CÂU 1: NHẬP MÔN:
a) Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới:
1) Phương pháp lịch sử và phương pháp logic:
- Phương pháp lịch sử là phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua các giai đoạn cụ thể của nó (ra đời, phát
triển và tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể của nó.
+Ưu điểm: sự chính xác theo trình tự thời gian, sự phong phú và đa dạng, từ tất yếu đến ngẫu nhiên, từ cụ thể
đến sinh động, từ lớn đến nhỏ. Phương pháp này sẽ ghi chép lại toàn bộ sự kiện lịch sử một cách chi tiết, cụ thể, theo
trình tự thời gian một cách chặt chẽ, có lớp lang trước sau, trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác và là phương
pháp ghi chép đầy đủ nhất.
+Nhược điểm: làm cho con người ta rối vì nó ghi lại tất cả mà không có chọn lọc, người đọc rất khó để tìm và
biết được những sự kiện nào được coi là quan trọng; việc ghi chép bằng phương pháp này cũng rất mất thời gian mà
lại không có tính thực tiễn quá cao.
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra ban chất,
quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của cái khách quan được nhận thức.
+Ưu điểm: phương pháp này chỉ ghi lại những sự kiện lớn, tiêu biểu và điển hình thông qua nghiên cứu quá
trình phát triển của nền VM; ghi chép một cách có chọn lọc, cho người đọc cái nhìn sâu sắc về thời đại qua các sự
kiện tiêu biểu, bản chất. Giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn, logic và dễ dàng hiểu biết, ghi nhớ về sự kiện đó vì
chúng rất đặc trưng và tiêu biểu và mang tính thời đại.
+ Nhược điểm: dễ đưa đến các sai lầm như “bệnh đóng màu” và bệnh “giai thoại dật sử”, bệnh công thức,
giáo điều, hiện đại hóa lịch sử, chất đống tài liệu, kể chuyện giai thoại dật sử thay cho nghiên cứu lịch sử,…
Như vậy, hai phương pháp này có những điểm giống nhau và khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau như một thể thống nhất, tác động lẫn nhau nên chúng thường đi thành một cặp. Làm sáng tỏ những quy luật
khách quan của sự phát triển lịch sử là mục tiêu chung cả hai phương pháp này hướng đến.
2) Phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại
- (so sánh nhiều chủ thể trong cùng thời đại) Là phương pháp so sánh lịch sử Phương pháp nghiên cứu đồng đại:
theo hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành Nghiên cứu, so sánh các sự không gian “theo đường ngang”.
kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra nhưng ở những không gian khác nhau. Từ đó cho thấy sự trong cùng một giai đoạn
giống, khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng. Qua đó, người nghiên cứu nắm bắt được cái
riêng, cái chung, thấy được tính đặc thù, phố biển, hệ thống của sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử cụ thể.
VD: Năm 802: Campuchia bước vào thời kì Angkor đưa Campuchia trở thành đế quốc ĐNA. NĂM 802: VN trong
thời kì bắc thuộc (VN ptr trì trệ hơn so vs CPC).
- Phương pháp nghiên cứu lịch đại: ( so sánh 1 đối tượng trong nhiều thời đại) Là phương pháp so sánh lịch sử
theo hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành Phương pháp này xuất phát từ thời gian " theo đường thẳng”.
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về (là nguyên tắc lý luân mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện sự phát triến
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển). Phương pháp lịch đại đỏi hỏi
người viết khi nghiên cứu, biên soạn các sự kiện, hiện tượng lịch sử cần phải với xem xét, so sánh các giai đoạn phát
triển trước kia khuynh hưởng phát triển của nó đồng thời có thế dự báo của các sự vật, hiện tượng. Mỗi sự kiện, hiện
tượng lịch sử trong luôn mang trong mình nó những đặc điểm và yếu tố của và ngược giai đoạn sau giai đoạn trước
lại giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề, định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau. Phương pháp lịch đại giúp cho
chúng ta thấy được , phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.sự vận động
VD: nền văn minh Ấn Độ trên thời kì cổ đại và trung đại có những sự phát triển vượt bậc và tích cực hơn qua từng
giai đoạn.
* Phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại được gọi chung là phương pháp so sánh lịch sử. Cả hai phương
pháp đều có ưu điểm riêng. Việc kết hợp hai phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh bức
tranh tống thể của lịch sử văn minh thế giới.
* Một số phương pháp nghiên cứu khác trong nghiên cứu lịch sử: pp định lượng, pp dân tộc học, pp liên ngành.
b) Văn hóa, văn minh, nền văn minh; cơ sở hình thành, thành tựu và vai trò của văn minh:
- VĂN MINH cả về hay mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát trạng thái tiến bộ
triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
- Văn minh là trạng thái tiến bộ phát triển cao về các mặt:
Trình độ sx chinh phục và cải tạo tự nhiên
Trình độ quản lý xh: nhà nước, pháp luật, thể chế chính trị, định chế xã hội,..
Trình độ văn hóa tinh thần: văn học, nghệ thuật, triết học, KHTN, tôn giáo, sử học,..
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông,...
+ Đặc trưng của văn minh:
Nảy sinh trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất
Đối lập với văn minh là trạng thái dã man
Có văn minh vật chất và văn minh tinh thần
Xuất hiện cùng với xã hội có giai cấp và nhà nước
- Cơ sở hình thành văn minh:
Điều kiện tự nhiên: tạo nên sự thuận lợi hoặc những thách đố để nền văn minh xuất hiện và phát triển.
Điều kiện lịch sử: các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị của thời đại lịch sử cụ thể tác động đến con người với
tư cách là chủ thể của văn minh.
Điều kiện cư dân: khối lượng dân cư đông, cùng chủng tộc, cùng văn hóa, cùng mong muốn cuộc sống bình
ổn, tốt đẹp à họ chính là chủ thể sáng tạo nên nền văn minh đó.
- Tám yếu tố của thành tựu văn minh bao gồm:
Chữ viết: là hệ thống các kí tự đặc biệt ghi lại tiếng nói của con người, là phương tiện để truyền tải thông tin
qua không gian và thời gian.
Ví dụ: chữ tượng hình (Ai Cập), chữ Brami (Ấn Độ), chữ Lệ (Trung Hoa),…
Văn học: những sang tác văn học thể hiện niềm tin, ý chí, tình cảm của bộ phận dân cư sáng tạo ra nền văn
minh.
Sử học: quá trình hình thành nền sử học cùng những nhận xét, nhận định về các sự kiện trong tiến trình lịch
sử.
Nghệ thuật: hội họa, điêu khắc,kiến trúc,…
Khoa học tự nhiên: các phát minh về toán học, vật lý, hóa học, sinh học,..xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Triết học: hệ thống tư tưởng quan điểm của bộ phận dân cư đó về cuộc sống, con người, xã hội…
Tôn giáo, tư tưởng: Các niềm tin và tín ngưỡng (Hoàn cảnh, tích truyện, hệ thống thế giới quan, nhân sinh
quan, sự thờ phụng và cuộc sống đạo đức)
Luật pháp: hệ thống quy tắc tổ chức, quản lý xã hội.
- Phân loại văn minh:
Theo nền văn minh: Alvin Toffler đã phân kỳ lịch sử theo 3 đợt sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn
minh công nghiệp, văn minh tin học.
Theo khu vực :
Phương Đông: các trung tâm văn minh nằm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á, Đông Bắc châu Phi
như sông Ấn, sông Hằng, sông Hoàng Hà, sông Trường Giang,… Thời cổ đại có các trung tâm như Ai Cập, Lưỡng
Hà, Ấn Độ, Trung Quốc. Thời trung đại có các trung tâm như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả rập.
Phương Tây: các trung tâm văn minh nằm ở các đảo, bán đảo. Thời cổ đại có các trung tâm như Hy Lạp,
Roma. Thời trung đại có trung tâm văn minh Tây Âu.
- VĂN HOÁ là tổng thể những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
+ Đặc trưng của văn hoá:
Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người;
Xuất hiện gần như đồng thời với sự xuất hiện của loài người.
Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu.
Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá.
So sánh văn hoá với văn minh
- Giống nhau:
Văn hóa và văn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch
sử.
Mang tính nhân bản.
Mang tính lịch sử sâu sắc.
- NỀN VĂN MINH là trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và tinh thần của một cộng đồng dân tộc nhất định trong
tiến trình lịch sử, dụ: văn minh Ai Cập, ấn độ... Cũng được hiểu như trình độ phát triển cao của một kiểu hội,
vd: nên văn minh Ấn Độ, Trung Hoa…
- Những cơ sở hình thành nền văn minh
Điều kiện tự nhiên :
Vị trí địa lý – Khí hậu :
Thuận lợi: thời tiết ổn định, giàu tài nguyên khoáng sản,…
Khó khăn: thời tiết bất thường (bão, lũ lụt, hạn hán,…),...
Điều kiện kinh tế: nền tảng vật chất của nền văn minh (nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn,
sự giao lưu buôn bán,…
Điều kiện chính trị: trình độ tổ chức, quản lí xã hội.
Điều kiện xã hội: sự phân hoá và kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Điêu kiện cư dân: Cư dân là chủ nhân của nền văn minh, cộng đồng cư dân tạo ra nền văn minh.
CÂU 2: THÀNH TỰU KHOA HỌC TỰ NHIÊN:
KHOA HỌC TỰ NHIÊN AI CẬP
Cơ sở hình thành : Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát. Mực nước lên xuống của
sông Nile, có hai mùa nước dâng-hạ. Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất,
tính toán thuế khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ,
luật cúng tế.
a)Toán học
Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm và phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học. Do yêu
cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị nước sông Nin làm ngập và cần phải tính toán vật liệu xây dựng,... là những nguyên
nhân thúc đẩy toán học ra đời.
Người Ai Cập cố đại ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở. Các chữ số cũng được dùng chữ tượng
hình để biểu thị nhưng vì không có số 0 nên cách viết chữ số của họ tương đối phức tạp:đơn vị: hình nhiều cái que,
chục: hình một đoạn dây thừng, trăm: hình một vòng dây thừng, ngàn: hình cây sậy, 10 ngàn: hình ngón tay, 100
ngàn: hình con nòng nọc, triệu: hình người giơ hai tay biểu thị kinh ngạc.
Về các phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ, còn nhân và chia thì phải dùng phương
pháp cộng và trừ liên tiếp.
Đại số: giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhân,
Hình học: Tính diện tích hình tam giác, diện tích hình cầu, tính được số π = 3,16, biết tính thể tích của hình tháp đáy
vuông. Khi giải những bài toán hình học không gian để phục vụ cho việc xây dựng Kim tự tháp, họ đã biết vận dụng
mầm mống của lượng giác học.
b)Thiên văn học
Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác nông nghiệp, ở Ai Cập
đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp.
Với những dụng cụ hết sức thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu
trời, cứ một tiếng đồng hồ thì ghi vị trí các sao lên một tờ giấy có kẻ ô. Thông qua đó họ đã vẽ hình các thiên thể lên
trần của các đền miếu, đã biết được 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ từ
thời Vương triều XIV. Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, từ thời Cổ vương quốc người Ai Cập đã sáng
tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê. Những dụng cụ này chỉ xem được thời gian ban ngày và khi
đang có nắng. Đến thời vương triều XVII, người Ai Cập Cập phát minh ra đồng hồ nước có thể biết được thời gian
vào ban đêm, khắc phục hạn chế của nhật khuê.
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực thiên văn của Ai Cập cổ đại là việc đặt ra lịch. Lịch Ai Cập dựa trên kết
quả quan sát tinh tú và quy luật dâng nước của sông Nin. Họ nhận thấy rằng buổi sáng sớm khi sao Lang (Sirus) Bắc
đẩu mọc cũng là lúc nước sông Nin bắt đầu dâng. Hơn nữa, khoảng cách giữa hai lần mọc của sao Lang là 365 ngày.
Họ lấy khoảng thời gian ấy làm một năm. Một năm được chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, 5 ngày còn thừa
xếp vào cuối năm để ăn tết. Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nin bắt đầu dâng (vào khoảng tháng 7
dương lịch). Một năm được chia làm 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng. Đó là mùa Nước Dâng, mùa Ngũ cốc và mùa Thu
hoạch.
Như vậy, lịch của Ai Cập cổ đại là một thứ lịch được phát minh rất sớm (vào khoảng thiên kỉ IV TCN), tương đối
chính xác và thuận tiện. Tuy nhiên, lịch Ai Cập cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu mất 1/4 ngày, nhưng lúc bấy giờ,
họ chưa biết đặt ra năm nhuận.
c)Y học
Do tục ướp xác thịnh hành nên từ rất sớm, người Ai Cập cổ đại đã hiểu biết tương đối về cấu tạo thể người,
điều đó đã tạo điều kiện cho y học phát triển sớm. Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật
không phải do ma quỷ hay phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu; nhận thức được óc và tim là
hai bộ phận quan trọng của cơ thể con người; nhận thức được sự liên quan giữa tim và mạch máu. Họ đã miêu tả về
nhiều loại bệnh như bệnh đường ruột, dạ dày, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da… Các thầy thuốc Ai Cập biết dùng
phẫu thuật để chữa bệnh. Việc chữa bệnh được chuyên môn hóa khá tỉ mỉ, mỗi thầy thuốc chỉ chuyên chữa một loại
bệnh.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN HI LẠP
Cơ sở hình thành
Nền kinh tế phát triển cao, đời sống vật chất của giai cấp thống trị Hy Lạp được nâng cao, do đó thúc đẩy nhu cầu
nâng cao không chỉ đối với đời sống vật chât mà còn cả về đời sống tinh thần.
Về khoa học tự nhiên, Hi Lạp cổ đại có những cống hiến quan trọng về các mặt Toán học, Thiên văn học, Vật lí học,
Y học v.v...Những thành tựu ấy gắn liền với tên tuổi nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Talét, Pitago, Oclít, Ácsimét,
Arixtác, Eratôxten…
Về toán học:
Thales : Được mệnh danh là “Nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu tiên”. Phát minh quan trọng nhất của
Tales là tỉ lệ thức, nhờ đó mà ông đo được chiều cao của Kim tự tháp bằng cách đo bóng của nó.
Pythagoras : tiếp thu thành tựu toán học phương Đông ông đã sáng tạo ra định lý mang tên mình về mối quan hệ
giữa 3 cạnh của tam giác vuông. Ông còn phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và số không chia hết.
Euclid: Tổng kết thành tựu của các nhà toán học đi trước ông tổng hợp thành sách Toán học sơ đẳng là cơ sở của
môn hình học, trong đó có định đề Ơclit nổi tiếng.
Archimede: Ông tính được số pi bằng 1 trị số chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây. Ông đưa ra phương
pháp tính thể tích và diện tích toàn phần của nhiều hình khối.
Về thiên văn học:
Thales: Ông đã học tập và kế thừa những thành tựu thiên văn học của Lưỡng Hà. Là người dự báo chính xác về hiện
tượng Nhật thực năm 585 TCN. Nhưng ông sai lầm khi cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời có hình bán cầu úp
trên mặt đất.
Aristarque : Ông tính toán khá chính xác thể tích, khối lượng của mặt trời, quả đất, mặt trăng và khoảng cách của
các thiên thể ấy. Ông khẳng định “Không phải mặt trời xoay quanh Trái đất mà chính Trái đất xoay quanh Mặt trời
và mỗi ngày tự quay quanh nó một vòng”.
Eratosthene : Là người đầu tiên tính được độ nghiêng của trục quay Trái đất là 23’27. Ông cũng là người đầu tiên
tính toán được độ dài của vòng kinh tuyến trái đất là 39 700 km và tính được góc tạo bởi hoàng đạo và xích đạo.
Về vật lý học:
Archimede: phát minh quan trong nhất của Acsimét là về mặt lực học, trong đó đặc biệt nhất là nguyên lý đòn bẩy.
Với nguyên lí này, người ta có thể dùng một lực nhỏ để nâng lên một vật nặng gấp nhiều lần. Ngoài ra, ông còn
nhiều phát minh khác như đường xoắn ốc, ròng rọc, bánh xe răng cưa, máy bơm nước, máy bắn đá, nguyên lý hội tụ
ánh sáng của gương cầu lồi,…
Ông cũng phát hiện ra một nguyên lí quan trọng về thủy lực học. Đó là tất cả mọi vật thả xuống nước đều phải chịu
một lực đẩy từ dưới lên trên bằng trọng lượng nước phải chuyển đi.
Về y học:
Hippocrate : Là người đầu tiên đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển của y học phương Tây và được tôn vinh là ông tổ
của ngành y học phương Tây. Ông đã phát biểu những luận điểm quan trọng như: nguyên nhân của bệnh tật xuất
phát từ giới tự nhiên, khi đau thì người ta phải uống thuốc và hết sức lưu ý đến vấn đề vệ sinh ăn uống, khi cần thiết
thì phải dùng đến thuật mổ xẻ để trị bệnh.
Nhà giải phẫu học Hecrophile: chứng minh được não là khí quan tư duy, cảm giác do hệ thần kinh truyền đạt, xem
mạch yếu nhanh chậm có thể biết được tình hình sức khỏe.
Nhà phẫu thuật Heraclide : đã biết dùng thuốc mê khi phẫu thuật bệnh nhân.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRUNG QUỐC
① Toán học:
Từ thời Hoàng Đế, biết phép đếm lấy 10 làm cơ sở.
Thời Tây Hán, tác phẩm nói về lịch pháp, thiên văn, hình học (tam giác, tứ giác ngũ giác), sốChu bễ toán kinh
học (phân số, số thường)... sớm nhất nói về quan hệ giữa 3 cạnh tam giác vuông như định lý Pitago.
Thời Đông Hán chứa đựng 4 phép tính, phương pháp khai căn bậc 2 3, phương trìnhCửu chương toán thuật,
bậc 1, số âm số dương, cách tính S các hình, V các hình khối, Sxq và V hình cầu...
Thời Nam Bắc triều, Lưu Huy Tổ Xung Chi 2 nhà toán học nổi tiếng nhất. Cả hai đều tham gia chú giải Cửu
chương toán thuật, đặc biệt Tổ Xung Chi tìm ra số pi chính xác đến con số thập phân thứ 10 (pi=3,1415926203).
Thời Đường, nhà Nhất Hạnh nêu ra công thức phương trình bậc 2, Vương Hiếu Thông soạn sách Tập cổ toán
kinh, dùng phương trình bậc 3 giải quyết nhiều vấn đề toán học.
Thời Tống, Nguyên, Minh, ThanhGiả Hiến tìm được phương pháp giải phương trình bậc cao, Thẩm Quát nêu ra
ý kiến về cấp số, cách tính độ dài của cung dây cung. Đặc biệt, thời Tông, Nguyên đã phát minh ra cái bàn tính,
tiện lợi cho tính toán.
Thiên văn:
Thời Hoàng Đế Nghiêu Thuấn, đã biết quan sát thiên văn.
Thời Đông Hán, Trương Hành (78 – 139) – nhà thiên văn nổi tiếng nhất TQ. Ông đã biết ánh sáng mặt trăng là nhận
được của mặt trời, giải thích đúng nguyệt thực là do mặt trăng đứng sau mặt trời. Tác phẩm của ông đã nêuLinh hiến
ra những nhận thức đúng đắn như trụ hạn, sự vận hành của hành tinh nhanh hay chậm do cự li cách quả
đất gần hay xa. Ông phát minh ra dụng cụ đo động đất sớm nhất thế giới gọi có thể đo chính xác“địa động nghi”
phương hướng của động đất và mô hình thiên thể dùng sức nước để chuyển động là khi mô hình này“hồn thiên ghi”,
chuyển động thì các vì sao trên đó cũng di chuyển như tình hình thực ngoài bầu trời.
Thời Ngũ Đế đã biết làm lịch.
Thời Thương, TQ biết kết hợp giữa vòng quay của mặt trăng xung quanh mặt trời để làm ra lịch. Loại lịch chia 1
năm làm 12 tháng, tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày, đã thêm vào một tháng nhuận cho khớp với vòng
quay.
Thời Hán Vũ đế (104 TCN), năm Thái sơ thứ nhất, đã dùng một loại lịch cải cách là lịch Thái sơ, lấy tháng giêng âm
lịch làm tháng đầu tiên, về cơ bản được dùng cho đến ngày nay. Lịch Thái sơ chia một năm thành 24 tiết (4 mùa) =>
việc bố trí tháng nhuận có quy luật, không còn tùy tiện như trước nữa.
Thời Nguyên, Quách Thủ Kính soạn ra Thụ thời lịch vào năm 1230 – chính xác một năm 365,2425 ngày.
Người TQ ngày xưa chia một ngày đêm thành 12 giờ và dùng 12 địa chi (Tí, Sửu…) để đặt tên giờ. Mỗi giờ chia làm
8 khắc. Để đo thời gian, đầu tiên người TQ dùng 1 cái cọc gọi là ”khuê” để đo bóng mặt trời, do đó đã xác định được
ngày hạ chí đông chí làm cho cách tính lịch càng chính xác. Sau đó dùng “nhật quỹ” để đo thời gian, đến thời
Chu, phát minh ra “lậu hồ”. Đến đầu thế kỉ XVII, đồng hồ của phương Tây truyền vào thì ko còn dùng “đồng hồ
nước” nữa.
③ Y học:
Có lịch sử phát triển lâu đời, giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện nay.
Thời Chiến quốc, tác phẩm nêu ra những vấn đề về sinh lí, bệnh lí và nguyên tắc chữa bệnh. ThầyHoàng đế nội kinh
thuốc nổi tiếng sớm nhất Biển Thước, chữa trị tai, mắt, mũi, chữ bệnh cho trẻ em được tôn sùng là người khởi
xướng ngành mạch học ở TQ.
Cuối thời Đông Hán, Trương Trọng Cảnh soạn sách chủ yếu nói về cách chữa bệnhThương hàn tạp bệnh luận
thương hàn.
Từ đời hán về sau, thầy thuốc nổi tiếng là Hoa Đà, giỏi về các khoa nội, ngoại, phụ, nhusở trường là ngoại khoa.
Ông biết dùng rượu gây để phẫu thuật từ thế kỉ thứ II. Ông cũng chủ trương muốn không bênh tật thì phải tập
luyện thân thể để huyết mạch được lưu thông.
Thời Minh, sách “bản thảo cương mục” đã ghi chép được nhiều loại dược liệu, phân loại, đặt tên, giới thiệu tính chất,
công dụng và vẽ hình các cây thuốc đó.
luận về đông y hình thành trên sở thuyết Âm dương, Ngũ hành (y triết gắn chặt với nhau), đúc kết trong
cuốn “Thần nông bổn thảo kinh”, “Hoàng đế nội kinh” và biết cách trị gãy xương.
4 PHÁT MINH VĨ ĐẠI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC TRONG THỜI TRUNG ĐẠI
Kỹ thuật làm giấy:
TK II TCN, phát minh ra phương pháp dùng gai để chế tạo giấy, tuy nhiên giấy còn xấu, mặt không phẳng, khó
viết nên chủ yếu dùng để gói...
Thời Đông Hán, năm 195, Sái Luân phát minh ra kỹ thuật làm giấy tiến bộ hơn, từ vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách... chế tạo
ra loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó giấy được dùng phổ biến thay thế cho các loại vật liệu trước đó.
Vào khoảng TK III, nghề làm giấy truyền sang VN, TK IV truyền sang Triều Tiên, sau đó nữa truyền sang NB, Ấn
Độ, Arập... Sau khi được truyền bá rộng rãi, các chất liệu trước kia như lá cây ở Ấn, giấy papyrus ở Ai Cập, da cừu ở
châu Âu đều bị giấy thay thế.
Nghề in
Bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã từ trước đời Tần. từ thời nhà Tùy, đầu tiên in bản khắc
sẵn. Đây là phát minh rất quan trọng giúp người ta thể in nhiều bản trong thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn
giản, ít tốn, do đó kĩ thuật này được sử dụng rất lâu.
Đến thập kỉ 40 của TK XI, một dân thường Tất Thăng đã phát minh ra cách in chữ rời bằng đất sét nung. Chữ
được sắp xếp lên một tấm sắt có sáp, rồi đem hơ nóng cho chảy sáp, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để nguội.
Như vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in => một tiến bộ nhảy vọt của nghề in nhưng vẫn còn một số nhược
điểm như chữ hay mòn, khó tô mực, chữ không sắc nét.
Thời Nguyên, Vương Trinh cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bằng gỗ, khắc phục nhược điểm trước đó.
Từ đời Đường, kĩ thuật in ván khắc được truyền sang Triều Tiên, VN, NB, Ả Rập... dần sang châu Phi, châu Âu.
La bàn: Từ thế kỉ thứ III, người TQ đã biết tới từ tính và tính chỉ hướng của đá nam châm. Lúc bấy giờ phát minh ra
“tư nam” tổ tiên của kim chỉ nam. Đến thời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam chân nhân tạo.
Dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm, rồi dùng kim đó làm la bàn. Lúc đầu, la bàn còn thô sơ, xâu kim nam
châm qua cọng rơm, sợi bấc đèn rồi thả nổi trên bát nước gọi “thủy la bàn” hoặc treo bằng một sợi chỗ kín
gió.
La bàn được các thầy phong thủy sử dụng đầu tiên để xem hướng đất. Đến cuối thời Bắc Tống, la bàn được sử dụng
trong hàng hải. Khoảng nửa sau tk VII, truyền sang Ả Rập rồi truyền sang châu Âu. Người châu Âu cải tiến thành “la
bàn khô”.
Thuốc súng: liên quan đến nghề luyện đan của Đạo Gia, có bằng chứng xác thực từ thời Đường. Đạo gia thịnh hành,
thuật luyện đan rất phát triển. Người ta sử dụng . Trong quá trình luyện thuốc tiên,diêm tiêu + lưu huỳnh + than gỗ
thường xảy ra bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà...Thế là họ đã tình cờ phát minh ra thuốc súng.
Đầu TK X, thuốc súng bắt đầu làm khí như tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, đạn, pháo... tác dụng chỉ để đốt doanh trại
đối phương. Đời Tống, vũ khí bằng thuốc súng là “chấn thiên lôi” được sử dụng. Năm 1132, TQ phát minh ra vũ khí
hình ống, gọi là . Đến thế kỷ XIII truyền sang Mông Cổ, sang Ả Rập rồi vào Châu Âu.hỏa thương
Ý nghĩa:
Đối với trung quốc bốn phát minh trên ra đời không chỉ trực tiếp giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con
người Trung Quốc, mà đó còn là những đóng góp không nhỏ của một nền văn minh cho toàn nhân loại.
Đối với thế giới sự ra đời của thuật làm giấy, thuật in, thuốc súng kim chỉ nam đã nâng cao được vị thế của
loài người, đưa nhân loại tiến lên một bước trong quá trình chinh phục tự nhiên tranh đấu với tự nhiên với chính
con người để sinh tồn và phát triển.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN ẤN ĐỘ
① Toán học:
Người Ấn một phát minh cùng quan trọng sáng tạo ra 10 chữ s ngày nay được dùng rộng rãi trên thế
giới. Tư liệu sớm nhất của những chữ số này là bia đá của Axôca khắc từ TK III TCN. Người Ấn Độ cũng phát minh
ra con số 0.
Đến TK VI, người Ấn Độ đã tính được chính xác số là 3,1416, đồng thời còn phát minh ra đại số học và về sau được
truyền sang A rập.
Về hình học, biết tính S nh vuông, hình chữ nhật, tam giác, đa giác biết được quan hệ giữa các cạnh của tam
giác vuông.
Thiên văn và lịch pháp:
Từ rất sớm, người Ấn biết chia 1 năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ. Cứ 5 năm thì thêm 1 tháng
nhuận => tính độ dài của một năm, các tháng âm lịch chính xác hơn người Hy Lạp, La Mã.
Biết được trái đất mặt trăng đều hình cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng tính được các trăng tròn, trăng
khuyết. Xác định được 5 tinh tú: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh và Thổ tinh; biết được một số chòm sao và
sự vận hành của các ngôi sao chính.
Tác phẩm Thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển ra đời vào khoảng TK V TCN.Xitđanta
③ Y học:
Các thầy thuốc Ấn Độ biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ TK VI, V TCN, người Ấn đã biết cách chắp xương sọ,
cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận, lấy sạn trong bàng quang, giải phẫu thẩm mỹ chữa mũi, môi, tai...
khám phá ra dược liệu cả vô cơ và hữu cơ.
Những thầy thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta, Saraca:
Xusruta sống vào TK V TCN, vừa thầy thuốc vừa thầy giáo dạy trường Y khoa. Ông viết một quyển sách về
phương pháp khám bệnh chữa bệnh, trong đó tả về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Ông chủ
trương phải mổ tử thi để nghiên cứu thực tập. Chính ông người đầu tiên lột một miếng da trên thân thể để đắp
vào vành tai bị cắt đứt.
Saraca sống vào TKII, là ngự y của vua thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm y học của ôngSamhita, xác định bổn
phận của người thầy thuốc là trị bệnh thì đừng nghĩ đến mình, đừng vì lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ
thế.
Các tập Vêđa cũng những tác phẩm dược học cổ nhất, nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc. Song song với sự
phát triển của thuật giải phẫu, người Ấn đã biết chế thuốc tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.
④ Vật lí học:
Các nhà khoa học kiêm triết học đã nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập ra trường phái triết học Vaisêsica cho
rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất khác nhau do mỗi loại một thứ nguyên tử khác với loại
khác. Còn các nhà triết học đạo Jain cho rằng, nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có cách tổ hợp khác nhau mà thôi.
Biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào TK V TCN đã ghi: "Quả đất do trọng lực của nó, hút tất cả
mọi vật về nó".
Ngoài ra, còn các hiểu biết về môn Hoá học, Sinh học, Nông học, đã phục vụ đắt lực cho các lĩnh vực khoa học
khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da...
CÂU 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ, PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
1) Cơ sở hình thành Phật giáo
Có 3 cơ sở chính đáng lưu ý:
Xã hội:
Khoảng giữa thiên niên kỉ thứ I TCN, từ những công xã cổ xưa đã hình thành hàng loạt những tiểu quốc hai
bên bờ sông Hằng.
Các vương quốc này luôn mâu thuẫn, cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau.
Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên làm tình hình chính trị bất ổn, tâm lí dân chúng bất an.
Mâu thuẫn giữa đẳng cấp tăng lữ và quý tộc: sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ.
+ Tăng lữ(Brahman): Thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vét tài sản, bắt dân chúng nộp thuế cao
nghĩa vụ khác.
+ Quý tộc(ksatria): bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết định trong chiến tranh nhưng địa vị
lãnh đạo lại không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp tăng lữ.
+ Dân thường(Vaisya): Cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa nhưng thuế không giảm những áp lực
của tôn giáo đè nặng.
+ lệ-kẻ thấp hèn(Soudra): 1 số dân thường bị phá sản trở thành lệ, 1 số phải đi ăn xin.Họ chịu cuộc sống
cực khổ dẫn đến tâm lí chán nản tuyệt vọng.
Vì thế, chế độ đẳng cấp trở thành nỗi bức xúc lớn trong xã hội lúc bấy giờ.
Kinh tế:
Công cụ kim loại đồng thau và sau đó là đồ sắt đã làm thay đổi bản chất của sản xuất.
Nhiều ngành kinh tế đã ra đời ngày càng mở rộng làm xuất hiện tầng lớp thương nhân. Họ tầng lớp
tiềm lực về kinh tế, nên muốn thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp. tầng lớp này lúc đầu không được xếp vào
đẳng cấp nào và cuối cùng bị đẩy xuống đẳng cấp Soudra.
Tôn giáo:
Cuộc sống cực khổ càng làm người dân lao động thêm căm ghét kẻ bóc lột mình, oán ghét chế độ đẳng cấp
(Varna), không còn tin vào các vị thần Bàlamôn.
Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí ngày càng khó hiểu làm cho người dân ngày càng
xa rời tôn giáo này.
Trong bối cảnh đó, vào thế kỉ VI TCN, Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn giáo, triết học mới chủ
trương xa lánh thực tại nhưng 1 điểm chung là: trực tiếp gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn chế độ đẳng cấp.
Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó và được xem là 1 phản đề của đạo Bàlamôn.
Người sáng lập: Đạo Phật được sáng lập bởi Siddharta Gautama, còn được gọi là Thích ca mâu ni, Buddha hay Bụt
sau khi đắc đạo.
Nội dung cơ bản của Phật giáo
Thuyết “Tứ Diệu đế”:
Khổ đế: chân lý về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có 8 nỗi khổsinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không
ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn.
Tập đế: chân lý về nguyên nhân các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu là do luân hồi,nguyên nhân của luân
hồi nghiệp, của nghiệp la do ham muốn (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang...). Ham muốn không dứt t
nghiệp không dứt, nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.
Diệt đế: chân về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân đau khổ luân hồi, vậy muốn diệt khổ thì
phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì phải chấm dứt nghiệp => nên muốn diệt trừ hết nỗi khổ thì phải
trừ bỏ hết ham muốn.
Đạo đế: chân về con đường diệt khổ tức phương pháp thực hiện diệt khổ - “bát chính đạo” (chính kiến
– tín ngưỡng đúng đắn, suy nghĩ đúng đắn, - nói năng đúng đắn, hành độngchính tư duy chính ngữ chính nghiệp
đúng đắn, sống đúng đắn mở tưởng những cái đúng đắn, tưởng nhớchính mệnh , chính tịnh tiến chính niệm
những cái đúng đắn, tập trung tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn) => chung quy là suy nghĩ, nói năng chính định
hàng động đúng đắn.
Về Thế Giới quan: nội dung bản thuyết Duyên khởi ( chư pháp do nhân duyên nhi khởi) nghĩa các
pháp đều do nhân duyên ra. Pháp tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất tinh thần. Còn nhân duyên
nguyên nhân (nhân nguyên nhân chủ yếu, duyên nguyên nhân phụ). Mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp
thành.
Về mặthội: Phật giáo không quan tâm đến chế độ đẳng cấpnguồn gốc xuất thân của mỗi người không
phải điều kiện để được cứu vớt. Đồng thời, đạo Phật mong muốn một hội vua đạo đức dựa vào
pháp luật để trị nước, còn dân thì được an cư lạc nghiệp.
Sự phát triển và truyền bá Phật Giáo:
Ban đầu đạo Phật là một tôn giáo địa phương với giáo lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại
những thành kiến của chế độ đẳng cấp và với một tinh thần bác ái- giải quyết những vấn đề của xã hội Ấn Độ, đạo
Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên
sau khi ra đời đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ở miến Bắc Ấn Độ.
Sau khi Phật tịch, giáo lý nhà Phật được sưu tập, sang dịch, chỉnh lý ghi chép thành kinh Phật thông qua 4 kỳ hội
nghị kết tập:
1) Hội nghị kết tập lần 1: diễn ra vào thế kỉ thứ V TCN, tại vương quốc cổ Mayadha, ít ngày sau khi Phật qua đời.
Tham gia hội nghị có hơn 500 đai biểu tăng ni, họp trong 7 tháng. Kết thúc hội nghị hình thành bộ Kinh tạng và Luật
tạng.
2) Hội nghị kết hợp tập lần 2: diễn ra giữa thế kỉ thứ IV TCN, trong các tăng sĩ lại có những quan điểm bất đồng về
giới luật. Trong Đại hội này, một số tỳ kheo có chủ trương canh tân, đưa ra 10 điều luật mới sửa lại luật, họ bị Đại
hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng gọi là Đại chúng bộ, là mầm mống của phái Đại thừa sau này.
3) Hội nghị kết tập lần 3:
Diễn ra từ thế kỷ thứ III TCN, dưới thời kỳ vua Ashoka. Hội nghị thảo luận và hình
thành phần Luận tạng. Trong thời kì này đạo Phật phát triển rất mạnh. Vua Ashaka tôn vinh đạo Phật trở thành quốc
giáo Ấn Độ, khuyến khích các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật ra bên ngoài. Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật
Giáo, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh (Kinh Tạng, Luận Tạng, Luật Tạng).
Sau đại hội lần thứ 3, đạo Phật trước tiên truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền sang Thái, Myanmar, Indo…
4) Hội nghị kết tập lần 4:
Diễn ra vào khoảng 100 năm sau Công Nguyên, được sự bảo trợ của vua Canisha. Đại hội này thông qua giáo lý của
đạo Phật cải cách và phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại thừa, còn phái Phật giáo cũ được gọi là phái Tiểu
thừa.
Về trường phái PG Tiểu thừa hay còn gọi Phái Nam Tông- Hinayana- “cổ xe nhỏ” hay còn nghĩa là con đường
cứu vớt hẹp, đây là trường phái PG nguyên thủy với quan niệm về Phật là “thầy dạy” và Phật Thích Ca là vị Phật duy
nhất. Về giới luật quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh, gắn với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ
đau, không còn nhân quả luân hồi, cũng tức là hư vô. Phật Thích Ca là người đầu tiên đạt đến cảnh giới Niết bàn lúc
35 tuổi và nếu là người thường thì không thể thành Phật. Đây là trường phái PG xuất hiện và ảnh hưởng to lớn ở các
quốc gia như Campuchia, Sri- Lanka, Myanma, Lào, Thái Lan với trang phụctấm vải được quấn lệch sai một bên
vai có màu vàng sẫm hay nâu đỏ, vàng đỏ.
Về trường phái PG Đại thừa hay còn gọi là Phái Bắc Tông- Mahayana- “cổ xe lớn” hay còn nghĩa con đường
cứu vớt rộng, đây trường phái PG phát triển sau đại hội lần 4 cho rằng Đức Phật vị thần vạn năng, quyền uy
tuyệt đối và có thể ban những phép màu. Ngoài Phật Thích ca còn có Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, Phật Đại Dược Sư,.
Quan niệm Niết bàn như thiên đường, tức thế giới của các vị Phật, cũng tức là nơi Cực lạc, đối lập với địa ngục,
nơi đầy đọa kẻ tội lỗi đối với trường phái này quan niệm ai cũng thể thành Phật với sự cứu độ của Bồ Tát,
không chỉ những bậc tu hành cả những người quy y cũng được cứu vớt. Đồng thời cũng đề cao vai tcủa tầng
lớp tăng ni, coi họ trung gian giữa tín đồ Bồ tát, đây trường phái PG được ưa chuộng tại các quốc gia như
Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Việt Nam với trang phục vô cùng kín đáo được may thành áo dài,
kín vai có màu nâu, vàng hay lam.
Sau đại hội Phật giáo lần thứ 4, các nhà sư được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo, do đó đạo Phật càng được
truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc. Những thế kỷ sau đó, đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được
phát triển ở phần lớn châu Á và trở thành quốc giáo của một số nước. Vì vậy mà Phật giáo đã trở thành tôn giáo thế
giới.
Ảnh hưởng: Mặc dù thời gian sau PG đã suy yếu ở Ấn Độ nhưng vẫn được truyền bá và tiếp thu rộng rãi ở các quốc
gia trong khu vực cả thế giới, trong đó điển hình là Việt Nam. Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm.
Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề
trong cuộc sống., đến thế kỷ 20, mặc ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển
mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà Khánh HòaThiện Chiếu.
Chính bởi những mục tiêu đạo Phật hướng đến đã đưa người Việt lại gần hơn, với sự hưng thịnh ngày càng lớn
như các tín đồ PG ngày càng tăng cao, các chùa chiền được xây dựng trang nghiêm, rộng lớn và đồng thời ngày càng
đa dạng với các giáo hội mới như Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo,… Gần hai ngàn năm có mặt ở Việt Nam,
đạo Phật đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, song thời nào Phật giáo cũng lấy đức Từ bi để giáo
hóa chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Phật giáo Việt Nam đã xây dựng cho mình truyền thống yêu nước, gắn bó,
đồng hành cùng dân tộc.. Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa hội, Phật giáo vẫn giữ khả năng tự biến đổi
thích nghi theo xu hướng đi cùng với dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, “Đạo pháp - dân
tộc - hội chủ nghĩa”. Qua đây, ta thể cảm nhận được rằng Phật giáo đã mang lại những ảnh hưởng tích cực
có tầm quan trọng trong đời sống tinh thần người dân Việt Nam
Với tư tưởng từ bi, cứu khổ cùng với các giá trị đạo đức của Phật giáo đã có ảnh hưởng không ít tới môi trường sống
của người dân, bởi vì đạo Phật là tiếng nói của một con người gửi tới những con người khác, để cùng giúp nhau vượt
qua những khó khăn trong cuộc sống. thế, đạo Phật mang tính hội đạo đức rất cao. Phật giáo không chỉ
dừng lại công việc chia sẻ những khó khăn của hội như hòa bình, thịnh vượng, công bằng, còn hướng mọi
người lấy điều thiện làm chuẩn mực sống, làm phương tiện và mục đích để đạt tới hạnh phúc cho con người.
CÂU 4: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ CỦA THIÊN CHÚA GIÁO Ở
LA MÃ CỔ ĐẠI:
Nguyên nhân ra đời của đạo Thiên chúa dựa trên:
Tiền đề về lịch sử vào năm 63, La đánh chiếm đàn áp Palestin, lúc bấy giờ Palestin theo Do Thái giáo thờ
độc thần Chúa Jehovah- “Chúa cứu thế” được La Mã theo tôn giáo đa thần tiếp nhận. Sau khi đánh chiếm thì
La Mã đã tiếp nhận tôn giáo Do Thái giáo của Palestin.
Về tôn giáo thì vào năm 65, Do Thái giáo đã tách ra thành tôn giáo mới gọi là Kitô.
Cùng với đó là trên , do chế độ quân chủ chủ nô phát triển, với quan hệ sản xuất là chiếm hữulệ. Qua tiền đề XH
đây ta thấy sự áp bức bóc lột áp bức dân tộc là với quần chúng. Họ cần 1 tôn giáo làm “điểm tựa” tinh
thần và ở buổi đầu Kitô đã trở thành tôn giáo che chở tinh thần cho giai cấplệ, dân nghèo các dân tộc
bị áp bức ở La Mã.
Tiếp theo đó do , đó chính do sự thịnh hành tưởng của trường phái Triết học “khắc kỷ” đã tiền đề tưởng
làm hạn chế tối đa nhu cầu thiết yếu của con người, phải sống nhẫn nhục, chịu đựng đức tính tốt đẹp,
tưởng đó đã phù hợp với quần chúng nhân dân lao động bị áp bức.
Nội dung đạo Thiên chúa:
Trong khi truyền đạo, chúa Giêsu khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi đau khổ đời, sau khi chết sẽ
được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn thiên đường. Đồng thời chúa lên án sự giàu có, cho rằng người giàu muốn lên
nước chúa cũng khó như con lạc đà muốn chui qua lỗ kim.
Kế thừa nhiều quan điểm của đạo Do thái, đạo Kito cho rằng Chúa Trời sáng tạo ra tất cả, kể cả loài người. Song họ
lại đưa ra thuyết tam vị nhất thể tức là Chúa Trời (Chúa cha), Chúa Giêsu (Chúa con) và Thánh thần tuy là ba nhưng
vốn là một. Đạo cũng có quan niệm về thiên đường, địa ngục, linh hồn bất tử, thiên thần, ma quỷ.
Kinh thánh gồm 2 phần . Cựu ước kinh thánh của đạo Do thái Kito giáo tiếp nhận, cònCựu ước Tân ước
Tân ước kinh thánh thật sự của đạo Kito. Kinh Tân ước viết bằng tiếng Hi Lạp, gồm 4 phần Phúc âm, Hoạt
động của các sứ đồ, Thư tín và Khải thi lục.
Đạo Kito có 7 nghi lễ quan trọng gọi là 7 bí tích:
o Rửa tội: nghi thức vào đạo
o Thêm sức: củng cố lòng tin
o Thánh thể: ăn bánh thánh
o Giải tội: xưng tội để được xá tội
o Xức dầu: xoa nước thánh vào người sắp chết
o Truyền chức: phong chức cho giáo sĩ
o Hôn phối
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ của đạo gồm lệ, lệ được giải phóng, dân nghèo thành thị. Họ thành lập những
công xã nhỏ, những đoàn thể của các giáo hữu, tổ chức giúp đỡ lẫn nhaulàm việc từ thiện. Các công đều
quỹ chung để tiêu dùng tổ chức những bữa tiệc chung. Mọi thành viên đều bình đẳng. Quyền lãnh đạo trong
thời kì này thuộc về các nhà truyền giáo lưu động, các sứ đồ - đều là đại biểu của quần chúng nghèo khổ.
Quá trình truyền bá và phát triển: trải qua 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: từ TK I đến đầu TK IV sau CN (cuối TK III)
Đây giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ một bộ phận tín đồ Palestine tham gia. Sau cái chết của
Chúa Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo của ngài truyền ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang
Roma để truyền đạo và thánh là người có công lớn nhất.
Ban đầu giới cầm quyền La giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng Chúa Jesus cho rằng đế quốc La
Mã là một "mụ đàn bà đầy tội lỗi – tức lên án tầng lớp giàu có, thống trị đế quốc La sẽ sớm bị diệt vong", tín
đồ Kitô giáo sẽ được sống trong vương quốc của Chúa. Đây chính những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại của chế
độ nhà nước chiếm hữu lLa Mã. Điều đó khiến giới cầm quyền quý tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín
đồ Kitô phiến loạn tiến hành đàn áp khốc liệt, đẫm máu nhất vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế
Nêrôn. Tuy bị đàn áp nhưng Kitô giáo vẫn tiếp tục phát triển do chế độ chiếm hữu lệ ngày càng phát triển làm
tăng mâu thuẫn giữa chủ lệ càng gay gắt làm cho tầng lớp bần cùng chống lại người giàu tin vào Jesus
mãnh liệt, đồng thời do công xã Kitô hoạt động hiệu quả, giúp đỡ người dân nghèo, chống lại giai cấp thống trị.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn
nhau trong cuộc sống. Họ giúp người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm. Đến thế kỉ II, các công Kitô
dần phát triển thành Giáo hội. Trong hàng ngũ tín đồ không chỉ người nghèo ngày càng nhiều người khá
giả giàu sang cũng theo đạo. Quyền lãnh đạo giáo hội cũng thuộc tầng lớp trên. Những hình thức tăng thêm tình
hữu ái trước kia (ăn tiệc mừng, phân chia tài sản...) chấm dứt và thay bằng việc bố thí từ thiện.
Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xã hội rất tích cực - đó cuộc vận động của dân nghèo
chống chế độ áp bức. Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa
trời” tức không dính dáng đến chính trị. Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt
chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn. Trước sự phát triển nàyđàn áp mãi không được, giới cầm quyền La Mã quyết
định “sống chung”, thay đổi chính sách đối với Kito giáo.
Giai đoạn 2: từ đầu TK IV sau CN trở về sau
Năm 311 Năm 313, Hoàng đế La Galerius đã ra lệnh ngừng sát hại các tín đồ Kitô giáo.m , hai hoàng đế
Cônxtantinút Lixiniút ban hành sắc lệnh Milanô, chính thức công nhận địa vị hợp pháp của giáo hội Kitô. Năm
325, hoàng đế Cônxtantinút triệu tập cuộc đại hội các giáo chủ đạo Kitô lần thứ nhất tại Nixê (Tiểu Á), đồng thời
thống nhất kinh thánh, chấn chỉnh tố chức cho giáo hội và quan trọng nhất là định hướng Kitô thành 1 bộ phận trong
guồng máy của giai cấp thống trị. Cuối cùng là vào năm 337 Constantinus chịu phép rửa tội trước khi chết và đây
hoàng đế La đầu tiên theo Kitô giáo. Đến cuối TK IV, đạo Kito chính thức được thừa nhận quốc giáo của đế
quốc La Mã. Sau đó, Gierôm đã dịch kinh Cựu ước kinh Tân ước từ tiếng Hi Lạp ra tiếng Latinh kinh thánh
chính thức của đạo.
Kết luận: Trải qua một thời gian dài thì Kitô đã trở thành Quốc giáo của Đế quốc La Mã, đây một sự kiện lớn đã
tác động lên toàn diện đời sống của người dân châu Âu về cả tưởng, kinh tế, văn hóa- XH, chính trị. Đến khi
chính thức được công nhận thì sự tiến bộ và tích cực của Kitô lại không còn nữa, tôn giáo đã bị lợi dụng và trở thành
công cụ thống trị của nhà nước La Mã. Trong suốt thời kì Trung đại, giáo hội Kitô (sau này được gọi là giáo hội
Thiên chúa) trở thành chỗ dựa vững chắc cho chế độ phong kiến ở Châu Âu.
Ảnh hưởng: Kitô giáo tôn giáo lớn nhất thế giới với 2,2 tỷ tín đồ. Kitô giáo ràng ảnh hưởng đến nền văn
minh nhân loại lịch sử thế giới các cấp độ khác nhau. Giáo hội Kitô giáo đã một nguồn tài trchính của các
dịch vụ xã hội như học hành và chăm sóc y tế; và là nguồn cảm hứng cho nghệ thuật, văn hóa và triết học; và có ảnh
hưởng trong chính trị tôn giáo .Vì Công giáo ảnh hưởng ràng trong kiến trúc đã tạo ra các nhà thờ, một số
vẫn còn kiệt tác đại nhất của nền văn minh phương Tây. Kinh Thánh thần học Kitô giáo cũng ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các nhà triết học phương Tây và các nhà hoạt động chính trị. Giáo lý Kitô giáo có được ảnh hưởng lâu
dài về xu hướng đời sống, hôn nhân và cuộc sống gia đình. Kitô giáo nói chung ảnh hưởng đến tình trạng của phụ nữ
bằng cách lên án ngoại tình hôn nhân, ly hôn, loạn luân, đa phu thê, kiểm soát sinh sản, tội giết trẻ con, phá thai,
giáo dục và chăm sóc sức khỏe.
Tiếp nhận văn hóa Công giáo hơn 400 năm, văn hóa Việt Nam cũng được làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa
phương Tây đặc biệt thành công trong vấn đề chữ viết. Khi truyền đạo cho người Việt Nam, các giáo đã dùng
bộ chữ cái Latinh quen thuộc bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt chữ này về sau được gọi chữ
Quốc ngữ. Như vậy từ khi truyền vào Việt Nam, đạo Công giáo cun những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa
Việt Nam như nghề in, văn học, kiến trúc phương Tây. Ngày nay, lễ Noel, Valentine không còn dành riêng cho
người Công giáo mà nó đã thành ngày hội cho nhiều người nhất là giới trẻ.
THÀNH TỰU VĂN HỌC
ẤN ĐỘ
Ấn Độ là 1 nước có nền văn học rất phát triển. Thời cổ đại văn học Ấn Độ gồm hai bộ phận quan trọng là Vêđa và sử
thi.
A) Vê da:
Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Có 4 tập là: Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda, Athurva Veda. Trong đó: 3 tập Vêđa đầu
gồm những bài ca những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Arya tràn vào Ấn Độ, tình hình tan rã của chế
độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên. Rig Veda với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất. Còn Athurva
Veda chủ yếu gồm các bài chú, đề cập đến chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu.
B) Sử thi:
hai bộ sử thi rất đồ sộ, niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ: Cả hai được truyềnMahabharata Ramayana.
miệng từ nửa đầu thiên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các TK đầu CN thì dịch ra tiếng Xanxcrit.
Mahabharata: 18 chương 1 chương bổ sung tài liệu, gồm 220.000 câu. Đây bộ sử thi dài nhất thế giới. Chủ
đề tác phẩm là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Xoáy vào cốt truyện, đã miêu
tả về cảnh ăn chơi xa hoa chốn cung đình, những cuộc tình duyên éo le nhưng chung thủy, những cảnh sinh hoạt
của xã hội lúc bấy giờ và cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc.
Ramayana: 7 chương, trong đó chương I chương VII mới thêm vào, gồm 48.000 câu. Chủ đề của tác phẩm
câu chuyện tình yêu giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita.
C) Những tác phẩm của Caliđaxa:
Caliđaxa nhà thơ soạn kịch lớn nhất thời Gupta (TK V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông vở kịch Sơcuntla.
Nội dung miêu tả câu chuyện tình yêu giữa nàng vua trải qua nhiều éo le trắc trở, cuối cùngSơcuntla Đusơnta,
được đoàn tụ và hưởng hạnh phúc đời đời.
Ông thể hiện trong tác phẩm của mình tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắc khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt,
không chung thủy của giai cấp thống trị và quan niệm chống quan niệm về đẳng cấp.
Ông và vở kịch trở thành niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ và là nguồn cảm hứng của nhiều ngành nghệ thuật khác.
Ngày nay, ông được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới.
D) Các tác phẩm văn học viết bằng phương ngữ:
Cuối TK X về sau, đã xuất hiện nhiều tác phẩm viết bằng các loại phương ngữ khác.
TK XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chương bộ sử thi ra tiếng Têlugu, làm cho văn học cổ điển càngMahabharata
được phổ cập rộng rãi.
TK XVI, XVII, một số nhà thơ sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng
Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana là một tác phẩm nổi tiếng bằng tiếng Indi rất
được nhân dân ưa thích. Tập thơ Xuốc viết bằng phương ngữ khác trong tiếng Inđi với chủ đề chính là chủ nghĩa anh
hùng tình yêu, cũng tác phẩm giá trị. Những bài ca du dương ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca
kiêm nhà thơ Taxen cũng rất nổi tiếng.
Đặc trưng chung của nền thi ca của giai đoạn này dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung
đình, sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh tâmnguyện vọng của quần chúng nên được nhân
dân yêu thích.
TRUNG QUỐC
Thời cổ trung đại, Thời Xuân Thu Chiến Quốc, TQ nền văn học rất phong phú. văn học TQ bắt đầu phát triển.
Thời Tây Hán, Thời Tùy, Đường, nhiều người thể cầm bút viết văn trong hội. văn chương trở thành thước
đo chủ yếu của tài năng. nhiều thể loại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết... trong đó tiêu biểu nhất Kinh Thi,
Thơ Đường và tiểu thuyết Minh – Thanh.
① Kinh Thi
Kinh Thi:
tập tđầu tiên, tác phẩm văn học đầu tiên của TQ, được sáng tác trong khoảng 500 năm từ thời Tây Chu đến
giữa thời Xuân Thu.
Do tập thể dân gian sáng tác, gồm 305 bài thơ phản ánh phong tục tập quán, đời sống tình cảm của nhân dân. Sau
này Khổng Tử biên soạn lại thành 3 phần: phong, nhã, tụng để dạy học trò. dân ca của các nước có tên gọiPhong
Quốc Phong. những bài thơ do tầng lớp quý tộc sáng tác. bài thơ do quan phụ trách tế lễ bóiNhã Tụng
toán sáng tác.
Kinh Thi không chỉ giá trị về văn học còn tấm gương phản ánh tình hình hội TQ đương thời, được các
nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng của nó.
Thơ Đường (618 – 907): trên 2000 nhà thơ và gần 50000 tác phẩm. Không những có số lượng lớn còn có giá
trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Các nhà thơ đời Đường sáng tác theo 3 thể: Từ, cổ phong, Đường luật.
Từ: thể thơ đặc biệt, ra đời kết hợp chặt chẽ với âm nhạc. phổ theo những điệu nhạc sẵn, thị hiếu của phong
kiến và thị dân thời đó nên gọi là .điền từ
Cổ phong: thơ tương đối tự do, không bị ràng buộc về số chữ, số câu, về cách gieo vần, niêm, luật, đối.
Đường luật gồm 3 dạng chính: bát cú, tuyệt bài luật, nghĩabài thơ luật kéo dài. Có thể coi thất ngôn bát
là dạng cơ bản vì từ nó có thể suy ra những dạng khác.
Các thi nhân nổi tiếng thời Đường còn lưu tên tuổi đến ngày nay như 3 nhà thơ lớn Bạch (701 762), Đỗ Phủ
(712 – 770), Bạch Cư Dị (772 – 864).
Bạch: thơ của ông tập trung miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, phản ánh đời sống nhân dân. Lời thơ hào hùng, ý thơ
màu sắc của chủ nghĩa lãng mạn.
Đỗ Phủ: thơ tập trung miêu tả cảnh nghèo khổ và nỗi oan khuất của nhân dân lao động, vạch trần sự áp bức và sự xa
xỉ của giai cấp thống trị. Là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn nhất thời Đường.
Bạch Dị: làm nhiều bài thơ nói lên nỗi khổ cực của nhân dân lên án tầng lớp thống trị. Thơ của ông nội
dung hiện thực tiến bộ và đạt đến trình độ cao về nghệ thuật. Là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn thời Đường.
Tóm lại, thơ Dường là những trang rất chói lọi trong lịch sử văn học TQ, đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách và luật
thơ cho nền thi ca TQ sau này. Thơ Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến thơ ca VN.
Tiểu thuyết Minh - Thanh: một hình thức văn học mới bắt đầu phát triển t thời Minh- Thanhi. Dựa trên
những câu chuyện kể, thường sự tích lịch sử được viết thành các tiểu thuyết chương, hồi. Những tác phẩm lớn
nổi tiếng như – La Quán Trung, – Thị Nại Am, – Ngô Thừa Ân, Tam quốc chí diễn nghĩa Thủy hử Tây Du Ký Hồng
lâu mộng – Tào Tuyết cần...
AI CẬP
Văn học Ai Cập cổ đại phong phú về nội dung thể loại như thần thoại, truyện kể, thơ ca, các câu chuyện mang
tích chất đạo lí giáo huấn... Những truyện tương đối tiêu biểu như Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Sống sót
sau vụ đắm thuyền...
Giai đoạn đầu, đối tượng của văn học chịu sự chi phối của tôn giáo. Các tác phẩm văn học thời kỳ này chủ yếu ca
ngợi thần linh, các nghi lễ cúng tế.
Về sau, giai đoạn Trung Tân vương quốc, văn học phản ánh cuộc sống hiện thực hội, mâu thuẫn giai cấp, phê
phán bọ quan lại những mong muốn của con người, đặc biệt người lao động. Một stác phẩm phê phán tầng
lớp quan lại: Chuyện kể của Ipouer, truyện Sinouhé, tập truyện người nông phu biết nói những điều hay…
Thơ ca trữ tình: các bài thơ ngắn ca ngợi tình yêu và sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên được tập hợp chủ yếu
trong cuốn Papynus Hais 500.
Văn học mang tính chất triết lí: trong cuốn nói đến sự suy sụp của người“Đối thoại 1 người thất vọng với linh hồn”
Ai Cập trước sự đổ vỡ các giá trị truyền thống với tâm trạng chán đời.
THÀNH TỰU VỀ CHỮ VIẾT
AI CẬP
Chữ viết Ai Cập là chữ tượng hình, ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước ở cuối TNK IV TCN.
giai đoạn đầu, chưa viết phỏng sự vật, muốn viết chữ để biểu thị vậtđó thì vẽ hình thù vật ấy như các hình
vẽ người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú...), cây cối, mặt trời...
Còn các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì dùng phương pháp mượn ý. dụ: muốn vẽ chữ “khát” thì vẽ hình
con bò đứng bên cạnh chữ “nước”, chữ “chính nghĩa” thì vẽ lông đà điểu.
Tuy nhiên, hai phương pháp ấy vẫn chưa đủ ghi mọi khái niệm. Vì vậy, dần xuất hiện hình vẽ . biểu thị âm tiết Ví dụ
con mắt trong tiếng Ai Cậpar, do đó hình con mắt còn biểu thị âm tiết ar. Dần dần, những âm tiết biến thành chữ
cái. Tổng số chữ tượng hình của AC cổ là khoảng 1000 chữ, trong đó có 24 chữ cái.
Những chữ tượng hình này được khắc trên gỗ, đồ gốm, da, các phiến đá, các hành lang vào cung điện của Pharaon
hay trên một loại giấy đặc biệt (loại giấy sớm nhất thế giới). Loại chữ này được dùng trong hơnngiấy Papurus
3000 năm. Sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Tấm bia được phát hiện năm 1798 bởi quân lính của Napoleon khi viễn chinh tại Ai Cập. Tấm bia này đượcRossetta
làm bằng đá . Hiện nay được lưu giữ bảo tàng Anh, phần trên khắc chữ tượng hình ; phần dướibazan Ai Cập cổ
khắc chữ . Nhà ngôn ngữ học người Pháp đã tìm cách đọc được chữ này vào năm 1822.Hi Lạp cổ
ẤN ĐỘ
Chữ viết đầu tiên của Ấn Độ được sáng tạo thời kỳ Tại các di chỉ thuộc nền văn minh sông Ấn, khoảngHarappa.
3000 con dấu (22 dấu cơ bản) có khắc chữ được phát hiện ở đây. Theo ông Rao- tiến sĩ khám phá được bí ẩn của loại
chữ này, đây là chữ dùng hình vẽ để ghi âm ghi vần, được dùng trong hoạt động buôn bán, cung cấp thông tin về
sản xuất hàng hóa, nơi xuất xứ.
Sau này, thế kỷ V TCN Ấn Độ xuất hiện 1 loại chữ khác chữ Kharosthi- loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng
Lưỡng Hà. Sau đó lại xuất hiện , một loại chữ được sử dụng khá phổ biến (thế kỷ III TCN);chữ Brahmi thời Ashoka
văn bia hầu hết được ghi bằng loại chữ này.
Trên sở chữ Brahmi, ra đời. Nhiều loại ngôn ngữ hiện nay Ấn Độ như chữ Phạn (Sanskrit) Hindi, Bengal,
Urde... là biến thể của loại chữ này.
Pali cũng ngôn ngữ được sử dụng khá phổ biến Ấn Độ từ thế kỷ IV TCN. Đây kiểu chữ so với“bình dân”
chữ Sanskrit “chữ quý tộc”.
TRUNG QUỐC
Khoảng đã có chữ viết, đó là văn tự Giáp Cốt. Giáp cốt là văn tự khắc trênthiên niên kỷ thứ II TCN, đời nhà Thương
mai rùa hoặc xương thú (vì đónhững quẻ bói, muốn bói gì thì khắc lên đó). Đây là thứ chữ tượng hình, dụ như
(chữ “sơn” thì vẽ 3 đỉnh núi, chữ “thủy” thì vẽ 3 làn sóng).
Dần dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng, trên cơ sở chữ tượng hình đã phát triển thành
các loại chữ biểu ý và mượn âm thanh.
Cho đến nay đã phát hiện hơn 10000 mảnh mai rùaxương thú có khắc chữ giáp cốt. Tổng số chữ trên văn tự giáp
cốt có tới 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ.
Đến , xuất hiện loại chữ viết mới (chữ viết trên chuông đỉnh). Ngoài ra còn khắc trên đồthời Tây Chu Kim văn
đồng, thẻ tre. Các loại chữ viết đầu tiên này được gọi chung là chữ , cũng còn gọi là . Đài triện Cổ văn
Từ Trung Quốc đã cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ mới thống nhất gọi chữ khi nhà Tần thống nhất Tiểu
triện.
Từ (221 206 TCN) (73 49 TCN), lại xuất hiện một kiểu chữcuối thời Tần Thủy Hoàng đến thời Hán Tuyên Đế
mới gọi . Chữ Lệ biến nét cong và tròn trước đó thành nét ngang bằng sổ thẳng vuông vức ngay ngắn. Tuychữ Lệ
chữ Lệ được sử dụng không lâu, nhưng có ý nghĩa quan trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ chân
tức là chữ Hán ngày nay.
2/ sao văn minh Hy Lạp cổ đại lại đạt đỉnh cao rực rỡ nhất so với các nền văn minh
phương Đông cổ đại và ngay cả so với La Mã?
Hy Lạp là nền văn minh ra đời phát triển rất sớm, mang vai tthen chốt đối với nền văn minh P.Tây, ta thể
nói nếu không Hy Lạp thì không phương Tây như ngày nay. ngay cả khi so sánh với các quốc gia phương
Đông hay cả với La Mã, thì Hi Lạp vẫn đạt đỉnh cao rực rỡ.
Bởi ngay việc thành lập hình nhà nước, phương Đông đã bị hạn chế do chế độ quân chủ chuyên chế trung
ương tập quyền với vua là người quyết định tối cao, nắm vương quyền và thần quyền, làm hạn chế ý muốn, đóng
góp nhân của người dân, song hội phương Đông trọng tính tập thể cộng đồng nên coi trọng tính cộng đồng
và quên mất dấu ấn cá nhân. Còn phương Tây với mô hình nhà nước dân chủ do vua đứng đầu, nhưng luôn coi trọng
vai trò đóng góp của người dân. Nhà nước Hi Lạp chính nhà nước nền dân chủ hoàn hảo nhất trên thế giới
trong thời kì cổ đại. Điều đó đã tạo tiền đề cho các sự đóng góp đa dạng về khoa học tự nhiên, về con người, xã hội.
Mặc dùđược sự ưu ái của biển Địa Trung Hải nhưng Hi Lạp đã đạt những thành tựu cao hơn so với các quốc gia
còn lại. Một phần do điều kiện tự nhiên thuận lợi, giúp cho Hi Lạp có sự gần gũi, giao lưu với các quốc gia cổ đại
phương Đông, nhất là Ai Cập để tiếp thu văn minh nhân loại. Đây cũng một yếu tố quan trọng, bên cạnh đó
KHTN của Hi Lạp nền KHTN hội tụ đủ toàn diện các lĩnh vực khác nhau tiêu biểu Toán học, Thiên Văn, Y
học,… Để tạo lên sự rực rỡ đó phải kể đến những nhà khoa học đa năng, toàn tài, thể hiện dấu ấn nhân cùng
sâu sắc như nhà toán học Ta-lét, phát minh ra tỷ lệ thức vận dụng đo chiều cao của kim tử tháp, ông còn nhà
thiên văn học với phát hiện vĩ đại khi là người đầu tiên tính trước được nhật thực vào đúng ngày 28/5/558. Cùng phát
triển nhà toán học Pytago với định mang tên ông- Pytago mối quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông,
P.Đông đã tìm ra được, nhưng Pytago là người đầu tiên phương Tây khám phá đưa sự hiểu biết đến nhân loại.
Ông còn phân biệt được số chẵn, số lẻđặc biệt điểm mới là số không chia hết, trước đó VM Trung Quốc chỉ phát
hiện ra sâm, dương, VM AC chỉ biết số đếm, số tự nhiên. Về thiên văn học, ông biết trái đấtnh cầu biết
chuyển động theo quỹ đạo, đây điều Ấn Độ chưa tìm thấy. Tiếp đến sự đóng góp của “cha đẻ của hình
học phẳng”- Ơclít với việc soạn sách “Toán học đẳng” đã đóng góp sở cho môn hình học trong đó định đề
Ơ-clít. Acsimet- nhà toán học, người đầu tiên tìm ra giá trị số Pi=3,14 cho phương Tây, phát hiện ra công thức tính
thể tích diện tích toàn phần hình khối, cùng các phát minh về vật học như nguyên lý Thủy lực học, đòn bẩy,
ròng rọc, bánh xe răng cưa, đường xoắn ốc, máy bắn đá, chiếc gương quay. Nhà thiên văn học Arixtác được biết đến
với sự lỗi lạc, uyên thâm, người đóng góp đặt ra nền tảng cho thiên văn học thế giới. Ai Cập Ấn Độ
nghiên cứu liên quan đến mặt Trời, nhưng ông người đầu tiên đặt ra Thuyết hệ thống Mặt Trời, đồng thời tính
chính xác thể tích Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất khoảng cách giữa các thiên thể nói trên, chúng ta phải khẳng
định ông đã đóng góp những điều mới mẻ cho thiên văn học nhân loại. Tiếp theo ta phải nhắc đến nhà khoa học đa
năng đại nhất đó Eratôxten khi sở hữu cho mình các danh xưng trong các lĩnh vực thiên văn, toán học, vật
học, ngôn ngữ học, sử học, địa lý học. Với thành tựu nổi bật nhất đó chính là tính độ dài vòng kinh tuyến trái Đất với
giá trị 39,700 km ông người đầu tiên cũng như duy nhất tính được góc tạo bởi hoàng đạo xích đạo. Nhà
thiên văn học, toán học Ptôlêmê nhờ nghiên cứu Toán học đã khám phá kiến thức mới về Địa học với thành tựu
nổi bật nhất soạn được bộ sách “Tổng hợp- Kết cấu toán học” với sự thành công cả hạn chế “thuyết địa tâm”
với quan điểm cho rằng trái Đất trung tâmtrụ trái lại với quan điểm đúng học thuyết Nhật tâm. Bên cạnh đó
ông đã soạn quyển Địa lý học với 8 chương, đồng thời vẽ được bản đồ thế giới dù chưa hoàn toàn chính xác nhưng là
người nhận diện gọi tên được sớm nhất. Cuối cùng phải kể đến Hipôcrát- “Thủy tổ của y học phương Tây” với
các quan niệm y học đúng đắn như khi ốm đau phải dùng thuốc, ngoại cảnh gây n:ên bệnh tật, phẫu thuật để điều trị
khi cần, và ông là người đầu tiên trên thế giới đưa ra phát biểu về y đức của thầy thuốc thông qua lời thề Hipôcrát đề
cao tinh thần nhân văn.
thể nói Hy Lạp nơi phát minh và phát triển khoa học tự nhiên với các nhà khoa học lỗi lạc, tên tuổi lừng danh
mang tầm ảnh hưởng to lớn đến lịch sử nhân loại tận ngày nay. Hi Lạp tuy thừa kế nhiều tinh hoa của văn minh đi
trước như Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc,… nhưng họ chỉ chạm đến gọi tên, chính Hi Lạp mới là quốc gia tìm hiểu
đi sâu vào, đặt tên tuổi dấu ấn nhân, đưa đến nhân loại trên chính sở tìm hiểu của riêng nh. Những sự
đóng góp nói trên của Hi Lạp đã trở thành nền tảng cho KHTN cận- hiện đại Hi Lạp chính “cái nôi văn minh”
của văn minh phương Tây.
1/ Những sự tương đồng và khác biệt của Khoa học tự nhiên Ai Cập và khoa học tự nhiên Hy
Lạp cổ đại:
Tương đồng:
- Đều ra đời đượcnh thành trên một lát cắt thời gian thời cổ đại, gắn với vùng biển Địa Trung Hải rộng
lớn, giàu tiềm năng.
- Đều dựa trên nhu cầusự phát triển về kinh tế của người dân 2 nền văn minh để từ đó tìm ra những chân lí khoa
học phục vụ cho đời sống và kinh tế.
- Đều sự tương đồng tiếp nhận kiến thức giữa 2 nền văn minh trong nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn
học, y học,…
- Các nhà khoa học đều dùng kiến thức sự quan sát của bản thân để tìm ra các giả thuyết của mình. các sở
khoa học, tiến bộ cho các phát minh Y học, Toán học, cả thiên văn
Khác biệt:
-Do P.Đông gắn với các dòng sông mẹ, những dòng sông lớn ấy đều mang lại ảnh hưởng lớn lao giúp cho văn
minh các nước phát triển về mọi mặt trong cuộc sống sinh hoạt, sản xuất, mua bán, khám phá thiên nhiên, nhu cầu
tâm linh tín ngưỡng trên các “dòng sông mẹ”. Nhờ sự ưu ái ấy mà văn minh phương Đông mới có thể phát triển sớm
nhất và trở thành “cái nôi của văn minh thế giới”, nhất là Ai Cập
-Do P.Tây gắn với vùng biển lớn tạo điều kiện cho thông thương, buôn bán với quy lớn trên vùng biển Địa
Trung Hải- nơi chứng kiến sự ra đời của VM đầu tiên P.Tây, chứng nhân lịch sử cho sự phát triển rực rỡ của
VM Hy Lạp, VM La Mã. vùng biển lớn cũng quyết định tính cách con người chủ động, thích chinh phục khám
phá giá trị mới cho nền VM, nhất là Hi Lạp.
- Phát minh:
Toán học:
+ Ai Cập cổ đại:
• Đã đặt nền tảng cho các lĩnh vực trong toán học như phép tính cộng trừ, nhân chia bằng cách cộng trừ nhiều lần để
phục vụ nhu cầu phân chia ruộng đất, xây dựng, tính toán…
• Biết gần đúng số Pi=3,16 thông qua mối tương quan giữa Chu vi và chiều cao của KTT
• Biết bình phương cạnh huyền…
+ Hy Lạp:
• Dựa trên các kiến thức nền tảng đấy để phát triển và mở rộng, đặt tiền đề cho toán học hiện đại trên nhiều lĩnh vực,
đặc biệt là hình học với các kiến thức mà Ai Cập đã tìm hiểu nhưngsự chính xác cao hơn và mang dấu ấn cá nhân
như số Pi của Acsimet, định lý Pytago về quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông
• Hi Lạp tìm ra và phân biệt được số chẵn và số lẻ trong khi đó AC chỉ dừng lại ở các hệ số đếm
+ Thiên văn học:
• Người Ai Cập cổ đại đã nhận biết được sự hiện diện của các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, duy nhất chỉ Ai Cập
vẽ được bản đồ của các ngôi sao
Hi Lạp với Arixtac đặt ra thuyết hệ thống Mặt Trời đầu tiên cho thế giới, đồng thời tính chính xác thể tích Mặt
Trời, Mặt Trăng, Trái Đất khoảng cách giữa các thiên thể nói trên, chúng ta phải khẳng định ông đã đóng góp
những điều mới mẻ cho thiên văn học nhân loại. Duy nhất Eratoxten tính được vòng kinh tuyến trái đấttính được
góc tạo bởi hoàng đạo và xích đạo.
+ Y học: xem ở trước
Kết luận: Cả hai nền văn minh đều đặt những nền tảng giá trị cho KHTN cận hiện đại của nhân loại. mỗi nền
văn minh đều những yếu tố tự nhiên con người khác nhau như Ai Cập với dòng sông mẹ- Nin cùng bầu trời
xanh trong đã tạo nền văn minh cộng đồng, sống cùng chung nhà nước để trị thủy, chống ngoại xâm,… coi trọng
cuộc sống tập thể đã đặt ra chạm đến những giá trị văn minh mang tính lịch sử nhân loại. Còn Hi Lạp với vùng
biển rộng lớn nhiều thách thức đòi hỏi con người phải năng động và mang dấu ấn cá nhân khám phá chinh phục thiên
nhiên, tìm hiểu sâu sắc và chính xác với hàng loạt tên tuổi các nhà khoa học đại,cầu nối giữa văn minh Ai Cập
với thế giới loài người hiện đại mặc họ vẫn sở nghiên cứu khoa học riêng. Qua đây ta thấy được sao Ai
Cập được ưu ái với tên gọi “hòn đá tảng” Hi Lạp “cái nôi văn minh” của văn minh phương Tây thúc đẩy sự
phát triển của thế giới loài người sau này
So sánh VM P.Đông và P.Tây:
Kể tên nền văn minh trên thế giới mà A/c yêu thích, cơ sở hình thành của nền văn minh tiêu
biểu.
Nền văn minh Ai cập, Lưỡng Hà, Arập, Trung quốc,….
Cơ sở hình thành của nền văn minh TRung Quốc

Preview text:

CÂU 1: NHẬP MÔN: a)
Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới:
1) Phương pháp lịch sử và phương pháp logic:
- Phương pháp lịch sử là phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua các giai đoạn cụ thể của nó (ra đời, phát
triển và tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể của nó.
+Ưu điểm: sự chính xác theo trình tự thời gian, sự phong phú và đa dạng, từ tất yếu đến ngẫu nhiên, từ cụ thể
đến sinh động, từ lớn đến nhỏ. Phương pháp này sẽ ghi chép lại toàn bộ sự kiện lịch sử một cách chi tiết, cụ thể, theo
trình tự thời gian một cách chặt chẽ, có lớp lang trước sau, trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác và là phương
pháp ghi chép đầy đủ nhất.
+Nhược điểm: làm cho con người ta rối vì nó ghi lại tất cả mà không có chọn lọc, người đọc rất khó để tìm và
biết được những sự kiện nào được coi là quan trọng; việc ghi chép bằng phương pháp này cũng rất mất thời gian mà
lại không có tính thực tiễn quá cao.
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng quát nhằm vạch ra ban chất,
quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của cái khách quan được nhận thức.
+Ưu điểm: phương pháp này chỉ ghi lại những sự kiện lớn, tiêu biểu và điển hình thông qua nghiên cứu quá
trình phát triển của nền VM; ghi chép một cách có chọn lọc, cho người đọc cái nhìn sâu sắc về thời đại qua các sự
kiện tiêu biểu, bản chất. Giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn, logic và dễ dàng hiểu biết, ghi nhớ về sự kiện đó vì
chúng rất đặc trưng và tiêu biểu và mang tính thời đại.
+ Nhược điểm: dễ đưa đến các sai lầm như “bệnh đóng màu” và bệnh “giai thoại dật sử”, bệnh công thức,
giáo điều, hiện đại hóa lịch sử, chất đống tài liệu, kể chuyện giai thoại dật sử thay cho nghiên cứu lịch sử,…
Như vậy, hai phương pháp này có những điểm giống nhau và khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau như một thể thống nhất, tác động lẫn nhau nên chúng thường đi thành một cặp. Làm sáng tỏ những quy luật
khách quan của sự phát triển lịch sử là mục tiêu chung cả hai phương pháp này hướng đến.
2) Phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại
- Phương pháp nghiên cứu đồng đại: (so sánh nhiều chủ thể trong cùng thời đại) Là phương pháp so sánh lịch sử
theo không gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường ngang”. Nghiên cứu, so sánh các sự
kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong cùng một giai đoạn nhưng ở những không gian khác nhau. Từ đó cho thấy sự
giống, khác nhau, làm rõ mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng. Qua đó, người nghiên cứu nắm bắt được cái
riêng, cái chung, thấy được tính đặc thù, phố biển, hệ thống của sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử cụ thể.
VD: Năm 802: Campuchia bước vào thời kì Angkor đưa Campuchia trở thành đế quốc ĐNA. NĂM 802: VN trong
thời kì bắc thuộc (VN ptr trì trệ hơn so vs CPC).
- Phương pháp nghiên cứu lịch đại: ( so sánh 1 đối tượng trong nhiều thời đại) Là phương pháp so sánh lịch sử
theo thời gian hoặc phương pháp so sánh lịch sử được tiến hành " theo đường thẳng”. Phương pháp này xuất phát từ
nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự phát triến (là nguyên tắc lý luân mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển). Phương pháp lịch đại đỏi hỏi
người viết khi nghiên cứu, biên soạn các sự kiện, hiện tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát
triển trước kia của nó đồng thời có thế dự báo khuynh hưởng phát triển của các sự vật, hiện tượng. Mỗi sự kiện, hiện
tượng lịch sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình nó những đặc điểm và yếu tố của giai đoạn trước và ngược
lại giai đoạn trước sẽ tạo tiền đề, định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau. Phương pháp lịch đại giúp cho
chúng ta thấy được sự vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử.
VD: nền văn minh Ấn Độ trên thời kì cổ đại và trung đại có những sự phát triển vượt bậc và tích cực hơn qua từng giai đoạn.
* Phương pháp đồng đại và phương pháp lịch đại được gọi chung là phương pháp so sánh lịch sử. Cả hai phương
pháp đều có ưu điểm riêng. Việc kết hợp hai phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh bức
tranh tống thể của lịch sử văn minh thế giới.
* Một số phương pháp nghiên cứu khác trong nghiên cứu lịch sử: pp định lượng, pp dân tộc học, pp liên ngành. b)
Văn hóa, văn minh, nền văn minh; cơ sở hình thành, thành tựu và vai trò của văn minh:
- VĂN MINH là trạng thái tiến bộ cả về hay mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát
triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
- Văn minh là trạng thái tiến bộ phát triển cao về các mặt: ●
Trình độ sx chinh phục và cải tạo tự nhiên ●
Trình độ quản lý xh: nhà nước, pháp luật, thể chế chính trị, định chế xã hội,.. ●
Trình độ văn hóa tinh thần: văn học, nghệ thuật, triết học, KHTN, tôn giáo, sử học,..
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông,...
+ Đặc trưng của văn minh:
Nảy sinh trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất ●
Đối lập với văn minh là trạng thái dã man ●
Có văn minh vật chất và văn minh tinh thần ●
Xuất hiện cùng với xã hội có giai cấp và nhà nước
- Cơ sở hình thành văn minh:
Điều kiện tự nhiên: tạo nên sự thuận lợi hoặc những thách đố để nền văn minh xuất hiện và phát triển.
Điều kiện lịch sử: các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị của thời đại lịch sử cụ thể tác động đến con người với
tư cách là chủ thể của văn minh.
Điều kiện cư dân: khối lượng dân cư đông, cùng chủng tộc, cùng văn hóa, cùng mong muốn cuộc sống bình
ổn, tốt đẹp à họ chính là chủ thể sáng tạo nên nền văn minh đó.
- Tám yếu tố của thành tựu văn minh bao gồm:
Chữ viết: là hệ thống các kí tự đặc biệt ghi lại tiếng nói của con người, là phương tiện để truyền tải thông tin
qua không gian và thời gian.
Ví dụ: chữ tượng hình (Ai Cập), chữ Brami (Ấn Độ), chữ Lệ (Trung Hoa),…
Văn học: những sang tác văn học thể hiện niềm tin, ý chí, tình cảm của bộ phận dân cư sáng tạo ra nền văn minh.
Sử học: quá trình hình thành nền sử học cùng những nhận xét, nhận định về các sự kiện trong tiến trình lịch sử.
Nghệ thuật: hội họa, điêu khắc,kiến trúc,…
Khoa học tự nhiên: các phát minh về toán học, vật lý, hóa học, sinh học,..xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Triết học: hệ thống tư tưởng quan điểm của bộ phận dân cư đó về cuộc sống, con người, xã hội…
Tôn giáo, tư tưởng: Các niềm tin và tín ngưỡng (Hoàn cảnh, tích truyện, hệ thống thế giới quan, nhân sinh
quan, sự thờ phụng và cuộc sống đạo đức)
Luật pháp: hệ thống quy tắc tổ chức, quản lý xã hội.
- Phân loại văn minh:
Theo nền văn minh: Alvin Toffler đã phân kỳ lịch sử theo 3 đợt sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn
minh công nghiệp, văn minh tin học. ● Theo khu vực : ●
Phương Đông: các trung tâm văn minh nằm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á, Đông Bắc châu Phi
như sông Ấn, sông Hằng, sông Hoàng Hà, sông Trường Giang,… Thời cổ đại có các trung tâm như Ai Cập, Lưỡng
Hà, Ấn Độ, Trung Quốc. Thời trung đại có các trung tâm như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả rập. ●
Phương Tây: các trung tâm văn minh nằm ở các đảo, bán đảo. Thời cổ đại có các trung tâm như Hy Lạp,
Roma. Thời trung đại có trung tâm văn minh Tây Âu.
- VĂN HOÁ là tổng thể những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
+ Đặc trưng của văn hoá:
Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người; ●
Xuất hiện gần như đồng thời với sự xuất hiện của loài người. ●
Theo nghĩa rộng, văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ●
Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu. ●
Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá.
So sánh văn hoá với văn minh - Giống nhau: ●
Văn hóa và văn minh đều chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. ● Mang tính nhân bản. ●
Mang tính lịch sử sâu sắc.
- NỀN VĂN MINH là trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và tinh thần của một cộng đồng dân tộc nhất định trong
tiến trình lịch sử, ví dụ: văn minh Ai Cập, ấn độ... Cũng được hiểu như trình độ phát triển cao của một kiểu xã hội,
vd: nên văn minh Ấn Độ, Trung Hoa…
- Những cơ sở hình thành nền văn minh ● Điều kiện tự nhiên : ●
Vị trí địa lý – Khí hậu : ●
Thuận lợi: thời tiết ổn định, giàu tài nguyên khoáng sản,… ●
Khó khăn: thời tiết bất thường (bão, lũ lụt, hạn hán,…),... ●
Điều kiện kinh tế: nền tảng vật chất của nền văn minh (nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, sự giao lưu buôn bán,… ●
Điều kiện chính trị: trình độ tổ chức, quản lí xã hội. ●
Điều kiện xã hội: sự phân hoá và kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội ●
Điêu kiện cư dân: Cư dân là chủ nhân của nền văn minh, cộng đồng cư dân tạo ra nền văn minh.
CÂU 2: THÀNH TỰU KHOA HỌC TỰ NHIÊN:
KHOA HỌC TỰ NHIÊN AI CẬP
Cơ sở hình thành :
Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát. Mực nước lên xuống của
sông Nile, có hai mùa nước dâng-hạ. Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến
trúc, đo đạc ruộng đất,
tính toán thuế khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho t
ôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng tế. a)Toán học
Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm và phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học. Do yêu
cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị nước sông Nin làm ngập và cần phải tính toán vật liệu xây dựng,... là những nguyên
nhân thúc đẩy toán học ra đời.
Người Ai Cập cố đại ngay từ đầu đã biết dùng phép đếm lấy 10 làm cơ sở. Các chữ số cũng được dùng chữ tượng
hình để biểu thị nhưng vì không có số 0 nên cách viết chữ số của họ tương đối phức tạp:đơn vị: hình nhiều cái que,
chục: hình một đoạn dây thừng, trăm: hình một vòng dây thừng, ngàn: hình cây sậy, 10 ngàn: hình ngón tay, 100
ngàn: hình con nòng nọc, triệu: hình người giơ hai tay biểu thị kinh ngạc.
Về các phép tính cơ bản, người Ai Cập chỉ mới biết phép cộng và phép trừ, còn nhân và chia thì phải dùng phương
pháp cộng và trừ liên tiếp.
Đại số: giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhân,
Hình học: Tính diện tích hình tam giác, diện tích hình cầu, tính được số π = 3,16, biết tính thể tích của hình tháp đáy
vuông. Khi giải những bài toán hình học không gian để phục vụ cho việc xây dựng Kim tự tháp, họ đã biết vận dụng
mầm mống của lượng giác học. b)Thiên văn học
Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác nông nghiệp, ở Ai Cập
đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp.
Với những dụng cụ hết sức thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu
trời, cứ một tiếng đồng hồ thì ghi vị trí các sao lên một tờ giấy có kẻ ô. Thông qua đó họ đã vẽ hình các thiên thể lên
trần của các đền miếu, đã biết được 12 cung hoàng đạo, biết được các hành tinh như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ từ
thời Vương triều XIV. Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, từ thời Cổ vương quốc người Ai Cập đã sáng
tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê. Những dụng cụ này chỉ xem được thời gian ban ngày và khi
đang có nắng. Đến thời vương triều XVII, người Ai Cập Cập phát minh ra đồng hồ nước có thể biết được thời gian
vào ban đêm, khắc phục hạn chế của nhật khuê.
Thành tựu quan trọng nhất trong lĩnh vực thiên văn của Ai Cập cổ đại là việc đặt ra lịch. Lịch Ai Cập dựa trên kết
quả quan sát tinh tú và quy luật dâng nước của sông Nin. Họ nhận thấy rằng buổi sáng sớm khi sao Lang (Sirus) Bắc
đẩu mọc cũng là lúc nước sông Nin bắt đầu dâng. Hơn nữa, khoảng cách giữa hai lần mọc của sao Lang là 365 ngày.
Họ lấy khoảng thời gian ấy làm một năm. Một năm được chia làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, 5 ngày còn thừa
xếp vào cuối năm để ăn tết. Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nin bắt đầu dâng (vào khoảng tháng 7
dương lịch). Một năm được chia làm 3 mùa, mỗi mùa 4 tháng. Đó là mùa Nước Dâng, mùa Ngũ cốc và mùa Thu hoạch.
Như vậy, lịch của Ai Cập cổ đại là một thứ lịch được phát minh rất sớm (vào khoảng thiên kỉ IV TCN), tương đối
chính xác và thuận tiện. Tuy nhiên, lịch Ai Cập cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu mất 1/4 ngày, nhưng lúc bấy giờ,
họ chưa biết đặt ra năm nhuận. c)Y học
Do tục ướp xác thịnh hành nên từ rất sớm, người Ai Cập cổ đại đã hiểu biết tương đối về cấu tạo cơ thể người,
điều đó đã tạo điều kiện cho y học phát triển sớm. Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật
không phải do ma quỷ hay phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu; nhận thức được óc và tim là
hai bộ phận quan trọng của cơ thể con người; nhận thức được sự liên quan giữa tim và mạch máu. Họ đã miêu tả về
nhiều loại bệnh như bệnh đường ruột, dạ dày, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da… Các thầy thuốc Ai Cập biết dùng
phẫu thuật để chữa bệnh. Việc chữa bệnh được chuyên môn hóa khá tỉ mỉ, mỗi thầy thuốc chỉ chuyên chữa một loại bệnh.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN HI LẠP Cơ sở hình thành
Nền kinh tế phát triển cao, đời sống vật chất của giai cấp thống trị Hy Lạp được nâng cao, do đó thúc đẩy nhu cầu
nâng cao không chỉ đối với đời sống vật chât mà còn cả về đời sống tinh thần.
Về khoa học tự nhiên, Hi Lạp cổ đại có những cống hiến quan trọng về các mặt Toán học, Thiên văn học, Vật lí học,
Y học v.v...Những thành tựu ấy gắn liền với tên tuổi nhiều nhà khoa học nổi tiếng như Talét, Pitago, Oclít, Ácsimét, Arixtác, Eratôxten… Về toán học:
Thales : Được mệnh danh là “Nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu tiên”. Phát minh quan trọng nhất của
Tales là tỉ lệ thức, nhờ đó mà ông đo được chiều cao của Kim tự tháp bằng cách đo bóng của nó.
Pythagoras : tiếp thu thành tựu toán học phương Đông ông đã sáng tạo ra định lý mang tên mình về mối quan hệ
giữa 3 cạnh của tam giác vuông. Ông còn phân biệt các loại số chẵn, số lẻ và số không chia hết.
Euclid: Tổng kết thành tựu của các nhà toán học đi trước ông tổng hợp thành sách Toán học sơ đẳng là cơ sở của
môn hình học, trong đó có định đề Ơclit nổi tiếng.
Archimede: Ông tính được số pi bằng 1 trị số chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây. Ông đưa ra phương
pháp tính thể tích và diện tích toàn phần của nhiều hình khối. Về thiên văn học:
Thales:
Ông đã học tập và kế thừa những thành tựu thiên văn học của Lưỡng Hà. Là người dự báo chính xác về hiện
tượng Nhật thực năm 585 TCN. Nhưng ông sai lầm khi cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời có hình bán cầu úp trên mặt đất.
Aristarque : Ông tính toán khá chính xác thể tích, khối lượng của mặt trời, quả đất, mặt trăng và khoảng cách của
các thiên thể ấy. Ông khẳng định “Không phải mặt trời xoay quanh Trái đất mà chính Trái đất xoay quanh Mặt trời
và mỗi ngày tự quay quanh nó một vòng”.
Eratosthene : Là người đầu tiên tính được độ nghiêng của trục quay Trái đất là 23’27. Ông cũng là người đầu tiên
tính toán được độ dài của vòng kinh tuyến trái đất là 39 700 km và tính được góc tạo bởi hoàng đạo và xích đạo. Về vật lý học:
Archimede:
phát minh quan trong nhất của Acsimét là về mặt lực học, trong đó đặc biệt nhất là nguyên lý đòn bẩy.
Với nguyên lí này, người ta có thể dùng một lực nhỏ để nâng lên một vật nặng gấp nhiều lần. Ngoài ra, ông còn
nhiều phát minh khác như đường xoắn ốc, ròng rọc, bánh xe răng cưa, máy bơm nước, máy bắn đá, nguyên lý hội tụ
ánh sáng của gương cầu lồi,…
Ông cũng phát hiện ra một nguyên lí quan trọng về thủy lực học. Đó là tất cả mọi vật thả xuống nước đều phải chịu
một lực đẩy từ dưới lên trên bằng trọng lượng nước phải chuyển đi. Về y học:
Hippocrate : Là người đầu tiên đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển của y học phương Tây và được tôn vinh là ông tổ
của ngành y học phương Tây. Ông đã phát biểu những luận điểm quan trọng như: nguyên nhân của bệnh tật xuất
phát từ giới tự nhiên, khi đau thì người ta phải uống thuốc và hết sức lưu ý đến vấn đề vệ sinh ăn uống, khi cần thiết
thì phải dùng đến thuật mổ xẻ để trị bệnh.
Nhà giải phẫu học Hecrophile: chứng minh được não là khí quan tư duy, cảm giác do hệ thần kinh truyền đạt, xem
mạch yếu nhanh chậm có thể biết được tình hình sức khỏe.
Nhà phẫu thuật Heraclide : đã biết dùng thuốc mê khi phẫu thuật bệnh nhân.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRUNG QUỐC ① Toán học:
Từ thời Hoàng Đế, biết phép đếm lấy 10 làm cơ sở.
Thời Tây Hán, tác phẩm Chu bễ toán kinh nói
về lịch pháp, thiên văn, hình học (tam giác, tứ giác và ngũ giác), số
học (phân số, số thường)... sớm nhất nói về quan hệ giữa 3 cạnh tam giác vuông như định lý Pitago.
Thời Đông Hán có Cửu chương toán thuật, chứa đựng 4 phép tính, phương pháp khai căn bậc 2 và 3, phương trình
bậc 1, số âm số dương, cách tính S các hình, V các hình khối, Sxq và V hình cầu...
Thời Nam Bắc triều, Lưu Huy và Tổ Xung Chi là 2 nhà toán học nổi tiếng nhất. Cả hai đều tham gia chú giải Cửu
chương toán thuật, đặc biệt Tổ Xung Chi tìm ra số pi chính xác đến con số thập phân thứ 10 (pi=3,1415926203).
Thời Đường, nhà sư Nhất Hạnh nêu ra công thức phương trình bậc 2, Vương Hiếu Thông soạn sách Tập cổ toán
kinh
, dùng phương trình bậc 3 giải quyết nhiều vấn đề toán học.
Thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh có Giả Hiến tìm được phương pháp giải phương trình bậc cao, Thẩm Quát nêu ra
ý kiến về cấp số, cách tính độ dài của cung và dây cung. Đặc biệt, thời Tông, Nguyên đã phát minh ra cái bàn tính, tiện lợi cho tính toán. Thiên văn:
Thời Hoàng Đế Nghiêu Thuấn, đã biết quan sát thiên văn.
Thời Đông Hán, Trương Hành (78 – 139) – nhà thiên văn nổi tiếng nhất TQ. Ông đã biết ánh sáng mặt trăng là nhận
được của mặt trời, giải thích đúng nguyệt thực là do mặt trăng đứng sau mặt trời. Tác phẩm Linh hiến của ông đã nêu
ra những nhận thức đúng đắn như vũ trụ là vô hạn, sự vận hành của hành tinh nhanh hay chậm là do cự li cách quả
đất gần hay xa. Ông phát minh ra dụng cụ đo động đất sớm nhất thế giới gọi là “địa động nghi” có thể đo chính xác
phương hướng của động đất và mô hình thiên thể dùng sức nước để chuyển động là “hồn thiên ghi”,khi mô hình này
chuyển động thì các vì sao trên đó cũng di chuyển như tình hình thực ngoài bầu trời.
Thời Ngũ Đế đã biết làm lịch.
Thời Thương, TQ biết kết hợp giữa vòng quay của mặt trăng xung quanh mặt trời để làm ra lịch. Loại lịch chia 1
năm làm 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày, đã thêm vào một tháng nhuận cho khớp với vòng quay.
Thời Hán Vũ đế (104 TCN), năm Thái sơ thứ nhất, đã dùng một loại lịch cải cách là lịch Thái sơ, lấy tháng giêng âm
lịch làm tháng đầu tiên, về cơ bản được dùng cho đến ngày nay. Lịch Thái sơ chia một năm thành 24 tiết (4 mùa) =>
việc bố trí tháng nhuận có quy luật, không còn tùy tiện như trước nữa.
Thời Nguyên, Quách Thủ Kính soạn ra Thụ thời lịch vào năm 1230 – chính xác một năm 365,2425 ngày.
Người TQ ngày xưa chia một ngày đêm thành 12 giờ và dùng 12 địa chi (Tí, Sửu…) để đặt tên giờ. Mỗi giờ chia làm
8 khắc. Để đo thời gian, đầu tiên người TQ dùng 1 cái cọc gọi là ”khuê” để đo bóng mặt trời, do đó đã xác định được
ngày hạ chí và đông chí làm cho cách tính lịch càng chính xác. Sau đó dùng “nhật quỹ” để đo thời gian, đến thời
Chu, phát minh ra “lậu hồ”. Đến đầu thế kỉ XVII, đồng hồ của phương Tây truyền vào thì ko còn dùng “đồng hồ nước” nữa. ③ Y học:
Có lịch sử phát triển lâu đời, giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện nay.
Thời Chiến quốc, tác phẩm Hoàng đế nội kinh nêu ra những vấn đề về sinh lí, bệnh l
í và nguyên tắc chữa bệnh. Thầy
thuốc nổi tiếng sớm nhất là Biển Thước, chữa trị tai, mắt, mũi, chữ bệnh cho trẻ em và được tôn sùng là người khởi
xướng ngành mạch học ở TQ.
Cuối thời Đông Hán, Trương Trọng Cảnh soạn sách Thương hàn tạp bệnh luận chủ
yếu nói về cách chữa bệnh thương hàn.
Từ đời hán về sau, thầy thuốc nổi tiếng là Hoa Đà, giỏi về các khoa nội, ngoại, phụ, nhu và sở trường là ngoại khoa.
Ông biết dùng rượu gây mê để phẫu thuật từ thế kỉ thứ II. Ông cũng chủ trương muốn không bênh tật thì phải tập
luyện thân thể để huyết mạch được lưu thông.
Thời Minh, sách “bản thảo cương mục” đã ghi chép được nhiều loại dược liệu, phân loại, đặt tên, giới thiệu tính chất,
công dụng và vẽ hình các cây thuốc đó.
Lý luận về đông y hình thành trên cơ sở thuyết Âm – dương, Ngũ hành (y – triết gắn chặt với nhau), đúc kết trong
cuốn “Thần nông bổn thảo kinh”, “Hoàng đế nội kinh” và biết cách trị gãy xương.
4 PHÁT MINH VĨ ĐẠI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC TRONG THỜI TRUNG ĐẠI
Kỹ thuật làm giấy:
TK II TCN, phát minh ra phương pháp dùng xơ gai để chế tạo giấy, tuy nhiên giấy còn xấu, mặt không phẳng, khó
viết nên chủ yếu dùng để gói...
Thời Đông Hán, năm 195, Sái Luân phát minh ra kỹ thuật làm giấy tiến bộ hơn, từ vỏ cây, lưới cũ, giẻ rách... chế tạo
ra loại giấy có chất lượng tốt. Từ đó giấy được dùng phổ biến thay thế cho các loại vật liệu trước đó.
Vào khoảng TK III, nghề làm giấy truyền sang VN, TK IV truyền sang Triều Tiên, sau đó nữa truyền sang NB, Ấn
Độ, Arập... Sau khi được truyền bá rộng rãi, các chất liệu trước kia như lá cây ở Ấn, giấy papyrus ở Ai Cập, da cừu ở
châu Âu đều bị giấy thay thế. Nghề in
Bắt nguồn từ việc khắc chữ trái trên các con dấu đã có từ trước đời Tần. Có từ thời nhà Tùy, đầu tiên in bản khắc
sẵn. Đây là phát minh rất quan trọng giúp người ta có thể in nhiều bản trong thời gian ngắn, công nghệ khắc in đơn
giản, ít tốn, do đó kĩ thuật này được sử dụng rất lâu.
Đến thập kỉ 40 của TK XI, một dân thường là Tất Thăng đã phát minh ra cách in chữ rời bằng đất sét nung. Chữ
được sắp xếp lên một tấm sắt có sáp, rồi đem hơ nóng cho chảy sáp, dùng một tấm ván ép cho bằng mặt rồi để nguội.
Như vậy sáp đã giữ chặt lấy chữ và có thể đem in => một tiến bộ nhảy vọt của nghề in nhưng vẫn còn một số nhược
điểm như chữ hay mòn, khó tô mực, chữ không sắc nét.
Thời Nguyên, Vương Trinh cải tiến thành công việc dùng con chữ rời bằng gỗ, khắc phục nhược điểm trước đó.
Từ đời Đường, kĩ thuật in ván khắc được truyền sang Triều Tiên, VN, NB, Ả Rập... dần sang châu Phi, châu Âu.
La bàn: Từ thế kỉ thứ III, người TQ đã biết tới từ tính và tính chỉ hướng của đá nam châm. Lúc bấy giờ phát minh ra
“tư nam” là tổ tiên của kim chỉ nam. Đến thời Tống, các thầy phong thủy đã phát minh ra kim nam chân nhân tạo.
Dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam châm, rồi dùng kim đó làm la bàn. Lúc đầu, la bàn còn thô sơ, xâu kim nam
châm qua cọng rơm, sợi bấc đèn rồi thả nổi trên bát nước gọi là “thủy la bàn” hoặc treo bằng một sợi tơ ở chỗ kín gió.
La bàn được các thầy phong thủy sử dụng đầu tiên để xem hướng đất. Đến cuối thời Bắc Tống, la bàn được sử dụng
trong hàng hải. Khoảng nửa sau tk VII, truyền sang Ả Rập rồi truyền sang châu Âu. Người châu Âu cải tiến thành “la bàn khô”.
Thuốc súng: liên quan đến nghề luyện đan của Đạo Gia, có bằng chứng xác thực từ thời Đường. Đạo gia thịnh hành,
thuật luyện đan rất phát triển. Người ta sử dụng diêm tiêu + lưu huỳnh + than gỗ. Trong quá trình luyện thuốc tiên,
thường xảy ra bỏng tay, bỏng mặt, cháy nhà...Thế là họ đã tình cờ phát minh ra thuốc súng.
Đầu TK X, thuốc súng bắt đầu làm vũ khí như tên lửa, cầu lửa, quạ lửa, đạn, pháo... tác dụng chỉ để đốt doanh trại
đối phương. Đời Tống, vũ khí bằng thuốc súng là “chấn thiên lôi” được sử dụng. Năm 1132, TQ phát minh ra vũ khí
hình ống, gọi là hỏa thương. Đến thế kỷ XIII truyền sang Mông Cổ, sang Ả Rập rồi vào Châu Âu. Ý nghĩa:
Đối với trung quốc bốn phát minh trên ra đời không chỉ trực tiếp giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của con
người Trung Quốc, mà đó còn là những đóng góp không nhỏ của một nền văn minh cho toàn nhân loại.
Đối với thế giới sự ra đời của kĩ thuật làm giấy, kĩ thuật in, thuốc súng và kim chỉ nam đã nâng cao được vị thế của
loài người, đưa nhân loại tiến lên một bước trong quá trình chinh phục tự nhiên và tranh đấu với tự nhiên với chính
con người để sinh tồn và phát triển.
KHOA HỌC TỰ NHIÊN ẤN ĐỘ ① Toán học:
Người Ấn có một phát minh vô cùng quan trọng là sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay được dùng rộng rãi trên thế
giới. Tư liệu sớm nhất của những chữ số này là bia đá của Axôca khắc từ TK III TCN. Người Ấn Độ cũng phát minh ra con số 0.
Đến TK VI, người Ấn Độ đã tính được chính xác số là 3,1416, đồng thời còn phát minh ra đại số học và về sau được truyền sang A rập.
Về hình học, biết tính S hình vuông, hình chữ nhật, tam giác, đa giác và biết được quan hệ giữa các cạnh của tam giác vuông.
Thiên văn và lịch pháp:
Từ rất sớm, người Ấn biết chia 1 năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ. Cứ 5 năm thì thêm 1 tháng
nhuận => tính độ dài của một năm, các tháng âm lịch chính xác hơn người Hy Lạp, La Mã.
Biết được trái đất và mặt trăng đều hình cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kì trăng tròn, trăng
khuyết. Xác định được 5 tinh tú: Thủy tinh, Kim tinh, Hỏa tinh, Mộc tinh và Thổ tinh; biết được một số chòm sao và
sự vận hành của các ngôi sao chính.
Tác phẩm Thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển Xitđanta ra đời vào khoảng TK V TCN. ③ Y học:
Các thầy thuốc Ấn Độ biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ TK VI, V TCN, người Ấn đã biết cách chắp xương sọ,
cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận, lấy sạn trong bàng quang, giải phẫu thẩm mỹ chữa mũi, môi, tai... và
khám phá ra dược liệu cả vô cơ và hữu cơ.
Những thầy thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta, Saraca:
Xusruta sống vào TK V TCN, vừa là thầy thuốc vừa là thầy giáo dạy ở trường Y khoa. Ông viết một quyển sách về
phương pháp khám bệnh và chữa bệnh, trong đó mô tả về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Ông chủ
trương phải mổ tử thi để nghiên cứu và thực tập. Chính ông là người đầu tiên lột một miếng da trên thân thể để đắp
vào vành tai bị cắt đứt.
Saraca sống vào TKII, là ngự y của vua thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm y học của ông là Samhita, xác định bổn
phận của người thầy thuốc là trị bệnh thì đừng nghĩ đến mình, đừng vì lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ thế.
Các tập Vêđa cũng là những tác phẩm dược học cổ nhất, nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc. Song song với sự
phát triển của thuật giải phẫu, người Ấn đã biết chế thuốc tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ. ④ Vật lí học:
Các nhà khoa học kiêm triết học đã nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập ra trường phái triết học Vaisêsica cho
rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất khác nhau là do mỗi loại có một thứ nguyên tử khác với loại
khác. Còn các nhà triết học đạo Jain cho rằng, nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có cách tổ hợp khác nhau mà thôi.
Biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào TK V TCN đã ghi: "Quả đất do trọng lực của nó, hút tất cả mọi vật về nó".
Ngoài ra, còn có các hiểu biết về môn Hoá học, Sinh học, Nông học, đã phục vụ đắt lực cho các lĩnh vực khoa học
khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da...
CÂU 3: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ, PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO Ở ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
1)
Cơ sở hình thành Phật giáo
Có 3 cơ sở chính đáng lưu ý:Xã hội:
−Khoảng giữa thiên niên kỉ thứ I TCN, từ những công xã cổ xưa đã hình thành hàng loạt những tiểu quốc hai bên bờ sông Hằng.
−Các vương quốc này luôn mâu thuẫn, cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau.
−Các cuộc chiến tranh xảy ra liên miên làm tình hình chính trị bất ổn, tâm lí dân chúng bất an.
−Mâu thuẫn giữa đẳng cấp tăng lữ và quý tộc: sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ.
+ Tăng lữ(Brahman): Thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài sản, bắt dân chúng nộp thuế cao và nghĩa vụ khác.
+ Quý tộc(ksatria): bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết định trong chiến tranh nhưng địa vị
lãnh đạo lại không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp tăng lữ.
+ Dân thường(Vaisya): Cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa nhưng thuế không giảm và những áp lực của tôn giáo đè nặng.
+ Nô lệ-kẻ thấp hèn(Soudra): Có 1 số dân thường bị phá sản trở thành nô lệ, 1 số phải đi ăn xin.Họ chịu cuộc sống
cực khổ dẫn đến tâm lí chán nản tuyệt vọng.
Vì thế, chế độ đẳng cấp trở thành nỗi bức xúc lớn trong xã hội lúc bấy giờ. ▪Kinh tế:
−Công cụ kim loại đồng thau và sau đó là đồ sắt đã làm thay đổi bản chất của sản xuất.
−Nhiều ngành kinh tế đã ra đời và ngày càng mở rộng làm xuất hiện tầng lớp thương nhân. Họ là tầng lớp có
tiềm lực về kinh tế, nên muốn thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp. tầng lớp này lúc đầu không được xếp vào
đẳng cấp nào và cuối cùng bị đẩy xuống đẳng cấp Soudra. ▪Tôn giáo:
−Cuộc sống cực khổ càng làm người dân lao động thêm căm ghét kẻ bóc lột mình, oán ghét chế độ đẳng cấp
(Varna), không còn tin vào các vị thần Bàlamôn.
−Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí ngày càng khó hiểu làm cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này.
−Trong bối cảnh đó, vào thế kỉ VI TCN, ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn giáo, triết học mới chủ
trương xa lánh thực tại nhưng có 1 điểm chung là: trực tiếp và gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp.
Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó và được xem là 1 phản đề của đạo Bàlamôn.
Người sáng lập: Đạo Phật được sáng lập bởi Siddharta Gautama, còn được gọi là Thích ca mâu ni, Buddha hay Bụt sau khi đắc đạo.
Nội dung cơ bản của Phật giáo
▪Thuyết “Tứ Diệu đế”:
Khổ đế: chân lý về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có 8 nỗi khổ là sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không
ưa, xa người mình yêu, cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn.
Tập đế: chân lý về nguyên nhân các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu là do luân hồi, mà nguyên nhân của luân
hồi là nghiệp, của nghiệp la do ham muốn (ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang...). Ham muốn không dứt thì
nghiệp không dứt, nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi.
Diệt đế: chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ. Nguyên nhân đau khổ là luân hồi, vì vậy muốn diệt khổ thì
phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi thì phải chấm dứt nghiệp => nên muốn diệt trừ hết nỗi khổ thì phải trừ bỏ hết ham muốn.
Đạo đế: chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện diệt khổ - “bát chính đạo” (chính kiến
– tín ngưỡng đúng đắn, chính tư duy –
suy nghĩ đúng đắn, chính ngữ - nói năng đúng đắn, chính nghiệp – hành động
đúng đắn, chính mệnh – sống đúng đắn, chính tịnh tiến – mở tưởng những cái đúng đắn, chính niệm – tưởng nhớ
những cái đúng đắn, chính định –
tập trung tư tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn) => chung quy là suy nghĩ, nói năng và hàng động đúng đắn.
▪Về Thế Giới quan: nội dung cơ bản là thuyết Duyên khởi ( chư pháp do nhân duyên nhi khởi) nghĩa là các
pháp đều do nhân duyên mà ra. Pháp là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần. Còn nhân duyên là
nguyên nhân (nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ). Mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành.
▪Về mặt xã hội: Phật giáo không quan tâm đến chế độ đẳng cấp vì nguồn gốc xuất thân của mỗi người không
phải là điều kiện để được cứu vớt. Đồng thời, đạo Phật mong muốn có một xã hội mà vua có đạo đức và dựa vào
pháp luật để trị nước, còn dân thì được an cư lạc nghiệp.
Sự phát triển và truyền bá Phật Giáo:
Ban đầu đạo Phật là một tôn giáo địa phương với giáo lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại
những thành kiến của chế độ đẳng cấp và với một tinh thần bác ái- giải quyết những vấn đề của xã hội Ấn Độ, đạo
Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên
sau khi ra đời đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ở miến Bắc Ấn Độ.
Sau khi Phật tịch, giáo lý nhà Phật được sưu tập, sang dịch, chỉnh lý ghi chép thành kinh Phật thông qua 4 kỳ hội nghị kết tập:
1) Hội nghị kết tập lần 1: diễn ra vào thế kỉ thứ V TCN, tại vương quốc cổ Mayadha, ít ngày sau khi Phật qua đời.
Tham gia hội nghị có hơn 500 đai biểu tăng ni, họp trong 7 tháng. Kết thúc hội nghị hình thành bộ Kinh tạng và Luật tạng.
2) Hội nghị kết hợp tập lần 2: diễn ra giữa thế kỉ thứ IV TCN, trong các tăng sĩ lại có những quan điểm bất đồng về
giới luật. Trong Đại hội này, một số tỳ kheo có chủ trương canh tân, đưa ra 10 điều luật mới sửa lại luật, họ bị Đại
hội trục xuất nên đã thành lập một phái riêng gọi là Đại chúng bộ, là mầm mống của phái Đại thừa sau này.
3) Hội nghị kết tập lần 3:
Diễn ra từ thế kỷ thứ III TCN, dưới thời kỳ vua Ashoka. Hội nghị thảo luận và hình
thành phần Luận tạng. Trong thời kì này đạo Phật phát triển rất mạnh. Vua Ashaka tôn vinh đạo Phật trở thành quốc
giáo Ấn Độ, khuyến khích các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật ra bên ngoài. Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật
Giáo, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh (Kinh Tạng, Luận Tạng, Luật Tạng).
Sau đại hội lần thứ 3, đạo Phật trước tiên truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền sang Thái, Myanmar, Indo…
4) Hội nghị kết tập lần 4:
Diễn ra vào khoảng 100 năm sau Công Nguyên, được sự bảo trợ của vua Canisha. Đại hội này thông qua giáo lý của
đạo Phật cải cách và phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại thừa, còn phái Phật giáo cũ được gọi là phái Tiểu thừa.
Về trường phái PG Tiểu thừa hay còn gọi là Phái Nam Tông- Hinayana- “cổ xe nhỏ” hay còn có nghĩa là con đường
cứu vớt hẹp, đây là trường phái PG nguyên thủy với quan niệm về Phật là “thầy dạy” và Phật Thích Ca là vị Phật duy
nhất. Về giới luật quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh, gắn với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ
đau, không còn nhân quả luân hồi, cũng tức là hư vô. Phật Thích Ca là người đầu tiên đạt đến cảnh giới Niết bàn lúc
35 tuổi và nếu là người thường thì không thể thành Phật. Đây là trường phái PG xuất hiện và ảnh hưởng to lớn ở các
quốc gia như Campuchia, Sri- Lanka, Myanma, Lào, Thái Lan với trang phục là tấm vải được quấn lệch sai một bên
vai có màu vàng sẫm hay nâu đỏ, vàng đỏ.
Về trường phái PG Đại thừa hay còn gọi là Phái Bắc Tông- Mahayana- “cổ xe lớn” hay còn có nghĩa là con đường
cứu vớt rộng, đây là trường phái PG phát triển sau ở đại hội lần 4 cho rằng Đức Phật là vị thần vạn năng, quyền uy
tuyệt đối và có thể ban những phép màu. Ngoài Phật Thích ca còn có Phật Di Lặc, Phật A Di Đà, Phật Đại Dược Sư,.
Quan niệm Niết bàn như thiên đường, tức là thế giới của các vị Phật, cũng tức là nơi Cực lạc, đối lập với địa ngục,
nơi đầy đọa kẻ tội lỗi và đối với trường phái này quan niệm ai cũng có thể thành Phật với sự cứu độ của Bồ Tát,
không chỉ những bậc tu hành mà cả những người quy y cũng được cứu vớt. Đồng thời cũng đề cao vai trò của tầng
lớp tăng ni, coi họ là trung gian giữa tín đồ và Bồ tát, đây là trường phái PG được ưa chuộng tại các quốc gia như
Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Việt Nam với trang phục vô cùng kín đáo được may thành áo dài,
kín vai có màu nâu, vàng hay lam.
Sau đại hội Phật giáo lần thứ 4, các nhà sư được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo, do đó đạo Phật càng được
truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc. Những thế kỷ sau đó, đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được
phát triển ở phần lớn châu Á và trở thành quốc giáo của một số nước. Vì vậy mà Phật giáo đã trở thành tôn giáo thế giới.
Ảnh hưởng: Mặc dù thời gian sau PG đã suy yếu ở Ấn Độ nhưng vẫn được truyền bá và tiếp thu rộng rãi ở các quốc
gia trong khu vực và cả thế giới, trong đó điển hình là Việt Nam. Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm.
Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề
trong cuộc sống., đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển
mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
Chính bởi những mục tiêu mà đạo Phật hướng đến đã đưa người Việt lại gần hơn, với sự hưng thịnh ngày càng lớn
như các tín đồ PG ngày càng tăng cao, các chùa chiền được xây dựng trang nghiêm, rộng lớn và đồng thời ngày càng
đa dạng với các giáo hội mới như Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật giáo Hòa Hảo,… Gần hai ngàn năm có mặt ở Việt Nam,
đạo Phật đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, song thời nào Phật giáo cũng lấy đức Từ bi để giáo
hóa chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Phật giáo Việt Nam đã xây dựng cho mình truyền thống yêu nước, gắn bó,
đồng hành cùng dân tộc.. Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Phật giáo vẫn giữ khả năng tự biến đổi và
thích nghi theo xu hướng đi cùng với dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, “Đạo pháp - dân
tộc - xã hội chủ nghĩa”. Qua đây, ta có thể cảm nhận được rằng Phật giáo đã mang lại những ảnh hưởng tích cực và
có tầm quan trọng trong đời sống tinh thần người dân Việt Nam
Với tư tưởng từ bi, cứu khổ cùng với các giá trị đạo đức của Phật giáo đã có ảnh hưởng không ít tới môi trường sống
của người dân, bởi vì đạo Phật là tiếng nói của một con người gửi tới những con người khác, để cùng giúp nhau vượt
qua những khó khăn trong cuộc sống. Vì thế, đạo Phật mang tính xã hội và đạo đức rất cao. Phật giáo không chỉ
dừng lại ở công việc chia sẻ những khó khăn của xã hội như hòa bình, thịnh vượng, công bằng, mà còn hướng mọi
người lấy điều thiện làm chuẩn mực sống, làm phương tiện và mục đích để đạt tới hạnh phúc cho con người.
CÂU 4: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ CỦA THIÊN CHÚA GIÁO Ở LA MÃ CỔ ĐẠI:
Nguyên nhân ra đời
của đạo Thiên chúa dựa trên:
Tiền đề về lịch sử vào năm 63, La Mã đánh chiếm và đàn áp Palestin, lúc bấy giờ ở Palestin theo Do Thái giáo thờ
độc thần Chúa Jehovah- “Chúa cứu thế” được La Mã theo tôn giáo đa thần tiếp nhận. Sau khi đánh chiếm thì
La Mã đã tiếp nhận tôn giáo Do Thái giáo của Palestin.
Về tôn giáo thì vào năm 65, Do Thái giáo đã tách ra thành tôn giáo mới gọi là Kitô.
Cùng với đó là trên tiền đề XH, do chế độ quân chủ chủ nô phát triển, với quan hệ sản xuất là chiếm hữu nô lệ. Qua
đây ta thấy sự áp bức bóc lột và áp bức dân tộc là với quần chúng. Họ cần 1 tôn giáo làm “điểm tựa” tinh
thần và ở buổi đầu Kitô đã trở thành tôn giáo che chở tinh thần cho giai cấp nô lệ, dân nghèo và các dân tộc bị áp bức ở La Mã.
Tiếp theo đó là do tiền đề tư tưởng, đó chính là do sự thịnh hành tư tưởng của trường phái Triết học “khắc kỷ” đã
làm hạn chế tối đa nhu cầu thiết yếu của con người, phải sống nhẫn nhục, chịu đựng đức tính tốt đẹp, và tư
tưởng đó đã phù hợp với quần chúng nhân dân lao động bị áp bức.
Nội dung đạo Thiên chúa:
Trong khi truyền đạo, chúa Giêsu khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi đau khổ ở đời, sau khi chết sẽ
được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn ở thiên đường. Đồng thời chúa lên án sự giàu có, cho rằng người giàu muốn lên
nước chúa cũng khó như con lạc đà muốn chui qua lỗ kim.
Kế thừa nhiều quan điểm của đạo Do thái, đạo Kito cho rằng Chúa Trời sáng tạo ra tất cả, kể cả loài người. Song họ
lại đưa ra thuyết tam vị nhất thể tức là Chúa Trời (Chúa cha), Chúa Giêsu (Chúa con) và Thánh thần tuy là ba nhưng
vốn là một. Đạo cũng có quan niệm về thiên đường, địa ngục, linh hồn bất tử, thiên thần, ma quỷ.
Kinh thánh gồm 2 phần là Cựu ước và Tân ước. Cựu ước là kinh thánh của đạo Do thái mà Kito giáo tiếp nhận, còn
Tân ước là kinh thánh thật sự của đạo Kito. Kinh Tân ước viết bằng tiếng Hi Lạp, gồm có 4 phần là Phúc âm, Hoạt
động của các sứ đồ, Thư tín và Khải thi lục.
Đạo Kito có 7 nghi lễ quan trọng gọi là 7 bí tích:
o Rửa tội: nghi thức vào đạo
o Thêm sức: củng cố lòng tin
o Thánh thể: ăn bánh thánh
o Giải tội: xưng tội để được xá tội
o Xức dầu: xoa nước thánh vào người sắp chết
o Truyền chức: phong chức cho giáo sĩ o Hôn phối
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ của đạo gồm nô lệ, nô lệ được giải phóng, dân nghèo thành thị. Họ thành lập những
công xã nhỏ, là những đoàn thể của các giáo hữu, là tổ chức giúp đỡ lẫn nhau và làm việc từ thiện. Các công xã đều
có quỹ chung để tiêu dùng và tổ chức những bữa tiệc chung. Mọi thành viên đều bình đẳng. Quyền lãnh đạo trong
thời kì này thuộc về các nhà truyền giáo lưu động, các sứ đồ - đều là đại biểu của quần chúng nghèo khổ.
Quá trình truyền bá và phát triển: trải qua 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: từ TK I đến đầu TK IV sau CN (cuối TK III)
Đây là giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ có một bộ phận tín đồ ở Palestine tham gia. Sau cái chết của
Chúa Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý của ngài truyền bá ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang
Roma để truyền đạo và thánh là người có công lớn nhất.
Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng Chúa Jesus cho rằng đế quốc La
Mã là một "mụ đàn bà đầy tội lỗi – tức lên án tầng lớp giàu có, thống trị và đế quốc La Mã sẽ sớm bị diệt vong", tín
đồ Kitô giáo sẽ được sống trong vương quốc của Chúa. Đây chính là những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại của chế
độ và nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã. Điều đó khiến giới cầm quyền và quý tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín
đồ Kitô là lũ phiến loạn và tiến hành đàn áp khốc liệt, đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế
Nêrôn. Tuy bị đàn áp nhưng Kitô giáo vẫn tiếp tục phát triển do chế độ chiếm hữu nô lệ ngày càng phát triển làm
tăng mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ càng gay gắt làm cho tầng lớp bần cùng chống lại người giàu và tin vào Jesus
mãnh liệt, đồng thời do công xã Kitô hoạt động hiệu quả, giúp đỡ người dân nghèo, chống lại giai cấp thống trị.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn
nhau trong cuộc sống. Họ giúp người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm. Đến thế kỉ II, các công xã Kitô
dần phát triển thành Giáo hội. Trong hàng ngũ tín đồ không chỉ có người nghèo mà ngày càng có nhiều người khá
giả và giàu sang cũng theo đạo. Quyền lãnh đạo giáo hội cũng thuộc tầng lớp trên. Những hình thức tăng thêm tình
hữu ái trước kia (ăn tiệc mừng, phân chia tài sản...) chấm dứt và thay bằng việc bố thí từ thiện.
Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xã hội rất tích cực - đó là cuộc vận động của dân nghèo
chống chế độ áp bức. Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa
trời” tức không dính dáng đến chính trị. Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt
chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn. Trước sự phát triển này và đàn áp mãi không được, giới cầm quyền La Mã quyết
định “sống chung”, thay đổi chính sách đối với Kito giáo.
Giai đoạn 2: từ đầu TK IV sau CN trở về sau
Năm 311, Hoàng đế La Mã Galerius đã ra lệnh ngừng sát hại các tín đồ Kitô giáo.mNăm 313, hai hoàng đế
Cônxtantinút và Lixiniút ban hành sắc lệnh Milanô, chính thức công nhận địa vị hợp pháp của giáo hội Kitô. Năm
325, hoàng đế Cônxtantinút triệu tập cuộc đại hội các giáo chủ đạo Kitô lần thứ nhất tại Nixê (Tiểu Á), đồng thời
thống nhất kinh thánh, chấn chỉnh tố chức cho giáo hội và quan trọng nhất là định hướng Kitô thành 1 bộ phận trong
guồng máy của giai cấp thống trị. Cuối cùng là vào năm 337 Constantinus chịu phép rửa tội trước khi chết và đây là
hoàng đế La Mã đầu tiên theo Kitô giáo. Đến cuối TK IV, đạo Kito chính thức được thừa nhận là quốc giáo của đế
quốc La Mã. Sau đó, Gierôm đã dịch kinh Cựu ước và kinh Tân ước từ tiếng Hi Lạp ra tiếng Latinh – kinh thánh chính thức của đạo.
Kết luận: Trải qua một thời gian dài thì Kitô đã trở thành Quốc giáo của Đế quốc La Mã, đây là một sự kiện lớn đã
tác động lên toàn diện đời sống của người dân châu Âu về cả tư tưởng, kinh tế, văn hóa- XH, chính trị. Đến khi
chính thức được công nhận thì sự tiến bộ và tích cực của Kitô lại không còn nữa, tôn giáo đã bị lợi dụng và trở thành
công cụ thống trị của nhà nước La Mã. Trong suốt thời kì Trung đại, giáo hội Kitô (sau này được gọi là giáo hội
Thiên chúa) trở thành chỗ dựa vững chắc cho chế độ phong kiến ở Châu Âu.

Ảnh hưởng: Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới với 2,2 tỷ tín đồ. Kitô giáo rõ ràng có ảnh hưởng đến nền văn
minh nhân loại và lịch sử thế giới ở các cấp độ khác nhau. Giáo hội Kitô giáo đã là một nguồn tài trợ chính của các
dịch vụ xã hội như học hành và chăm sóc y tế; và là nguồn cảm hứng cho nghệ thuật, văn hóa và triết học; và có ảnh
hưởng trong chính trị và tôn giáo .Vì Công giáo có ảnh hưởng rõ ràng trong kiến trúc đã tạo ra các nhà thờ, một số
vẫn còn là kiệt tác vĩ đại nhất của nền văn minh phương Tây. Kinh Thánh và thần học Kitô giáo cũng ảnh hưởng
mạnh mẽ đến các nhà triết học phương Tây và các nhà hoạt động chính trị. Giáo lý Kitô giáo có được ảnh hưởng lâu
dài về xu hướng đời sống, hôn nhân và cuộc sống gia đình. Kitô giáo nói chung ảnh hưởng đến tình trạng của phụ nữ
bằng cách lên án ngoại tình hôn nhân, ly hôn, loạn luân, đa phu thê, kiểm soát sinh sản, tội giết trẻ con, và phá thai,
giáo dục và chăm sóc sức khỏe.
Tiếp nhận văn hóa Công giáo hơn 400 năm, văn hóa Việt Nam cũng được làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa
phương Tây và đặc biệt thành công trong vấn đề chữ viết. Khi truyền đạo cho người Việt Nam, các giáo sĩ đã dùng
bộ chữ cái Latinh quen thuộc có bổ sung thêm các dấu phụ để ghi âm tiếng Việt – chữ này về sau được gọi là chữ
Quốc ngữ. Như vậy là từ khi truyền vào Việt Nam, đạo Công giáo cun những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa
Việt Nam như nghề in, văn học, kiến trúc phương Tây. Ngày nay, lễ Noel, Valentine không còn dành riêng cho
người Công giáo mà nó đã thành ngày hội cho nhiều người nhất là giới trẻ. THÀNH TỰU VĂN HỌC ẤN ĐỘ
Ấn Độ là 1 nước có nền văn học rất phát triển. Thời cổ đại văn học Ấn Độ gồm hai bộ phận quan trọng là Vêđa và sử thi. A) Vê da:
Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Có 4 tập là: Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda, Athurva Veda. Trong đó: 3 tập Vêđa đầu
gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh tình hình người Arya tràn vào Ấn Độ, tình hình tan rã của chế
độ thị tộc, tình hình cư dân đấu tranh với thiên nhiên. Rig Veda với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất. Còn Athurva
Veda chủ yếu gồm các bài chú, đề cập đến chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả tình yêu. B) Sử thi:
Có hai bộ sử thi rất đồ sộ, là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ: MahabharataRamayana. Cả hai được truyền
miệng từ nửa đầu thiên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các TK đầu CN thì dịch ra tiếng Xanxcrit.
Mahabharata: có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liệu, gồm 220.000 câu. Đây là bộ sử thi dài nhất thế giới. Chủ
đề tác phẩm là cuộc đấu tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Xoáy vào cốt truyện, đã miêu
tả về cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đình, những cuộc tình duyên éo le nhưng chung thủy, những cảnh sinh hoạt
của xã hội lúc bấy giờ và cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc.
Ramayana: có 7 chương, trong đó chương I và chương VII mới thêm vào, gồm 48.000 câu. Chủ đề của tác phẩm là
câu chuyện tình yêu giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita.
C) Những tác phẩm của Caliđaxa:
Caliđaxa là nhà thơ và soạn kịch lớn nhất thời Gupta (TK V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Sơcuntla.
Nội dung miêu tả câu chuyện tình yêu giữa nàng Sơcuntla và vua Đusơnta, trải qua nhiều éo le trắc trở, cuối cùng
được đoàn tụ và hưởng hạnh phúc đời đời.
Ông thể hiện trong tác phẩm của mình tư tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắc khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt,
không chung thủy của giai cấp thống trị và quan niệm chống quan niệm về đẳng cấp.
Ông và vở kịch trở thành niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ và là nguồn cảm hứng của nhiều ngành nghệ thuật khác.
Ngày nay, ông được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới.
D) Các tác phẩm văn học viết bằng phương ngữ:
Cuối TK X về sau, đã xuất hiện nhiều tác phẩm viết bằng các loại phương ngữ khác.
TK XIII, nhà thơ Tichcala đã dịch 15 chương bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho văn học cổ điển càng
được phổ cập rộng rãi.
TK XVI, XVII, một số nhà thơ sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên, phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng
Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana là một tác phẩm nổi tiếng bằng tiếng Indi rất
được nhân dân ưa thích. Tập thơ Xuốc viết bằng phương ngữ khác trong tiếng Inđi với chủ đề chính là chủ nghĩa anh
hùng và tình yêu, cũng là tác phẩm có giá trị. Những bài ca du dương ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ
kiêm nhà thơ Taxen cũng rất nổi tiếng.
Đặc trưng chung của nền thi ca của giai đoạn này là dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung
đình, sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng nên được nhân dân yêu thích.

TRUNG QUỐC
Thời cổ trung đại, TQ có nền văn học rất phong phú. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, văn học TQ bắt đầu phát triển.
Thời Tây Hán, có nhiều người có thể cầm bút viết văn trong xã hội. Thời Tùy, Đường, văn chương trở thành thước
đo chủ yếu của tài năng. Có nhiều thể loại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết... trong đó tiêu biểu nhất là Kinh Thi,
Thơ Đường và tiểu thuyết Minh – Thanh. ① Kinh Thi Kinh Thi:
Là tập thơ đầu tiên, tác phẩm văn học đầu tiên của TQ, được sáng tác trong khoảng 500 năm từ thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu.
Do tập thể dân gian sáng tác, gồm 305 bài thơ phản ánh phong tục tập quán, đời sống tình cảm của nhân dân. Sau
này Khổng Tử biên soạn lại thành 3 phần: phong, nhã, tụng để dạy học trò. Phong là dân ca của các nước có tên gọi
là Quốc Phong. Nhã là những bài thơ do tầng lớp quý tộc sáng tác. Tụng là bài thơ do quan phụ trách tế lễ và bói toán sáng tác.
Kinh Thi không chỉ có giá trị về văn học mà còn là tấm gương phản ánh tình hình xã hội TQ đương thời, được các
nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng của nó.
Thơ Đường (618 – 907): trên 2000 nhà thơ và gần 50000 tác phẩm. Không những có số lượng lớn mà còn có giá
trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Các nhà thơ đời Đường sáng tác theo 3 thể: Từ, cổ phong, Đường luật.
Từ: thể thơ đặc biệt, ra đời kết hợp chặt chẽ với âm nhạc. Vì phổ theo những điệu nhạc có sẵn, thị hiếu của phong
kiến và thị dân thời đó nên gọi là điền từ.
Cổ phong: thơ tương đối tự do, không bị ràng buộc về số chữ, số câu, về cách gieo vần, niêm, luật, đối.
Đường luật gồm 3 dạng chính: bát cú, tuyệt cúbài luật, có nghĩa là bài thơ luật kéo dài. Có thể coi thất ngôn bát
là dạng cơ bản vì từ nó có thể suy ra những dạng khác.
Các thi nhân nổi tiếng thời Đường còn lưu tên tuổi đến ngày nay như 3 nhà thơ lớn – Lý Bạch (701 – 762), Đỗ Phủ
(712 – 770), Bạch Cư Dị (772 – 864).
Lý Bạch: thơ của ông tập trung miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, phản ánh đời sống nhân dân. Lời thơ hào hùng, ý thơ có
màu sắc của chủ nghĩa lãng mạn.
Đỗ Phủ: thơ tập trung miêu tả cảnh nghèo khổ và nỗi oan khuất của nhân dân lao động, vạch trần sự áp bức và sự xa
xỉ của giai cấp thống trị. Là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn nhất thời Đường.
Bạch Cư Dị: làm nhiều bài thơ nói lên nỗi khổ cực của nhân dân và lên án tầng lớp thống trị. Thơ của ông có nội
dung hiện thực tiến bộ và đạt đến trình độ cao về nghệ thuật. Là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa lớn thời Đường.
Tóm lại, thơ Dường là những trang rất chói lọi trong lịch sử văn học TQ, đã đặt cơ sở nghệ thuật, phong cách và luật
thơ cho nền thi ca TQ sau này. Thơ Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến thơ ca VN.
Tiểu thuyết Minh
- Thanh: là một hình thức văn học mới bắt đầu phát triển từ thời Minh- Thanhi. Dựa trên
những câu chuyện kể, thường là sự tích lịch sử được viết thành các tiểu thuyết có chương, hồi. Những tác phẩm lớn
nổi tiếng như Tam quốc chí diễn nghĩa – La
Quán Trung, Thủy hử – Thị Nại Am, Tây Du Ký – Ngô Thừa Ân, Hồng
lâu mộng – Tào Tuyết cần... AI CẬP
Văn học Ai Cập cổ đại phong phú về nội dung và thể loại như thần thoại, truyện kể, thơ ca, các câu chuyện mang
tích chất đạo lí giáo huấn... Những truyện tương đối tiêu biểu như Truyện hai anh em, Nói Thật và Nói Láo, Sống sót
sau vụ đắm thuyền...
Giai đoạn đầu, đối tượng của văn học chịu sự chi phối của tôn giáo. Các tác phẩm văn học thời kỳ này chủ yếu ca
ngợi thần linh, các nghi lễ cúng tế.
Về sau, giai đoạn Trung và Tân vương quốc, văn học phản ánh cuộc sống hiện thực xã hội, mâu thuẫn giai cấp, phê
phán bọ quan lại và những mong muốn của con người, đặc biệt là người lao động. Một số tác phẩm phê phán tầng
lớp quan lại: Chuyện kể của Ipouer, truyện Sinouhé, tập truyện người nông phu biết nói những điều hay…
Thơ ca trữ tình: các bài thơ ngắn ca ngợi tình yêu và sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên được tập hợp chủ yếu
trong cuốn Papynus Hais 500.
Văn học mang tính chất triết lí: trong cuốn “Đối thoại 1 người thất vọng với linh hồn” nói đến sự suy sụp của người
Ai Cập trước sự đổ vỡ các giá trị truyền thống với tâm trạng chán đời.
THÀNH TỰU VỀ CHỮ VIẾT AI CẬP
Chữ viết Ai Cập là chữ tượng hình, ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước ở cuối TNK IV TCN.
Ở giai đoạn đầu, chưa viết mô phỏng sự vật, muốn viết chữ để biểu thị vật gì đó thì vẽ hình thù vật ấy như các hình
vẽ người, các loại động vật (chim, gia súc, dã thú...), cây cối, mặt trời...
Còn các khái niệm trừu tượng hoặc phức tạp thì dùng phương pháp mượn ý. Ví dụ: muốn vẽ chữ “khát” thì vẽ hình
con bò đứng bên cạnh chữ “nước”, chữ “chính nghĩa” thì vẽ lông đà điểu.

Tuy nhiên, hai phương pháp ấy vẫn chưa đủ ghi mọi khái niệm. Vì vậy, dần xuất hiện hình vẽ biểu thị âm tiết. Ví dụ
con mắt trong tiếng Ai Cập là ar, do đó hình con mắt còn biểu thị âm tiết ar.
Dần dần, những âm tiết biến thành chữ
cái. Tổng số chữ tượng hình của AC cổ là khoảng 1000 chữ, trong đó có 24 chữ cái.
Những chữ tượng hình này được khắc trên gỗ, đồ gốm, da, các phiến đá, các hành lang vào cung điện của Pharaon
hay trên một loại giấy đặc biệt – giấy Papurus (loại giấy sớm nhất thế giới). Loại chữ này được dùng trong hơnn
3000 năm. Sau đó, không còn ai biết đọc loại chữ này nữa.
Tấm bia Rossetta được phát hiện năm 1798 bởi quân lính của Napoleon khi viễn chinh tại Ai Cập. Tấm bia này được
làm bằng đá bazan. Hiện nay được lưu giữ ở bảo tàng Anh, phần trên khắc chữ tượng hình Ai Cập cổ; phần dưới
khắc chữ Hi Lạp cổ. Nhà ngôn ngữ học người Pháp đã tìm cách đọc được chữ này vào năm 1822. ẤN ĐỘ
Chữ viết đầu tiên của Ấn Độ được sáng tạo thời kỳ Harappa. Tại
các di chỉ thuộc nền văn minh sông Ấn, khoảng
3000 con dấu (22 dấu cơ bản) có khắc chữ được phát hiện ở đây. Theo ông Rao- tiến sĩ khám phá được bí ẩn của loại
chữ này, đây là chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần, được dùng trong hoạt động buôn bán, cung cấp thông tin về
sản xuất hàng hóa, nơi xuất xứ.
Sau này, thế kỷ V TCN ở Ấn Độ xuất hiện 1 loại chữ khác là chữ Kharosthi- loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng
Lưỡng Hà. Sau đó lại xuất hiện chữ Brahmi, một loại chữ được sử dụng khá phổ biến thời Ashoka (thế kỷ III TCN);
văn bia hầu hết được ghi bằng loại chữ này.
Trên cơ sở chữ Brahmi, chữ Phạn (Sanskrit) ra
đời. Nhiều loại ngôn ngữ hiện nay ở Ấn Độ như Hindi, Bengal,
Urde... là biến thể của loại chữ này.
Pali cũng là ngôn ngữ được sử dụng khá phổ biến ở Ấn Độ từ thế kỷ IV TCN. Đây là kiểu chữ “bình dân” so với
chữ Sanskrit “chữ quý tộc”. TRUNG QUỐC
Khoảng thiên niên kỷ thứ II TCN, đời nhà Thương đã có chữ viết, đó là văn tự Giáp Cốt. Giáp cốt là văn tự khắc trên
mai rùa hoặc xương thú (vì đó là những quẻ bói, muốn bói gì thì khắc lên đó). Đây là thứ chữ tượng hình, ví dụ như
(chữ “sơn” thì vẽ 3 đỉnh núi, chữ “thủy” thì vẽ 3 làn sóng).
Dần dần do yêu cầu ghi chép các động tác và các khái niệm trừu tượng, trên cơ sở chữ tượng hình đã phát triển thành
các loại chữ biểu ý và mượn âm thanh.
Cho đến nay đã phát hiện hơn 10000 mảnh mai rùa và xương thú có khắc chữ giáp cốt. Tổng số chữ trên văn tự giáp
cốt có tới 4500 chữ, trong đó đã đọc được 1700 chữ.
Đến thời Tây Chu, xuất hiện loại chữ viết mới là Kim văn (chữ
viết trên chuông đỉnh). Ngoài ra còn khắc trên đồ
đồng, thẻ tre. Các loại chữ viết đầu tiên này
được gọi chung là chữ Đài triện, cũng còn gọi là Cổ văn.
Từ khi nhà Tần thống nhất Trung
Quốc đã cải tiến cách viết tạo thành một loại chữ mới thống nhất gọi là chữ Tiểu triện.
Từ cuối thời Tần Thủy Hoàng (221 – 206 TCN) đến thời Hán Tuyên Đế (73 – 49 TCN), lại xuất hiện một kiểu chữ
mới gọi là chữ Lệ. Chữ Lệ biến nét cong và tròn trước đó thành nét ngang bằng sổ thẳng vuông vức ngay ngắn. Tuy
chữ Lệ được sử dụng không lâu, nhưng có ý nghĩa quan trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát triển thành chữ chân
tức là chữ Hán ngày nay.
2/ Vì sao văn minh Hy Lạp cổ đại lại đạt đỉnh cao rực rỡ nhất so với các nền văn minh
phương Đông cổ đại và ngay cả so với La Mã?

Hy Lạp là nền văn minh ra đời và phát triển rất sớm, mang vai trò then chốt đối với nền văn minh P.Tây, ta có thể
nói nếu không có Hy Lạp thì không có phương Tây như ngày nay. Và ngay cả khi so sánh với các quốc gia phương
Đông hay cả với La Mã, thì Hi Lạp vẫn đạt đỉnh cao rực rỡ.
Bởi vì ngay ở việc thành lập mô hình nhà nước, phương Đông đã bị hạn chế do chế độ quân chủ chuyên chế trung
ương tập quyền với vua là người có quyết định tối cao, nắm vương quyền và thần quyền, làm hạn chế ý muốn, đóng
góp cá nhân của người dân, song xã hội phương Đông trọng tính tập thể và cộng đồng nên coi trọng tính cộng đồng
và quên mất dấu ấn cá nhân. Còn phương Tây với mô hình nhà nước dân chủ do vua đứng đầu, nhưng luôn coi trọng
vai trò và đóng góp của người dân. Nhà nước Hi Lạp chính là nhà nước có nền dân chủ hoàn hảo nhất trên thế giới
trong thời kì cổ đại. Điều đó đã tạo tiền đề cho các sự đóng góp đa dạng về khoa học tự nhiên, về con người, xã hội.
Mặc dù có được sự ưu ái của biển Địa Trung Hải nhưng Hi Lạp đã đạt những thành tựu cao hơn so với các quốc gia
còn lại. Một phần là do điều kiện tự nhiên thuận lợi, giúp cho Hi Lạp có sự gần gũi, giao lưu với các quốc gia cổ đại
phương Đông, nhất là Ai Cập để tiếp thu văn minh nhân loại. Đây cũng là một yếu tố quan trọng, bên cạnh đó
KHTN của Hi Lạp là nền KHTN hội tụ đủ và toàn diện các lĩnh vực khác nhau tiêu biểu là Toán học, Thiên Văn, Y
học,… Để tạo lên sự rực rỡ đó phải kể đến những nhà khoa học đa năng, toàn tài, thể hiện dấu ấn cá nhân vô cùng
sâu sắc như nhà toán học Ta-lét, là phát minh ra tỷ lệ thức vận dụng đo chiều cao của kim tử tháp, ông còn là nhà
thiên văn học với phát hiện vĩ đại khi là người đầu tiên tính trước được nhật thực vào đúng ngày 28/5/558. Cùng phát
triển có nhà toán học Pytago với định lí mang tên ông- Pytago mối quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông, dù
P.Đông đã tìm ra được, nhưng Pytago là người đầu tiên ở phương Tây khám phá và đưa sự hiểu biết đến nhân loại.
Ông còn phân biệt được số chẵn, số lẻ và đặc biệt điểm mới là số không chia hết, trước đó VM Trung Quốc chỉ phát
hiện ra số âm, dương, VM AĐ AC chỉ biết số đếm, số tự nhiên. Về thiên văn học, ông biết trái đất hình cầu và biết
nó chuyển động theo quỹ đạo, đây là điều mà Ấn Độ chưa tìm thấy. Tiếp đến là sự đóng góp của “cha đẻ của hình
học phẳng”- Ơclít với việc soạn sách “Toán học sơ đẳng” đã đóng góp cơ sở cho môn hình học trong đó có định đề
Ơ-clít. Acsimet- nhà toán học, người đầu tiên tìm ra giá trị số Pi=3,14 cho phương Tây, phát hiện ra công thức tính
thể tích và diện tích toàn phần hình khối, cùng các phát minh về vật lý học như nguyên lý Thủy lực học, đòn bẩy,
ròng rọc, bánh xe răng cưa, đường xoắn ốc, máy bắn đá, chiếc gương quay. Nhà thiên văn học Arixtác được biết đến
với sự lỗi lạc, uyên thâm, người đóng góp và đặt ra nền tảng cho thiên văn học thế giới. Dù Ai Cập và Ấn Độ có
nghiên cứu liên quan đến mặt Trời, nhưng ông là người đầu tiên đặt ra Thuyết hệ thống Mặt Trời, và đồng thời tính
chính xác thể tích Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất và khoảng cách giữa các thiên thể nói trên, chúng ta phải khẳng
định ông đã đóng góp những điều mới mẻ cho thiên văn học nhân loại. Tiếp theo ta phải nhắc đến nhà khoa học đa
năng vĩ đại nhất đó là Eratôxten khi sở hữu cho mình các danh xưng trong các lĩnh vực thiên văn, toán học, vật lý
học, ngôn ngữ học, sử học, địa lý học. Với thành tựu nổi bật nhất đó chính là tính độ dài vòng kinh tuyến trái Đất với
giá trị 39,700 km và ông là người đầu tiên cũng như duy nhất tính được góc tạo bởi hoàng đạo và xích đạo. Nhà
thiên văn học, toán học Ptôlêmê nhờ nghiên cứu Toán học đã khám phá kiến thức mới về Địa lý học với thành tựu
nổi bật nhất là soạn được bộ sách “Tổng hợp- Kết cấu toán học” với sự thành công và cả hạn chế ở “thuyết địa tâm”
với quan điểm cho rằng trái Đất là trung tâm vũ trụ trái lại với quan điểm đúng là học thuyết Nhật tâm. Bên cạnh đó
ông đã soạn quyển Địa lý học với 8 chương, đồng thời vẽ được bản đồ thế giới dù chưa hoàn toàn chính xác nhưng là
người nhận diện và gọi tên được sớm nhất. Cuối cùng phải kể đến Hipôcrát- “Thủy tổ của y học phương Tây” với
các quan niệm y học đúng đắn như khi ốm đau phải dùng thuốc, ngoại cảnh gây n:ên bệnh tật, phẫu thuật để điều trị
khi cần, và ông là người đầu tiên trên thế giới đưa ra phát biểu về y đức của thầy thuốc thông qua lời thề Hipôcrát đề cao tinh thần nhân văn.
Có thể nói Hy Lạp là nơi phát minh và phát triển khoa học tự nhiên với các nhà khoa học lỗi lạc, tên tuổi lừng danh
mang tầm ảnh hưởng to lớn đến lịch sử nhân loại tận ngày nay. Hi Lạp tuy thừa kế nhiều tinh hoa của văn minh đi
trước như Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc,… nhưng họ chỉ chạm đến và gọi tên, chính Hi Lạp mới là quốc gia tìm hiểu
và đi sâu vào, đặt tên tuổi dấu ấn cá nhân, đưa đến nhân loại trên chính cơ sở tìm hiểu của riêng mình. Những sự
đóng góp nói trên của Hi Lạp đã trở thành nền tảng cho KHTN cận- hiện đại và Hi Lạp chính là “cái nôi văn minh” của văn minh phương Tây.
1/ Những sự tương đồng và khác biệt của Khoa học tự nhiên Ai Cập và khoa học tự nhiên Hy Lạp cổ đại: Tương đồng:
- Đều ra đời và được hình thành trên một lát cắt thời gian là thời cổ đại, gắn bó với vùng biển Địa Trung Hải rộng lớn, giàu tiềm năng.
- Đều dựa trên nhu cầu và sự phát triển về kinh tế của người dân 2 nền văn minh để từ đó tìm ra những chân lí khoa
học phục vụ cho đời sống và kinh tế.
- Đều có sự tương đồng và tiếp nhận kiến thức giữa 2 nền văn minh trong nhiều lĩnh vực như toán học, thiên văn học, y học,…
- Các nhà khoa học đều dùng kiến thức và sự quan sát của bản thân để tìm ra các giả thuyết của mình. Có các cơ sở
khoa học, tiến bộ cho các phát minh Y học, Toán học, cả thiên văn Khác biệt:
-Do P.Đông gắn bó với các dòng sông mẹ, những dòng sông lớn ấy đều mang lại ảnh hưởng lớn lao giúp cho văn
minh các nước phát triển về mọi mặt trong cuộc sống sinh hoạt, sản xuất, mua bán, khám phá thiên nhiên, nhu cầu
tâm linh tín ngưỡng trên các “dòng sông mẹ”. Nhờ sự ưu ái ấy mà văn minh phương Đông mới có thể phát triển sớm
nhất và trở thành “cái nôi của văn minh thế giới”, nhất là Ai Cập
-Do P.Tây gắn bó với vùng biển lớn tạo điều kiện cho thông thương, buôn bán với quy mô lớn trên vùng biển Địa
Trung Hải- nơi chứng kiến sự ra đời của VM đầu tiên ở P.Tây, là chứng nhân lịch sử cho sự phát triển rực rỡ của
VM Hy Lạp, VM La Mã. Và vùng biển lớn cũng quyết định tính cách con người chủ động, thích chinh phục khám
phá giá trị mới cho nền VM, nhất là Hi Lạp. - Phát minh: Toán học: + Ai Cập cổ đại:
• Đã đặt nền tảng cho các lĩnh vực trong toán học như phép tính cộng trừ, nhân chia bằng cách cộng trừ nhiều lần để
phục vụ nhu cầu phân chia ruộng đất, xây dựng, tính toán…
• Biết gần đúng số Pi=3,16 thông qua mối tương quan giữa Chu vi và chiều cao của KTT
• Biết bình phương cạnh huyền… + Hy Lạp:
• Dựa trên các kiến thức nền tảng đấy để phát triển và mở rộng, đặt tiền đề cho toán học hiện đại trên nhiều lĩnh vực,
đặc biệt là hình học với các kiến thức mà Ai Cập đã tìm hiểu nhưng ở sự chính xác cao hơn và mang dấu ấn cá nhân
như số Pi của Acsimet, định lý Pytago về quan hệ giữa ba cạnh trong tam giác vuông
• Hi Lạp tìm ra và phân biệt được số chẵn và số lẻ trong khi đó AC chỉ dừng lại ở các hệ số đếm + Thiên văn học:
• Người Ai Cập cổ đại đã nhận biết được sự hiện diện của các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời, duy nhất chỉ Ai Cập
vẽ được bản đồ của các ngôi sao
• Hi Lạp với Arixtac đặt ra thuyết hệ thống Mặt Trời đầu tiên cho thế giới, đồng thời tính chính xác thể tích Mặt
Trời, Mặt Trăng, Trái Đất và khoảng cách giữa các thiên thể nói trên, chúng ta phải khẳng định ông đã đóng góp
những điều mới mẻ cho thiên văn học nhân loại. Duy nhất Eratoxten tính được vòng kinh tuyến trái đất và tính được
góc tạo bởi hoàng đạo và xích đạo. + Y học: xem ở trước
Kết luận: Cả hai nền văn minh đều đặt những nền tảng và giá trị cho KHTN cận hiện đại của nhân loại. Ở mỗi nền
văn minh đều có những yếu tố tự nhiên và con người khác nhau như Ai Cập với dòng sông mẹ- Nin cùng bầu trời
xanh trong đã tạo nền văn minh cộng đồng, sống cùng chung nhà nước để trị thủy, chống ngoại xâm,… coi trọng
cuộc sống tập thể đã đặt ra và chạm đến những giá trị văn minh mang tính lịch sử nhân loại. Còn Hi Lạp với vùng
biển rộng lớn nhiều thách thức đòi hỏi con người phải năng động và mang dấu ấn cá nhân khám phá chinh phục thiên
nhiên, tìm hiểu sâu sắc và chính xác với hàng loạt tên tuổi các nhà khoa học vĩ đại, là cầu nối giữa văn minh Ai Cập
với thế giới loài người hiện đại mặc dù họ vẫn có cơ sở nghiên cứu khoa học riêng. Qua đây ta thấy được vì sao Ai
Cập được ưu ái với tên gọi “hòn đá tảng” và Hi Lạp là “cái nôi văn minh” của văn minh phương Tây thúc đẩy sự
phát triển của thế giới loài người sau này
So sánh VM P.Đông và P.Tây:
Kể tên nền văn minh trên thế giới mà A/c yêu thích, cơ sở hình thành của nền văn minh tiêu biểu.
Nền văn minh Ai cập, Lưỡng Hà, Arập, Trung quốc,….
Cơ sở hình thành của nền văn minh TRung Quốc