công xã Kitô dần phát triển thành Giáo hội. Trong hàng ngũ tín đồ
không chỉ có người nghèo mà ngày càng có nhiều người khá giả và giàu sang cũng
theo đạo. Quyền lãnh đạo giáo hội cũng thuộc tầng lớp trên. Những hình thức tăng
thêm tình hữu ái trước kia (ăn tiệc mừng, phân chia tài sản...) chấm dứt và thay bằng
việc bố thí từ thiện.
Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xả hội rất tích cực - đó là
cuộc vận động của dân nghèo chống chế độ áp bức.
Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho
Chúa trời” tức không dính dáng đến chính trị. Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo
đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn. Trước sự
phát triển này và đàn áp mãi không được, giới cầm quyền La Mã quyết định “sống
chung”, thay đổi chính sách đối với Kito giáo.
Giai đoạn 2: từ đầu TK IV sau CN trở về sau
Năm 311, Hoàng đế La Mã Galerius đã ra lệnh ngừng sát hại các tín đồ Kitô giáo.
Năm 313, hai hoàng đế Cônxtantinút và Lixiniút ban hành sắc lệnh Milanô, chính
thức công nhận địa vị hợp pháp của giáo hội Kitô.
Năm 325, hoàng đế Cônxtantinút triệu tập cuộc đại hội các giáo chủ đạo Kitô lần thứ
nhất tại Nixê (Tiểu Á). Đại hội đã giải quyết được 2 vấn đề lớn: một là, thống nhất lại
cuối cùng nội dung của Kinh thánh: Chọn ra 4 phần tương đối trùng khớp, ít mâu
thuẫn, loại bỏ bớt yếu tố mê tín dị đoan, thống nhất rồi đưa vào Tân ước; hai là, chấn
chỉnh tổ chức giáo hội.
Sau đại hội này, Kitô giáo trở thành một bộ phận trong bộ máy của giai cấp thống trị La Mã.
Năm 337, Cônxtantinút là hoàng đế La Mã đầu tiên theo Kitô giáo. Đến cuối TK IV,
đạo Kito chính thức được thừa nhận là quốc giáo của đế quốc La Mã. Sau đó, Gierôm
đã dịch kinh Cựu ước và kinh Tân ước từ tiếng Hi Lạp ra tiếng Latinh – kinh thánh chính thức của đạo.
Các quan lại cũng đua nhau theo đạo. Ngân quỹ quốc gia cũng được chi ra để đóng
góp cho Nhà thờ. Đạo Kito được truyền bá rộng khắp ra các tầng lớp xã hội quanh
Địa Trung Hải. Đến giai đoạn này, tính chất tiến bộ ban đầu của Kito giáo không còn
nữa, các giáo sĩ dần dần trở thành các quan lại của nhà nước, giáo hội trở thành công
cụ trong tay giai cấp thống trị. Do bất đồng trong sự giải thích thuyết “tam vị nhất
thể” và cả việc đụng chạm nhau về khu vực truyền đạo nên đến năm 1054, giáo hội
Kitô ở La Mã đã bị chia làm hai: giáo hội Thiên chúa (giáo hội ở phương Tây, giáo
hội La Mã) và giáo hội Chính thống (giáo hội ở phương Đông, giáo hội Hy Lạp). Ý nghĩa lịch sử:
Kitô giáo ra đời là biểu hiện phong trào phản kháng của đông đảo quần chúng bị áp
búc sau đó lan rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội. Trải qua bao thăng trầm lịch sử,
Kitô giáo từ chỗ là tôn giáo của những người nghèo, chống lại chính quyền cai trị, đã
trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần, vật chất của chính quyền Rôma và là một
bộ phận của chính quyền thống trị La Mã. Kito giáo ra đời là một sự kiện lịch sử rất
lớn vì sau này nó đã tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và tư
tưởng của người Châu Âu.
C. Các thành tựu văn minh
1) Thành tự về khoa học – kĩ thuật ở thời kỳ cổ đại
a) Ai Cập cổ đại có nhiều thành tựu quan trọng, nhất là số học và thiên văn
① Toán học:
Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực tế cuộc
sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và
hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu
xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời.
TNK III TCN xuất hiện những quan niệm trừu tượng về các con số.
TNK II TCN, người Ai Cập đã thành công với phép đếm. Họ đã biết dùng phép đếm
lấy 10 làm cơ sở. Các chữ số được dùng chữ tượng hình để biểu thị nhưng do không
có số 0 nên các viết chữ số tương đối phức tạp (đơn vị: hình nhiều cái que, chục: hình
đoạn dây thừng, trăm: hình một vòng dây thừng, ngàn: hình cây sậy...)
Về phép tính cơ bản, người AC chỉ mới biết phép cộng và pháp trừ. Còn nhân và chia,
dùng phương pháp cộng và trừ liên tiếp.
Thời Trung vương quốc, mầm mống đại số học xuất hiện, giải được phương trình bậc
nhất, biết được cấp số cộng và cấp số nhân.
Về hình học, biết cách tính S tam giác, S hình cầu, biết được số π=3,16, S hình tháp
đáy vuông và biết vận dụng mầm móng của lượng giác học khi giải toán hình học
không gian xây dựng Kim tự tháp.
Thường được ghi trên giấy Papyrus, rộng khoảng 8cm, dài 544cm.
② Thiên văn học:
Để nắm được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác
nông nghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp.
Với những dụng cụ thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván có khe hở, nhà thiên văn AC
thường ngồi trên nóc đền miếu để quan sát bầu trời. Họ đã vẽ hình thiên thể lên trần
các đền miếu, đã biết được 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh như s.Thủy,
s.Kim, s.Hỏa, s.Mộc, s.Thổ.
Để đo thời gian, thời Cổ vương quốc người AC đã nhật khuê nhưng chỉ xem được
thời gian ban ngày và khi đang có nắng. Đến thời vương triều XVII, phát minh ra
đồng hồ nước. Nhìn vào mực nước là có thể biết được thời gian, khắc phục được
nhược điểm của nhật khuê.
Thành tựu quan trọng nhất là việc đặt ra lịch, dựa trên kết quả quan sát tinh tú và quy
luật dâng nước của sông Nin. Họ lấy thời gian là 1 năm (365 ngày), chia làm 12
tháng, mỗi tháng 30 ngày, 5 ngày còn lại xếp vào cuối năm ăn tết, chia làm 3 mùa,
mỗi mùa 4 tháng (mùa Nước dâng, mùa Ngũ cốc, mùa Thu hoạch) => nắm được quy
luật thời gian, biết tính ngày tháng năm
Như vậy, lịch của AC cổ đại được phát minh rất sớm (khoảng TNK IV TCN), tương
đối chính xác và thuận tiện. Tuy nhiên, so với lịch mặt trời còn thiếu mất ¼ ngày,
chưa biết đặt ra năm nhuận. ③ Y học:
Do tục xác ước thịnh hành, người AC đã hiểu biết tương đối rõ về cấu tạo cơ thể con
người => tạo điều kiện cho y học phát triển sớm.
Nhiều thành tựu của y học AC cổ đại được ghi trên giấy Papyrus và truyền tải cho đến
ngày nay. Các tài liệu đề cập đến nguyên nhân của bệnh tật, mô tả về óc, nói về quan
hệ giữa ti và mạch máu, các loại bệnh, cách khám bệnh, khả năng chữa trị...
Về nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật, thừa nhận không do ma quỷ hay mụ phù thủy
gây nên mà do sự không bình thường của mạch máu. Từ thời Trung vương quốc, đã
biết được tầm quan trọng của óc và tim đối với sức khỏe con người, nhận biết được sự
liên hệ giữa tim và mạch máu.
Các tài liệu còn mô tả về nhiều loại bệnh: bệnh đường ruột và dạ dày, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da...
Các tài liệu cũng ghi lại nhiều bài thuốc và phương pháp chữa trị. Ví dụ, bệnh đường
ruột dùng phương pháp rửa ruột hoặc cho nôn mửa. Các thầy thuốc còn biết dùng
phẫu thuật để chữa một số bệnh.
Phân biệt được các chuyên khoa trong y học, người chuyên chữa mắt, người kia chữa
bệnh đau đầu, người thứ ba chữa răng, người nữa chữa bệnh dạ dày, người khác chữa
các bệnh trong nội tạng.
Sách thuốc: Papyrus Medicad ra đời khoảng 1500 – 1450 TCN.
Ngoài ra, các lịnh vực khác như vật lí học hóa học... cũng có hiểu biết đáng kể. b) Ấn Độ
① Toán học:
Phát triển sớm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tôn giáo
Người Ấn có một phát minh vô cùng quan trọng là sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay
được dùng rộng rãi trên thế giới. Tư liệu sớm nhất của những chữ số này là bia đá của
Axôca khắc từ TK III TCN. Người Ấn Độ cũng ra minh ra con số 0.
Đến TK VI, người Ấn Độ đã tính được chính xác số π là 3,1416, đồng thời còn phát
minh ra đại số học và về sau được truyền sang A rập.
Về hình học, biết tính S hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, đa giác và biết tính
những khái niệm cơ bản về Sin, Cosin, Tang, Cotang.
② Thiên văn và lịch pháp:
Từ rất sớm, người Ấn biết chia 1 năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30
giờ. Cứ 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận => tính độ dài của một năm, các tháng âm lịch
chính xác hơn người Hy Lạp, La Mã.
Biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kì trăng tròn, trăng khuyết, khảo sát
được hiện tượng nhật thực và lập bản thiên văn, đoán trước các hiện tượng xảy ra trên bầu trời.
Xác định được 5 tinh tú: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh và Thổ tinh; biết
được một số chòm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.
Tác phẩm Thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển Xitđanta ra đời vào khoảng TK V TCN.
Vì sao người Ấn dùng âm lịch? ③ Y học:
Các thầy thuốc Ấn Độ biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ TK VI, V TCN, người
Ấn đã biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận, lấy sạn
trong bàng quang, giải phẫu thẩm mỹ chữa mũi, môi, tai... và khám phá ra dược liệu cả vô cơ và hữu cơ.
Những thầy thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta, Saraca:
Xusruta sống vào TK V TCN, vừa là thầy thuốc vừa là thầy giáo dạy ở trường Y
khoa. Ông viết một quyển sách về phương pháp khám bệnh và chữ bệnh, trong đó mô
tả về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Ông chủ trương phải mổ tử thi để
nghiên cứu và thực tập. Chính ông là người đầu tiên lột một miếng da trên thân thể để
đắp vào vành tai bị cắt đứt.
Saraca sống vào TKII, là ngự y của vua thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm y học của
ông là Samhita, xác định bổn phận của người thầy thuốc là trị bệnh thì đừng nghĩ đến
mình, đừng vì lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ thế.
Các tập Vêđa cũng là những tác phẩm dược học cổ nhất, nêu ra hàng trăm loại thuốc
thảo mộc. Song song với sự phát triển của thuật giải phẫu, người Ấn đã biết chế thuốc
tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.
Nhiều tác phẩm y học được xuất bản như “y học toát yếu”, “luận cảo về trị liệu”
④ Vật lí học:
Các nhà khoa học kiêm triết học đã nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập ra trường
phái triết học Vaisêsica cho rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất
khác nhau là do mỗi loại có một thứ nguyên tử khác với loại khác. Còn các nhà triết
học đạo Jain cho rằng, nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có cách tổ hợp khác nhau mà thôi.
Biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào TK V TCN đã ghi: "Quả đất
do trọng lực của nó, hút tất cả mọi vật về nó".
Ngoài ra, còn có các hiểu biết về môn Hoá học, Sinh học, Nông học, đã phục vụ đắt
lực cho các lĩnh vực khoa học khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da... c) Trung Quốc
① Toán học:
Từ thời Hoàng Đế, biết sử dụng phép tính thập phân rất sớm.
Thời Tây Hán, tác phẩm Chu bễ toán kinh nói
về lịch pháp, thiên văn, hình học (tam
giác, tứ giác và ngũ giác), số học (phân số, số thường)... sớm nói về quan hệ giữa 3
cạnh tam giác vuông như định lý Pitago.
Thời Đông Hán có Cửu chương toán thuật, chứa đựng 4 phép tính, phương pháp khai
căn bậc 2 và 3, phương trình bậc 1, số âm số dương, cách tính S các hình, V các hình
khối, Sxq và V hình cầu...
Thời Nam Bắc triều, Lưu Huy và Tổ Xung Chi là 2 nhà toán học nổi tiếng nhất. Cả
hai đều tham gia chú giải Cửu chương toán thuật, đặc biệt Tổ Xung Chi tìm ra số pi
chính xác đến con số thập phân thứ 10 (pi=3,1415926203).
Thời Đường, nhà sư Nhất Hạnh nêu ra công thức phương trình bậc 2, Vương Hiếu
Thông soạn sách Tập cổ toán kinh, dùng phương trình bậc 3 giải quyết nhiều vấn đề toán học.
Thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh có Giả Hiển tìm được phương pháp giải phương
trình bậc cao, Thẩm Quát nêu ra ý kiến về cấp số, cách tính độ dài của cung và dây
cung. Đặc biệt, thời Tông, Nguyên đã phát minh ra cái bàn tính, tiện lợi cho tính toán. ② Thiên văn:
Thời Hoàng Đế Nghiêu Ruấn, đã biết quan sát thiên văn.
Thời Ngũ Đế đã biết làm lịch.
Thời Thương, đã có ghi chép về nhật thực và nguyệt thực. TQ biết kết hợp giữa vòng
quay của mặt trăng xung quanh mặt trời để làm ra lịch. Loại lịch chia 1 năm làm 12
tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày, đã thêm vào một tháng nhuận cho khớp với vòng quay.
Thời Hán Vũ đế (104 TCN), năm Thái sơ thứ nhất, đã dùng một loại lịch cải cách là
lịch Thái sơ, lấy tháng giêng âm lịch làm tháng đầu tiên, về cơ bản được dùng cho đến
ngày nay. Lịch Thái sơ chia một năm thành 24 tiết (4 mùa) => việc bố trí tháng nhuận
có quy luật, không còn tùy tiện như trước nữa.
Thời Đông Hán, Trương Hành (78 – 139) – nhà thiên văn nổi tiếng nhất TQ. Ông đã
biết ánh sáng mặt trăng là nhận được của mặt trời, giải thích đúng nguyệt thực là do
mặt trăng đứng sau mặt trời. Tác phẩm Linh hiến của
ông đã nêu ra những nhận thức
đúng đắn như vũ trụ là vô hạn, sự vận hành của hành tinh nhanh hay chậm là do cự li
cách quả đất gần hay xa.
Ông phát minh ra dụng cụ đo động đất sớm nhất thế giới gọi là “địa động nghi”
thể đo chính xác phương hướng của động đất và mô hình thiên thể dùng sức nước để
chuyển động là “hồn thiên ghi” hay “hồn trương”, khi
mô hình này chuyển động thì
các vì sao trên đó cũng di chuyển như tình tình thực ngoài bầu trời.
Thời Nguyên, Quách Thủ Kính soạn ra Thụ thời lịch vào năm 1230 – chính xác – một năm 365,2425 ngày. ③ Y học:
Có lịch sử phát triển lâu đời, giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện nay.
Thời Chiến quốc, tác phẩm Hoàng đế nội kinh nêu ra
những vấn đề về sinh lí, bệnh lí
và nguyên tắc chữa bệnh. Thầy thuốc nổi tiếng sớm nhất là Biển Thước, chữa trị tai,
mắt, mũi, chữ bệnh cho trẻ em và được tôn sùng là người khởi xướng ngành mạch học ở TQ.
Cuối thời Đông Hán, Trương Trọng Cảnh soạn sách Thương hàn tạp bệnh luận chủ
yếu nói về cách chữa bệnh thương hàn.
Từ đời hán về sau, thầy thuốc nổi tiếng là Hoa Đà, giỏi về các khoa nội, ngoại, phụ,
nhu và sở trường là ngoại khoa. Ông biết dùng rượu gây mê để phẫu thuật từ thế kỉ
thứ II. Ông cũng chủ trương muốn không bênh tật thì phải tập luyện thân thể để huyết mạch được lưu thông.
Thời Minh, sách bản thảo cương mục đã ghi chép được nhiều loại dược liệu, phân
loại, đặt tên, giới thiệu tính chất, công dụng và vẽ hình các cây thuốc đó.
Lý luận về đông y hình thành trên cơ sở thuyết Âm – dương, Ngũ hành (y – triết gắn
chặt với nhau), đúc kết trong cuốn “Thần nông bổn thảo kinh”, “Hoàng đế nội kinh”
và biết cách trị gãy xương.
④ Phương pháp canh nông:
4 phát minh vĩ đại của người Trung Quốc trong thời trung đại
Kỹ thuật làm giấy:
TK II TCN, phát minh ra phương pháp dùng xơ gai để chế tạo giấy, tuy nhiên giấy
còn xấu, mặt không phẳng, khó viết nên chủ yếu dùng để gói...
Thời Đông Hán, năm 195, Sái Luân phát minh ra kỹ thuật làm giấy tiến bộ hơn, từ vỏ
cây, mạt cưa, vải vụn... chế tạo ra loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó giấy được dùng
phổ biến thay thế cho các loại vật liệu trước đó.
Vào khoảng TK III, nghề làm giấy truyền sang VN, TK IV truyền sang Triều Tiên,
sau đó nữa truyền sang NB, Ấn Độ, Arập... Sau khi được truyền bá rộng rãi, các chất
liệu trước kia như lá cây ở Ấn, papyrus ở AC, da cừu ở châu Âu đều bị giấy thay thế. Nghề in
Bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có từ trước đời Tần.
Có từ thời nhà Tùy, đầu tiên in bản khắc sẵn. Đây là phát minh rất quan trọng giúp
người ta có thể in nhiều bản trong thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn giản, ít tốn,
do đó kĩ thuật này được sử dụng rất lâu.
Đến thời Tống (thập kỉ 40 của TK XI), một dân thường là Tất Thăng đã phát minh ra
cách in bản chữ rời (con chữ bằng đất sét nung). Chữ được sắp xếp lên một tấm sắt
có sáp, rồi đem hơ nóng cho chảy sáp, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để
nguội. Như vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in => một tiến bộ nhảy vọt của
nghề in nhưng vẫn còn một số nhược điểm như chữ hay mòn, khó tô mực, chữ không sắc nét.
Thời Nguyên, Vương Trinh cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bằng gỗ, khắc
phục nhược điểm trước đó.
Từ đời Đường, kĩ thuật in ván khắc được truyền sang Triều Tiên, VN, NB, Arập...
sang dần châu Phi, châu Âu.
La bàn: Có dấu vết từ thời Chiến quốc (muộn nhất), truyền thuyết từ thời Hoàng đế -
dùng trong thuật phong thủy. Đến thời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra
kim nam chân nhân tạo. Dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm, rồi dùng kim
đó làm la bàn. Lúc đầu, la bàn còn thô sơ, xâu kim nam châm qua cọng rơm, sợi bấc
đèn rồi thả nổi trên bát nước gọi là “thủy la bàn” hoặc treo bằng một sợi tơ ở chỗ kín gió.
La bàn được các thầy phong thủy sử dụng đầu tiên để xem hướng đất. Đến cuối thời
Bắc Tống, la bàn được sử dụng trong hàng hải.
Hỏa dược: liên quan đến nghề luyện đan của Đạo Gia, có bằng chứng xác thực từ
thời Đường. Đạo gia thịnh hàng, thuật luyện đan rất phát triển. “Chân nguyên diệu
đạo yếu lược” cho biết công thức: sunphat + lưu huỳnh + tro củi. Trong quá trình
luyện thuốc tiên, thường xảy ra bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà... tình cơ phát minh ra thuốc súng.
Đầu TK X, thuốc sung bắt đầu làm vũ khí như tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, đạn, pháo...
tác dụng chỉ để đốt doanh trại đối phương. Đời Tống, vũ khí bằng thuốc súng được
cải tiến. Năm 1132, TQ phát minh ra vũ khí hình ống, gọi là hỏa thương. Đến thế kỷ XIII truyền sang Châu Âu. d) Hi Lạp
Khoa học tự nhiên
Ban đầu, nền khoa học tự nhiên trong văn minh Hi Lạp gắn liền với triết học, sau mới
tách ra và phát triển độc lập. Hi Lạp có những cống hiến ở các mặt Toán học, Vật lý
học và Thiên văn học, Y học.
① Toán học:
Thales/Talét (TK VII – VI TCN), tiếp thu được các thành tựu của của Babilon và AC.
Phát minh quan trọng nhất là là tỉ lệ thức. Dựa vào đó ông đã tính được chiều cao của
Kim tự tháp bằng cách đo bóng của nó.
Pithagore/Pitago (khoảng 580 – 500 TCN), ông đi du lịch ở nhiều nước phương Đông,
tiếp thu Toán học của họ => phát triển thành công định lí mang tên ông về quan hệ
giữa 3 cạnh tam giác vuông, phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và số không chia hết.
Euclide/Ơcơlít (khoảng 330 – 275 TCN), trên cơ sở tổng kết các thành tựu nghiên cứu
của những người trước, ông soạn thành sách Toán học sơ đẳng – cơ sở môn Hình học,
chứa đựng định đề Ơclit nổi tiếng.
Archimede/Acsimét (khoảng 287 – 212 TCN), tính được số pi bằng một trị số nằm 10 10 giữa hai số 3 và 3
(là số pi chính xác sớm nhất trong lịch sử phương Tây), tìm 71 70
được cách tính thể tích và diện tích toàn phần của nhiều hình khối.
② Vật lí học:
Archimede, phát minh qaun trọng nhất về mặt lực học là nguyên lý đòn bẩy (với
nguyên lý này, có thể dùng một lực nhỏ để nâng một vật nặng gấp nhiều lần). Ngoài
ra, ông còn phát minh ra đường xoắn ốc, ròng rọc, bánh xe răng cưa...
Ông cũng phát hiện ra một nguyên lý quan trọng về thủy lực học là lực đẩy
Archimede (tất cả mọi vật thả xuống nước đều phải chịu một lực đẩy từ dưới lên trên
bằng trọng lượng nước phải di chuyển)
③ Thiên văn học:
Thales, tính được ngày nhật thực. Tuy nhiên, ông đã nhận thức sai về trái đất vì ông
cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời hình bán cầu úp trên mặt đất.
Pitago, tiến bộ hơn Talet => nhận thức được quả đất hình cầu và chuyển động theo quỹ đạo nhất định.
Aristarque/Arixtác (310 -230 TCN), nêu ra thuyết hệ thống mặt trời, tính toán khá
chính xác thể tích của mặt trời, quả đất, mặt trăng và khoảng cách giữa các thiên thể
ấy. Ý kiến quan trọng nhất của ông là trái đất tự quay quanh trục của nó và quay
quanh mặt trời – không được thừa nhận và bị buộc tội và 1800 năm sau Copernic