ĐỀ CƯƠNG BỔ SUNG
1. Lí gi i Kitô giáo t m t tôn giáo dân t c tr thành m t tôn giáo qu c t (?). Liên ế
h v i Vi t Nam.
Kitô giáo ra đời phía Đông Đế quốc La - một đế quốc điển hình của chế độ chiến
hữu lệ. Người sáng lập ra Kitô giáo Giêsu. Sau khi Giêsu qua đời, những môn đệ của ông
tiếp tục truyềntưởng của ôngtheo thời gian một tôn giáo - Kitô giáo - ra đời. Từ thế kỷ
IV, thay bị đàn áp, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã. Từ thời gian đó, Kitô
giáo mau chóng phát triển ra toàn La Mã.
do Kitô giáo phát triển mạnh mẽ trở thành một tôn giáo quốc tế những
do quan trọng sau đây:
1. Kitô giáo đã hướng đến việc lan tỏaTinh thần lan tỏa kinh thánh của các giáo dân:
Tin Mừng của Chúa Giêsu đến khắp mọi nơi. Các giáo dân đã đến rất nhiều vùng đất khác nhau
để truyền bá và chứng minh lời rao giảng của Chúa. Chưa dừng lại ở đó, Kinh Thánh cũ và Kinh
Thánh mới cũng đã được dịch thành số thứ tiếng trên thế giới từ đó càng làm tăng thêm sự
phổ biến rộng rãi của Kitô giáo trên toàn cầu. Kết hợp những điều trên lại với nhau đã giúp
những con người dù khác biệt về ngôn ngữ, khác biệt về văn hóa đều có thể tiếp cận, tìm hiểu và
theo đi theo Kitô giáo.
2. Các nguyên tắc nền tảng giáo của Kitô giáo thể áp dụng hòa hợp với
nhiều nền văn hóa khác nhau: Tiêu biểu như giáo về tình yêu thương và khoan dung. Theo
Kitô giáo, tình yêu thương nắm giữ vai trò cốt lõi của tín ngưỡng. Khuyến khích mọi người đối
xử với nhau một cách yêu thương, nhân hậu tôn trọng. thế, giáo này thể áp dụng
thích nghi với nhiều nền văn hóa tình huống khác nhau, bằng cách tôn trọng chấp nhận
các giá trị phong tục, truyền thống và quy ước xã hội của mỗi quốc gia và cộng đồng cụ thể. Tôn
giáo, bất kể dân tộc hay vùng miền, đều cho phép con người tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống sự
cân bằng tâm hồn. Kitô giáo, với những giáo nhân đạo và một thông điệp tình yêu đặc biệt
là nền tảng giá trị về nhân văn, đã thu hút và lan truyền thông điệp này đến hàng triệu người trên
toàn cầu. Sự cần đến và nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa tâm linh đã là một yếu tố quan trọng khác đẩy
mạnh sự phát triển của Kitô giáo.
Liên hệ với Việt Nam: Với sức ảnh hưởng rộng khắp toàn thế giới như thế, Việt Nam
cũng không ngoại lệ, đã trở thành một quốc gia nhiều tín đồ của Kitô Giáo. Bắt đầu từ thế kỉ
XVI, các nhà truyền đạo đã lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, họ mang theo Đạo Kitô từ
quê hương của mình tiếp xúc với người dân Việt Nam. Mặc trong quá trình truyền đạo
cũng gặp không ít khó khăn do bị các tầng lớp quan lại các thành phần ưu trong hội
phản đối. Nhưng thông qua các hoạt động nhân văn, các lời truyền đầy tính thuyết phục
Kitô Giáo đã dần dần chinh phục được lòng tin của một số người Việt.
Sự phát triển chính thức của Kitô giáo tại Việt Nam diễn ra vào thế kỷ XIX, khi nhiều
nhà truyền bá đã đến nước ta và hình thành các trường học và xã hội giáo dục dành riêng cho dân
Việt. Đây giai đoạn Kitô giáo đã một sự tiếp cận sâu sắc với dân chúng, qua đó phổ
biến đạo tin và các giá trị Kitô giáo.
Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quyền tự do tôn giáo được tôn trọng và Kitô giáo
bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn. Hôm nay, Kitô giáo được công nhận một trong những tôn
giáo lớn nhất tại Việt Nam, với hàng triệu tín đồ một mạng lưới rộng lớn các giáo xứ tu
viện trên khắp đất nước. Theo thống kê của Giáo hội Công giáo, năm 1960 cả nước có 2.096.540
giáo dân, 23 Giám mục, 1.914 linh mục, 5.789 tu 1.530 chủng sinh; năm 1975 cả nước
trên 3.5 triệu giáo dân.
2. sao văn minh Hy Lạp cổ đại đạt đến đỉnh cao rực rỡ nhất so với các nền văn minh phương
Đông cổ đại và ngay cả so với La Mã cổ đại.
Văn minh Hy Lạp cổ đại đật đến đỉnh cao và rực rỡ nhất so với các nền văn minh phương
Đông cổ đại, ngay cả so với La Mã cổ đại là bởi văn minh Hy Lạp không chỉtác động đến
nền văn minh phương Tây, còn tạo ra những ảnh hưởng đại đến với nhiều lĩnh vực khác
của thế giới như triết học, nghệ thuật, văn hóa, chính trị…
Trước hết, ta xét về mặt địa : Hy Lạp cổ đại một quốc gia tập hợp hàng loạt các
đảo bán đảo nằm gần biển Địa Trung Hải. Đây một bước đệm vững chắc để nền kinh
tế Hy Lạp những bước nhảy vọt khi họ thể giao lưu buôn bán với nhiều quốc gia khác
nhau, tiếp thu những kiến thức từ các quốc gia ấy. Không chỉ vậy, khí hậu của Hy Lạp ấm áp, địa
hình nhiều khối núi đá cao đã cho phép người Hy Lạp cổ phát triển nền kinh tế xoay quanh
việc trồng trọt và chăn nuôi.
Tiếp theo là về mặt tri thức: Xã hội Hy Lạp cổ đại là nơi tập trung của các tư tưởng, các
triết lý lỗi lạc. Trường phái triết học Hy Lạp cổ đại gồm có các nhà triết học như Sokrates, Plato
Aristotle đã để lại di sản văn chương khổng lồảnh hưởng sâu sắc đến triết học phương
Tây. Hơn nữa, trường học đầu tiên trên thế giới đã được thành lập ở Hy Lạp cổ đại, với sự ra đời
của Akademeia Lyceum. Họ cũng phát triển hệ thống học viện nổi tiếng như Isocrates
Sophists, nơi học sinh được đào tạo về nghệ thuật diễn giảcác kỹ năng lãnh đạo. Chưa dừng
lại đó, với s mặt của các nhà khoa học tự nhiên như Acsimet, Pitago, Euclid… Cũng đá
góp phần đưa nền văn minh Hy Lạp cổ đại bước lên trở thành nền văn minh hưng thịnh nhất.
Cuối cùng là hệ thống chính trị - hội tiến bộ: Hệ thống chính trị Hy Lạp cổ đại, với
những khái niệm về dân chủ công lý, đã tạo ra sở cho việc phát triển của chính quyền dân
chủ hiện đại. Văn minh Hy Lạp cổ đại có một hệ thống chính trị tiến bộ và phân quyền, với thành
phố-đốc quốc gia tổ chức dân chủ. Đây một hình thức chính trị thiết yếu và độc đáo trong thế
giới cổ đại, cho phép các công dân tham gia vào việc quyết định cống hiến cho sự phát triển
văn minh. Hệ thống chính trị tiến bộ của Hy Lạp đã tạo điều kiện cho sự phát triển của tri thức,
nghệ thuật và khoa học.
Với những yếu tố kể trên, văn minh Hy Lạp cổ đại đã đạt đến đỉnh cao, vượt qua cả
các nền văn minh phương Đông cổ đại, hay cả La Mã cổ đại. Hy Lạp cổ đại là sự kết
hợp hài hòa giữa các nền tri thức tự nhiên, triết học mang tính đột phá, các truyền
thống nghệ thuật và văn hóa đa dạng, cùng với hệ thống chính trị - xã hội tiến bộ.

Preview text:

ĐỀ CƯƠNG BỔ SUNG
1. Lí giải Kitô giáo từ một tôn giáo dân tộc trở thành một tôn giáo quốc tế (?). Liên hệ với Việt Nam.
Kitô giáo ra đời ở phía Đông Đế quốc La Mã - một đế quốc điển hình của chế độ chiến
hữu nô lệ. Người sáng lập ra Kitô giáo là Giêsu. Sau khi Giêsu qua đời, những môn đệ của ông
tiếp tục truyền bá tư tưởng của ông và theo thời gian một tôn giáo - Kitô giáo - ra đời. Từ thế kỷ
IV, thay vì bị đàn áp, Kitô giáo trở thành quốc giáo của Đế quốc La Mã. Từ thời gian đó, Kitô
giáo mau chóng phát triển ra toàn La Mã.
Lý do Kitô giáo phát triển mạnh mẽ trở thành một tôn giáo quốc tế là vì những lý
do quan trọng sau đây:
1. Tinh thần lan tỏa kinh thánh của các giáo dân: Kitô giáo đã hướng đến việc lan tỏa
Tin Mừng của Chúa Giêsu đến khắp mọi nơi. Các giáo dân đã đến rất nhiều vùng đất khác nhau
để truyền bá và chứng minh lời rao giảng của Chúa. Chưa dừng lại ở đó, Kinh Thánh cũ và Kinh
Thánh mới cũng đã được dịch thành vô số thứ tiếng trên thế giới từ đó càng làm tăng thêm sự
phổ biến rộng rãi của Kitô giáo trên toàn cầu. Kết hợp những điều trên lại với nhau đã giúp
những con người dù khác biệt về ngôn ngữ, khác biệt về văn hóa đều có thể tiếp cận, tìm hiểu và theo đi theo Kitô giáo.
2. Các nguyên tắc và nền tảng giáo lý của Kitô giáo có thể áp dụng và hòa hợp với
nhiều nền văn hóa khác nhau: Tiêu biểu như giáo lý về tình yêu thương và khoan dung. Theo
Kitô giáo, tình yêu thương nắm giữ vai trò cốt lõi của tín ngưỡng. Khuyến khích mọi người đối
xử với nhau một cách yêu thương, nhân hậu và tôn trọng. Và vì thế, giáo lý này có thể áp dụng
và thích nghi với nhiều nền văn hóa và tình huống khác nhau, bằng cách tôn trọng và chấp nhận
các giá trị phong tục, truyền thống và quy ước xã hội của mỗi quốc gia và cộng đồng cụ thể. Tôn
giáo, bất kể dân tộc hay vùng miền, đều cho phép con người tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và sự
cân bằng tâm hồn. Kitô giáo, với những giáo lý nhân đạo và một thông điệp tình yêu và đặc biệt
là nền tảng giá trị về nhân văn, đã thu hút và lan truyền thông điệp này đến hàng triệu người trên
toàn cầu. Sự cần đến và nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa tâm linh đã là một yếu tố quan trọng khác đẩy
mạnh sự phát triển của Kitô giáo.
Liên hệ với Việt Nam: Với sức ảnh hưởng rộng khắp toàn thế giới như thế, Việt Nam
cũng không ngoại lệ, đã trở thành một quốc gia có nhiều tín đồ của Kitô Giáo. Bắt đầu từ thế kỉ
XVI, các nhà truyền đạo đã có lần đầu tiên đặt chân đến Việt Nam, họ mang theo Đạo Kitô từ
quê hương của mình và tiếp xúc với người dân Việt Nam. Mặc dù trong quá trình truyền đạo
cũng gặp không ít khó khăn do bị các tầng lớp quan lại và các thành phần ưu tú trong xã hội
phản đối. Nhưng thông qua các hoạt động nhân văn, các lời truyền bá đầy tính thuyết phục mà
Kitô Giáo đã dần dần chinh phục được lòng tin của một số người Việt.
Sự phát triển chính thức của Kitô giáo tại Việt Nam diễn ra vào thế kỷ XIX, khi nhiều
nhà truyền bá đã đến nước ta và hình thành các trường học và xã hội giáo dục dành riêng cho dân
Việt. Đây là giai đoạn mà Kitô giáo đã có một sự tiếp cận sâu sắc với dân chúng, qua đó phổ
biến đạo tin và các giá trị Kitô giáo.
Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quyền tự do tôn giáo được tôn trọng và Kitô giáo
bắt đầu phát triển mạnh mẽ hơn. Hôm nay, Kitô giáo được công nhận là một trong những tôn
giáo lớn nhất tại Việt Nam, với hàng triệu tín đồ và một mạng lưới rộng lớn các giáo xứ và tu
viện trên khắp đất nước. Theo thống kê của Giáo hội Công giáo, năm 1960 cả nước có 2.096.540
giáo dân, 23 Giám mục, 1.914 linh mục, 5.789 tu sĩ và 1.530 chủng sinh; năm 1975 cả nước có trên 3.5 triệu giáo dân.
2. Vì sao văn minh Hy Lạp cổ đại đạt đến đỉnh cao rực rỡ nhất so với các nền văn minh phương
Đông cổ đại và ngay cả so với La Mã cổ đại.
Văn minh Hy Lạp cổ đại đật đến đỉnh cao và rực rỡ nhất so với các nền văn minh phương
Đông cổ đại, và ngay cả so với La Mã cổ đại là bởi văn minh Hy Lạp không chỉ có tác động đến
nền văn minh phương Tây, mà còn tạo ra những ảnh hưởng vĩ đại đến với nhiều lĩnh vực khác
của thế giới như triết học, nghệ thuật, văn hóa, chính trị…
Trước hết, ta xét về mặt địa lý: Hy Lạp cổ đại là một quốc gia tập hợp hàng loạt các
đảo và bán đảo và nằm ở gần biển Địa Trung Hải. Đây là một bước đệm vững chắc để nền kinh
tế Hy Lạp có những bước nhảy vọt khi họ có thể giao lưu và buôn bán với nhiều quốc gia khác
nhau, tiếp thu những kiến thức từ các quốc gia ấy. Không chỉ vậy, khí hậu của Hy Lạp ấm áp, địa
hình có nhiều khối núi đá cao đã cho phép người Hy Lạp cổ phát triển nền kinh tế xoay quanh
việc trồng trọt và chăn nuôi.
Tiếp theo là về mặt tri thức: Xã hội Hy Lạp cổ đại là nơi tập trung của các tư tưởng, các
triết lý lỗi lạc. Trường phái triết học Hy Lạp cổ đại gồm có các nhà triết học như Sokrates, Plato
và Aristotle đã để lại di sản văn chương khổng lồ và có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học phương
Tây. Hơn nữa, trường học đầu tiên trên thế giới đã được thành lập ở Hy Lạp cổ đại, với sự ra đời
của Akademeia và Lyceum. Họ cũng phát triển hệ thống học viện nổi tiếng như Isocrates và
Sophists, nơi học sinh được đào tạo về nghệ thuật diễn giả và các kỹ năng lãnh đạo. Chưa dừng
lại ở đó, với sự có mặt của các nhà khoa học tự nhiên như Acsimet, Pitago, Euclid… Cũng đá
góp phần đưa nền văn minh Hy Lạp cổ đại bước lên trở thành nền văn minh hưng thịnh nhất.
Cuối cùng là hệ thống chính trị - xã hội tiến bộ: Hệ thống chính trị Hy Lạp cổ đại, với
những khái niệm về dân chủ và công lý, đã tạo ra cơ sở cho việc phát triển của chính quyền dân
chủ hiện đại. Văn minh Hy Lạp cổ đại có một hệ thống chính trị tiến bộ và phân quyền, với thành
phố-đốc quốc gia tổ chức dân chủ. Đây là một hình thức chính trị thiết yếu và độc đáo trong thế
giới cổ đại, cho phép các công dân tham gia vào việc quyết định và cống hiến cho sự phát triển
văn minh. Hệ thống chính trị tiến bộ của Hy Lạp đã tạo điều kiện cho sự phát triển của tri thức, nghệ thuật và khoa học.
Với những yếu tố kể trên, văn minh Hy Lạp cổ đại đã đạt đến đỉnh cao, vượt qua cả
các nền văn minh phương Đông cổ đại, hay cả La Mã cổ đại. Hy Lạp cổ đại là sự kết
hợp hài hòa giữa các nền tri thức tự nhiên, triết học mang tính đột phá, các truyền
thống nghệ thuật và văn hóa đa dạng, cùng với hệ thống chính trị - xã hội tiến bộ.