LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Trái đất là một hành tinh “kì diệu”. Lịch sử địa chất Trái Đất bắt đầu cách đây
4,567 tỷ năm. Nương theo chiều dài lịch sử đó cho đến nay, Trái Đất cũng có cho
riêng mình một tấm áo lụa dài vô giá, đó chính là lịch sử văn minh “trù phú” và
duy nhất trong hệ Mặt trời. Đã có rất nhiều nền văn minh ra đời theo chiều xoay
của bánh răng thời gian, có những nền văn minh cực kỳ hưng thịnh và phát triển,
cũng có những nền văn minh chỉ tồn tại một khoảng thời gian rất ngắn rồi suy tàn.
Con người tìm những “vết tích” của các nền văn minh đã từng đi qua bằng các
cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác -
Leenin, vận dụng phương pháp luận của trường phái sử học Maxsis-Leninist. Bốn
trong số phương pháp nghiên cứu ấy được chia thành 2 cặp: phương pháp lịch sử
và phương pháp logic, phương pháp nghiên cứu đồng đại và phương pháp nghiên
cứu lịch đại.
Vậy phương pháp lịch sử và phương pháp logic là gì, tại sao chúng lại đi thành
từng cặp? Phương pháp lịch sử là phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua
các giai đoạn lịch sử cụ thể (ra đời, phát triển, tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể
của nó. “Phương thức lịch sử đi sâu vào cái muôn vẻ của lịch sử để tìm ra cái đặc
thù, cái cá biệt trong cái phổ biến. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn
nhưng không bao giờ lặp lại như cũ, phương pháp lịch sử để tìm ra cái khác trước,
cái riêng, cái đặc thù trong lịch sử”[1]. Về của phương pháp này mặt ưu điểm
chính là sự chính xác theo trình tự thời gian, sự phong phú và đa dạng, từ tất yếu
đến ngẫu nhiên, từ cụ thể đến sinh động, từ lớn đến nhỏ. Phương pháp này sẽ ghi
chép lại toàn bộ sự kiện lịch sử một cách chi tiết, cụ thể, theo trình tự thời gian một
cách chặt chẽ, có lớp lang trước sau, trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác
và là phương pháp ghi chép đầy đủ nhất. của phương pháp này chính Nhược điểm
là làm cho con người ta rối vì nó ghi lại tất cả từ sự kiện nhỏ đến sự kiện lớn mà
không có chọn lọc, rất mất thời gian mà lại lại không có tính thực tiễn quá cao.
Một số tác phẩm ghi bằng phương pháp này có: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam
thực lục,…Ngoài ra, vì chính là được con người ghi chép lại nên ít nhiều nội dung
cũng mang tính chủ quan, góc nhìn cá nhân và chọn lọc sự kiện của tác giả.
Phương pháp lịch sử cho phép chúng ta dựng lại bức tranh của các hiện tượng, các
sự kiện lịch sử đã xảy ra một cách khoa học. Vì thế, có thể nói rằng phương pháp
lịch sử mang những tính chất của phép biện chứng duy vật. Phương pháp lịch sử
là một phương pháp phù hợp khi chúng ta cần sử dụng để đi sâu, tái hiện lại
không khí lịch sử một cách chân thật, hiểu rõ được tâm lý tình cảm và cách nhìn
nhận về sự kiện của nhân dân thời bấy giờ. Ví dụ như quyển Đại Việt sử ký toàn
thư, bộ sử tập trung viết về hoạt động của triều đình, về vua, bộ máy quan lại do
các nho sĩ lúc bấy giờ biên soạn nên ta thấy được cách nhìn của họ có đôi phần
khác với cách nhìn hiện đại của chúng ta, điều đó là cái đặc trưng rất riêng của bộ
sử này. Vì cách nhìn chủ quan của người biên sử cũng sẽ một phần tác động đến
hiện tượng lịch sử. Lenin đã viết “Lịch sử bao giờ cũng phong phú về nội dung,
cũng đa dạng về nhiều mặt, cũng sinh động hơn điều mà chúng ta hình dung
được”.
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng
quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của
cái khách quan được nhận thức. Phương pháp này chỉ ghi lại những sự kiện lớn,
tiêu biểu và điển hình. Ghi chép một cách có chọn lọc, cho người đọc cái nhìn sâu
sắc về thời đại qua các sự kiện tiêu biểu, bản chất. của phương pháp logicƯu điểm
là giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn, logic và dễ dàng hiểu biết, ghi nhớ về sự
kiện đó vì chúng rất đặc trưng và tiêu biểu và mang tính thời đại. Ví dụ cuối năm
1974, đầu năm 1975, Bộ Chính trị TW Đảng đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn
toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Vì thế 17 giờ ngày 26/4, quân ta nổ
súng mở đầu chiến dịch. 11 giờ 30 phút ngày 30/4, lá cờ cách mạng tung bay trên
Dinh độc lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Như vậy
với cách ghi chép này, người đọc có thể hiểu rõ mà không bị rối bởi quá nhiều sự
kiện không quan trọng. của phương pháp logic chính là dễ đưa Về nhược điểm
đến các sai lầm như “bệnh đóng màu” và bệnh “giai thoại dật sử”, bệnh công thức,
giáo điều, hiện đại hóa lịch sử, chất đống tài liệu, kể chuyện giai thoại dật sử thay
cho nghiên cứu lịch sử,… “Bệnh đóng màu” và “giai thoại giật sử” là việc soi
mói, lấy những cái không cần thiết để đánh giá của một hiện tượng, không đúng
bản chất của hiện tượng lịch sử đó. “Bệnh công thức giáo điều” là nhìn lịch sử với
cái nhìn chủ quan, cứng nhắc, luôn cho rằng “ta đúng, địch sai”, nhìn nhận sự
việc một cách chủ quan, cảm tính, cần nhìn rõ vào mặt nào có đóng góp tiêu biểu
hơn. Chúng ta cũng từng đã có những sai lầm chứ không phải luôn đúng, ví dụ
như trong công cuộc cải cách ruộng đất 1956 – 1957, chúng ta đã đánh đồng tất
cả địa chủ đều phải “đả thực bài phong” dù không phải tất cả mọi nhà tư sản, mọi
địa chủ đều là phản động, trong số họ vẫn có rất nhiều nhà yêu nước, họ đã có
công rất lớn đối với Đảng và nhân dân. Và cuối cùng chúng ta đã nhận ra sai lầm
của mình, cố gắng khắc phục và sửa chữa. Một sai lầm khác rất dễ mắc phải là
hiện đại hóa lịch sử, đánh giá sai lầm về lịch sử vì nó không phù hợp với chuẩn
mực hiện đại. Trong trận chiến lịch sử của Nguyễn Tri Phương mang theo 12 ngàn
quân đánh đuổi giặc Pháp tại Gia Định nhưng lại thua quân Pháp với chỉ 1 ngàn
quân. Nếu nhìn với góc nhìn hiện đại thì nhiều người vẫn không hiểu được và
trách móc nhưng đặt đúng vào bối cảnh, vũ khí chiến tranh quá chênh lệch, gươm
đao không thể chống lại súng ống hiện đại được. Ngoài ra chúng ta còn cần phải
tránh việc chất đống lịch sử là sử dụng quá nhiều tài liệu mà không nhìn thấy
được sự phát triển, không cần bằng được giữa phương pháp lịch sử và phương
pháp logic, làm cho nó rối. Cần tránh phạm vào những sai lầm đó, không nên
dùng cách nhìn chủ quan, soi mói về những sự kiện, nhân vật lịch sử.
Như vậy, có thể thấy 2 phương pháp này có điểm giống nhau là đều liệt kê những
sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian. Mục tiêu chung hướng đến là làm sáng tỏ
quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Điểm khác biệt chính là phương
pháp lịch sử ghi lại tất cả sự kiện lớn nhỏ, mang tính liệt kê đơn thuần, còn phương
pháp logic chỉ ghi chép những sự kiện mang tính nổi trội, trọng điểm, bao quát
được toàn bộ giai đoạn lịch sử đó. Như vậy, hai phương pháp này có những điểm
giống nhau và khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như một thể
thống nhất, tác động lẫn nhau, bổ trợ cho nhau về mặt khuyết điểm của cái còn lại
nên chúng thường đi thành một cặp. Ph. Ăngghen đã viết: “Về bản chất, phương
pháp logic không phải là cái gì khác mà chính là phương pháp lịch sử đã được giải
thoát khỏi hình thức lịch sử, không bị phụ thuộc vào cái hoàn cảnh ngẫu nhiên, pha
trộn và phương pháp logic hoàn toàn không nhất định đóng khung trong phạm vi
trừu tượng thuần túy”. Trong phương pháp này có sự xâm nhập của phương pháp
kia nên trong việc nghiên cứu biên soạn lịch sử cần phải vận dụng đúng đắn tính
thống nhất và khác biệt giữa chúng như vây sẽ ngăn ngừa sự chủ quan, máy móc,
tránh lý luận suông không cần thiết, xử lý quan hệ quan điểm lịch sử và quan điểm
giai cấp trong nghiên cứu.
Cặp phương pháp tiếp theo là phương pháp nghiên cứu đồng đại và phương pháp
nghiên cứu lịch đại. Phương pháp nghiên cứu đồng đại (so sánh lịch sử theo không
gian hoặc so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường ngang”) là phương pháp
nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong cùng một giai
đoạn ở những không gian khác nhau, từ đó cho thấy sự giống và khác nhau giữa
chúng. Qua đó người nghiên cứu nắm bắt được cái riêng, cái chung, thấy được tính
đặc thù, phổ biến, hệ thống của sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử cụ thể. Cuộc
chiến tranh giữa quân Mỹ và phát xít Nhật vào 2/1945 tại đảo Iwo Jima là 1 trong
10 cuộc chiến khắc nghiệt nhất trong thế chiến thứ 2. Mỹ thả quả bom nguyên tử
đầu tiên vào thành phố Hiroshima vào 6/8/1945 khiến hàng chục ngàn người thiệt
mạng. Cùng lúc đó ở Việt Nam cũng xảy ra nạn đói khiến 2 triệu người Việt Nam
thiệt mạng. Như vậy giữa những không gian khác nhau xảy ra những sự kiện khác
nhau, đặc trưng riêng biệt nhưng lại có cái chung, theo một hệ thống liên hệ lẫn
nhau, không thể tách rời. Còn phương pháp nghiên cứu lịch đại là phương pháp so
sánh lịch sử theo thời gian hoặc so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường
thẳng”. Phương pháp lịch đại có nguồn gốc từ nguyên lý của Chủ Nghĩa Mác Lê
Nin về sự phát triển, là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát
triển. Phương pháp lịch đại đòi hỏi người viết khi nghiên cứu biên soạn các sự
kiện, hiện tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát triển
trước kia của nó, đồng thời có thể dự báo khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng. Mỗi sự kiện, hiện tượng lích sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình
nó những đặc điểm và yếu tố của giai đoạn trước và ngược lại giai đoạn trước sẽ
tạo tiền đề, định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau. Phương pháp lịch đại
đem đến cái nhìn rõ rệt về sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch
sử. Ví dụ Việt Nam trước năm 1975, mọi định hướng kinh tế đều hướng đến sự chi
viện cho miền Nam, sau 1975 xây dựng đất nước nhưng gặp nhiều khó khăn, đến
năm 1990 bắt đầu giải quyết xong các vấn đề và mở rộng quan hệ quốc tế và có
khuynh hướng phát triển rất nhanh cho đến nay. Dự đoán nếu tốc độ tăng trưởng
giữ từ 6-7% trong vòng 15 – 20 năm thì vị thế của Việt Nam sẽ tương đương Hàn
Quốc hiện nay. Như vậy với phương pháp này ta thấy rất rõ phương hướng phát
triển của Việt Nam từ trước 1975 đến nay và có thể cho được sự dự đoán, hướng
phát triển tiếp theo của đất nước. Tuy nhiên, phương pháp lịch đại bị hạn chế trong
việc trong việc nghiên cứu các hiện tượng xảy ra xung quanh ta và có ưu thế trong
việc nhìn nhận những sự kiện, hiện tượng ở xa. Hai phương pháp nghiên cứu đồng
đại và nghiên cứu lịch đại đều mang cùng một tính chất là so sánh lịch sử, dùng sự
kiện lịch sử này để so sánh với sự kiện lịch sử khác. Cả hai đều có ưu điểm riêng.
Việc kết hợp 2 phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh
bức tranh tổng thể của lịch sử văn minh thế giới.
Ngoài ra còn cần sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác trong nghiên cứu
lịch sử như phương pháp định lượng, phương pháp dân tộc học, phương pháp liên
ngành, phương pháp nghiên cứu so sánh,...
Câu 2: Khái niệm văn hóa, văm minh, nền văn minh? Phân tích, chứng minh,
dẫn chứng
Văn hóa, văn minh và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
nghiên cứu và hiểu về sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể
hiện sự phát triển của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những
đặc trưng văn hóa đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc.
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử. Như vậy tức là văn hóa xuất hiện gần như trùng với thời kì
Homoerectus (Người vượn) và song hành cùng với con người qua các thời kì lịch
sử kế tiếp. Văn hóa là dấu hiệu để phân biệt giữa con người và tự nhiên, vì nó chỉ
do con người sáng tạo ra. Văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa, xét theo nghĩa rộng,
văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa là một hệ thống
giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy thông qua quá trình lao động
thực tiễn, các giá trị này được cộng đồng chấp nhận vận hành trong xã hội và
không ngừng truyền lại cho thế hệ sau, thể hiện trình độ phát triển và đặc tính của
mỗi dân tộc như: phong cách sống, trang phục truyền thống, ẩm thực,…Văn hóa
thông qua quá trình học tập và tiếp thu chứ không phải do bẩm sinh. Ví dụ như văn
hóa Cồng Chiêng – đại diện cho văn hóa Tây Nguyên được xem là ngôn ngữ giao
tiếp hàng đầu của con người với thần thánh và thế giới siêu nhiên. Hay văn hóa trà
đạo ở Nhật Bản, từ xưa người Nhật đã tin rằng qua cách thưởng trà có thể tìm thấy
được những giá trị tinh thần cần có ở bản thân của mỗi người. Văn hóa, văn minh
và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu và hiểu về
sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể hiện sự phát triển
của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những đặc trưng văn hóa
đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc. Khi đưa ra định nghĩa về văn hóa, một thuật
ngữ mới cũng đồng thời xuất hiện, dó là văn minh. Vậy, văn minh là gì? Văn minh
là trạng thái phát triển cao, tiến bộ của văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội loại
người. Trái với văn minh là dã man. Ví dụ: văn minh Ấn Độ, văn minh Lưỡng Hà ,
Văn minh bao gồm văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Văn minh nảy sinh
trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất. Văn minh xuất
hiện cùng với xã hội có giai cấp và nhà nước. Như vậy, văn hóa và văn minh đều
chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch
sử, đồng thời cả hai đều mang tính nhân bản và mang tính lịch sử sâu sắc. Khác
nhau ở chỗ văn hóa có trước, văn minh có sau, văn hóa mang tính dân tộc, giai cấp
và vùng miền, văn minh mang tính quốc tế, siêu dân tộc và thiên về vật chất,
thuật, tổ chức xã hội (luật pháp, tổ chức nhà nước, định chế xã hội,…). Văn hóa có
thể phát triển và hưng thịnh, ngay cả khi nền văn minh không còn tồn tại. Ngược
lại, văn minh không thể phát triển và tồn tại nếu không có văn hóa. Văn hóa, văn
minh và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu và
hiểu về sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể hiện sự phát
triển của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những đặc trưng
văn hóa đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc.
Nền văn minh là trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và tinh thần của một cộng
đồng dân tộc nhất định trong tiến trình lịch sử, hay được hiểu như trình độ phát
triển cao của một kiểu xã hội, ở đó văn minh không chỉ mang lại sự tốt hơn cho cá
nhân mà còn là sự biến đổi về thái độ và giá trị ở một trình độ nhất định. Ví dụ: khi
nói đến nền văn minh phương Tây, ta nói về xã hội, văn hóa và cách sống của con
người phương Tây. Nền văn minh có thể hiểu như là văn hóa của một xã hội phức
tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội thống nhất. Các nền văn minh có
nền tảng văn hóa đa dạng, bao gồm văn học, hội họa, kiến trúc, tôn giáo, tín
ngưỡng,…được kết hợp hài hòa. Nền văn minh có bản năng mở rộng ra khu vực
khai sinh ban đầu, vươn xa và ảnh hưởng đến những vùng đất xa xôi khác. Mỗi
nền văn minh là một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tác động lẫn
nhau, có thời gian tồn tại nhất định và có chủ nhân riêng. Nền văn minh Hy Lạp và
nền văn minh La Mã đều cùng tồn tại trong một thời gian và có ảnh hưởng lẫn
nhau rất nhiều nên ta gọi đó là nền văn minh Hy – La. Có rất nhiều nền văn minh ở
phương Đông bị ảnh hưởng bởi nền văn minh Trung Quốc như Việt Nam, Hàn
Quốc, Nhật Bản,… Một nền văn minh gồm 3 yếu tố: chức năng sản xuất ra của cải
vật chất, chức năng điều chỉnh, tổ chức và phát triển xã hội, chức năng tạo ra các
sản phẩm tinh thần. Diện mạo của nền văn minh nào được xác định bởi phương
thức sản xuất của thời đại văn minh ấy. K.Marx đã từng nói: “Khi thay đổi phương
thức sản xuất thì người ta thay đổi mọi quan hệ sản xuất của mình. Cái cối xay
bằng tay đưa lại cho người ta một xã hội có lãnh chúa đứng đầu, cái cối xay chạy
bằng hơi nước đưa lại cho người ta một xã hội có nhà tư bản công nghiệp”. Khi
sống ở một nơi mà mọi người xung quanh đều là nông dân sẽ có mối quan hệ tình
làng nghĩa xóm khác với những người làm việc ở các công ty. Khi phương thức sản
xuất thay đổi sẽ kéo theo lối sống, các mối quan hệ xã hội khác nhau. “Những thời
đại khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra thứ gì, mà ở chỗ chúng sản xuất
ra thứ ấy như thế nào”. Cùng là việc trồng cây lúa nước nhưng ở thời phong kiến
thì sử dụng sức lao động từ con người là chính, bằng những công cụ thô sơ như
cày, cuốc. Còn ở thời đại hiện nay, máy móc gần như thay thế hoàn toàn con người,
cuộc cách mạng công nghiệp đã đem đến một bước nhảy vọt hoàn toàn, giảm bớt
sự vất vả cho những người nông dân mà còn làm tăng sản lượng sản phẩm. Nền
văn minh luôn liên tục tiến bộ, các yếu tố khác nhau của nền văn minh như phương
tiện giao thông, thiết bị điện tử, công nghệ,… đang phát triển từng ngày.
Câu 2. Liên hệ thực tế (5,0 điểm) Có hay không mối liên hệ giữa văn hóa, văn
minh Việt Nam với các nền văn minh thế giới? Trình bày suy nghĩ của anh/chị
dựa vào vốn kiến thức xã hội của bản thân (kèm theo các dẫn chứng cụ thể).
Dân tộc Việt Nam ta đã xây dựng một nền văn hiến lâu đời gắn liền với bề dày lịch
sử đồ sộ. Trong quá trình đó, nền văn hóa, văn minh Việt Nam đã có sự hội nhập
và giao thoa với các nền văn minh thế giới. Tuy có mối liên hệ mật thiết với nhiều
nền văn minh khác nhau từ phương Đông đến phương Tây nhưng người Việt Nam
ta vẫn giữ được nét riêng biệt trong văn hóa, văn minh của đất nước mình.
Đầu tiên chúng ta phải kể đến nền nhận ảnh hưởng từ nền văn minh nông nghiệp
lúa nước Đông Nam Á. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, có những vùng đồng
bằng châu thổ màu mỡ như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long,
cùng với đó là yếu tố con người, nghề trồng lúa ở đất nước ta phát triển mạnh mẽ.
Tương tự với những quốc gia khác, từ nhu cầu lao động, người Việt ta cũng đã sử
dụng những công cụ bằng đồng, sắt…chẳng hạn như lưỡi cày đồng xuất hiện từ
khoảng 700 năm TCN thời Văn Lang.
Tiếp theo đó, Việt Nam cũng có liên kết với các nền văn minhchữ viết và văn học
khác, cụ thể là văn minh Trung Quốc. Dưới thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải
tiếp thu các văn hóa Trung Quốc, đặc biệt trong đó là chữ Hán. Đồng thời, ta cũng
học hỏi được nhiều về các thể thơ Đường Luật với những tác phẩm như “Qua Đèo
Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Buổi Chiều Đứng Ở Phủ Thiên Trường
Trông Ra” (Trần Nhân Tông). Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn giữ được bản sắc riêng
của dân tộc mình, không lệ thuộc vào văn hóa Trung Quốc. Người Việt ta đã tạo ra
chữ Nôm và từ đó văn học Hán Nôm ngày càng phát triển. Ví dụ tiêu biểu là tác
phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” hay còn gọi là “Truyện Kiều” của đại thi hào
Nguyễn Du là đỉnh cao cho truyện thơ chữ Nôm. Trong lĩnh vực kiến trúc và điêu
khắc ở Việt Nam cũng có rất nhiều điểm tương quan với nền văn minh khác trên
thế giới. Chẳng hạn như thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã có tiếp nhận ảnh
hưởng từ nền kiến trúc Ấn Độ. Hay là những công trình kiến trúc mang văn hóa
phương Tây như nhà thờ Bác Trạch (Thái Bình) chịu ảnh hưởng từ phong cách
Châu Âu hay Nhà thờ lớn Hà Nội mang âm hưởng Gothic phương Tây.
Không dừng lại ở đó,về , Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáotôn giáo
từ văn minh Ấn Độ. Phật giáo được du nhập vào nước ta từ rất sớm, khoảng vào
thế kỉ thứ nhất TCN. Có rất nhiều chùa lớn được xây dựng để phục vụ cho việc thờ
cúng như chùa Láng (Hà Nội). Bên cạnh đó, Kito giáo cũng đã thâm nhập vào Việt
Nam vào thế kỉ XVI. Những giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và người
Pháp đã đến nước ta để truyền đạo, họ cũng đã truyền bá chữ Quốc ngữ để thuận
tiện cho việc giảng và ghi chép kinh thánh.
Như vậy ta có thể thấy, không chỉ văn minh phương Đông mà ngay cả phương Tây
cũng có mối liên hệ với nền văn hóa, văn minh Việt Nam. Như vậy, ta có thể thấy
rằng nền văn hóa, văn minh Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc và mật thiết với các
nền văn minh khác trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp...Tuy tiếp thu thành
tựu từ nhiều nền văn minh khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn không để mất đi
nét 4 riêng trong văn hóa. Trong quá trình hội nhập và giao lưu, chúng ta vừa học
hỏi, tiếp thu nhưng vẫn luôn giữ gìn bản sắc dân tộc.
Câu 4: a. Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội tới sự phát triển
của văn minh Ấn Độ
-Vị trí: Ấn Độ là một bán đảo nằm ở , từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi Nam Á
chắn ngang, trong đó dãy núi Hymalaya nổi tiếng.
-Địa hình: Ấn Độ . Miền Bắc Ấn Độ chia làm hai miền Nam-Bắc có hai con sông
lớn là sông Ấn và sông Hằng bồi đắp. Cả hai dòng sông này đã thành hai đồng
bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn
minh của đất nước này. Và cũng chính nhờ hai con sông này mà những điều kiện
kinh tế đầu tiên đã hình thành đưa AD sớm bước vào xã hội văn minh.
-Cư dân: AĐ gồm hai thành phần chính: chủ yếu cư trú ở miền Người Đravida
Nam, chủ yếu cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn nhiều tộc khác như người Arya
người Hy Lạp, người Hung Nô, Arập,..họ đồng hóa với nhau=> vấn đề bộ tộc ở
ÂĐ hết sức phức tạp.
Thời cổ trung đại, phạm vi địa lí của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan,
Bangladet và Nepan ngày nay.
b. Những thành tựu tiêu biểu của văn minh Ấn Độ
1. Chữ viết: Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, miền Bắc Ấn đã xuất hiện một
loại ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng khắcchữ cổ 3000 con dấu
những hiệu đồ hoạ. Thế kỉ VII TCN, đây đã xuất hiện , ngày naychữ Brami
còn khoảng có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN30 bảng đá
Ấn Độ lại xuất hiện , đây sở của nhiều loại chữ viết Ấn Độchữ Sanscrit
và Đông Nam Á sau này.
2. Văn họ c : Ấn Độ nước nèn văn học rất phát triển, gồm 2 bộ phận chính
, tuy nhiên nổi bật hơn cả sử thi với hai tác phẩm văn học nổiđa sử thi
bật thời cổ đại là . Mahabharata Ramayana
Mahabharata bản trường ca gồm câu thơ. Bản trường ca này nói về220 000
một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này thể coi
một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống hội Ấn Độ thời đó.
Ramayana một bộ sử thi dài câu thơ, tả một cuộc tình giữa chàng48 000
hoàng t Rama công chúa Sita. Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân
gian một số nước Đông Na m Á. Riêmkê Campuchia, Riêmkhiêm Thái Lan
chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.
Thời cổ đại Ấn Độ còn tâp ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều
tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu.
3. Nghệ thuật: Ấn Độ nơi nền phát triển rực rỡ, ảnhnghệ thuật tạo hình
hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục
vụ một tôn giáo nhất định, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra
3 dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
rất nhiều , nhưng đáng kể đầu tiên dãy chùa tháp Phật giáo chùa hang
Ajanta miền trung Ấn Độ. Đây dãy chùa được đục vào vách núi, tới 29
gian chùa, các gian chùa thường hình vuông nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên
vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ kiến trúc Hinđu giáo
được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI. Tiêu biểu cho các công trình
Hinđu giáo là Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữacụm đền tháp Khajuraho
những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình nổi bật Ấn Độ , được xâykiến trúc Hồi giáo tháp Mina
dựng vào khoảng thế kỉ XIII và được xây dựng vào khoảng thế kỉlăng Taj Mahan
XVII.
4. Khoa học tự nhiên:
+) Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra , họ chia một năm ra làm 12lịch
tháng, mỗi tháng có 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường 360 ngày ). Cứ sau 5
năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận.
+) Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính chủ nhân của hệ thống chữ số
mà ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là ,đặt ra số không
nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây
Âu vậy từ bỏ số La sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính
được căn bậc 2 và căn bậc 3 biết về quan hệ giữa 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã
cạnh trong một tam giác, Pi = 3,1416tính được .
+) Về vật lý Người Ấn Độ cổ đại cũng đã . Thế kỉ V TCN, có: có thuyết nguyên tử
một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “...trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất
cả các vật về phía nó”.
+) Y học cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã tả các dây gân, cách:
chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để
lại hai quyển sách là “ ” và “ ”.Y học toát yếu Luận khảo về trị liệu
Câu 3: Phân tích quá trình hình thành và truyền bá Phật Giáo của Ấn Độ để
thấy rằng Phật Giáo từ tôn giáo địa phương thành tôn giáo thế giới
“Nếu ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy
khỏi
chỗ này” là lời thề nổi tiếng của Thái tử Tất Đạt Đa – người sáng lập ra Phật
giáo. Thái tử sinh khoảng năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca
(Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na). Dù sống trong cuộc đời vương
giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự
nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và
phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Sau nhiều năm
tìm thầy học đạo, Thái tử nhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều
không thể giải thoát cho con người hết khổ được. Sau 49 ngày đêm thiền định dưới
gốc cây Bồ đề, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh
giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển, đạo Phật du nhập vào trên 100 nước
trên thế giới, ở hầu khắp các châu lục nhưng luôn với trạng thái ôn hoà, chưa bao
giờ đi liền với chiến tranh xâm lược hay xảy ra các cuộc thánh chiến. Tính đến
năm 2008, đạo Phật có khoảng 350 triệu tín đồ và hàng trăm triệu người có tình
cảm, tín ngưỡng và có ảnh hưởng bởi văn hoá, đạo đức Phật giáo.
* Bối Cảnh: Vào giữa thiên niên kỷ I TCN, Ấn Độ xưa đã hình thành hàng loạt
các tiểu quốc. Các vương quốc có điều kiện tự nhiên khác nhau, kinh tế, xã hội,
chính trị phát triển không đều nhau, nên không thể tránh khỏi mâu thuẫn. Do đó,
các vương quốc luôn trong tình trạng bất ổn, cạnh tranh và xâm lược luôn lăm le.
Đến thế kỉ V TCN chỉ còn lại 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis.
Xã hội Ấn Độ vào thế kỉ VI Tr.CN là một xã hội đầy sự bất bình đẳng, nền chính
trị của Ấn Độ lúc bấy giờ chỉ tập trung vào bảo vệ quyền lợi cho giai cấp quý tộc
và tăng lữ, họ đối xử bất công, bóc lột nặng nề các tầng lớp dưới. Các tầng lớp
dưới không có bất kỳ quyền lợi nào, không có đất đai để cày cấy, không có đủ tư
liệu để sản xuất, đói, kém triền miên. Thêm vào đó, hầu hết các cư dân Ấn Độ đều
theo đạo Hinđu giáo - một đạo rất bất bình đẳng. Đạo này chia con người làm 4
đẳng cấp: Tăng-lữ thuộc giai cấp Bà-La-Môn (Brahman), vua chúa thuộc giai cấp
Sát-Ðế-Lỵ (Ksatriya), bình dân thuộc giai cấp Phệ-Xá (Vaisya), Tiện dân thuộc giai
cấp Thủ-Ðà-La (Sùdra).. Những đẳng cấp này có sự phân biệt về địa vị xã hội rất
khắt khe, luôn phân biệt rõ và có cái nhìn hết sức khinh bỉ đối với những người ở
đẳng cấp dưới, người ở đẳng cấp dưới luôn phải làm những công việc bị coi là dơ
bẩn và không được tiếp xúc cũng như kết hôn với tầng lớp trên. Xã hội Ấn Độ
cũng là một nhà nước chuyên chế mang mẫu số chung như những nước Phương
Đông khác vua nắm mọi quyền hành, và ở đây vua không chỉ nắm trong tay vương
quyền mà còn cả thần quyền nữa. Như vậy từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và
tôn giáo của Ấn Độ luôn bị đặt trong một sự bất bình đẳng, phân biệt nặng nề.
Tầng lớp chiếm đông đảo nhất và khổ cực nhất nhưng lại không có được sự quan
tâm, không có được sự bảo vệ quyền lợi cho chính họ. Từ đó, từ trong chính tầng
lớp đó hình thành nên luồng tư tưởng mới, một vị thần sẽ đại diện cho họ, là niềm
tin để họ dựa vào. Đạo Phật đã ra đời như thế, sự ra đời của Phật Giáo chính là
để giải quyết những mâu thuẫn, bất công ấy. Vì vậy, Phật Giáo là tôn giáo địa
phương.
Tư tưởng
Nội dung học thuyết của Đạo Phật là lí giải về nỗi đau và giải thoát cho những con
người khốn khổ, chính là sự cứu vớt. Hai câu nói của Đức Phật đã chứng minh
điều ấy “Trước đây và ngày nay ta chỉ lí giải và nêu ra các chân lý về nỗi đau khổ
và sự giải thoát khỏi các nỗi đau khổ”. “Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là
mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt”.
-Thế giới quan: xem trong tập (1)
-Một trong những giáo lý quan trong nhất của Phật Giáo là (bốn Tứ diệu đế
nghĩa lí siêu cao) bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế: là chân lý về các nỗi khổ ở đời. Mọi dạng tồn tại đều mang tính
chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, cầu bất đắt,
ái biệt ly, chấp ngũ uẩn,… đều là khổ. : là chân lý về sự phát sinh củaTập đế
khổ, nguyên nhân của khổ là từ luân hồi. Luân hồi do nghiệp báo phát sinh
từ ham muốn, thỏa mãn của con người, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn
được hoại diệt,… Khi còn ham muốn là còn nghiệp báo và luân hồi, đau khổ
sẽ còn tồn tại mãi mãi. Đây là luận đề mang tính chất lý luận, chứa đựng
hầu hết những luận thuyết cơ bản của Đức Phật. Nỗi khổ của con người do
10 nguyên nhân: tham, sân, si, mạn, nghi, kiến,… là chân lý diệt trừDiệt đế:
khổ đau. Một khi gốc của mọi tham ái đều được tận diệt thì sự khổ cũng
được tận diệt. Muốn chấm dứt luân hồi sinh tử thì phải chấm dứt nghiệp, trừ
bỏ hết mọi ham muốn. Chế ngự bản năng của con người, từ bỏ 10 nguyên
nhân nỗi khổ, Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng, tránh vòng luân hồi,
tránh nghiệp nhân quả. là chân lý về con đường dẫn đế diệt khổ. Đạo đế:
Con đường đó gồm Bát chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ,
Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tịnh tiến, Chính niệm, Chính định. Vậy
Bát chính đạo tức là suy nghĩa, nói năng và hành động đúng đắn.
-Một giáo lí quan trọng khác chính là tạo nên đời Thập nhị nhân duyên
người.
Đó là Vô minh (mê hoặc, hiểu sai), hành (hành động tạo nghiệp), thức
(chuyển qua mẹ để chuẩn bị kiếp mới), danh săsc (là toàn bộ tâm lý và vật lý
của bào thái mới), lục nhập (danh nhập thành tâm, sắc nhập vào ngũ căn),
xúc (6 căn xúc tiếp xúc với cõi trần), thụ (bồi đắp các thói trần gian), ái
(tham ái, lòng ham muốn), thủ (tìm kiếm, chiếm lấy cho mình), hữu (chiếm
hữu, sinh nghiệp đạo), sanh (sanh báo, mở ra cái thân ở kiếp sau), lão tử
(giả chết – sanh phải qua tử). Mười hai nhân duyên đó là vô minh duyên ra
hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc ra lục nhập, lục
nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ ra
hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử.
Sau khi Phật tịch, đạo Phật nhanh chóng truyền bá khắp miền Bắc Ấn Độ.
Nhóm các đệ tử của ngài đã hồi tưởng lại những gì Phật dạy để viết thành
Kinh sách vì khi còn tại thế, Đức Phật chỉ đi thuyết pháp để giảng, truyền
dạy mà không dựa vào Kinh sách nào cả. Và để làm điều đó, đã có 4 lần
triệu tập các cuộc đại hội. Ba cuộc triệu tập đầu tiên diễn ra vào thế kỷ V-
III TCN tại Magađa, quốc gia lớn nhất Ấn Độ lúc bấy giờ. Ba lần đại hội đầu
tiên đều diễn ra suông sẻ, các đệ tử hồi tưởng và ghi lại như những gì Phật
đã thuyết giáo. Sau đại hội lần III, đạo Phật nhanh chóng được truyền bá
rộng rãi, vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ đến với Đông Á, Đông Nam Á,
Nam Á, thậm chí là cả Châu Âu và Châu Mỹ. Nhưng đến lần triệu tập thứ
IV tại Cusan, năm 100 sau CN, lại bắt đầu có sự phân liệt. sau khi chép
thành Kinh sách thì mọi người có sự tranh cãi về giáo lý, giáo hội và cách
thức truyền giáo của Phật giáo. Khi càng muốn thống nhất thì đai hội
càng chia rẽ. Các tín đồ ở miền Nam thì muốn giữ nguyên tất cả những gì
mà Đức Phật đã truyền lại, còn các giáo phái miền Bắc cho rằng nó không
còn phù hợp với hiện tại, cần phải thay đổi để phù hợp hơn. Ví dụ như theo
Phật giáo lúc bấy giờ thì không cho phép người nữ tu hành nhưng chủ
trương của Phật lại là “tất cả mọi người đều bình đẳng”, vì thế nên các giáo
phái miền Bắc muốn sửa đổi nó. Và những điều như con người cũng có thể
trở thành Phật và cả những người theo đạo Phật ở nước ngoài cũng có thể trở
thành Phật. Vì có sự tranh cãi đó đã hình thành nên 2 phái: Đại thừa và Tiểu
thừa. Phái Đại thừa thông qua giáo lí của Phật cải cách, phái Tiểu thừa theo
Phật giáo cũ.
Điểm giống nhau: cùng mục đích tôn chỉ Điểm khác nhau biểu hiện ở các
mặt: + Phái Đại thừa mặc áo nâu, tự lao động kiếm sống, họ cho rằng
không chỉ những người đi tu hành mà những người trần tục quy y theo Phật
cũng được cứu vớt. Phái Đại thừa coi Phật Thích Ca là vị thần cao nhất của
Đạo Phật. Bên cạnh Phật Thích Ca còn có các vị thần khác như Adi đà, Di
lặc, và các Quan Âm Bồ Tát... Phái Đại thừa coi trọng các nhà sư, coi họ là
kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát. Hơn nữa phái Đại thừa cho rằng ai
cũng có thể thành Phật và cũng đã có nhiều người trở thành Phật: Văn Thù,
Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng,…Tuy họ đã thành Phật nhưng vẫn tự
nguyện ở lại cõi trần gian để cứu độ chúng sinh. Phái Đại thừa quan niệm
Niết Bàn là thiên đường của Phật giáo, ngoài ra họ còn tạo ra Địa Ngục để
đày đọa những kẻ mang tội lỗi. + Phái Tiểu thừa mặc áo vàng, đi khất thực,
cho rằng chỉ những người đi tu hành mới có thể được cứu vớt. Họ cho rằng
chỉ có Phật Thích Ca là Phật duy nhất, con người không thể nào trở thành
Phật được. Phật Thích Ca đã đạt được cảnh giới Niết Bàn chính là đã hoàn
toàn thông suốt, không bị vướng vào trần tục, khổ đau của nhân gian nữa
vào năm ngài 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục cứu độ chúng sinh thêm 45
năm nữa.
Truyền bá của Phật giáo ra bên ngoài.
Phật giáo ra đời để bảo vệ sự bình đẳng cho con người Ấn Độ đương thời
nên được gọi là một tôn giáo địa phương. Nhưng Từ nửa sau thế kỉ thứ III
TCN, tức Sau đại hội lần III, đạo Phật nhanh chóng được truyền bá rộng rãi,
vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ đến với Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, thậm
chí là cả Châu Âu và Châu Mỹ,… và Cũng sau trở thành tôn giáo thế giới.
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV, quá trình truyền bá Phật giáo qua nước
ngoài ngày càng phát triển, tín đồ ngày một nhiều. Vì sao Phật Giáo lại có
sức hút và thu hút được nhiều tín đồ như thế? Vì khác với đạo Hinđu, Phật
Giáo không có sự bất bình đẳng đối với những đẳng cấp dưới, những người
nghèo khổ, ở đạo giáo này họ cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc. Và trong
một xã hội, bao giờ giai cấp nghèo khổ cũng chiếm phần lớn vì vậy nên số
lượng tín đồ tăng rất nhanh. . Một thế kỷ sau, sau cái chết của vua Asoka,
đạo Phật ở Ấn Độ càng dần suy yếu nhưng lại vô cùng thịnh vượng ở Châu
Á và trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia khác như Srilanca, Mianma,
Thailan, Campuchia và Lào. Ngày nay Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong
việc giữ gìn hòa bình, nếp sống tốt đẹp, nhân ái, thương yêu của nhân loại,
tổng số tín đồ Phật Giáo trên thế giới ước tính chiếm 7,1% dân số thế giới.
Tại Việt Nam ước tính có hơn 14 triệu tín đồ Phật Giáo chiếm 16,4% dân số.
Ngày Tam hợp của đức Phật (Phật đản sinh, thành đạo, nhập diệt) đã được
Liên hợp quốc công nhận là ngày lễ tôn giáo mang tính quốc tế.
Liên hệ Việt Nam : tệp 1
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI VIỆT NAM
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời
kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân
dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự
nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo...
Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế
kỷ VI trước công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập,
hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ VI trước
Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Sự phân
chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng
cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát đế lỵ
(dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần những người giàu có, buôn bán
thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn có một tầng lớp người thuộc
hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời
của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong
những cuộc đấu tranh mang tính chất toàn xã hội….
(phần BỐI CẢNH CỦA PHẬT GIÁO ) NÓI NGẮN GỌN 1-2-3C
PHẦN TƯ TƯỞNG NÓI NGẮN GỌN 1-2-3C
ĐẠO PHẬT DU NHẬP VÀO VIỆT NAM
Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được chỗ đứng
của mình trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con
đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ. Đường
bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp
nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ. Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả
sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Lấy một ví dụ cụ thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa,
nếu ở phía cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa
được hội nhập vào đất Việt thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh
hưởng của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở
ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây Thiên.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược,
không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn
bán. Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình
đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp
nhận.
Vai trò của Phật giáo đối với đạo đức: Vào thời xa xưa, Phật giáo trong thời Lý,
thời Trần ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tu dưỡng đạo đức của nhiều tầng lớp trong
xã hội, từ vua quan cho tới nhân dân. Các vua quan luôn có ý thức trau dồi đạo
đức. Nhiều người chọn sống đời đạo hạnh, yêu nước, thương dân sâu sắc, thể hiện
đạo hiếu sinh và triết lý từ bi của nhà Phật. Phật giáo coi thiền định như một
phương pháp tu luyện giúp làm con người vượt qua những nỗi tức giận, những
trạng thái tinh thần bất an để đạt đến sự thanh thản, an nhiên. Không chỉ có vậy,
Phật giáo khuyên răn con người tu nhân tích đức, hướng tới cái thiện, tránh xa điều
ác... Với những tư tưởng hết sức sâu sắc, Phật giáo đã phần nào đáp ứng nhu cầu
về tâm linh của người dân Việt và bổ sung những giá trị đạo đức mới, phù hợp với
tâm lý nhân dân, đồng thời làm phong phú thêm giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Nhiều người dân không am hiểu tường tận các triết lý cao siêu
của Phật giáo nhưng họ vẫn tự coi mình là tín đồ nhà Phật. Mỗi năm, cứ đến tuần
rằm, mồng một, họ lại ăn chay, niệm Phật xám hối, đến chùa cầu bình an cho
người thân. Người Việt tìm đến với Đạo Phật không chỉ vì nhu cầu tâm linh mà
còn vì vô vàn triết lý đạo đức xã hội được ẩn chứa trong giáo lý: tư tưởng nhân
đạo, tinh thần bác ái, cứu khổ cứu nạn,.... Giáo lý từ bi của nhà Phật kết hợp với
tinh thần yêu nước, lòng trắc ẩn, nhân ái, lá lành đùm lá rách đã góp phần tạo dựng
nên một giá trị đạo đức, một phong cách sống quan trọng trong đời sống nhân dân
ta. Phật giáo giúp con người tin vào nghiệp báo luân hồi để từ đó tự giác hướng
thiện. Những tư tưởng Phật giáo đều có giá trị giáo dục đạo đức rất lớn. Đây là
điều mà bất kì xã hội nào cũng hướng tới. Tình thương và lòng nhân ái sẽ giúp ta
từ bỏ dần sự vị kỷ, thói tham lam, sân si, đó chính là cội rễ nảy sinh mọi xung đột,
bất hòa, khổ đau trên thế giới. Ngày nay, Phật giáo đã và đang hướng con người
biết sống tự lập, làm chủ cuộc sống của mình, điều vô cùng cần thiết trong xã hội.
Không chỉ có vậy, Đạo Phật còn đề cao trí tuệ và khuyến khích ý chí phấn đấu
vươn lên của mỗi con người. Những giá trị đạo đức phát khởi từ tinh thần đại bi đó
đã tác dụng tích cực và làm đẹp đẽ hơn đời sống đạo đức, đời sống văn hóa tinh
thần của con người Việt Nam.
Về đời sống văn hóa: Qua hơn hai nghìn năm lịch sử, Phật giáo đã trở thành một
thành tố không thể chia cắt trong đời sống văn hóa - xã hội của người dân nước
Việt Nam: Một là, đề cao giá trị con người, hướng thiện, xây dựng xã hội thanh
bình. Phật giáo Việt Nam luôn khẳng định vị trí tối cao của con người cũng như
khả năng tư duy độc lập của mỗi chúng ta, nhằm dạy mỗi người biết lựa chọn sống
đúng lẽ phải, phân biệt giữa thiện và ác, biết cần phải làm gì trong cuộc sống vốn
luôn đầy sóng gió, thử thách và góp phần dựng xây một xã hội thanh bình. Hai là,
duy trì, phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, hòa đồng với cộng đồng. Thông
qua những hoạt động xã hội, Phật giáo Việt Nam cho thấy tinh thần nhân văn,
hướng thiện, tăng cường kết nối tình đoàn kết giữa Đạo với Đời, giữa các tầng lớp
nhân dân, góp phần khuyến khích người Việt phát huy tinh thần cộng đồng và tình
đoàn kết tập thể đúng như truyền thống văn hóa dân tộc ta. Ba là, chung tay xây
dựng, phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Phật giáo đang
góp phần cùng với các tổ chức xã hội và nhân dân thực hiện ngày càng tốt hơn
những chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là các công tác nhân
đạo, hạn chế những tiêu cực trong xã hội hiện đại... thông qua vô số hoạt động tôn
vinh giá trị tốt đẹp của nền văn hóa truyền thống với đa dạng các hình thức giáo
dục, khơi dậy những giá trị quý giá lâu đời của văn hóa tâm linh đồng thời giáo
dục sự từ bi, hướng thiện của con người.
Về chính trị - xã hội Trong lịch sử, Phật giáo là tôn giáo của hòa bình, luôn thích
nghi và hòa hợp với từng hoàn cảnh của cư dân từng quốc gia, vùng miền để phát
triển. Trong thời kỳ hiện nay, Phật giáo đã thích ứng với truyền thống văn hóa, đời
sống tinh thần và tâm linh của người dân từng khu vực, từng tộc người. Giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự xã hội là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và của mọi
công dân không phân biệt sắc tộc, tôn giáo. Tuy nhiên, Phật giáo là tôn giáo ngay
từ xa xưa đã đồng hành cùng lịch sử phát triển của dân tộc, nên như một lẽ tự
nhiên, Phật giáo có mặt ở đâu thì vùng đó có sự thanh bình, người dân thấm nhuần
tinh thần yêu nước bởi lẽ vì đạo Phật luôn đề cao tinh thần phụng sự quốc gia dân
tộc. Mặc dù còn những hạn chế trong phương châm hành động và triết lý nhưng
Phật giáo đã có những đóng góp vô cùng thiết thực vào quá trình phát triển của xã
hội. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đất nước ta đang có những
bước tiến mạnh mẽ trong quá trình hội nhập và phát triển, để thúc đẩy sự tiến bộ
mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm phát huy, xây dựng các nguồn lực phục vụ cho quá trình phát
triển quốc gia. Trong số đó, có nhiều chính sách đúng đắn về Phật giáo, coi đây là
một trong những nhân tố quan trọng để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần giúp
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngày nay để tiếp tục phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết
tự giữ gìn, bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như
trước đây đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an”.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp
tục phát huy tác dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản
sắc văn hóa Việt Nam. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công
đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm
Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều
ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện
diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ
quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vị trí, vai
trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân tộc.
THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA CÁC NỀN VĂN MINH
1. Điều kiện tự nhiên
Ø là một khu vực tương đối bị đóng kínVị trí địa lý:
- Ai Cập ở vùng Đông Bắc châu Phi (Northeast Africa), nằm dọc theo vùng hạ lưu
của lưu vực sông Nile.
- Vị trí tiếp giáp: phía Bắc – Địa Trung Hải, phía Đông – Biển Đỏ, phía Tây – sa
mạc Xahara, phía Nam – Nubi (một vùng núi hiểm trở khó qua lại)
- Các mặt đều bị những biên giới thiên nhiên cách trở nên trong một thời gian
dài, Ai Cập cổ đại phát triển tương đối độc lập, ít có mối quan hệ với những khu
vực xung quanh. Chỉ có ở Đông Bắc, vùng kênh đào Xuye say này, người Ai Cập
có thể qua lại với vùng Tây Á.
Ø Vai trò của sông Nile
- Sông Nile: bắt nguồn từ vùng xích đạo châu Phi, dài 6.700 km, chảy xuyên qua
lãnh thổ Ai Cập tạo nên vùng thung lũng sông rộng lớn, chia Ai Cập làm 2 miền rõ
rệt theo dòng chảy từ Nam lên Bắc: Thượng Ai Cập – miền Nam (một dải lưu vực
hẹp), Hạ Ai Cập – miền Bắc (một đồng bằng hình tam giác)
- (nhà sử học Hi Lạp Herodotos): hàng “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nile”
năm, từ tháng 6 – 11, nước sông Nile dâng cao đem theo một lượng phù sa rất
phong phú, cung cấp nguồn nước tưới dồi dào và là nguồn thực phẩm vô tận cho
người dân,..
ð Tạo điều kiện cho nền kinh tế sớm phát triển => đưa Ai Cập bước vào nền văn
minh sớm nhất thế giới
Ø nhiều loại đá quý (đá vôi, đá bazan, đá hoa cương, đá Tài nguyên thiên nhiên:
mã não,...), kim loại (đồng, vàng), sắt phải đưa từ bên ngoài vào
Ø khí hậu sa mạc quanh năm khô nóng => lưu giữ lâu dài những thành Khí hậu:
tựu (các công trình kiến trúc cổ, bảo quản xác ướp,...)
2. Điều kiện kinh tế =>nền nông nghiệp thủy nông => là một hệ quả tất yếu
dưới tác động của các điều kiện tự nhiên
- Thời gian: xuất hiện từ rất sớm, cách nay khoảng 9000 năm (thiên niên kỉ thứ 7
TCN)
- Hình thức: ban đầu lối sản xuất khá đơn giản, về sau, ngày càng được cải tiến từ
công cụ lao động, kỹ thuật sản xuất,... Hình thái công cụ phong phú, trong đó chủ
yếu là công cụ đá. Cơ chế mùa vụ, xen canh, gối vụ,... bước đầu hình thành
- Thủy lợi: ngày càng trở nên cấp thiết => thúc đẩy các cư dân Ai Cập cổ đại phải
liên kết lại => tạo tiền đề hình thành Nhà nước. Ngoài ra, với nguồn nguyên liệu
dồi dào (nhất là đá) cũng thúc đẩy kinh tế thủ công nghiệp phát triển (rèn, dệt, chế
tác đá, làm giấy,...)
3. Điều kiện xã hội => cư dân: Cư dân chủ yếu của Ai Cập ngày nay là người
Ảrập, nhưng thời cổ đại, cư dân ở đây là người Libi, người da đen và có thể có cả
người Xêmit di cư từ châu Á tới. Dựa trên những điều kiện thuận lợi đó, nền văn
minh Ai Cập cổ đại đã hình thành, trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm và
đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ.
1) Ai Cập
Văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất trong lịch sử
nhân loại. Nằm bên bờ sông Nin hồng, nó đã đem lại những đóng góp vô cùng
quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. trên cơ sở….. (sách trang 13)
* Chữ viết :
Ai Cập một trong những dân tộc đầu tiên trên thế giới sáng tạo ra chữ viết. Chữ
viết là một hình thức hiệu đặc biệt ra đời nhằm ghi lại tiếng nói của con người,
lưu giữ những con người muốn biểu hiện, truyền đạt,…Chữ viết Ai Ccaapj cổ
Được phát hiện trên các bức phù điêu, tường vách của những lăng mộ, đền đài, đồ
gốm… qua các tài liệu viết bằng giấy Papyrus. Năm 1822, người đầu tiên trên
thế giới - nhà nghiên cứu người Anh Chăm-pô-liông đã giải thành công chữ
viết của người Ai Cập cổ đại.
Chữ viết của AI Cập cổ đại lúc đầu là một hình thức chữ viết đơnChữ tượng hình,
giản - sử dụng những hình vẽ ghi chép hình thù để miêu tả nội dung của từ. Hẳn ai
cũng đã từng thấy những hình vẽ con chim, thú, cây cối,… xuất hiện trong
những thước phim tư liệu về AC. Đó chính là chữ tượng hình. Chữ viết tượng hình
cổ Ai Cập tự nó là một hệ thống mật mã độc đáo. Những người Ai Cập cổ đại quan
niệm chữ viết “phép ma quỷ”. Quan điểm này được lưu truyền phát triển
theo thời gian bao trùm lên chữ tượng hình sắc màu thần về sự hiểu biết mật
sự thật nh hằng. Tuy nhiên, loại chữ này còn bộc l nhiều hạn chế, chỉ biểu
thị được những từ mang tính cụ thể, không biểu hiện được những từ mang tính trừu
tượng.
vậy Chữ tượng ý ra đời để giải quyết mặt khó khăn đó, dùng phương pháp
mượn ý, được phát triển từ chữ tượng hình - song đơn giản hóa, kết hợp nhiều hình
với nhau. dụ muốn viết chữ “khát” thì vẽ hình con đứng bên cạch chữ
“nước”. Chữ tượng ý cũng không thể biểu đạt hết những ý phức tạp, thiếu chính
xác, trong một số trường hợp có thể gây hiểu sai…
- Sự kết hợp giữa tượng ý ghi âm: tượng ý liên kết các hình vẽ, sử dụng hệ
thống biểu tượng để diễn đạt từ. Ghi âm sử dụng những hiệu đặc biệt ghi lại
cách phát âm từ của con người.
* Văn học
Văn học AI Cập Từ sớm đã đa dạng các thể loại Thể loại: tục ngữ, thơ ca trữ
tình, truyện ngụ ngôn, trào phúng, thần thoại,... Tác phẩm tiêu biểu: Truyện hai anh
em, Nói Thật Nói Láo, Nói chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe,
Sống sót sau vụ đắm thuyền,...
*Tôn Giáo :
Giống như các cư dân các quốc gia cổ đại khác, người AC trong thời kì này thờ rất
nhiều thần (đa thần)
Các thần tự nhiên:
Thiên thần thần Nut: một nữ thần được thể hiện qua hình ợng một
người dàn bà hoặc một con bò cái
Địa thần – thần Ghép: là một nam thân
Thủy thần, tức thần Sông Nile thần Odirix: vị thần giúp cho ruộng đồng
tươi tốt, bốn màu thay đổi, cây cối chết rồi sống lại
Thần không khí – thần Su: là sự kết hợp giữa thần Nut và thần Ghép
Thần Mặt Trời – thần Ra
Thờ người chết: họ quan niệm rằng trong mỗi con người đều một linh
hồn, con người không thể nhìn thấy. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể con
người hủy nát => nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ
nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại => tục ướp xác
Thờ nhiều loại động vật từ thú, gia súc đến côn trùng, đặc biệt
mộng Apix
Thờ các hình tượng tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư
*kiến trúc và điêu khắc
Kiến trúc Điêu khắc những thành tựu được đánh giá là to lớn, quan trọng bậc
nhất của người Ai Cập. Những tác phẩm kiến trúc điêu khắc đều chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi điều kiện tự nhiên, tôn giáo Ai Cập cổ đại, nhìn chung đều
quy mô to lớn, đồ sộ.
- : nhiều công trình kiến trúc đạt trình độ kỹ thuật cao, quyto lớn, đồKiến trúc
sộ, đặc biệt những kiến trúc về tôn giáo như đền thờ Canắc, đền thờ Loxo, kim
tự tháp Khêốp,…
- đối tượng chủ yếu được miêu tả tôn giáo, thần thánh, các vịĐiêu khắc:
Pharaoh,… là một bộ phận của kiến trúc và không tách rời kiến trúc. Có thể kể đến
những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của người Ai Cập cổ đại như tượng thư lại,
tượng nhân Xphanh, tượng hoàng hậu Nê-phéc-ti-ti, phù điêu trên các lăng mộ
cổ,…
=> 2 công trình vĩ đại nhất: Kim tự tháp; Tượng Xphanh (Nhân sư)
*KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Khoa học tự nhiên Ai Cập cổ đại nhiều thành tựu quan trọng ý nghĩa to
lớn đối với nền văn minh nhân loại, nhất là thiên văn và số học.
Cơ sở hình thành: Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ
quan sát. Mực nước lên xuống của sông Nile, có hai mùa nước dâng hạ. Nhu cầu
về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán thuế
khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu
trời để đưa ra lễ, luật cúng tế.
- : Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên Toán học
thực tế cuộc sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số
học, đại số và hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị
nước sông Nin làm ngập của sản xuất nông nghiệp đã là động lực thúc đẩy cho sự
ra đời phát triển của toán học. Tới thiên niên kỷ II TCN, đã phát triển thành

Preview text:

LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Trái đất là một hành tinh “kì diệu”. Lịch sử địa chất Trái Đất bắt đầu cách đây
4,567 tỷ năm. Nương theo chiều dài lịch sử đó cho đến nay, Trái Đất cũng có cho
riêng mình một tấm áo lụa dài vô giá, đó chính là lịch sử văn minh “trù phú” và
duy nhất trong hệ Mặt trời. Đã có rất nhiều nền văn minh ra đời theo chiều xoay
của bánh răng thời gian, có những nền văn minh cực kỳ hưng thịnh và phát triển,
cũng có những nền văn minh chỉ tồn tại một khoảng thời gian rất ngắn rồi suy tàn.
Con người tìm những “vết tích” của các nền văn minh đã từng đi qua bằng các
cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác -
Leenin, vận dụng phương pháp luận của trường phái sử học Maxsis-Leninist. Bốn
trong số phương pháp nghiên cứu ấy được chia thành 2 cặp: phương pháp lịch sử
và phương pháp logic, phương pháp nghiên cứu đồng đại và phương pháp nghiên cứu lịch đại.
Vậy phương pháp lịch sử và phương pháp logic là gì, tại sao chúng lại đi thành
từng cặp? Phương pháp lịch sử là phương pháp xem các hiện tượng, các sự vật qua
các giai đoạn lịch sử cụ thể (ra đời, phát triển, tiêu vong) với mọi tính chất cụ thể
của nó. “Phương thức lịch sử đi sâu vào cái muôn vẻ của lịch sử để tìm ra cái đặc
thù, cái cá biệt trong cái phổ biến. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn
nhưng không bao giờ lặp lại như cũ, phương pháp lịch sử để tìm ra cái khác trước,
cái riêng, cái đặc thù trong lịch sử”[1]. Về mặt ưu điểm của phương pháp này
chính là sự chính xác theo trình tự thời gian, sự phong phú và đa dạng, từ tất yếu
đến ngẫu nhiên, từ cụ thể đến sinh động, từ lớn đến nhỏ. Phương pháp này sẽ ghi
chép lại toàn bộ sự kiện lịch sử một cách chi tiết, cụ thể, theo trình tự thời gian một
cách chặt chẽ, có lớp lang trước sau, trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác
và là phương pháp ghi chép đầy đủ nhất. Nhược điểm của phương pháp này chính
là làm cho con người ta rối vì nó ghi lại tất cả từ sự kiện nhỏ đến sự kiện lớn mà
không có chọn lọc, rất mất thời gian mà lại lại không có tính thực tiễn quá cao.
Một số tác phẩm ghi bằng phương pháp này có: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam
thực lục,…Ngoài ra, vì chính là được con người ghi chép lại nên ít nhiều nội dung
cũng mang tính chủ quan, góc nhìn cá nhân và chọn lọc sự kiện của tác giả.
Phương pháp lịch sử cho phép chúng ta dựng lại bức tranh của các hiện tượng, các
sự kiện lịch sử đã xảy ra một cách khoa học. Vì thế, có thể nói rằng phương pháp
lịch sử mang những tính chất của phép biện chứng duy vật. Phương pháp lịch sử
là một phương pháp phù hợp khi chúng ta cần sử dụng để đi sâu, tái hiện lại
không khí lịch sử một cách chân thật, hiểu rõ được tâm lý tình cảm và cách nhìn

nhận về sự kiện của nhân dân thời bấy giờ. Ví dụ như quyển Đại Việt sử ký toàn
thư, bộ sử tập trung viết về hoạt động của triều đình, về vua, bộ máy quan lại do
các nho sĩ lúc bấy giờ biên soạn nên ta thấy được cách nhìn của họ có đôi phần
khác với cách nhìn hiện đại của chúng ta, điều đó là cái đặc trưng rất riêng của bộ
sử này. Vì cách nhìn chủ quan của người biên sử cũng sẽ một phần tác động đến
hiện tượng lịch sử.
Lenin đã viết “Lịch sử bao giờ cũng phong phú về nội dung,
cũng đa dạng về nhiều mặt, cũng sinh động hơn điều mà chúng ta hình dung được”.
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng trong hình thức tổng
quát nhằm vạch ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của
cái khách quan được nhận thức. Phương pháp này chỉ ghi lại những sự kiện lớn,
tiêu biểu và điển hình. Ghi chép một cách có chọn lọc, cho người đọc cái nhìn sâu
sắc về thời đại qua các sự kiện tiêu biểu, bản chất. của phương pháp logic Ưu điểm
là giúp người đọc có cái nhìn đúng đắn, logic và dễ dàng hiểu biết, ghi nhớ về sự
kiện đó vì chúng rất đặc trưng và tiêu biểu và mang tính thời đại. Ví dụ cuối năm
1974, đầu năm 1975, Bộ Chính trị TW Đảng đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn
toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Vì thế 17 giờ ngày 26/4, quân ta nổ
súng mở đầu chiến dịch. 11 giờ 30 phút ngày 30/4, lá cờ cách mạng tung bay trên
Dinh độc lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Như vậy
với cách ghi chép này, người đọc có thể hiểu rõ mà không bị rối bởi quá nhiều sự
kiện không quan trọng. Về nhược điểm của phương pháp logic chính là dễ đưa
đến các sai lầm như “bệnh đóng màu” và bệnh “giai thoại dật sử”, bệnh công thức,
giáo điều, hiện đại hóa lịch sử, chất đống tài liệu, kể chuyện giai thoại dật sử thay
cho nghiên cứu lịch sử,… “Bệnh đóng màu” và “giai thoại giật sử” là việc soi
mói, lấy những cái không cần thiết để đánh giá của một hiện tượng, không đúng
bản chất của hiện tượng lịch sử đó. “Bệnh công thức giáo điều” là nhìn lịch sử với
cái nhìn chủ quan, cứng nhắc, luôn cho rằng “ta đúng, địch sai”, nhìn nhận sự
việc một cách chủ quan, cảm tính, cần nhìn rõ vào mặt nào có đóng góp tiêu biểu
hơn. Chúng ta cũng từng đã có những sai lầm chứ không phải luôn đúng, ví dụ
như trong công cuộc cải cách ruộng đất 1956 – 1957, chúng ta đã đánh đồng tất
cả địa chủ đều phải “đả thực bài phong” dù không phải tất cả mọi nhà tư sản, mọi
địa chủ đều là phản động, trong số họ vẫn có rất nhiều nhà yêu nước, họ đã có
công rất lớn đối với Đảng và nhân dân. Và cuối cùng chúng ta đã nhận ra sai lầm
của mình, cố gắng khắc phục và sửa chữa. Một sai lầm khác rất dễ mắc phải là
hiện đại hóa lịch sử, đánh giá sai lầm về lịch sử vì nó không phù hợp với chuẩn
mực hiện đại. Trong trận chiến lịch sử của Nguyễn Tri Phương mang theo 12 ngàn

quân đánh đuổi giặc Pháp tại Gia Định nhưng lại thua quân Pháp với chỉ 1 ngàn
quân. Nếu nhìn với góc nhìn hiện đại thì nhiều người vẫn không hiểu được và
trách móc nhưng đặt đúng vào bối cảnh, vũ khí chiến tranh quá chênh lệch, gươm
đao không thể chống lại súng ống hiện đại được. Ngoài ra chúng ta còn cần phải

tránh việc chất đống lịch sử là sử dụng quá nhiều tài liệu mà không nhìn thấy
được sự phát triển, không cần bằng được giữa phương pháp lịch sử và phương
pháp logic, làm cho nó rối. Cần tránh phạm vào những sai lầm đó, không nên
dùng cách nhìn chủ quan, soi mói về những sự kiện, nhân vật lịch sử.

Như vậy, có thể thấy 2 phương pháp này có điểm giống nhau là đều liệt kê những
sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian. Mục tiêu chung hướng đến là làm sáng tỏ
quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử. Điểm khác biệt chính là phương
pháp lịch sử ghi lại tất cả sự kiện lớn nhỏ, mang tính liệt kê đơn thuần, còn phương
pháp logic chỉ ghi chép những sự kiện mang tính nổi trội, trọng điểm, bao quát
được toàn bộ giai đoạn lịch sử đó. Như vậy, hai phương pháp này có những điểm
giống nhau và khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như một thể
thống nhất, tác động lẫn nhau, bổ trợ cho nhau về mặt khuyết điểm của cái còn lại
nên chúng thường đi thành một cặp. Ph. Ăngghen đã viết: “Về bản chất, phương
pháp logic không phải là cái gì khác mà chính là phương pháp lịch sử đã được giải
thoát khỏi hình thức lịch sử, không bị phụ thuộc vào cái hoàn cảnh ngẫu nhiên, pha
trộn và phương pháp logic hoàn toàn không nhất định đóng khung trong phạm vi
trừu tượng thuần túy”. Trong phương pháp này có sự xâm nhập của phương pháp
kia nên trong việc nghiên cứu biên soạn lịch sử cần phải vận dụng đúng đắn tính
thống nhất và khác biệt giữa chúng như vây sẽ ngăn ngừa sự chủ quan, máy móc,
tránh lý luận suông không cần thiết, xử lý quan hệ quan điểm lịch sử và quan điểm
giai cấp trong nghiên cứu.
Cặp phương pháp tiếp theo là phương pháp nghiên cứu đồng đại và phương pháp
nghiên cứu lịch đại. Phương pháp nghiên cứu đồng đại (so sánh lịch sử theo không
gian hoặc so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường ngang”) là phương pháp
nghiên cứu, so sánh các sự kiện, hiện tượng lịch sử xảy ra trong cùng một giai
đoạn ở những không gian khác nhau, từ đó cho thấy sự giống và khác nhau giữa
chúng. Qua đó người nghiên cứu nắm bắt được cái riêng, cái chung, thấy được tính
đặc thù, phổ biến, hệ thống của sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử cụ thể. Cuộc
chiến tranh giữa quân Mỹ và phát xít Nhật vào 2/1945 tại đảo Iwo Jima là 1 trong
10 cuộc chiến khắc nghiệt nhất trong thế chiến thứ 2. Mỹ thả quả bom nguyên tử
đầu tiên vào thành phố Hiroshima vào 6/8/1945 khiến hàng chục ngàn người thiệt
mạng. Cùng lúc đó ở Việt Nam cũng xảy ra nạn đói khiến 2 triệu người Việt Nam
thiệt mạng. Như vậy giữa những không gian khác nhau xảy ra những sự kiện khác
nhau, đặc trưng riêng biệt nhưng lại có cái chung, theo một hệ thống liên hệ lẫn
nhau, không thể tách rời. Còn phương pháp nghiên cứu lịch đại là phương pháp so
sánh lịch sử theo thời gian hoặc so sánh lịch sử được tiến hành “theo đường
thẳng”. Phương pháp lịch đại có nguồn gốc từ nguyên lý của Chủ Nghĩa Mác Lê
Nin về sự phát triển, là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện
tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát
triển. Phương pháp lịch đại đòi hỏi người viết khi nghiên cứu biên soạn các sự
kiện, hiện tượng lịch sử cần phải xem xét, so sánh với các giai đoạn phát triển
trước kia của nó, đồng thời có thể dự báo khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng. Mỗi sự kiện, hiện tượng lích sử trong giai đoạn sau luôn mang trong mình
nó những đặc điểm và yếu tố của giai đoạn trước và ngược lại giai đoạn trước sẽ
tạo tiền đề, định hướng cho sự phát triển của giai đoạn sau. Phương pháp lịch đại
đem đến cái nhìn rõ rệt về sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch
sử. Ví dụ Việt Nam trước năm 1975, mọi định hướng kinh tế đều hướng đến sự chi
viện cho miền Nam, sau 1975 xây dựng đất nước nhưng gặp nhiều khó khăn, đến
năm 1990 bắt đầu giải quyết xong các vấn đề và mở rộng quan hệ quốc tế và có
khuynh hướng phát triển rất nhanh cho đến nay. Dự đoán nếu tốc độ tăng trưởng
giữ từ 6-7% trong vòng 15 – 20 năm thì vị thế của Việt Nam sẽ tương đương Hàn
Quốc hiện nay. Như vậy với phương pháp này ta thấy rất rõ phương hướng phát
triển của Việt Nam từ trước 1975 đến nay và có thể cho được sự dự đoán, hướng
phát triển tiếp theo của đất nước. Tuy nhiên, phương pháp lịch đại bị hạn chế trong
việc trong việc nghiên cứu các hiện tượng xảy ra xung quanh ta và có ưu thế trong
việc nhìn nhận những sự kiện, hiện tượng ở xa. Hai phương pháp nghiên cứu đồng
đại và nghiên cứu lịch đại đều mang cùng một tính chất là so sánh lịch sử, dùng sự
kiện lịch sử này để so sánh với sự kiện lịch sử khác. Cả hai đều có ưu điểm riêng.
Việc kết hợp 2 phương pháp này trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn chỉnh
bức tranh tổng thể của lịch sử văn minh thế giới.
Ngoài ra còn cần sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác trong nghiên cứu
lịch sử như phương pháp định lượng, phương pháp dân tộc học, phương pháp liên
ngành, phương pháp nghiên cứu so sánh,...
Câu 2: Khái niệm văn hóa, văm minh, nền văn minh? Phân tích, chứng minh, dẫn chứng
Văn hóa, văn minh và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
nghiên cứu và hiểu về sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể
hiện sự phát triển của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những
đặc trưng văn hóa đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc.
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
trong quá trình lịch sử. Như vậy tức là văn hóa xuất hiện gần như trùng với thời kì
Homoerectus (Người vượn) và song hành cùng với con người qua các thời kì lịch
sử kế tiếp. Văn hóa là dấu hiệu để phân biệt giữa con người và tự nhiên, vì nó chỉ
do con người sáng tạo ra. Văn hóa được hiểu theo nhiều nghĩa, xét theo nghĩa rộng,
văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Văn hóa là một hệ thống
giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy thông qua quá trình lao động
thực tiễn, các giá trị này được cộng đồng chấp nhận vận hành trong xã hội và
không ngừng truyền lại cho thế hệ sau, thể hiện trình độ phát triển và đặc tính của
mỗi dân tộc như: phong cách sống, trang phục truyền thống, ẩm thực,…Văn hóa
thông qua quá trình học tập và tiếp thu chứ không phải do bẩm sinh. Ví dụ như văn
hóa Cồng Chiêng – đại diện cho văn hóa Tây Nguyên được xem là ngôn ngữ giao
tiếp hàng đầu của con người với thần thánh và thế giới siêu nhiên. Hay văn hóa trà
đạo ở Nhật Bản, từ xưa người Nhật đã tin rằng qua cách thưởng trà có thể tìm thấy
được những giá trị tinh thần cần có ở bản thân của mỗi người. Văn hóa, văn minh
và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu và hiểu về
sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể hiện sự phát triển
của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những đặc trưng văn hóa
đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc.
Khi đưa ra định nghĩa về văn hóa, một thuật
ngữ mới cũng đồng thời xuất hiện, dó là văn minh. Vậy, văn minh là gì? Văn minh
là trạng thái phát triển cao, tiến bộ của văn hóa vật chất và tinh thần của xã hội loại
người. Trái với văn minh là dã man. Ví dụ: văn minh Ấn Độ, văn minh Lưỡng Hà ,
… Văn minh bao gồm văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Văn minh nảy sinh
trên cơ sở văn hóa, khi văn hóa đã có bước tiến bộ mới về chất. Văn minh xuất
hiện cùng với xã hội có giai cấp và nhà nước. Như vậy, văn hóa và văn minh đều
chỉ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch
sử, đồng thời cả hai đều mang tính nhân bản và mang tính lịch sử sâu sắc. Khác
nhau ở chỗ văn hóa có trước, văn minh có sau, văn hóa mang tính dân tộc, giai cấp
và vùng miền, văn minh mang tính quốc tế, siêu dân tộc và thiên về vật chất, kĩ
thuật, tổ chức xã hội (luật pháp, tổ chức nhà nước, định chế xã hội,…). Văn hóa có
thể phát triển và hưng thịnh, ngay cả khi nền văn minh không còn tồn tại. Ngược
lại, văn minh không thể phát triển và tồn tại nếu không có văn hóa. Văn hóa, văn
minh và nền văn minh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu và
hiểu về sự tiến bộ của nhân loại qua các giai đoạn lịch sử. Chúng thể hiện sự phát

triển của xã hội, gắn kết bởi những giá trị tinh thần sâu sắc và những đặc trưng
văn hóa đặc biệt của từng cộng đồng dân tộc.

Nền văn minh là trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và tinh thần của một cộng
đồng dân tộc nhất định trong tiến trình lịch sử, hay được hiểu như trình độ phát
triển cao của một kiểu xã hội, ở đó văn minh không chỉ mang lại sự tốt hơn cho cá
nhân mà còn là sự biến đổi về thái độ và giá trị ở một trình độ nhất định. Ví dụ: khi
nói đến nền văn minh phương Tây, ta nói về xã hội, văn hóa và cách sống của con
người phương Tây. Nền văn minh có thể hiểu như là văn hóa của một xã hội phức
tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội thống nhất. Các nền văn minh có
nền tảng văn hóa đa dạng, bao gồm văn học, hội họa, kiến trúc, tôn giáo, tín
ngưỡng,…được kết hợp hài hòa. Nền văn minh có bản năng mở rộng ra khu vực
khai sinh ban đầu, vươn xa và ảnh hưởng đến những vùng đất xa xôi khác. Mỗi
nền văn minh là một hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tác động lẫn
nhau, có thời gian tồn tại nhất định và có chủ nhân riêng. Nền văn minh Hy Lạp và
nền văn minh La Mã đều cùng tồn tại trong một thời gian và có ảnh hưởng lẫn
nhau rất nhiều nên ta gọi đó là nền văn minh Hy – La. Có rất nhiều nền văn minh ở
phương Đông bị ảnh hưởng bởi nền văn minh Trung Quốc như Việt Nam, Hàn
Quốc, Nhật Bản,… Một nền văn minh gồm 3 yếu tố: chức năng sản xuất ra của cải
vật chất, chức năng điều chỉnh, tổ chức và phát triển xã hội, chức năng tạo ra các
sản phẩm tinh thần. Diện mạo của nền văn minh nào được xác định bởi phương
thức sản xuất của thời đại văn minh ấy. K.Marx đã từng nói: “Khi thay đổi phương
thức sản xuất thì người ta thay đổi mọi quan hệ sản xuất của mình. Cái cối xay
bằng tay đưa lại cho người ta một xã hội có lãnh chúa đứng đầu, cái cối xay chạy
bằng hơi nước đưa lại cho người ta một xã hội có nhà tư bản công nghiệp”. Khi
sống ở một nơi mà mọi người xung quanh đều là nông dân sẽ có mối quan hệ tình
làng nghĩa xóm khác với những người làm việc ở các công ty. Khi phương thức sản
xuất thay đổi sẽ kéo theo lối sống, các mối quan hệ xã hội khác nhau. “Những thời
đại khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra thứ gì, mà ở chỗ chúng sản xuất
ra thứ ấy như thế nào”. Cùng là việc trồng cây lúa nước nhưng ở thời phong kiến
thì sử dụng sức lao động từ con người là chính, bằng những công cụ thô sơ như
cày, cuốc. Còn ở thời đại hiện nay, máy móc gần như thay thế hoàn toàn con người,
cuộc cách mạng công nghiệp đã đem đến một bước nhảy vọt hoàn toàn, giảm bớt
sự vất vả cho những người nông dân mà còn làm tăng sản lượng sản phẩm. Nền
văn minh luôn liên tục tiến bộ, các yếu tố khác nhau của nền văn minh như phương
tiện giao thông, thiết bị điện tử, công nghệ,… đang phát triển từng ngày.
Câu 2. Liên hệ thực tế (5,0 điểm) Có hay không mối liên hệ giữa văn hóa, văn
minh Việt Nam với các nền văn minh thế giới? Trình bày suy nghĩ của anh/chị
dựa vào vốn kiến thức xã hội của bản thân (kèm theo các dẫn chứng cụ thể).

Dân tộc Việt Nam ta đã xây dựng một nền văn hiến lâu đời gắn liền với bề dày lịch
sử đồ sộ. Trong quá trình đó, nền văn hóa, văn minh Việt Nam đã có sự hội nhập
và giao thoa với các nền văn minh thế giới. Tuy có mối liên hệ mật thiết với nhiều
nền văn minh khác nhau từ phương Đông đến phương Tây nhưng người Việt Nam
ta vẫn giữ được nét riêng biệt trong văn hóa, văn minh của đất nước mình.
Đầu tiên chúng ta phải kể đến nền nông nghiệp nhận ảnh hưởng từ nền văn minh
lúa nước Đông Nam Á. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, có những vùng đồng
bằng châu thổ màu mỡ như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long,
cùng với đó là yếu tố con người, nghề trồng lúa ở đất nước ta phát triển mạnh mẽ.
Tương tự với những quốc gia khác, từ nhu cầu lao động, người Việt ta cũng đã sử
dụng những công cụ bằng đồng, sắt…chẳng hạn như lưỡi cày đồng xuất hiện từ
khoảng 700 năm TCN thời Văn Lang.
Tiếp theo đó, chữ viết và văn học Việt Nam cũng có liên kết với các nền văn minh
khác, cụ thể là văn minh Trung Quốc. Dưới thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải
tiếp thu các văn hóa Trung Quốc, đặc biệt trong đó là chữ Hán. Đồng thời, ta cũng
học hỏi được nhiều về các thể thơ Đường Luật với những tác phẩm như “Qua Đèo
Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) hay “Buổi Chiều Đứng Ở Phủ Thiên Trường
Trông Ra” (Trần Nhân Tông). Tuy nhiên, nhân dân ta vẫn giữ được bản sắc riêng
của dân tộc mình, không lệ thuộc vào văn hóa Trung Quốc. Người Việt ta đã tạo ra
chữ Nôm và từ đó văn học Hán Nôm ngày càng phát triển. Ví dụ tiêu biểu là tác
phẩm “Đoạn Trường Tân Thanh” hay còn gọi là “Truyện Kiều” của đại thi hào
Nguyễn Du là đỉnh cao cho truyện thơ chữ Nôm. Trong lĩnh vực kiến trúc và điêu
khắc ở Việt Nam cũng có rất nhiều điểm tương quan với nền văn minh khác trên
thế giới. Chẳng hạn như thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã có tiếp nhận ảnh
hưởng từ nền kiến trúc Ấn Độ. Hay là những công trình kiến trúc mang văn hóa
phương Tây như nhà thờ Bác Trạch (Thái Bình) chịu ảnh hưởng từ phong cách
Châu Âu hay Nhà thờ lớn Hà Nội mang âm hưởng Gothic phương Tây.
Không dừng lại ở đó,về tôn giáo, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo
từ văn minh Ấn Độ. Phật giáo được du nhập vào nước ta từ rất sớm, khoảng vào
thế kỉ thứ nhất TCN. Có rất nhiều chùa lớn được xây dựng để phục vụ cho việc thờ
cúng như chùa Láng (Hà Nội). Bên cạnh đó, Kito giáo cũng đã thâm nhập vào Việt
Nam vào thế kỉ XVI. Những giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và người
Pháp đã đến nước ta để truyền đạo, họ cũng đã truyền bá chữ Quốc ngữ để thuận
tiện cho việc giảng và ghi chép kinh thánh.
Như vậy ta có thể thấy, không chỉ văn minh phương Đông mà ngay cả phương Tây
cũng có mối liên hệ với nền văn hóa, văn minh Việt Nam. Như vậy, ta có thể thấy
rằng nền văn hóa, văn minh Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc và mật thiết với các
nền văn minh khác trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp...Tuy tiếp thu thành
tựu từ nhiều nền văn minh khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn không để mất đi
nét 4 riêng trong văn hóa. Trong quá trình hội nhập và giao lưu, chúng ta vừa học
hỏi, tiếp thu nhưng vẫn luôn giữ gìn bản sắc dân tộc.
Câu 4: a. Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội tới sự phát triển của văn minh Ấn Độ
-Vị trí: Ấn Độ là một bán đảo nằm ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi
chắn ngang, trong đó dãy núi Hymalaya nổi tiếng.
-Địa hình: Ấn Độ chia làm hai miền Nam-Bắc. Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông
lớn là sông Ấn và sông Hằng
. Cả hai dòng sông này đã bồi đắp thành hai đồng
bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn
minh của đất nước này. Và cũng chính nhờ hai con sông này mà những điều kiện
kinh tế đầu tiên đã hình thành đưa AD sớm bước vào xã hội văn minh.
-Cư dân: AĐ gồm hai thành phần chính: Người Đravida chủ yếu cư trú ở miền
Nam, người Arya chủ yếu cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn nhiều tộc khác như
người Hy Lạp, người Hung Nô, Arập,..họ đồng hóa với nhau=> vấn đề bộ tộc ở
ÂĐ hết sức phức tạp.
Thời cổ trung đại, phạm vi địa lí của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bangladet và Nepan ngày nay.
b. Những thành tựu tiêu biểu của văn minh Ấn Độ
1. Chữ viết: Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền Bắc Ấn đã xuất hiện một
loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng 3000 con dấu có khắc
những kí hiệu đồ hoạ. Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ , Brami ngày nay
còn khoảng 30 bảng
đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, thế kỉ V TCN
ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở Ấn Độ và Đông Nam Á sau này. 2. Văn
họ c : Ấn Độ là nước có nèn văn học rất phát triển, gồm có 2 bộ phận chính
Vê đasử thi, tuy nhiên nổi bật hơn cả là sử thi với hai tác phẩm văn học nổi
bật thời cổ đại là MahabharataRamayana.
Mahabharata là bản trường ca gồm 220
000 câu thơ. Bản trường ca này nói về
một cuộc chiến tranh giữa các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là
một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó.
Ramayana là một bộ sử thi dài 48 000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng
hoàng tử Rama và công chúa Sita. Thiên tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân
gian một số nước Đông Na m Á. Riêmkê ở Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan
chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana.
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tâp ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều
tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu.
3. Nghệ thuật: Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh
hưởng tới nhiều nước Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục
vụ một tôn giáo nhất định
, do yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra
3 dòng nghệ thuật: Hinđu giáo, Phật giáo, Hồi giáo.
Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy chùa hang
Ajanta
ở miền trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới 29
gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên
vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và
được xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII - XI. Tiêu biểu cho các công trình
Hinđu giáo là cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa
những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây
dựng vào khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII.
4. Khoa học tự nhiên:
+) Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12
tháng, mỗi tháng có 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường có 360 ngày ). Cứ sau 5
năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận.
+) Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số
mà ngày nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không,
nhờ vậy mọi biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây
Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính
được căn bậc 2 và căn bậc 3
; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3
cạnh trong một tam giác,
tính được Pi = 3,1416.
+) Về vật lý: Người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỉ V TCN, có
một nhà thông thái ở Ấn Độ đã viết “...trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất
cả các vật về phía nó”. +) Y học: cũng
khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách
chắp ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để
lại hai quyển sách là “ Y học toát yếu” và “ Luận khảo về trị liệu”.
Câu 3: Phân tích quá trình hình thành và truyền bá Phật Giáo của Ấn Độ để
thấy rằng Phật Giáo từ tôn giáo địa phương thành tôn giáo thế giới

“Nếu ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi
chỗ này” là lời thề nổi tiếng của Thái tử Tất Đạt Đa – người sáng lập ra Phật
giáo. Thái tử sinh khoảng năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca
(Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na). Dù sống trong cuộc đời vương
giả nhưng Thái tử vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự
nên Thái tử đã quyết tâm xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và
phương pháp diệt trừ đau khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Sau nhiều năm
tìm thầy học đạo, Thái tử nhận ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều
không thể giải thoát cho con người hết khổ được. Sau 49 ngày đêm thiền định dưới
gốc cây Bồ đề, Thái tử đã đạt được Đạo vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh
giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển, đạo Phật du nhập vào trên 100 nước
trên thế giới, ở hầu khắp các châu lục nhưng luôn với trạng thái ôn hoà, chưa bao
giờ đi liền với chiến tranh xâm lược hay xảy ra các cuộc thánh chiến. Tính đến
năm 2008, đạo Phật có khoảng 350 triệu tín đồ và hàng trăm triệu người có tình
cảm, tín ngưỡng và có ảnh hưởng bởi văn hoá, đạo đức Phật giáo.

* Bối Cảnh: Vào giữa thiên niên kỷ I TCN, Ấn Độ xưa đã hình thành hàng loạt
các tiểu quốc. Các vương quốc có điều kiện tự nhiên khác nhau, kinh tế, xã hội,
chính trị phát triển không đều nhau, nên không thể tránh khỏi mâu thuẫn. Do đó,
các vương quốc luôn trong tình trạng bất ổn, cạnh tranh và xâm lược luôn lăm le.
Đến thế kỉ V TCN chỉ còn lại 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis.
Xã hội Ấn Độ vào thế kỉ VI Tr.CN là một xã hội đầy sự bất bình đẳng, nền chính
trị của Ấn Độ lúc bấy giờ chỉ tập trung vào bảo vệ quyền lợi cho giai cấp quý tộc
và tăng lữ, họ đối xử bất công, bóc lột nặng nề các tầng lớp dưới. Các tầng lớp
dưới không có bất kỳ quyền lợi nào, không có đất đai để cày cấy, không có đủ tư
liệu để sản xuất, đói, kém triền miên. Thêm vào đó, hầu hết các cư dân Ấn Độ đều
theo đạo Hinđu giáo - một đạo rất bất bình đẳng. Đạo này chia con người làm 4
đẳng cấp
: Tăng-lữ thuộc giai cấp Bà-La-Môn (Brahman), vua chúa thuộc giai cấp
Sát-Ðế-Lỵ (Ksatriya), bình dân thuộc giai cấp Phệ-Xá (Vaisya), Tiện dân thuộc giai
cấp Thủ-Ðà-La (Sùdra).. Những đẳng cấp này có sự phân biệt về địa vị xã hội rất
khắt khe, luôn phân biệt rõ và có cái nhìn hết sức khinh bỉ đối với những người ở
đẳng cấp dưới, người ở đẳng cấp dưới luôn phải làm những công việc bị coi là dơ
bẩn và không được tiếp xúc cũng như kết hôn với tầng lớp trên. Xã hội Ấn Độ
cũng là một nhà nước chuyên chế mang mẫu số chung như những nước Phương
Đông khác vua nắm mọi quyền hành, và ở đây vua không chỉ nắm trong tay vương
quyền mà còn cả thần quyền nữa. Như vậy từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và
tôn giáo của Ấn Độ luôn bị đặt trong một sự bất bình đẳng, phân biệt nặng nề.
Tầng lớp chiếm đông đảo nhất và khổ cực nhất nhưng lại không có được sự quan
tâm, không có được sự bảo vệ quyền lợi cho chính họ. Từ đó, từ trong chính tầng
lớp đó hình thành nên luồng tư tưởng mới, một vị thần sẽ đại diện cho họ, là niềm
tin để họ dựa vào. Đạo Phật đã ra đời như thế, sự ra đời của Phật Giáo chính là
để giải quyết những mâu thuẫn, bất công ấy. Vì vậy, Phật Giáo là tôn giáo địa phương.
Tư tưởng
Nội dung học thuyết của Đạo Phật là lí giải về nỗi đau và giải thoát cho những con
người khốn khổ, chính là sự cứu vớt. Hai câu nói của Đức Phật đã chứng minh
điều ấy “Trước đây và ngày nay ta chỉ lí giải và nêu ra các chân lý về nỗi đau khổ
và sự giải thoát khỏi các nỗi đau khổ”. “Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là
mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt”.
-Thế giới quan: xem trong tập (1)
-Một trong những giáo lý quan trong nhất của Phật Giáo là Tứ diệu đế (bốn
nghĩa lí siêu cao) bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.
Khổ đế: là chân lý về các nỗi khổ ở đời. Mọi dạng tồn tại đều mang tính
chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, cầu bất đắt,
ái biệt ly, chấp ngũ uẩn,… đều là khổ. Tập đế: là chân lý về sự phát sinh của
khổ, nguyên nhân của khổ là từ luân hồi. Luân hồi do nghiệp báo phát sinh
từ ham muốn, thỏa mãn của con người, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn
được hoại diệt,… Khi còn ham muốn là còn nghiệp báo và luân hồi, đau khổ
sẽ còn tồn tại mãi mãi. Đây là luận đề mang tính chất lý luận, chứa đựng
hầu hết những luận thuyết cơ bản của Đức Phật. Nỗi khổ của con người do

10 nguyên nhân: tham, sân, si, mạn, nghi, kiến,… Diệt đế: là chân lý diệt trừ
khổ đau. Một khi gốc của mọi tham ái đều được tận diệt thì sự khổ cũng
được tận diệt. Muốn chấm dứt luân hồi sinh tử thì phải chấm dứt nghiệp, trừ
bỏ hết mọi ham muốn. Chế ngự bản năng của con người, từ bỏ 10 nguyên
nhân nỗi khổ, Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng, tránh vòng luân hồi,
tránh nghiệp nhân quả. Đạo đế: là chân lý về con đường dẫn đế diệt khổ.
Con đường đó gồm Bát chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ,
Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tịnh tiến, Chính niệm, Chính định. Vậy
Bát chính đạo tức là suy nghĩa, nói năng và hành động đúng đắn.
-Một giáo lí quan trọng khác chính là Thập nhị nhân duyên tạo nên đời người.
Đó là Vô minh (mê hoặc, hiểu sai), hành (hành động tạo nghiệp), thức
(chuyển qua mẹ để chuẩn bị kiếp mới), danh săsc (là toàn bộ tâm lý và vật lý
của bào thái mới), lục nhập (danh nhập thành tâm, sắc nhập vào ngũ căn),
xúc (6 căn xúc tiếp xúc với cõi trần), thụ (bồi đắp các thói trần gian), ái
(tham ái, lòng ham muốn), thủ (tìm kiếm, chiếm lấy cho mình), hữu (chiếm
hữu, sinh nghiệp đạo), sanh (sanh báo, mở ra cái thân ở kiếp sau), lão tử
(giả chết – sanh phải qua tử).
Mười hai nhân duyên đó là vô minh duyên ra
hành, hành duyên ra thức, thức duyên ra danh sắc, danh sắc ra lục nhập, lục
nhập duyên ra xúc, xúc duyên ra thọ, thọ duyên ra ái, ái duyên ra thủ, thủ ra
hữu, hữu duyên ra sinh, sinh duyên ra lão tử.
Sau khi Phật tịch, đạo Phật nhanh chóng truyền bá khắp miền Bắc Ấn Độ.
Nhóm các đệ tử của ngài đã hồi tưởng lại những gì Phật dạy để viết thành
Kinh sách vì khi còn tại thế, Đức Phật chỉ đi thuyết pháp để giảng, truyền
dạy mà không dựa vào Kinh sách nào cả. Và để làm điều đó, đã có 4 lần
triệu tập các cuộc đại hội
. Ba cuộc triệu tập đầu tiên diễn ra vào thế kỷ V-
III TCN tại Magađa, quốc gia lớn nhất Ấn Độ lúc bấy giờ. Ba lần đại hội đầu
tiên đều diễn ra suông sẻ, các đệ tử hồi tưởng và ghi lại như những gì Phật
đã thuyết giáo. Sau đại hội lần III, đạo Phật nhanh chóng được truyền bá
rộng rãi, vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ đến với Đông Á, Đông Nam Á,
Nam Á, thậm chí là cả Châu Âu và Châu Mỹ. Nhưng đến lần triệu tập thứ
IV tại Cusan, năm 100 sau CN, lại bắt đầu có sự phân liệt. sau khi chép
thành Kinh sách thì mọi người có sự tranh cãi về giáo lý, giáo hội và cách
thức truyền giáo của Phật giáo. Khi càng muốn thống nhất thì đai hội
càng chia rẽ.
Các tín đồ ở miền Nam thì muốn giữ nguyên tất cả những gì
mà Đức Phật đã truyền lại, còn các giáo phái miền Bắc cho rằng nó không
còn phù hợp với hiện tại, cần phải thay đổi để phù hợp hơn. Ví dụ như theo
Phật giáo lúc bấy giờ thì không cho phép người nữ tu hành nhưng chủ
trương của Phật lại là “tất cả mọi người đều bình đẳng”, vì thế nên các giáo
phái miền Bắc muốn sửa đổi nó. Và những điều như con người cũng có thể
trở thành Phật và cả những người theo đạo Phật ở nước ngoài cũng có thể trở
thành Phật. Vì có sự tranh cãi đó đã hình thành nên 2 phái: Đại thừa và Tiểu
thừa. Phái Đại thừa thông qua giáo lí của Phật cải cách, phái Tiểu thừa theo Phật giáo cũ.
Điểm giống nhau: cùng mục đích tôn chỉ Điểm khác nhau biểu hiện ở các
mặt: + Phái Đại thừa mặc áo nâu, tự lao động kiếm sống, họ cho rằng
không chỉ những người đi tu hành mà những người trần tục quy y theo Phật
cũng được cứu vớt. Phái Đại thừa coi Phật Thích Ca là vị thần cao nhất của
Đạo Phật. Bên cạnh Phật Thích Ca còn có các vị thần khác như Adi đà, Di
lặc, và các Quan Âm Bồ Tát... Phái Đại thừa coi trọng các nhà sư, coi họ là
kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát. Hơn nữa phái Đại thừa cho rằng ai
cũng có thể thành Phật và cũng đã có nhiều người trở thành Phật: Văn Thù,
Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng,…Tuy họ đã thành Phật nhưng vẫn tự
nguyện ở lại cõi trần gian để cứu độ chúng sinh. Phái Đại thừa quan niệm
Niết Bàn là thiên đường của Phật giáo, ngoài ra họ còn tạo ra Địa Ngục để
đày đọa những kẻ mang tội lỗi. + Phái Tiểu thừa mặc áo vàng, đi khất thực,
cho rằng chỉ những người đi tu hành mới có thể được cứu vớt. Họ cho rằng
chỉ có Phật Thích Ca là Phật duy nhất, con người không thể nào trở thành
Phật được. Phật Thích Ca đã đạt được cảnh giới Niết Bàn chính là đã hoàn
toàn thông suốt, không bị vướng vào trần tục, khổ đau của nhân gian nữa
vào năm ngài 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục cứu độ chúng sinh thêm 45 năm nữa.

Truyền bá của Phật giáo ra bên ngoài.
Phật giáo ra đời để bảo vệ sự bình đẳng cho con người Ấn Độ đương thời
nên được gọi là một tôn giáo địa phương. Nhưng Từ nửa sau thế kỉ thứ III
TCN, tức Sau đại hội lần III, đạo Phật nhanh chóng được truyền bá rộng rãi,
vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ đến với Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, thậm
chí là cả Châu Âu và Châu Mỹ,… và trở thành tôn giáo thế giới. Cũng sau
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV, quá trình truyền bá Phật giáo qua nước
ngoài ngày càng phát triển, tín đồ ngày một nhiều. Vì sao Phật Giáo lại có
sức hút và thu hút được nhiều tín đồ như thế? Vì khác với đạo Hinđu, Phật
Giáo không có sự bất bình đẳng đối với những đẳng cấp dưới, những người
nghèo khổ, ở đạo giáo này họ cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc. Và trong
một xã hội, bao giờ giai cấp nghèo khổ cũng chiếm phần lớn vì vậy nên số
lượng tín đồ tăng rất nhanh. . Một thế kỷ sau, sau cái chết của vua Asoka,
đạo Phật ở Ấn Độ càng dần suy yếu nhưng lại vô cùng thịnh vượng ở Châu
Á và trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia khác như Srilanca, Mianma,
Thailan, Campuchia và Lào. Ngày nay Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong
việc giữ gìn hòa bình, nếp sống tốt đẹp, nhân ái, thương yêu của nhân loại,
tổng số tín đồ Phật Giáo trên thế giới ước tính chiếm 7,1% dân số thế giới.
Tại Việt Nam ước tính có hơn 14 triệu tín đồ Phật Giáo chiếm 16,4% dân số.
Ngày Tam hợp của đức Phật (Phật đản sinh, thành đạo, nhập diệt) đã được
Liên hợp quốc công nhận là ngày lễ tôn giáo mang tính quốc tế.
Liên hệ Việt Nam : tệp 1
VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Đạo Phật truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời
kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân
dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự
nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo... Nguồn gốc đạo Phật
Dạo Phật là một trong những tôn giáo lớn của thế giới, được ra đời vào khoảng thế
kỷ VI trước công nguyên, ở vùng phía Tây Bắc Ấn do thái tử Tất Đạt Đa sáng lập,
hiệu là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).
Đạo Phật ra đời trong hoàn cảnh rối ren của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Thế kỷ VI trước
Công nguyên, lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Sự phân
chia đẳng cấp ngặt nghèo sâu sắc. Thời kỳ này xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng
cấp cách biệt nhau…. Đẳng cấp Bà la môn (địa vị cao nhất); đẳng cấp Sát đế lỵ
(dòng họ vua quan, quý tộc); đẳng cấp Vệ xá (gần những người giàu có, buôn bán
thủ công), đẳng cấp Thủ đà la (nô lệ). Ngoài ra còn có một tầng lớp người thuộc
hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh rẻ. Trước khi có sự ra đời
của đạo Phật, mâu thuẫn giữa các đẳng cấp trên hết sức gay gắt được thể hiện trong
những cuộc đấu tranh mang tính chất toàn xã hội….
(phần BỐI CẢNH CỦA PHẬT GIÁO ) NÓI NGẮN GỌN 1-2-3C
PHẦN TƯ TƯỞNG NÓI NGẮN GỌN 1-2-3C
ĐẠO PHẬT DU NHẬP VÀO VIỆT NAM

Với những đặc điểm đó, cùng với giáo lý của mình đạo Phật đã tìm được chỗ đứng
của mình trong lòng xã hội Việt Nam.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai con
đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ. Đường
bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng tiếp
nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ. Như vậy Phật giáo Việt Nam mang cả
sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Lấy một ví dụ cụ thể: Ở Thăng Long đời Lý, Hoàng Thành Thăng Long mở 4 cửa,
nếu ở phía cửa Bắc thờ thánh Trấn Vũ – Trấn Vũ là một vị thần linh Trung Hoa
được hội nhập vào đất Việt thì ở cửa Đông lại thờ thần Bạch Mã là ảnh
hưởng của Ấn Độ, và cửa Tây Long thành được mang tên “Quảng Phúc Môn”, mở
ra phía Tây để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của đức Phật ở Tây Thiên.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường chiếm lược,
không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn
bán. Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình
đẳng, bắc ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận.
Vai trò của Phật giáo đối với đạo đức: Vào thời xa xưa, Phật giáo trong thời Lý,
thời Trần ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tu dưỡng đạo đức của nhiều tầng lớp trong
xã hội, từ vua quan cho tới nhân dân. Các vua quan luôn có ý thức trau dồi đạo
đức. Nhiều người chọn sống đời đạo hạnh, yêu nước, thương dân sâu sắc, thể hiện
đạo hiếu sinh và triết lý từ bi của nhà Phật. Phật giáo coi thiền định như một
phương pháp tu luyện giúp làm con người vượt qua những nỗi tức giận, những
trạng thái tinh thần bất an để đạt đến sự thanh thản, an nhiên. Không chỉ có vậy,
Phật giáo khuyên răn con người tu nhân tích đức, hướng tới cái thiện, tránh xa điều
ác... Với những tư tưởng hết sức sâu sắc, Phật giáo đã phần nào đáp ứng nhu cầu
về tâm linh của người dân Việt và bổ sung những giá trị đạo đức mới, phù hợp với
tâm lý nhân dân, đồng thời làm phong phú thêm giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Nhiều người dân không am hiểu tường tận các triết lý cao siêu
của Phật giáo nhưng họ vẫn tự coi mình là tín đồ nhà Phật. Mỗi năm, cứ đến tuần
rằm, mồng một, họ lại ăn chay, niệm Phật xám hối, đến chùa cầu bình an cho
người thân. Người Việt tìm đến với Đạo Phật không chỉ vì nhu cầu tâm linh mà
còn vì vô vàn triết lý đạo đức xã hội được ẩn chứa trong giáo lý: tư tưởng nhân
đạo, tinh thần bác ái, cứu khổ cứu nạn,.... Giáo lý từ bi của nhà Phật kết hợp với
tinh thần yêu nước, lòng trắc ẩn, nhân ái, lá lành đùm lá rách đã góp phần tạo dựng
nên một giá trị đạo đức, một phong cách sống quan trọng trong đời sống nhân dân
ta. Phật giáo giúp con người tin vào nghiệp báo luân hồi để từ đó tự giác hướng
thiện. Những tư tưởng Phật giáo đều có giá trị giáo dục đạo đức rất lớn. Đây là
điều mà bất kì xã hội nào cũng hướng tới. Tình thương và lòng nhân ái sẽ giúp ta
từ bỏ dần sự vị kỷ, thói tham lam, sân si, đó chính là cội rễ nảy sinh mọi xung đột,
bất hòa, khổ đau trên thế giới. Ngày nay, Phật giáo đã và đang hướng con người
biết sống tự lập, làm chủ cuộc sống của mình, điều vô cùng cần thiết trong xã hội.
Không chỉ có vậy, Đạo Phật còn đề cao trí tuệ và khuyến khích ý chí phấn đấu
vươn lên của mỗi con người. Những giá trị đạo đức phát khởi từ tinh thần đại bi đó
đã tác dụng tích cực và làm đẹp đẽ hơn đời sống đạo đức, đời sống văn hóa tinh
thần của con người Việt Nam.
Về đời sống văn hóa: Qua hơn hai nghìn năm lịch sử, Phật giáo đã trở thành một
thành tố không thể chia cắt trong đời sống văn hóa - xã hội của người dân nước
Việt Nam: Một là, đề cao giá trị con người, hướng thiện, xây dựng xã hội thanh
bình. Phật giáo Việt Nam luôn khẳng định vị trí tối cao của con người cũng như
khả năng tư duy độc lập của mỗi chúng ta, nhằm dạy mỗi người biết lựa chọn sống
đúng lẽ phải, phân biệt giữa thiện và ác, biết cần phải làm gì trong cuộc sống vốn
luôn đầy sóng gió, thử thách và góp phần dựng xây một xã hội thanh bình. Hai là,
duy trì, phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, hòa đồng với cộng đồng. Thông
qua những hoạt động xã hội, Phật giáo Việt Nam cho thấy tinh thần nhân văn,
hướng thiện, tăng cường kết nối tình đoàn kết giữa Đạo với Đời, giữa các tầng lớp
nhân dân, góp phần khuyến khích người Việt phát huy tinh thần cộng đồng và tình
đoàn kết tập thể đúng như truyền thống văn hóa dân tộc ta. Ba là, chung tay xây
dựng, phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Phật giáo đang
góp phần cùng với các tổ chức xã hội và nhân dân thực hiện ngày càng tốt hơn
những chủ trương, quyết sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là các công tác nhân
đạo, hạn chế những tiêu cực trong xã hội hiện đại... thông qua vô số hoạt động tôn
vinh giá trị tốt đẹp của nền văn hóa truyền thống với đa dạng các hình thức giáo
dục, khơi dậy những giá trị quý giá lâu đời của văn hóa tâm linh đồng thời giáo
dục sự từ bi, hướng thiện của con người.
Về chính trị - xã hội Trong lịch sử, Phật giáo là tôn giáo của hòa bình, luôn thích
nghi và hòa hợp với từng hoàn cảnh của cư dân từng quốc gia, vùng miền để phát
triển. Trong thời kỳ hiện nay, Phật giáo đã thích ứng với truyền thống văn hóa, đời
sống tinh thần và tâm linh của người dân từng khu vực, từng tộc người. Giữ gìn an
ninh chính trị, trật tự xã hội là trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và của mọi
công dân không phân biệt sắc tộc, tôn giáo. Tuy nhiên, Phật giáo là tôn giáo ngay
từ xa xưa đã đồng hành cùng lịch sử phát triển của dân tộc, nên như một lẽ tự
nhiên, Phật giáo có mặt ở đâu thì vùng đó có sự thanh bình, người dân thấm nhuần
tinh thần yêu nước bởi lẽ vì đạo Phật luôn đề cao tinh thần phụng sự quốc gia dân
tộc. Mặc dù còn những hạn chế trong phương châm hành động và triết lý nhưng
Phật giáo đã có những đóng góp vô cùng thiết thực vào quá trình phát triển của xã
hội. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đất nước ta đang có những
bước tiến mạnh mẽ trong quá trình hội nhập và phát triển, để thúc đẩy sự tiến bộ
mạnh mẽ trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách nhằm phát huy, xây dựng các nguồn lực phục vụ cho quá trình phát
triển quốc gia. Trong số đó, có nhiều chính sách đúng đắn về Phật giáo, coi đây là
một trong những nhân tố quan trọng để giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần giúp
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngày nay để tiếp tục phát huy những giá trị tích cực của mình, Phật giáo phải biết
tự giữ gìn, bồi đắp và đổi mới cho phù hợp với thời đại nhằm góp phần thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” như
trước đây đã từng đóng góp cho “quốc thái dân an”.
Trong điều kiện xã hội hiện nay, những di sản văn hóa của Phật giáo đang tiếp
tục phát huy tác dụng, tạo nên sắc thái dân tộc, góp phần làm phong phú bản
sắc văn hóa Việt Nam. Gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân đã quyên góp, công
đức tiền của để khôi phục, tôn tạo chùa chiền, xây cất tịnh xá, niệm
Phật đường, đúc chuông, đắp tượng, dựng tháp… Ngoài ý nghĩa tâm linh, nhiều
ngôi chùa đã trở thành những danh thắng nổi tiếng để du khách đến chiêm ngưỡng.
Những giá trị văn hóa Phật giáo không chỉ tồn tại trong tư tưởng, mà còn đang hiện
diện thông qua sự nỗ lực của hàng triệu tín đồ nhằm vươn tới một lẽ sống vì Tổ
quốc giàu mạnh, nhân sinh hạnh phúc. Điều đó càng khẳng định được vị trí, vai
trò của Phật giáo trong suốt quá trình đồng hành cùng dân tộc.
THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA CÁC NỀN VĂN MINH
1. Điều kiện tự nhiên
Ø Vị trí địa lý:là một khu vực tương đối bị đóng kín
- Ai Cập ở vùng Đông Bắc châu Phi (Northeast Africa), nằm dọc theo vùng hạ lưu của lưu vực sông Nile.
- Vị trí tiếp giáp: phía Bắc – Địa Trung Hải, phía Đông – Biển Đỏ, phía Tây – sa
mạc Xahara, phía Nam – Nubi (một vùng núi hiểm trở khó qua lại)
- Các mặt đều bị những biên giới thiên nhiên cách trở nên trong một thời gian
dài, Ai Cập cổ đại phát triển tương đối độc lập, ít có mối quan hệ với những khu
vực xung quanh. Chỉ có ở Đông Bắc, vùng kênh đào Xuye say này, người Ai Cập
có thể qua lại với vùng Tây Á.
Ø Vai trò của sông Nile
- Sông Nile: bắt nguồn từ vùng xích đạo châu Phi, dài 6.700 km, chảy xuyên qua
lãnh thổ Ai Cập tạo nên vùng thung lũng sông rộng lớn, chia Ai Cập làm 2 miền rõ
rệt theo dòng chảy từ Nam lên Bắc: Thượng Ai Cập – miền Nam (một dải lưu vực
hẹp), Hạ Ai Cập – miền Bắc (một đồng bằng hình tam giác)
- “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nile” (nhà sử học Hi Lạp Herodotos): hàng
năm, từ tháng 6 – 11, nước sông Nile dâng cao đem theo một lượng phù sa rất
phong phú, cung cấp nguồn nước tưới dồi dào và là nguồn thực phẩm vô tận cho
người dân,..
ð Tạo điều kiện cho nền kinh tế sớm phát triển => đưa Ai Cập bước vào nền văn minh sớm nhất thế giới
Ø Tài nguyên thiên nhiên: nhiều loại đá quý (đá vôi, đá bazan, đá hoa cương, đá
mã não,...), kim loại (đồng, vàng), sắt phải đưa từ bên ngoài vào
Ø Khí hậu: khí hậu sa mạc quanh năm khô nóng => lưu giữ lâu dài những thành
tựu (các công trình kiến trúc cổ, bảo quản xác ướp,...)
2. Điều kiện kinh tế =>nền nông nghiệp thủy nông => là một hệ quả tất yếu
dưới tác động của các điều kiện tự nhiên
- Thời gian: xuất hiện từ rất sớm, cách nay khoảng 9000 năm (thiên niên kỉ thứ 7 TCN)
- Hình thức: ban đầu lối sản xuất khá đơn giản, về sau, ngày càng được cải tiến từ
công cụ lao động, kỹ thuật sản xuất,... Hình thái công cụ phong phú, trong đó chủ
yếu là công cụ đá. Cơ chế mùa vụ, xen canh, gối vụ,... bước đầu hình thành
- Thủy lợi: ngày càng trở nên cấp thiết => thúc đẩy các cư dân Ai Cập cổ đại phải
liên kết lại => tạo tiền đề hình thành Nhà nước. Ngoài ra, với nguồn nguyên liệu
dồi dào (nhất là đá) cũng thúc đẩy kinh tế thủ công nghiệp phát triển (rèn, dệt, chế tác đá, làm giấy,...)
3. Điều kiện xã hội => cư dân: Cư dân chủ yếu của Ai Cập ngày nay là người
Ảrập, nhưng thời cổ đại, cư dân ở đây là người Libi, người da đen và có thể có cả
người Xêmit di cư từ châu Á tới. Dựa trên những điều kiện thuận lợi đó, nền văn
minh Ai Cập cổ đại đã hình thành, trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm và
đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ.
1) Ai Cập
Văn minh Ai Cập cổ đại là một trong những nền văn minh vĩ đại nhất trong lịch sử
nhân loại. Nằm bên bờ sông Nin hồng, nó đã đem lại những đóng góp vô cùng
quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. trên cơ sở….. (sách trang 13) * Chữ viết :
Ai Cập là một trong những dân tộc đầu tiên trên thế giới sáng tạo ra chữ viết. Chữ
viết là một hình thức ký hiệu đặc biệt ra đời nhằm ghi lại tiếng nói của con người,
lưu giữ những gì con người muốn biểu hiện, truyền đạt,…Chữ viết Ai Ccaapj cổ
Được phát hiện trên các bức phù điêu, tường vách của những lăng mộ, đền đài, đồ
gốm… và qua các tài liệu viết bằng giấy Papyrus. Năm 1822, người đầu tiên trên
thế giới - nhà nghiên cứu người Anh Chăm-pô-liông đã giải mã thành công chữ
viết của người Ai Cập cổ đại.
Chữ viết của AI Cập cổ đại lúc đầu là Chữ tượng hình, một hình thức chữ viết đơn
giản - sử dụng những hình vẽ ghi chép hình thù để miêu tả nội dung của từ. Hẳn ai
cũng đã từng thấy những hình vẽ con chim, dã thú, cây cối,… xuất hiện trong
những thước phim tư liệu về AC. Đó chính là chữ tượng hình. Chữ viết tượng hình
cổ Ai Cập tự nó là một hệ thống mật mã độc đáo. Những người Ai Cập cổ đại quan
niệm chữ viết có “phép ma quỷ”. Quan điểm này được lưu truyền và phát triển
theo thời gian bao trùm lên chữ tượng hình sắc màu thần bí về sự hiểu biết bí mật
và sự thật vĩnh hằng. Tuy nhiên, loại chữ này còn bộc lộ nhiều hạn chế, chỉ biểu
thị được những từ mang tính cụ thể, không biểu hiện được những từ mang tính trừu tượng.
Vì vậy Chữ tượng ý ra đời là để giải quyết mặt khó khăn đó, dùng phương pháp
mượn ý,
được phát triển từ chữ tượng hình - song đơn giản hóa, kết hợp nhiều hình
với nhau. Ví dụ muốn viết chữ “khát” thì vẽ hình con bò đứng bên cạch chữ
“nước”. Chữ tượng ý cũng không thể biểu đạt hết những ý phức tạp, thiếu chính
xác, trong một số trường hợp có thể gây hiểu sai…
- Sự kết hợp giữa tượng ý và ghi âm: tượng ý liên kết các hình vẽ, sử dụng hệ
thống biểu tượng để diễn đạt từ. Ghi âm sử dụng những ký hiệu đặc biệt ghi lại
cách phát âm từ của con người. * Văn học
Văn học AI Cập Từ sớm đã có đa dạng các thể loại Thể loại: tục ngữ, thơ ca trữ
tình, truyện ngụ ngôn, trào phúng, thần thoại,... Tác phẩm tiêu biểu: Truyện hai anh
em, Nói Thật và Nói Láo, Nói chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe,
Sống sót sau vụ đắm thuyền,... *Tôn Giáo :
Giống như các cư dân các quốc gia cổ đại khác, người AC trong thời kì này thờ rất nhiều thần (đa thần)
Các thần tự nhiên:
Thiên thần – thần Nut: là một nữ thần được thể hiện qua hình tượng một
người dàn bà hoặc một con bò cái
Địa thần – thần Ghép: là một nam thân
Thủy thần, tức thần Sông Nile – thần Odirix: vị thần giúp cho ruộng đồng
tươi tốt, bốn màu thay đổi, cây cối chết rồi sống lại
Thần không khí – thần Su: là sự kết hợp giữa thần Nut và thần Ghép
Thần Mặt Trời – thần Ra
Thờ người chết: họ quan niệm rằng trong mỗi con người đều có một linh
hồn, con người không thể nhìn thấy. Linh hồn tồn tại đến khi thi thể con
người hủy nát => nếu thi thể được bảo tồn thì linh hồn một lúc nào đó sẽ
nhập vào thể xác và con người sẽ sống lại => tục ướp xác
Thờ nhiều loại động vật từ dã thú, gia súc đến côn trùng, đặc biệt là bò mộng Apix
Thờ các hình tượng tưởng tượng như phượng hoàng, nhân sư
*kiến trúc và điêu khắc
Kiến trúc và Điêu khắc là những thành tựu được đánh giá là to lớn, quan trọng bậc
nhất của người Ai Cập. Những tác phẩm kiến trúc và điêu khắc đều chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi điều kiện tự nhiên, tôn giáo Ai Cập cổ đại, nhìn chung đều có quy mô to lớn, đồ sộ.
- Kiến trúc: nhiều công trình kiến trúc đạt trình độ kỹ thuật cao, quy mô to lớn, đồ
sộ, đặc biệt là những kiến trúc về tôn giáo như đền thờ Canắc, đền thờ Loxo, kim tự tháp Khêốp,…
- Điêu khắc: đối tượng chủ yếu được miêu tả là tôn giáo, thần thánh, các vị
Pharaoh,… là một bộ phận của kiến trúc và không tách rời kiến trúc. Có thể kể đến
những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của người Ai Cập cổ đại như tượng thư lại,
tượng nhân sư Xphanh, tượng hoàng hậu Nê-phéc-ti-ti, phù điêu trên các lăng mộ cổ,…
=> 2 công trình vĩ đại nhất: Kim tự tháp; Tượng Xphanh (Nhân sư) *KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Khoa học tự nhiên ở Ai Cập cổ đại có nhiều thành tựu quan trọng và có ý nghĩa to
lớn đối với nền văn minh nhân loại, nhất là thiên văn và số học.
Cơ sở hình thành: Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ
quan sát. Mực nước lên xuống của sông Nile, có hai mùa nước dâng hạ. Nhu cầu
về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán thuế
khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu
trời để đưa ra lễ, luật cúng tế.
- Toán học: Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và
thực tế cuộc sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số
học, đại số và hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu phải đo đạc lại ruộng đất bị
nước sông Nin làm ngập của sản xuất nông nghiệp đã là động lực thúc đẩy cho sự
ra đời và phát triển của toán học. Tới thiên niên kỷ II TCN, đã phát triển thành