



















Preview text:
NỀN VĂN MINH AI CẬP VÀ ẤN ĐỘ
Để mở đầu, chúng ta cần phải biết văn minh và nền văn minh là gì. Văn minh là trạng thái tiến
bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triểncao nhất
của nền văn hóa. Còn nền văn minh là những thành tựu đỉnh cao của xã hội loài ngườitrên một
địa bàn (không gian) nhất định, vào một thời gian xác định và gắn liền với chủ nhâncủa nền văn
minh đó. Bên cạnh những khái niệm về văn minh và nền văn minh, chúng ta cũngcần phải có
kiến thức về phương Đông. Những quốc gia nằm về phía Đông Hi Lạp được gọi làthế giới
phương Đông. Quan trọng hơn, cả bốn nền văn minh đầu tiên trên thế giới đều bắtnguồn từ
phương Đông, đó là chính là Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ và Trung Quốc. Đây chính là một trong
những lí do tất yếu để ta khẳng định văn minh phương Đông là “cái nôi của văn minhthế giới.
Chúng ta sẽ cùng xét hai trường hợp tiêu biểu là Ai Cập cổ đại và Ấn Độ cổ-trung đạiđể chứng
minh tính đúng đắn của ý kiến này.
Văn minh Ai Cập cổ đại là một trong các nền văn minh ra đời sớm nhất trên thế giới. Sự hình
thành và phát triển của văn minh Ai Cập cổ đại gắn liền với dòng sông Nile. Ai Cập nằm ở
Đông Bắc Châu Phi, hạ lưu sông Nin. Sông Nin là một con sông dài nhất thế giới, khoảng 6700
km chảy từ Trung Phi lên Bắc Phi. Tuy Ai Cập có khí hậu sa mạc nhưng vẫn có kho tài nguyên
thiên nhiên dồi dào các loại đá quý như đá hoa cương, đá mã não, đá vôi, đá badan,.. và các kim
loại quý hiếm như vàng, đồng. Thành phần dân cư ở Ai Cập khá phong phú với một số dân tộc
người có thể kể tên như bộ lạc người Libi, người da đen và Xê-mít.
Nền văn minh Ai Cập bắt đầu hiện hữu rõ nét nhất khi nhà nước Ai Cập thống nhất đầu tiên xuất
hiện vào năm3200 TCN. Đứng đầu nhà nước Ai Cập cổ đại là các Pharaoh. Đó là dấu hiệu suy
tàn của cáccông xã nguyên thủy và mở ra trang sử mới cho thời kì Cổ đại. Ngay từ thời kì này,
người dânAi Cập đã biết sử dụng các công cụ bằng đồng, sử dụng lưỡi cày và dùng sức kéo của
trâu bòđể làm nông. Họ thành thạo việc săn bắn và có khả năng thuần hóa động vật hoang dã.
Không những thế, dòng sông Nile đã bồi đắp một lượng phù sa lớn, làm cho mảnhđất này màu
mỡ, phù hợp cho việc trồng các loại cây lương thực, đồng thời thúc đẩy công tácthủy lợi. Chính
vì vậy mà cách đây hơn 2000 năm trước, một nhà sử học Hy Lạp là Hêrôđôt tới thăm Ai Cập đã
có một nhận xét rất hay là “ Ai Cập là tặng phẩm của sông Nin”.
Bên cạnh những thành tựu về nông nghiệp, người Ai Cập còn có những thành tựu văn hóa nổi
trội. Đầu tiên về chữ viết, người Ai Cập có hệ chữ viết riêng
từ rất sớm. Đó là chữ tượng hình được khắc trên đá, gỗ, đồ gốm hoặc viết lên da nhưng chất
liệu phổ biến nhất vẫn là giấy Papyrus. Đây là một loại “giấy” cổ xưa nhất, do vậy ngôn ngữ
nhiều nước trên thế giới, giấy được gọi là papes, papier, paper,.. Có chữ viết tất nhiên sẽ có
nền văn học. Văn học của Ai Cập cổ đại chia ra làm hai bộ phận: dân gian và tôn giáo. Văn
học Ai Cập nổi tiếng với các tác phẩm như Truyện hai anh em, Nói thật và Nói Láo, Nói
chuyện với linh hồn của mình, Lời kể của Ipuxe, Lời răn dạy của Đuanúp… Ta nhận thấy nội
dung chính của các tác phẩm văn học xoay quanh ba nội dung chính là mô tả cuộc sống hiện
thực, ca ngợi thần linh và phản ánh chiến tranh.
Tiếp theo, về tôn giáo, người Ai Cập cổ đại theo đa thần giáo.Họ tôn thờ những vị thần tự
nhiên như thần mặt trời Ra, thần đất Osiris và những vị thần động vật, ở đây, họ đặc biệt sùng
bái những loài vật gần gũi với con người, có sức khỏe và khả năng sinh sản tốt(ong, bò cái).
Hơn thế nữa, người Ai Cập còn có những công trình kiến trúc và điêu khắc đáng được kể tên.
Người ta đã phát hiện ra khoảng 70 Kim tự tháp lớn nhỏ khác nhau trong đó có 3 Kim tự tháp
nổi tiếng nằm ở gần thủ đô Cairo. Lớn nhất là Kim tự tháp Kêôp (Kheops) cao tới 146m, đáy
hinh vuông , mỗi cạnh tới 230m. Đã mấy ngàn
năm qua các Kim tự tháp vẫn sừng sững với thời gian. Vì vậy người Ai Cập có câu “ Tất cả
mọi vật đều sợ thời gian, nhưng riêng thời gian phải nghiêng mình trước Kim tự tháp”. Tượng
Nhân sư và Kim tự tháp lànhững thành tựu đáng ngưỡng mộ được xây dựng bằng bàn tay con
người vào thời điểm khônghề có khoa học kĩ thuật tiên tiến hỗ trợ. Đặc biệt, kim tự tháp là sự
thách thức về không gian vàthời gian, biểu trưng cho tinh thần bất diệt, trường cửu với thời gian.
Bằng những nỗ lực khám phá về nền văn minh Ai Cập, ta nhận thấy người Ai Cập chịu ảnh
hưởng sâu sắc của ba yếu tố là tôn giáo đa thần, tín ngưỡng
dân gian và tư tưởng thần quyền của Pharaoh nhưng những tri thức về khoa học tự nhiên của
người Ai Cập cổ vẫn có giá trị tới tận ngày nay.
Trước hết ở lĩnh vực thiên văn học, từ nhu cầu tìm hiểu quy luật dâng nước của sông Nin cho
việc tính toán thời vụ gieotrồng, thu hoạch, nhu cầu quan sát bầu trời do yếu tố tín ngưỡng và
yếu tố khách quan là bầutrời trong trẻo cả ngày lẫn đêm, ngành Thiên văn học đã được phát
triển. Người Ai Cập đã biếtđược 5 hành tinh trong hệ Mặt trời, làm lịch có 365 ngày tương
đương với 1 năm, chia 1 nămlàm 3 mùa (mùa nước dâng, mùa ngũ cốc và mùa thu hoạch). Ai
Cập chính là quốc gia duy nhất và sớm nhất đã vẽ ra bản đồ sao, họ còn có thể vẽ cả bản đồ
của 12 chòm sao và sáng tạo ra các dụng cụ đếm thời gian như đồng hồ mặt trời(nhật khuê) và đồng hồ nước.
Các thành tựu Toán học của AiCập cổ đại cũng có tầm ảnh hưởng lớn. Từ nhu cầu đo đạc và
phân chia lại ruộng đất sau mỗi trận lũ lụt của sông Nin, nhu cầu xây dựng nhà cửa, đền miếu
và kim tự tháp, nhu cầu tính toán trong
buôn bán của người dân và thuế khóa của Nhà nước, người Ai Cập giỏi việc tính toán hơn bao
giờ hết và không sai khi kết luận rằng nền Toán học Ai Cập ra đời là sản phẩm tất yếu của
quátrình lao động và sản xuất. Người Ai Cập cổ đã biết sử dụng hệ đếm cơ số 10, thành thạo
các phép tính cộng và trừ(thực hiện nhân và chia bằng cách cộng và trừ nhiều lần tính được
diệntích và thể tích hình học. Họ biết được quan hệ của các cạnh trong tam giác vuông và tính
được gần đúng số pi = 3,16 (pi của người Ai Cập chỉ mối tương quan giữa chu vi và chiều cao
kim tựtháp). Họ còn tính được diện tích hình tam giác, hình cầu và thể tích hình tháp đáy vuông.
Cuối cùng, từ nhu cầu giải phẫu tử thi để ướp xác, ngành Y học của Ai Cập cổ đại cũngcó những
bước tiến đáng kể. Người Ai Cập cổ biết chia thành các chuyên khoa như khoa nội,mắt, răng,
dạ dày; họ biết giải phẫu và đặc biệt là có kĩ thuật ướp xác. Kĩ thuật ướp xác của người Ai Cập
vô cùng đặc biệt khi cho đến thời hiện đại ngày nay vẫn không ai có thể tái hiện lại kĩ thuật ấy.
Không như người Lưỡng Hà, người Ai Cập biết bệnh tật không do ma quỷ gây ra mà do sự bất
thường của hệ thống mạch máu và biết chữa bệnh bằng thảo mộc.
Từ những thành tựu nói trên, ta có thể thấy rằng Ai Cập chính là một trong những “cáinôi” của
văn minh nhân loại qua hơn 3000 năm, là cơ sở để các nền văn minh khác học hỏi vàứng dụng.
Văn minh Ai Cập là “hòn đá tảng”, góp phần định hướng và tác động đến văn minhTây Âu.
Đồng thời thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của loài người.
Tương tự với các nền văn minh phương Đông khác, nền văn minh Ấn Độ cũng đã để lạinhiều
thành tựu ảnh hưởng to lớn đến nhân loại. Ấn Độ là một quốc gia ở Nam Á với lãnh thổ hình
tam giác, phía đông giáp vịnh Bengal, phía Nam giáp Ấn Độ Dương, phía tây giáp biển Ả Rập
và phía đông giáp núi Hymalaya. Nền văn minh Ấn Độ hình thành ven hai consông lớn là sông
Hằng và sông Ấn. Cũng chính vì đó, Ấn Độ là vùng trung tâm lúa nước vớinền nông nghiệp
phát triển về cả trồng trọt và chăn nuôi. Thành phần dân cư Ấn Độ có sự xuất hiện của người
Dravida ở miền nam và người Arya thông minh ở miền bắc. Bên cạnh đó, ngành thủ công
nghiệpcũng có nhiều ngành nghề đa dạng như làm gốm, dệt, rèn, làm mộc, nhuộm và đan lát.
Khôngnhững thế, thương nghiệp của Ấn Độ cũng rất phát triển. Các thương gia cho vay lãi và
có hệthống tiền tệ (vàng, bạc, đồng). Giai đoạn từ đầu thiên niên kỉ III đến giữa thiên niên kỉ II
TCNlà thời kì phân hóa giai cấp và nhà nước xuất hiện. Từ
thiên niên kỉ II – giữa thiên niên kỉ ITCN được gọi là thời kì Vê-đa, ở thời kì này xuất hiện chế
độ đẳng cấp, đạo Bà la môn và bộluật Manu để thống trị. Sự ra đời của nhà nước ở Ấn Độ cổ-
trung đại đã đánh dấu cho sự xuấthiện một nền văn minh rực rỡ.
Chữ viết ở Ấn Độ bao gồm chữ đồ họa chỉ sử dụng trong quá trình thông thương,buôn bán hàng
hóa; có hệ chữ lai Karosthi, chữ Brami dùng để khắc trên bia đá và có ngôn ngữ chính thức là
chữ Sanskrit hay còn gọi là tiếngPhạn. Nền văn học Ấn Độ rất phát triển, gồm có hai bộ phận quan trọng
là kinh Vê-đa và sử thi.Kinh Vê-đa ra đời vào thế kỉ XV TCN – thế kỉ X TCN, nó được coi là
kinh thánh của đạo Bà lamôn. Kinh Vê-đa chia ra thành 4 nhánh
với Rich Vê-đa nói về bài cúng, cầu nguyện; Xama Vê-đa nói về ca vịnh, thần chú; Yagiua Vê-
đa nói về nghi thức, tôn giáo và Atácva Vê-đa nói về kiến thức xã hội. Trong đó bộ Rich Vê-đa là
quan trọng nhất và lâu đời nhất, nói về thần sấm sét Indra và thần lửa Agni. Ngoài 4 tập Vêđa
được viết bằng thơ, bộ kinh Vêđa còn có các tác phẩm được viết bằng văn xuôi, nội dung chủ
yếu của các tác phẩm này là ca ngợi đạo Bà la môn, ít có giá trị về mặt văn học .
Sử thi gồm có hai tác phẩm lớn là Mahabharata và Ramayana. Hai bộ sử thi này là niềmtự hào
và là cảm hứng, để tài sáng tác của văn học Ấn Độ. Sử thi Mahabharata với nội dung chính là
phản ánh cuộc nội chiến trong dòng tộc Bharata, được đánh giá là sử thi dài nhất thế giới. Bộ sử
thi phản ánh lịch sử Ấn Độ cổ đại, thể hiện tinh thần nhân văn, vai trò quan trọng trong triết học
và tôn giáo Ấn Độ. Tiếp theo, bộ ử thi Ramayana xoay quanh câu chuyện tình giữa hoàng tử
Rama và người vợ Sita. Người Ấn Độ xem bộ sử thi Ramayana như bộ sách “gối đầu giường”
và có lẽ cũng bởi bộ sử thi ấy đã phản ánh sự phát triển của xã hội người Arya, Thể hiện tài
năng, trí tưởng tượng tuyệt vời và ước mơ cao đẹp của người Ấn Độ. Ngoài ra, còn có nhiều
thành tựu nổi bật như các tác phẩm của Caliđaxa (tiêu biểu là vở kịch Sơcuntla) và các tác phẩm
văn học khác viết bằng các phương ngữ,…
Ngay cả kiến trúc và nghệ thuật điêukhắc của Ấn Độ cũng đã để lại nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nhiều nền văn minh và các nhànước khác sau này như Khmer, Chăm pa. Tiêu biểu nhất là
các công trình kiến trúc tôn giáo như trụ đá Asoka, chùa hangAjanta, chùa hang Enlôra, chùa
Tanjo, các đền thờ của đạo Hinđu,… Các công trình kiến trúc thường kết hợp với điêu khắc, hội
họa. Thời kì Môgôn, công trình kiến trúc tiêu biểu nhất được xây dựng là lăng Taj Mahal. Về
điêu khắc, Nghệ thuật tạo hình của Ấn Độ chủ yếu khắc họa các nội dung tôn giáo song vẫn thể
hiện tính hiện thực rõ nét. Tiêu biểu là các bức tượng Phật, tượng thần Shiva, Vishnu,… của đạo
Hinđu với nhiều mắt, nhiều đầu, nhiều tay,…
Một lĩnh vực khác đáng chú ý đó chính là khoa học tựnhiên. Trong Thiên văn học, người Ấn Độ
biết 1 năm có 12 tháng, 1 tháng 30 ngày và 5 năm sẽcó 1 tháng nhuận; họ biết Trái đất và Mặt
trăng hình cầu, biết phân biệt các hành tinh và tổngkết những hiểu biết về Thiên văn học trong
Siddhantas – tác phẩm Thiên văn học sớm nhất thếgiới.
Về Toán học, họ phát minh ra 10 chữ số tự nhiên, tính được một cách chính xác số pi =3.1416
và biết tính diện tích hình học. Trong Y học, các thầy thuốc Ấn Độ biết phẫu thuật vàbiết chế
thuốc tê cho bệnh nhân. Không chỉ vậy, người Ấn Độ còn nhiều hiểu biết về các mônVật lí, Hóa
học và Sinh học. Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tôn giáo là một trongnhững thành tựu
đặc sắc của Ấn Độ cổ-trung đại. Nó định hình nên hai tôn giáo lớn của châu Álà Hindu giáo và
Phật giáo. Hindu giáo đã trở thành tôn giáo chủ yếu của Ấn Độ. Còn Phật giáobắt nguồn từ Ấn
Độ và vẫn còn ảnh hưởng rất sâu rộng trong các quốc gia ở châu Á như TrungQuốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam,…
Như vậy, cũng giống với nền văn minh Ai Cập cổ đại, những thành tựu to lớn của vănminh Ấn
Độ cổ-trung đại cũng đã đóng góp không ít tới nền văn minh thế giới nhờ sự tiếp thuvà truyền
bá từ các quốc gia và nền văn minh khác.Tóm lại, từ việc áp dụng những tri thức lịch sử văn
minh của Ai Cập cổ đại và Ấn Độ cổ-trung đại, chúng ta đi đến kết luận rằng: ở phương Đông,
các nền văn minh hình thành sớm vencác dòng sông lớn, thuận lợi cho lao động, từ đó nhà nước
nhanh chóng xuất hiện và các nềnvăn minh hình thành. Trong quá trình phát triển, người
phương Đông biết sáng tạo ra công cụlao động, biết đa dạng hóa các phương thức lao động và
các ngành nghề. Tiêu biểu
hơn là cácthành tựu văn minh về Chữ viết, Văn học, Kiến trúc, Khoa học tự nhiên và Tôn giáo
đã có tầmảnh hưởng sâu sắc tới nền văn minh phương Tây và vẫn còn giá trị cho tới thời hiện
đại. Vì lẽđó, chúng ta hoàn toàn có thể xác minh tính đúng đắn của ý kiến: Văn minh phương
Đông là“cái nôi” của văn minh thế giới.
SỰ GIAO THOA CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NỀN VĂN MINH KHÁC?
Dân tộc Việt Nam ta đã xây dựng một nền văn hiến lâu đời gắn liền với bề
dày lịch sử đồsộ. Trong quá trình đó, nền văn hóa, văn minh Việt Nam đã có
sự hội nhập và giao thoa với cácnền văn minh thế giới. Tuy có mối liên hệ
mật thiết với nhiều nền văn minh khác nhau từphương Đông đến phương Tây
nhưng người Việt Nam ta vẫn giữ được nét riêng biệt trong vănhóa, văn minh của đất nước mình.
Đầu tiên chúng ta phải kể đến nền nông nghiệp nhận ảnh hưởng từ nền văn minh lúanước Đông
Nam Á. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, có những vùng đồng bằng châu thổ màumỡ như đồng
bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, cùng với đó là yếu tố con người,nghề trồng lúa
ở đất nước ta phát triển mạnh mẽ. Tương tự với những quốc gia khác, từ nhu cầulao động, người
Việt ta cũng đã sử dụng những công cụ bằng đồng, sắt…chẳng hạn như lưỡicày đồng xuất hiện
từ khoảng 700 năm TCN thời Văn Lang.
Tiếp theo đó, chữ viết và văn học Việt Nam cũng có liên kết với các nền văn minh khác,cụ thể
là văn minh Trung Quốc. Dưới thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải tiếp thu các văn hóaTrung
Quốc, đặc biệt trong đó là chữ Hán. Đồng thời, ta cũng học hỏi được nhiều về các thể
thơĐường Luật với những tác phẩm như “Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) hay
“BuổiChiều Đứng Ở Phủ Thiên Trường Trông Ra” (Trần Nhân Tông). Tuy nhiên, nhân dân ta
vẫn giữđược bản sắc riêng của dân tộc mình, không lệ thuộc vào văn hóa Trung Quốc. Người
Việt ta đãtạo ra chữ Nôm và từ đó văn học Hán Nôm ngày càng phát triển. Ví dụ tiêu biểu là tác
phẩm“Đoạn Trường Tân Thanh” hay còn gọi là “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du là
đỉnh caocho truyện thơ chữ Nôm.
Trong lĩnh vực kiến trúc và điêu khắc ở Việt Nam cũng có rất nhiều điểm tương quan vớinền
văn minh khác trên thế giới. Chẳng hạn như thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã có tiếpnhận ảnh
hưởng từ nền kiến trúc Ấn Độ. Hay là những công trình kiến trúc mang văn hóaphương Tây như
nhà thờ Bác Trạch (Thái Bình) chịu ảnh hưởng từ phong cách Châu Âu hayNhà thờ lớn Hà Nội
mang âm hưởng Gothic phương Tây. Không dừng lại ở đó,về tôn giáo, ViệtNam chịu ảnh
hưởng sâu rộng của Phật giáo từ văn minh Ấn Độ. Phật giáo được du nhập vàonước ta từ rất
sớm, khoảng vào thế kỉ thứ nhất TCN. Có rất nhiều chùa lớn được xây dựng đểphục vụ cho
việc thờ cúng như chùa Láng (Hà Nội). Bên cạnh đó, Kito giáo cũng đã thâm nhậpvào Việt
Nam vào thế kỉ XVI. Những giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và người Phápđã đến nước
ta để truyền đạo, họ cũng đã truyền bá chữ Quốc ngữ để thuận tiện cho việc giảngvà ghi chép
kinh thánh. Như vậy ta có thể thấy, không chỉ văn minh phương Đông mà ngay cảphương Tây
cũng có mối liên hệ với nền văn hóa, văn minh Việt Nam.
Như vậy, ta có thể thấy rằng nền văn hóa, văn minh Việt Nam có mối quan hệ sâu sắc vàmật
thiết với các nền văn minh khác trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp...Tuy tiếp thuthành
tựu từ nhiều nền văn minh khác nhau nhưng người Việt Nam vẫn không để mất đi nét riêng
trong văn hóa. Trong quá trình hội nhập và giao lưu, chúng ta vừa học hỏi, tiếp thu nhưngvẫn
luôn giữ gìn bản sắc dân tộc
VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI ĐƯỢC THỂ HIỆN NHƯ THẾ NÀO
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN VĂN MINH?
Con người là một thực thể sinh học, một bộ phận đặc biệt, quan trọng của giới tự nhiên, gắn bó,
hòa hợp với tự nhiên. Nhưng con người khác với các thực thể sinh học khác trong tự nhiên, con
người không phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên (khác với thực thể khác là phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên)
Từ đó có thể thấy rằng, tự nhiên phục vụ cho con người. Con người có thể biến đổi giới tự nhiên
và chính bản thân mình dựa trên các quy luật khách quan (con người sử dụng tri thức và trí tuệ
của mình để biến đổi bản thân và biến đổi tự nhiên, tự hoàn thiện mình nhưng cũng phải tuân theo các quy luật khách quan):
Thông qua lao động sản xuất, con người sinh học trở thành thực thể xã hội. (Chinh phục tự nhiên
luôn là đích đến của con người). Con người càng bị thách thức thì khả năng sáng tạo càng cao ->
đạt được sự xuất sắc của sáng tạo và bước sang nền văn minh.
Bằng lao động sản xuất, con người chinh phục, tái tạo tự nhiên Con người là chủ thể sáng tạo của
lịch sử/quá trình lịch sử.
(Vd về việc biến thể của các loại virus gây bệnh: con người biến đổi, hoàn thiện mình thì tác động
đến tự nhiên, sau đó những thực thể khác cũng tiến hóa theo, virus gây bệnh sau khi được con
người tìm ra vacxin phòng ngừa thì nó tiếp tục tiến hóa).
Trong xh hiện đại ngày nay: Con người là nhân vật trung tâm của xã hội, là chủ thể chân chính
sáng tạo ra mọi giá trị vật chất - tinh thần để phục vụ lại chính đời sống của mình. Trong mọi hoạt
động của xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất kinh tế không thể thiếu vắng bàn tay khối óc của con người.
Nói nhân tố con người là nói đến những phẩm chất, thuộc tính, tri thức, kinh nghiệm, năng lực,
thói quen… của con người được biểu hiện trong các dạng thức hoạt động khác nhau, qua đó ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất kinh tế. Quá trình này ảnh hưởng rất lớn đến môi trường tự nhiên,
nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường, đây là một vấn đề toàn cầu và ảnh hướng tới sự tồn tại và
phát triển của con người (có thể kể một số hiện tượng đáng báo động hiện nay). Đây là vấn đề
tồn đọng và cấp bách, con người cần quan tâm và nghiên cứu các giải pháp để có thể phục hồi
hoặc cải thiện vấn đề môi trường.
Lưu ý, nếu là câu hỏi về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên thì cũng tương tự như trên,
nhưng có thể phân ra con người tác động đến tự nhiên và môi trường tự nhiên tác động đến
con người, tuy nhiên trọng điểm là các vấn đề con người tác động môi trường, một số vấn đề
môi trường tự nhiên tác động đến con người như:
- Môi trường sống tạo ra năng lực thích ứng của con người, môi trường sống khác nhau
tạo ra những thích ứng khác nhau, đưa đến những giá trị văn minh khác nhau: Cùng một nơi
sinh ra, nhưng nếu sống ở hai môi trường
khác nhau thì hai khu vực sẽ có sự khác nhau, không phải nơi nào cũng có thể tiến lên nền văn
minh mà chỉ có 1 nơi phù hợp cơ bản các điều kiện để tiến lên nền văn minh.
◻ Môi trường tự nhiên tác động đến sự sống còn và phát triển của con người:
+ Thời cổ đại, con người có xu hướng di cư đến nơi có nguồn nước để
sinh sống (Con người để có thể sống không thể thiếu nước uống). Sau đó dần hình thành các
bộ tộc, bộ lạc sinh sống cùng nhau ven các con sông, ven biển… Tuy nhiên những người sống
ở khu vực khó khăn hơn có thể di dân đến chiếm nguồn nước -> chiến tranh giữa các bộ tộc.
+ Công cuộc trị thủy thời cổ đại luôn là vấn đề khó giải quyết và buộc con người phải
có sự liên kết - liên minh, đây là cơ sở để hình thành nhà nước.
+ Hình thành và phát triển các thành tựu về khoa học tự nhiên: toán học, thiên văn học, vật lý, …
+ Hiện nay, môi trường tự nhiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ảnh hưởng tới sự sống còn của con người.
◻ Trong sự hình thành và phát triển các nền văn minh
- Thách thức và (tạo ra) ứng phó -> khó khăn của sự xuất sắc -> Nhân tố kích thích của
những vùng đất bạc bèo -> Nhân tố kích thích của thử thách. Càng bị thử thách, con người
càng sáng tạo về có khả năng thích ứng cao vì con người luôn muốn chinh phục.
Quy luật phát triển của các nền vm:
- Phát triển từ thấp đến cao và có tính kế thừa
- Tốc độ phát triển của các thời đại vm càng về sau càng nhanh hơn
- Các nền vm có các cấp độ giá trị khác nhau về không gian và thời gian
- Tính mở các nền văn minh ngày càng cao.
VAI TRÒ CỦA CÁC DÒNG SÔNG TRONG SỰ HÌNH THÀNH CÁC NỀN VĂN MINH
Đặc điểm chung: đa phần các nền văn minh phương Đông cổ đại được hình thành trên lưu
vực: Ai Cập (sông Nin), Lưỡng Hà (Sông Tigrơ và Ơphrat), Ấn Độ, (sông Ấn và sông Hằng),
Trung Hoa (Hoàng Hà và Trường Giang), La Mã cổ đại (Sông Tiber)... - N
ước là yếu tố quyết định của sự sống, là nguồn sống của sự sống: Con người thời cổ luôn đi
tìm nơi có nguồn nước lớn để định cư và sản xuất, sinh sống. Trong cơ thể con người hơn
70% là nước, cơ thể không thể thiếu nước. Người xưa có câu “Có thể không ăn 3 ngày
nhưng không thể không uống nước trong 7 ngày”. Nước cũng là để thải độc cho cơ thể. - C
ung cấp đất đai màu mỡ, khoáng chất, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp:
+Dòng sông chuyện lòng Quỳnh nuôi sống các cư dân cổ đại, bởi nó cung cấp lượng
lớn đất đai màu mỡ, tạo đk cho nông nghiệp phát triển.
VD: Ở Ai Cập, sau mỗi mùa nước lên, sông Nin để lại những cánh ruộng đồng bạt ngàn
lớp Phù Sa vô cùng màu mỡ, Chính nhờ những lớp Phù Sa đen luôn được bồi đắp hàng năm
đã thúc đẩy canh tác trồng trọt, tăng năng suất Nông Nghiệp tối đa giúp người Ai Cập luôn có
những mùa màng bội thu đến bất ngờ.
Ở Lưỡng Hà, lũ lụt thường xuyên xảy ra dọc theo hai trong làm cho vùng đất xung
quanh chúng trở nên màu mỡ để trồng cây lương thực. - C
ung cấp nguồn nước: Rõ ràng rằng những con sông đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp
nguồn nước cho các cư dân.
VD: ở Ai Cập cư dân không thể tồn tại nếu không có trong Nin ( vì khí hậu khô hạn),
sông Nin còn giúp chống lại sự xói mòn và xâm lấn của sa mạc.
Ở phía tây đồng bằng sông Hồng, Con sông này cung cấp nước tưới và một hệ thống kê
đặt hàng chỉ giúp thuận tiện trong việc trồng trọt các loại lương thực thực phẩm như lúa, khoai
tây, lúa mì và hạt có dầu… - C
ung cấp nguyên vật liệu: Ngoài việc cung cấp đất, nước, ốc các dòng sông còn cung cấp
nguyên vật liệu cho đời sống hàng ngày cũng như trong nền thủ công nghiệp:
+ Gạch, gốm, thủy Tinh: lấy từ sông
+ Lưỡng Hà: do điều kiện tự nhiên không có nhiều đã đá -> lấy đất chết từ Phù Sa để
làm gạch, chất liệu viết, quan tài… sử dụng cách làm thủy tinh và trang trí nhà cửa…
+ Trung Hoa: Dùng đất sét trắng làm gốm gắn liền tên tuổi Trung Hoa từ thời kì cổ đại… - C
ung cấp nguồn thủy sản dồi dào: Ai Cập tiêu thụ tương đối ít gia súc (do đất đai hẹp và xung
quanh là sa mạc, khí hậu khô cằn) -> nền chăn nuôi không có điều kiện phát triển, Vậy nên
người Ai Cập lấy đạm từ cá đánh bắt trên sông Nin, đây cũng là nguồn cung cấp chính cho
bữa ăn hàng ngày của người dân Ai Cập. - L
à con đường giao thông, vận chuyển: Nội thương và ngoại thương: Sông Tigrơ và Ơphrat tạo
ra những con đường thương mại, là cầu nối giữa vùng Hắc Hải - V
ịnh Ba Tư và giữa Địa Trung Hải với Phương Đông, tạo nên hành lang giao lưu kinh tế - văn
hóa giữa các quốc gia Đông - Tây.
Sông Nin chảy qua 11 quốc gia, do đó nó là huyết mạch giao thông chính nối tất cả các
vùng của Ai Cập cũng như nối Ai Cập với các nước láng giềng. - Q
uá trình khai phá, chinh phục các dòng sông lớn (trị thủy) là cơ sở ra đời các thiết chế nhà nước sơ khai đầu tiên - Y
ếu tố nước đóng góp vào sự hình thành nhiều giá trị văn minh nhân loại (tôn giáo tín ngưỡng,
toán học, văn học, nghệ thuật, thiên văn học): Cư dân Ai Cập coi sông Nile, thần sông là mẹ.
Các công trình kiến trúc cũng có rất nhiều những hình ảnh lượn sóng như những sóng nước.
Dùng sông để tạo nên những tác phẩm văn học hay, nghệ thuật ra đời => Đời sống văn hóa,
tín ngưỡng, sản xuất kinh tế của người dân.
KIM TỰ THÁP ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN NHỮNG CƠ SỞ NÀO? - Cơ sở tự nhiên:
+ Vị trí địa lý: KTT được xây dựng chủ yếu ở phía Bắc, tại đây địa hình
là những dải đồng bằng tương đối bằng phẳng, thích hợp để lựa chọn làm nơi
xây dựng những công trình lớn.
+ Khí hậu: giáp sa mạc Sahara khí hậu khô nóng tự nhiên thích hợp
bảo quản lưu giữ công trình cũng như bảo quản xác ướp.
+ Sông ngòi: sông Nin chảy từ Nam ra Bắc, tạo điều kiện cho việc vận
chuyển đá và các nguyên vật liệu khác.
+ Tài nguyên đá: phong phú, khu vực núi Nubia phía nam có những loại
đá phù hợp để xây dựng và trang trí, là vật liệu xây dựng chủ yếu của KTT;
ngoài ra còn có cát trên sa mạc Sahara.
+ Tài nguyên gỗ (Vùng núi phía Nam): đóng bè mảng, thuyền lớn để
vận chuyển đá trên sông - Cơ sở tôn giáo
+ KTT là kết quả của niềm tin tôn giáo
+ Người Ai Cập cổ quan niệm linh hồn bất tử dẫn đến nhu cầu bảo tồn thể xác
+ Niềm tin vào thế giới bên kia, về sự vĩnh hằng, chết ko phải là kết thúc
+ Sự tôn thờ Pharaoh của người Ai Cập cổ, Pharaoh là người có quyền
năng tối thượng được coi là thần hiện thân trên trái đất -> việc ướp xác và
xây dựng KTT là để chứng tỏ sự trường tồn và sự bất diệt của sức mạnh Pharaoh.
+ Sự chi phối của tôn giáo cũng tạo ra động lực và niềm tin cho những
người tham gia xây dựng KTT vì vs họ việc tham gia xây dựng như 1 sự cống
hiến cho các vị thần, là 1 niềm vinh dự lớn lao -> số lượng người tham gia luôn được đảm bảo - Cơ sở kinh tế
+ Khả năng phát triển kinh tế nông nghiệp vượt trội của AC thời kỳ cổ
Vương quốc không chỉ đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người dân, mà còn đáp
ứng được mọi nhu cầu xa xỉ của tầng lớp thống trị
+ Thời kỳ Trung và Tân vương quốc quan hệ kinh tế rộng mở hơn:
thương nghiệp (đặc biệt là ngoại thương rất phát triển, thủ công nghiệp cx phát triển mạnh - C
ơ sở chính trị: Nền chính trị Ai Cập tạo ra nhu cầu và khả năng cho các Pharaoh xây dựng KTT:
+ Thể chế nhà nước quân chủ chuyên chế và trung ương tập quyền mạnh là điều kiện
cần thiết để huy động và tiến hành các công trình vĩ đại
+ Pharaoh là người có quyền lực và sức mạnh vô hạn bởi sự kết hợp của vương quyền và thần quyền
+ Chính quyền trung ương đứng đầu là Pharaoh khẳng định quyền sở hữu tối cao đối
với mọi tư liệu sản xuất và nguồn của cải của đất nước, kể cả nguồn lực con người - Cơ sở xã hội
+ Sự phân hóa xã hội đã đưa tới sự hình thành các bộ phận giai cấp và tầng lớp khác
nhau để phục vụ những nhu cầu xa xỉ của giai cấp thống trị (nông dân công xã trực tiếp sản
xuất tạo ra nguồn của cải cho đất nước, và
nô lệ là lực lượng lao động trực tiếp xây dựng các công trình kiến trúc)
+ Sự phân công lao động hợp lý tạo nên sự lành nghề, chuyên môn hóa cao của đội ngũ
kiến trúc sư, thợ thủ công. Điều này để lại dấu ấn trên các công trình kiến trúc và điêu khắc
+ Ngoài ra, cơ sở về tri thức khoa học và kỹ thuật thiên văn học, toán học…đóng góp
rất lớn cho việc xây dựng KTT Ở thời cổ, KTT chỉ là lăng mộ của các vị vua và nhà vua thời
cổ nắm mọi quyền hành. Về sau, bên cạnh KTT của các vua thì còn có KTT của các lãnh
chúa, tăng lữ, thương nhân, số lượng KTT ngày càng tăng lên nhưng quy mô thì nhỏ đi.
Lý do: Khi quân đội Ba Tư, Hy Lạp, La Mã đến xâm lăng và sáp nhập AC vào đế quốc
của họ, Nhưng nền văn minh của họ vẫn tồn tại, tại vì nói chung những nước xâm lược này
vẫn tôn trọng nền văn minh cổ Ai Cập và cho nó
được tiếp tục. Tuy nhiên, nền văn minh cổ Ai Cập đã không thể tiếp tục tồn tại khi Đế quốc
La Mã chuyển theo Thiên Chúa Giáo, đưa Thiên Chúa Giáo vào AC. Quan niệm vương quyền
của Ai Cập đã lung lay trước sự ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo, và các ông vua không còn là
biểu tượng của thần linh
nữa. Tín ngưỡng tang ma của người Ai Cập (biểu hiện qua việc ướp xác) cũng mâu thuẫn với
những điều trong Thiên Chúa Giáo. Khi quan niệm vương quyền thần linh không còn => nền
văn minh cổ Ai Cập tàn lụi dần.
ẢNH HƯỞNG VÀ VAI TRÒ CỦA VĂN MINH ẤN ĐỘ ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG
❖ Cách thức để nền văn minh Ấn Độ được truyền bá rộng rãi sang các quốc gia phương Đông: - Ấ
n Độ chủ động đưa văn hóa, hóa văn minh của đất nước mình ra bên ngoài: đối với khu vực
Phương Đông nói chung và Đông Nam Á nói riêng, nghe từ khi bắt đầu công nguyên, từ cái
nền chung là cơ tầng văn hóa bản địa thì những Cư dân ở đây đã bắt đầu gặp làn sóng văn hóa
Ấn Độ Đến các khu vực này theo chân các thương gia và những nhà truyền đạo của Ấn Độ.
+ Một số thương nhân Ấn Độ đã đến khu vực này và hoạt động làm cho nền kinh tế cũng
như việc trao đổi sản phẩm ở các khu vực này phát triển, đồng thời văn hóa Ấn Độ cũng theo đó mà tiền vào.
+ Một số nhà truyền đạo cũng theo các thuyền buồm đến Đông Nam Á, đồng thời một số
thương nhân ở Việt Nam cũng sang Ấn Độ để giao lưu, nhờ đó mà tiếp thu được nền văn hóa Ấn Độ.
+ Ngoài ra nhiều bộ tộc ở Đông Nam Á còn tiếp nhận cách thức tổ chức xã hội và chính
quyền của Ấn Độ để thành lập nên các quốc gia riêng, tuy nhiên để tổ chức một nhà nước vương
quyền theo Ấn Độ thì không thể tách tôn giáo. Qua đó, đó là khi tạo dựng một quốc gia thì các
cư dân Đông Nam Á đã tiếp nhận tôn giáo của Ấn Độ. - L
ý giải việc Văn Minh Phương Đông tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ: giữa Ấn Độ và phương
Đông đặc biệt là Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng với nhau sau đó tạo điều kiện tiếp
nhận nền văn minh Ấn Độ:
+ Vị trí địa lý: Đông Nam Á nằm giữa trục giao lưu đông tây và nam bắc, Chắc từ rất
sớm đã trở thành con đường giao thương trên biển nối không thế giới Đông Tây, sữa Trung Hoa
vừa Ấn Độ, Ấn Độ và thế giới phương Tây I và trở thành ngã tư của các nền văn minh. nổi lên
đó là mối quan hệ giao thương, buôn bán bán và đã là tiền đề, cơ sở để các cư dân Đông Nam Á
tiếp thu, học hỏi nền văn hóa lớn của thế giới cổ đại lúc mấy giờ.
+ Giao thông đường thủy: khu vực Đông Nam Á nói chung và đặc biệt là bán đảo Đông
Dương và các đảo trong vùng đều chịu ảnh hưởng của gió mùa. Những luồng gió theo mùa và
định hướng đã tạo điều kiện cho con người có thể vượt biển bằng các phương tiện thô sơ, tạo
điều kiện cho các hoạt động hàng hải và trao đổi với nhau, trong đó có nền văn hóa.
+ Tộc người: những tộc người ở Đông ấn có quan hệ mật thiết với một số tộc người ở
Đông Nam Á tiền sử tạo nên sự gần gũi trong phong tục, tập quán giữa hai khu vực. Chính
những nét tương đồng này mà các nhà Du Thám, những nhà buôn, Những nhà truyền giáo và cả
những đội quân xâm lược thực dân của phương tây đều coi Đông Nam Á là vùng Đông ấn hay
ngoại Ấn Độ, trong suốt một thời gian dài các nhà khoa học đã gọi các quốc gia cổ đại ở Đông
Nam Á là quốc gia “Ấn Độ Hóa”.
+ Hoạt động kinh tế: cư dân phương đông bao gồm cả Ấn Độ có chung một nền tảng văn
hóa, lấy sản xuất nông nghiệp làm phương thức hoạt động kinh tế chính.
Ngoài ra có thể lý giải điều này như sau: nền văn minh nào phát triển và rực rỡ hơn sẽ
được các quốc gia trên thế giới tiếp nhận. tiêu biểu như đối với Ấn Độ bộ mà là nơi có nền văn
minh vô cùng phát triển và rực rỡ ở trên tất cả các mặt về chữ viết, văn học, tôn giáo, nghệ thuật
đồng thời với sự chủ động đưa nền văn minh của mình ra bên ngoài thì Ấn Độ đã nhận được sự
tiếp thu mạnh mẽ của văn minh Phương Đông hay các quốc gia, khu vực khác trên thế giới.
Phương Đông và đặc biệt là Đông Nam Á chịu ảnh hưởng sâu sắc và tiếp nhận nền văn minh Ấn
Độ nhưng không vì thế mà các vùng này biến thành khu vực “Ấn Độ hóa”, từ nền văn minh Ấn
Độ, văn minh các nước phương đông có thêm luồng gió mới tạo nên sự đa dạng trong văn hóa mỗi nước.
❖ Ảnh hưởng của văn minh AD đến sự phát triển của văn minh phương Đông:
Ấn Độ là một đất nước có lịch sử từ lâu đời, là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại.
Với vị trí địa lý nằm ở khu vực Nam Á vậy nên văn minh Ấn Độ không những ảnh hưởng trực
tiếp mà còn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn minh phương Đông.
Văn minh Ấn Độ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phân hóa xã hội, khi hình
thành những nhà nước cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á: Nhiều quá trình giao lưu, buôn bán mà
thương nhân các quốc gia Đông Nam Á có điều kiện được sang Ấn Độ để học hỏi, tiếp thu những
thành tựu của đất nước này cho dân tộc mình; đồng thời thương nhân Ấn Độ cũng sang Đông
Nam Á để truyền đạo và lập nghiệp. Quá trình đó tạo nên cơ hội để các quốc gia Đông Nam Á
tiếp nhận các cấp tổ chức và xây dựng bộ máy nhà nước. Chính vì vậy mà ở giai đoạn này một số
nhà nước được hình thành ở Đông Nam Á có mang tính chất vương quyền của Ấn Độ.
Sự hình thành và phát triển của nền văn minh phương đông gắn liền với việc tiếp thu ảnh hưởng
của nền văn minh Ấn Độ. Những ảnh hưởng này khá toàn diện và sâu sắc cả về triết học, tôn giáo,
chữ viết, văn học, học nghệ thuật và khoa học tự nhiên.
- Chữ viết: Sớm được hình thành và thường được dùng để lưu trữ thông tin, văn học và
lưu chuyển hàng hóa. Là cơ sở hình thành nên chữ viết Ấn Độ hiện nay, chữ Sanskrit của Ấn
Độ đã tạo cơ sở để các nước Đông Nam Á sáng tạo ra chữ viết riêng cho quốc gia mình.
- Văn học: Những thành tựu rực rỡ của kinh Vê-đa và những tác phẩm sử thi nổi tiếng
đậm đà bản sắc dân gian như như Ramayana, Mahabharata… cũng tạo nên ảnh hưởng sâu sắc
đối với các nước phương Đông, đặc biệt là là các quốc gia Đông Nam Á. Văn học Ấn Độ được
truyền bá đồng thời cùng các văn minh trên từ đó mang đến phong cách sử thi, anh hùng cho văn học phương đông.
- Tôn giáo: Các tôn giáo lớn ở Ấn Độ truyền đạo và các thương nhân mang đạo lan ra
ngoài biên giới. Khi đạo Hindu trở thành quốc giáo của Campuchia, Thái Lan, ... Đạo Phật phát
triển mạnh ở các nước như Việt Nam, Trung Quốc… Những nét đặc sắc trong tôn giáo Ấn Độ
được các quốc gia này tiếp thu và trên cơ sở đó hình thành những nét đặc sắc riêng trong đời
sống tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc mình.
- Nghệ thuật: Ấn Độ được biết đến là một đất nước có nền nghệ thuật phát triển rực rỡ,
nhiều thành tựu trong kiến trúc và điêu khắc. Các công trình kiến trúc và điêu khắc của Ấn Độ
với những nét độc đáo trong và chịu
ảnh hưởng bởi các tôn giáo lớn được các quốc gia Phương Đông học hỏi và áp dụng. Điều đó
được thể hiện rất rõ khi phần lớn các công trình kiến trúc ở nhiều nước Đông Nam Á, đặc biệt
những công trình mang tính tôn giáo đều mang đậm dấu ấn Ấn Độ.
- Khoa học tự nhiên: Thiên văn, vật lý, toán học, y học… cũng được các nước phương
Đông tiếp thu và học hỏi. Một số tác phẩm về sử học, y học
của Trung Quốc có sự học hỏi, vận dụng và tiếp thu từ Ấn Độ.
Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội
loài người, tức là trạng thái phát triển cao nhất của nền văn hoá. Trái với văn
minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
\Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa, văn minh Hy Lạp,…
Văn minh có tính siêu dân tộc (quốc tế). Những thành tựu văn minh xuất hiện
ở xã hội Phương Tây đô thị.Văn hóa có trước văn minh (loài người xuất hiện
thì văn hóa cũng xuất hiện). Tuy nhiên, có những thành tựuvăn hóa có giá trị
nhưng không tiến bộ, còn các giá trị văn minh đều mang tính chất tiến bộ ở
đỉnh cao. Vănminh có nghĩa hẹp nhưng mang tính chất đỉnh cao.
So sánh văn hoá với văn minh
Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng
tạo ra để góp phần vào sự ổn định, tô điểm, làm đẹp cho cuộc sống của con người và xã hội.
Đặc trưng của văn hoá: Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc
trưng riêng của xã hội loài người. Không được kế thừa về mặt sinh học (di
truyền) mà phải học tập, giao lưu. Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá.
Ấn Độ là nơi ra đời của nhiều tôn giáo trong đó quan trọng nhất là đạo Bà La Môn
(sau là đạo Hinđu) và đạo Phật. Ngoài ra còn một số tôn giáo khác như đạo Jain, đạo
Xích. Các tôn giáo có vai trò quan trọng và chi phối cả đời sống chính trị - xã hội của
nhân dân Ấn Độ. Nhiều tôn giáo đã vượt ra ngoài phạm vi Ấn Độ trở thành tôn giáo mang tính quốc tế.
◻Sự hình thành đạo Bà La Môn
- Tiền đề kinh tế - xã hội: Đến đầu thiên niên kỷ thứ I TCN, chế độ đẳng cấp đã phát
triển khá sâu sắc trong đời sống xã hội.
- Tiền đề tư tưởng:Vào đầu thời kỳ Vêđa (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II
TCN), trong quan niệm tư tưởng của người Ấn Độ còn nhiều dấu vết của thời kỳ thị
tộc. Họ cho rằng vạn vật đều có linh hồn cho nên trong tín ngưỡng của mình, người
Ấn Độ sùng bái rất nhiều thứ. Người Aryan lúc này đã có sự tiếp thu, học tập một số
tín ngưỡng của cư dân bản địa kết hợp với các tín ngưỡng sẵn có của mình. Các tín
ngưỡng dân gian dần tập hợp thành một tôn giáo lớn: Đạo Bà La Môn.
- Người sáng lập: Do đặc điểm hình thành từ sự tập hợp các tín ngưỡng dân gian nên
có thể thấy đạo Bà La Môn là một tôn giáo không có cá nhân sáng lập, không có tổ
chức giáo hội chặt chẽ.
◻Đặc điểm giáo lý cơ bản của đạo Bà La Môn
- Thế giới quan: đạo Bà La Môn có thuyết Luân hồi (Samsara). Đó là một thuyết tôn
giáo cho rằng linh hồn của con người (Atman) là một bộ phận của Brahma. Mà
Brahma tồn tại vĩnh hằng nên con người có sống có chết nhưng linh hồn thì còn mãi
mãi và sẽ luân hồi trong nhiều kiếp khác nhau. Người nào giữ đúng luật lệ tôn giáo
và các quy tắc của thần định sẵn thì sẽ được đầu thai làm người ở kiếp sau, ngược
lại sẽ bị đầu thai làm chó, lợn những loài động vật bẩn thỉu khác nếu vi phạm những điều cấm kị…
- Nhân sinh quan: là công cụ bảo vệ đắc lực cho chế độ đẳng cấp đang tồn tại ở Ấn
Độ. So sự phân hóa giai cấp, sự phân công nghề nghiệp mà chế độ đằng cấp được
hình thành bao gồm 4 đẳng cấp: •
Brahman:đẳng cấp tăng lữ, những người làm nghề tôn giáo •
Kshastriya: đẳng cấp chiến sĩ,thực hiện chức năng thế quyền •
Vaisya:lực lượng lao động chính, số lượng đông đảo nhất => đẳng cấp những
người bình dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, một số nghề thủ công •
Soudra:đẳng cấp của những người cùng khổ =>những tù binh bị bắt trong
chiến tranh, những người bị nợ không trả được, phải hầu hạ, phục dịch ba đẳng cấp trên
Đẳng cấp Braman dùng uy lực của thần linh để giải thích hiện tượng xã hội
ấy, bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội lúc bấy giờ. “Bà La Môn
có quyền là Chúa tể của tất cả các tạo vật ấy” (Trích Bộ luật Manu đầu công
nguyên). Ngoài Bà La Môn, chỉ có Kshastriyavà Vaisya được trở thành tín đồ của đạo
Bà La Môn và đều được sinh ra hai lần. Còn Soudra chỉ được sinh ra có một lần và
không được tham gia các buổi lễ tôn giáo.
- Thờ phụng thần linh: Đạo Bà La Môn là một tôn giáo đa thần, vị thần gần gũi
nhất là Indra thần mưa bão, sấm sét. Brahma là vị thần sáng tạo thế giới, Shiva là
thần hủy diệt thế giới, Vishnu là thần bảo vệ ánh sáng, bảo tồn vũ trụ, bốn mùa,
thần làm cho nước sông Hằng dâng lên và làm mưa để tưới tiêu cho đồng ruộng…
Cho tới đầu công nguyên, đạo Bà La Môn phân chia thành 2 phái: phái thờ
thần Shiva và phái thờ thần Vishnu. Để thống nhất về tư tưởng, đạo Bà La Môn đưa
ra quan niệm rằng 3 vị thần đó tuy là ba nhưng vốn là một. Ngoài ra, đạo Bà La Môn
sùng bái rất nhiều loài vật như voi, khỉ, bò,…
- Hệ thống kinh điển: hệ thống kinh Veda và một số tác phẩm sau như Upanishad.
◻Sự hình thành và giáo lý cơ bản của đạo Hinđu
Sau một thời gian hưng thịnh, đến khoảng thế kỉ thứ VII, đạo Phật suy sụp ở
Ấn Độ. Nhân tình hình đó, đạo Bà La Môn dần phục hưng, đến khoảng thế kỉ thứ VIII
- IX, đạo Bà La Môn đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới và phát triển thành đạo
Hinđu (hay còn gọi là Ấn Độ giáo).
- Thế giới quan: cũng chú trọng thuyết luân hồi, cho rằng sau khi chết linh hồn sẽ
đầu thai nhiều lần tùy thuộc vào Nghiệp báo (Karma) của người đó khi còn sống.
- Nhân sinh quan:tiếp tục ủng hộ chế độ phân chia đẳng cấp, trên cơ sở 4 đẳng
cấp cũ (Varna) đã hình thành nên nhiều đẳng cấp nhỏ (Jati) với các quy luật hết sức
khắt khe. Đạo Hinđu cũng duy trì nhiều hủ tục lạc hậu như tảo hôn, vợ góa phải hỏa
táng theo chồng, nếu không tuẫn tiết thì phải cạo trọc đầu ở vậy đến hết đời. Ngày
nay, các hủ tục đó đều đã bị bãi bỏ.
- Thờ phụng thần thánh:sùng bái chủ yếu ba vị thần Brahma, Vishnu và Shiva;
chia thành hai phái là phái thờ thần Vishnu và phái thờ thần Shiva.
- Hệ thống kinh điển: tiếp tục kế thừa hệ thống kinh điển từ đạo Bà La Môn.
◻Vai trò và ảnh hưởng
Đạo Hinđu trong suốt chiều dài lịch sử được coi là tôn giáo chủ yếu ở Ấn Độ, một trong những
tôn giáo lớn trên thế giới. Tín đồ của đạo Hinđu có ở Ấn Độ, Băng- la-đét, Sri Lanka, Indonesia,
Indonesia và một bộ phận người Chăm ở Việt Nam.
1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG GIÁO LÝ CƠ BẢN
1.1.1 Sự ra đời của Phật giáo
- Tiền đề kinh tế xã hội: Phật giáo là một trong những tôn giáo cổ nhất thế giới,
ra đời tại đất nước Ấn Độ trong thời kỳ của nền văn minh Vêđa, đây cũng là thời kỳ mà Ấn Độ đạt
được những thành tựu to lớn về văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, kinh tế
- xã hội, tư tưởng,…Ấn Độ thời kỳ Vêđa do có sự phát triển của sản xuất, sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất đã dẫn đến sự phân hóa và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc.
Cùng với hệ tư tưởng của đạo Bà La Mônđã tác động đến sự phân hóa về đẳng cấp ngày càng khắc nghiệt.
- Tiền đề tư tưởng: Đến giữa thiên niên kỷ thứ I TCN, tại Ấn Độ đã xuất hiện một số dòng tư tưởng
chống đạo Bà La Môn (dòng tư tưởng Sa Môn) và Phật giáo là một trong số đó.
- Người sáng lập: Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Phật là Siddhartha Gautama sau khi
trải qua quá trình tu hành, giác ngộ chân lý và lẽ sống sinh tử, người bắt đầu đi truyền bá, giảng
dạy giáo lý và xưng pháp hiệu là Sakya Muni Siddhartha Gautama:
◻Con trai của nhà vua Suddhodana và hoàng hậu Maya, sinh vào năm 624 TCN tại vườn Lumbini
nằm ở miền Nam Nepal ngày nay (có tài liệu ghi là năm 563 TCN)
◻Năm 29 tuổi,nhận ra rằng rất cả mọi sinh linh đều phải trải qua nỗi đau khổ của sinh, lão,
bệnh, tử =>người quyết định xuất gia tu hành, rời bỏ những cám dỗ về cuộc sống xa hoa,
những thú vui trần tục.
◻Năm 35 tuổi, người đã đạt đến cảnh giới giác ngộ, nắm bắt được mọi đau khổ, nguồn gốc của
đau khổ và con đường để chấm dứt những đau khổ do luân hồi sinh tử gây ra.
◻Trong suốt 45 năm sau đó, đức Phật (hay Buddha với ý nghĩa là người đã giác ngộ, hiểu được
chân lý) bắt đầu con đường thuyết pháp để giáo hóa chúng sinh.
1.1.2 Giáo lý cơ bản của đạo Phật
Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo được tóm tắt qua câu nói của đức Phật:
“Trước đây và ngày nay ta chỉ lý giải và nêu ra cái chân lý về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ”
“Cũng như nước đại dương chỉ một vị là mặn, học thuyết của ta chỉ một vị là cứu vớt”.
- Thế giới quan:nội dung cơ bản là thuyết Duyên khởi. Duyên khởi là nói tắt của câu “Chư pháp do
duyên nhi khởi” có nghĩa là “Các pháp đều do nhân duyên mà có”. Nhưng duyên ở đâu mà có? Học
thuyết Phật giáo giải thích rằng duyên khởi từ tâm mà ra. Tâm là nguồn gốc của duyên khởi cũng là
nguồn gốc của vạn vật.
Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên chủ trương Vô tạo giả nghĩa là không có vị thần linh tối
cao nào sáng tạo ra vũ trụ. Đây là một nội dung cơ bản mà đạo Phật nêu ra chống lại thuyết của đạo
Bà La Môn đồng thời cũng là điểm khác biệt quan trọng giữa Phật giáo và nhiều tôn giáo khác trên thế giới.
Đức Phật còn nêu ra các thuyết Vô ngã và Vô thường. Vô ngã là không có những thực thể tồn tại một
cách cố định. Con người cũng chỉ là thụ thể tập hợp bởi Ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức chứ
không phải một thụ thể tồn tại lâu dài. Vô thường là mọi sự vật đều ở trong quá trình sinh ra, biến
đổi và tiêu diệt chứ không bao giờ ổn định.
Một trong những giáo lý quan trọng nhất của đạo Phật là Tứ diệu đế (Bốn chân lý), bao gồm: Khổ
đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
◻Khổ đế là chân lý về các nỗi khổ ở đời. Mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn
vẹn. Sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, cầu bất đắc, ái biệt ly, chấp ngũ uẩn… đều là khổ.
◻Tập đế là chân lý về sự phát sinh của khổ, nguyên nhân của khổ là từ luân hồi. Luân hồi do
nghiệp báo phát sinh từ sự ham muốn, thỏa mãn của con
người, thỏa mãn được trở thành, thỏa mãn được hoại diệt,… Khi còn ham
muốn là còn nghiệp báo và luân hồi, đau khổ sẽ còn tồn tại mãi mãi.
◻Diệt đế là chân lý về diệt trừ khổ đau. Một khi gốc của mọi tham ái đều được
tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. Muốn chấm dứt luân hồi sinh tử thì phải chấm dứt
nghiệp, trừ bỏ hết mọi ham muốn.
◻Đạo đế là chân lý về con đường dẫn đến diệt khổ. Con đường đó gồm Bát
chính đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tịnh tiến,
Chính niệm, Chính định =>Bát chính đạo tức là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn.
- Quan điểm xã hội: Phật giáo không quan tâm đến chế độ đẳng cấp vì cho rằng nguồn gốc xuất thân
của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt. Tất cả mọi người đều bình đẳng một khi đã
tu hành theo học thuyết của Phật. Đạo Phật mong muốn một xã hội cai trị bởi vị vua có đạo
đức, nhân dân được an cư lạc nghiệp.
- Giới luật:đức Phật dạy tín đồ Phật tử hành trì Ngũ giới (5 giới luật của đạo Phật) là: không sát
sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
- Hệ thống kinh điển: Tam tạng kinh điển của Phật giáo là Kinh, Luật, Luận. oKinh: ghi lại lời giảng của đức Phật
oLuật: giới luật của người tu hành do đức Phật đề ra và được phát triển thêm
oLuận: do các tu sĩ Phật giáo luận bàn, phát triển các tư tưởng, triết lý của tôn giáo này.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở ẤN ĐỘ VÀ SỰ TRUYỀN BÁ CỦA TÔN GIÁO NÀY RA BÊN NGOÀI
Quá trình phát triển của Phật giáo ở Ấn Độ
- Sau khi đức Phật nhập diệt, giáo lý của đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp miền Bắc Ấn Độ. Để
soạn thảo giáo lý, quy chế và chấn chỉnh về tổ chức, đạo Phật đã trải qua ba Đại hội kết tập kinh điển.
- Thế kỷ III đến thế kỷ II TCN, Phật giáo trở thành quốc giáo của Ấn Độ, đặc biệt phát triển rực rỡ dưới triều vua Asoka
- Đến Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV, tức là khoảng 100 năm sau CN, Phật giáo bắt đầu có sự
phân chia thành hai phái Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana) với nhiều quan điểm
khác nhau về cảnh giới Niết Bàn, về sự “tự giác giác tha”, một số nghi thức,…
- Đến khoảng thế kỉ VI, Phật giáo suy tàn và biến mất ở Ấn Độ. Có nhiều nguyên nhân lý giải cho
việc Phật giáo bị tiêu diệt ở chính mảnh đất mà tôn giáo này sinh ra và phát triển đến cực thịnh:
◻Sự đấu tranh về mặt tư tưởng gay gắt giữa Phật giáo và Hinđu giáo đặc biệt xoay quanh vấn đề chế
độ đẳng cấp. Đạo Hinđu đã có sự thay đổi cả về giáo lý để giành chiến thắng trong cuộc đấu
tranh ấy. Họ tuyên truyền Đức Phật là một kiếp hóa thân của vị thần Vishnu, lôi kéo các tín đồ
Phật giáo quay lại với đạo Hinđu. Bên cạnh đó, đẳng cấp Bà La Môn cũng có sự thỏa hiệp,
nhượng bộ với giai cấp thống trị Sát Đế Lị (Sattria) để ngược đãi các tín đồ Phật giáo, bôi nhọ, hạ
nhục các giáo lý, tu viện Phật giáo.
◻Sự truyền bá mang tính bạo lực của Hồi giáo đã phá hủy nhiều chùa chiền, tu viện, thánh tích của Phật giáo.
Đến thế kỉ thứ VI, Phật giáo ở Ấn Độ đã bắt đầu có sự chia rẽ, hình thành nhiều tông phái mới, tư
tưởng của Phật giáo nguyên thủy ít nhiều bị biến đổi. phức tạp, trộn land với tư tưởng của một số tôn
giáo khác. Một số ý kiến cũng cho rằng, sự suy Sự truyền bá của Phật giáo ra bên ngoài
- Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau Đại hội lần thứ III, đạo Phật được truyền đến Sri Lanka sau đó
truyền bá vào Miến Điện, Thái Lan, Indonesia,…
- Cũng sau Đại hội kết tập kinh điển lần thứ IV, quá trình truyền bá Phật giáo qua nước ngoài ngày
càng phát triển. Đạo Phật được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á, Trung Quốc, Đông Nam Á…
=> Phật giáo có sự truyền bá và ảnh hưởng mạnh mẽ ra bên ngoài Ấn Độ. Hiện nay, Phật giáo là một trong
những tôn giáo lớn nhất trên thế giới với số lượng tín đồ đông đảo. Nhiều quốc gia đã chọn Phật giáo
làm quốc giáo như Thái Lan, Mianma, Sri Lanka,… Ngày Tam hợp của đức Phật (Phật đản sinh, thành
đạo, nhập diệt) đã được Liên hợp quốc công nhận là ngày lễ tôn giáo mang tính quốc tế