



















Preview text:
Quan hệ quốc tế Đông Á TS: Nguyễn Vũ Kỳ
Gmail: kyvu.jp@hcmussh.edu.vn
PHẦN 1: QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở KHU VỰC ĐÔNG Á
giao lưu và tiếp nhận văn hóa
1.1 Các quốc gia cổ ở khu vực Đông Bắc Á 1.1.1
Trung Quốc: gần 5000 năm. -
Hạ, Nghiêu (2356 – 2255 TCN) -> Thương, Ân (2255 -2205) -> Chu: Văn vương, Võ vương ->
Xuân Thu (722 – 479 TCN) -> Chiến Quốc (478 – 211 TCN)
-Thế kỷ thứ III TCN năm 221,TCN nhà Tần thống nhất đất nước, xây dựng bộ máy chính quyền trở
thành đế quốc cổ đại mạnh nhất châu Á, trung tâm văn mình nhân loại buổi bình minh.
-> sau: Nhà Hán, Tam Quốc, Nam Bắc, Triều, Tùy, Đường. 1.1.2
Thế kỷ III TCN bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản chuyển sang giai cấp Xã hội có giai
cấp => nhà nước sơ kỳ
Triều Tiên TCN – đầu CN
- TNK III (2333), Tangsun (Đàn quân), Kochoson (cổ TT)
- TK III, Ảnh hưởng của chiến tranh nông dân cuối thời nhà Hán TQ làn sóng di dân của Trung
Quốc, trong đó có một tướng nhà Yên sang TT => lập ra một triều đại mới Wiman Choson.
- 108 TCN, Hán Vũ Đế xâm lược cổ Triều Tiên. Tiến trình di dân theo làn sóng nô lệ, Triều Tiên bắt
đầu tiếp xúc với Trung Quốc nhiều hơn, tiếp thu cách tổ chức bộ máy nhà nước và văn hóa (văn
minh chữ Hán) của Trung Quốc. Quá trình phong kiến hóa Triều Tiên bắt đầu.
----- Sau Công Nguyên-------
- TKI: Tam Quốc hình thành ba nhà nước nhỏ: Tân La (năm 57 phía Nam), Cao Câu Ly (năm 38,
phía Bắc), Bách Tế (năm 18, miền Trung). Chung một tộc người, một ngôn ngữ nhưng có do có sự
chia rẽ trong nội bộ đất nước xảy ra nhiều tranh chấp.
Nhật Bản TCN – đầu CN -
Văn minh xuất hiện trễ hơn, Thiên niên kỷ VIII – TK III: Jomon văn hóa bản địa của Nhật Bản -
TK III: Văn hóa Yayoi (Di Sinh, 250 TCN – 250), theo chân di dân từ Triều Tiên sang Kyushu, thay thế VH Jomon. -
Nghề trồng lúa: những người di dân từ miền nam Trung Quốc -> sang Nhật Bản -> biến đổi đời sống. -
Cuối TKIII – VIII: Văn hóa Kofun (cổ phần) từ Triều Tiên -
Nhật bản hai lần tiếp nhận văn hóa từ Triều Tiên. -
Sau thời kỳ thái tử Shotoku, năm 645, cải cách Taika (Đại hóa) -> học tập văn minh Trung Quốc,
tiến hành đại cải cách toàn diện đất nước (cơ cấu nhà nước, chế độ ban điền, chế độ tô – dung –
điệu) -> tiếp thu chọn lọc, nét riêng của văn hóa Nhật Bản. Khiển Đường Sứ (nhà Đường, 618 –
907): cử sứ giả và du học sinh sang TQ -
Năm 734, Phán quan Heiguchi Hionari, trên đường về nước thì gặp nạn, trôi dạt vào Côn Lôn (Vương quốc Champa).
Trong lịch sử giao lưu Nhật Bản và Trung Quốc, Abe no Nakamaro: năm 717 đi sứ nhà Đường, du học ở kinh
đô Trường An. Thân giao với nhiều văn nhân, thi sĩ nổi tiếng của nhà Đường. Năm753, trên đường về đường
gặp nạn trôi dạt vào VN mở đầu cho mối quan hệ ngoại giao ở VN – NB.
Như vậy: QHQT Đông á ở thời kỳ cổ đại:
Văn minh Trung Quốc với bảo vật chữ Hán, Nho giáo, chế độ luật lệnh truyền bá sang châu Á -> Dòng chính
QHQT Đông Á thời cổ, luôn có xung đột nhưng chủ yếu là truyền bá và tiếp nhận văn minh (quan hệ giao
lưu, truyền bá văn hóa – kinh tế và xác lập quan hệ ngoại giao)
Triều Tiên là cầu nối quan trọng, thông qua đó các nước trong khu vực có tác động và ảnh hưởng lẫn nhau.
Nhật Bản tiếp thu văn minh, biến thành nét đặc trung riêng đồng thời cũng tìm cách xác lập vị thế đối đẳng, ảnh hưởng ngược lại.
1.2. Giao lưu, truyền bá và tiếp nhận văn minh
1.2.1. Giao lưu giữa Trung Quốc và Nhật Bản
- Hán (202 TCN – 220): Hán Thư đông di truyền chép người nhật gọi là “người lùn” (Nụy Nhân), Hậu Hán
thư: năm 57, sửa gọi thành Nụy Nô cử sử đến “triều cống” nhà Hán, vua Quang Vũ ban ấn vàng (1784, tìm
thấy ở Kyushuu: “Hán Nụy nô quốc vương”).
- Thời kỳ Tam Quốc (220 – 280) giao lưu giữa nhà Ngụy của Trung quốc và Nhật Bản rất phát triển, trong
quyển Nụy chí Nụy Nhân truyền. Ghi chép rằng năm 239, vương quốc Yamatai khi đó do nữ vương Himiko
cai trị đã cử sứ đoàn sang TQ (nô lệ, tặng vật). -> Nhà Ngụy lại ban ấn vàng : “Thân Ngụy Nụy vương”.
- Ngụy thư đông di truyện (297): nhiều hoạt động giao hảo của Trung Quốc và Nhật Bản diễn ra.
1.2.2. Giao lưu, truyền bá giữa Triều Tiên và Nhật Bản
- TKIII: Triều Tiên ảnh hưởng Nhật Bản -> mộ lớn để mai táng tộc trưởng -> khởi đầu Văn hóa Kofun
- TK IV, Vương quốc Yamato, vùng Kinki. Từ Kinki, vương quốc Yamato phát triển khắp đất nước.
- Thời Yamato, Nhật Bản ra sức tiếp thu, giao lưu văn hóa, kinh tế của Triều Tiên và Trung Quốc -> NB phát
triển vượt bậc trở thành quốc gia hùng mạnh ở Đông Á + quan hệ mật thiết, ảnh hưởng trở lại TQ và Triều Tiên:
- Đặc biệt là thái tử Shotoku (574 – 622) thay mặt Thiên hoàng nhiếp chính.
Tích cực tiếp thu chế độ luật lệnh, văn hóa Trung Quốc, kỹ thuật Triểu Tiên và phật giáo để phát triển đất nước.
Bành trướng mạnh mẽ quyền lực ở Triều Tiên, liên minh với Vương Quốc Bách Tế (Peakeche) ở
miền Trung để chống lại Cao Cú lệ (Koguryo) ở phía Bắc.
Cố gắng thiết lập mối quan hệ đối đẳng (Taitou) với TQ -> Quốc thư của Yamato gửi Tùy Dương đế:
“Thiên tử xứ Mặt trời mọc kính gửi Thiên tử xứ Mặt trời lặn”.
PHẦN 2: QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG Á THỜI TRUNG ĐẠI
- Xung đột và chiến tranh -
2.1 Các cuộc xung đột ở khu vực Đông Á
- Thời Cổ đại, QH Trung-Triều-Nhật ít có sự xung đột ngoại trừ nội bộ TT và TQ. Sau khi nhà Đường sụp đổ,
xung đột lan rộng ở Trung Quốc, lan sang TT và cuốn NB vào.
- Năm 907, nhà Đường sụp đổ -> loạn lạc và cát cứ. LS Trung Quốc -> thời kỳ Ngũ Đại Thập quốc kéo dài 53 năm 907 – 960.
- Cũng là thời kỳ trỗi dậy của các bộ tộc phía bắc, chủ yếu là Khiết Đan, (Khitan là một bộ tộc du mục, thiện
chiến sống chủ yếu ở phía Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên ngày nay khi nhà Đường suy yếu họ
đánh chiếm một bộ phận đông bắc TQ và lập nước khiết Đan, nhiều lần xâm nhập sâu vào nội địa TQ và
đóng kinh đô ở Bắc Kinh hiện nay. Có thời lấy tên là Liêu).
Sau Khiết Đan -> xuất hiện người Bắc Tống (960 -1127), cơ bản kết thúc thời kỳ ngũ đại thập quốc
Tiếp tục chống lại Khiết Đan -> Không bên nào giành được thắng lợi => kết nghĩa anh em (nhà
Tống làm anh, Khiết Đan làm em). Hàng năm nhà Tống cống nộp.
Cống nạp: Thể hiện sức mạnh chính quyền, làm suy yếu các Han, Phiên khi phải mang theo lễ vật lên làm suy yếu.
=> Khiết Đan bành trướng ra bán đảo Triều Tiên => TK VII – VIII, bán đảo Triều Tiên biến động. Trong suốt
nhiều năm xung đột giữa ba vùng trong Triều Tiên. Thì cuối cùng Tân La đã liên minh với Trung quốc (nhà
Đường) để chống lại Bách Tế và Cao Cú Lệ. Liên minh Trung Quốc – Tân La mạnh hơn liên minh Bách Tế
với Nhật Bản => Bách Tế ngày càng suy yếu.
Khi vào Triều Tiên, Trung Quốc nhòm ngó Koguryo rộng lớn ở phía Bắc. Năm 668, Liên quân TQ -Tân La
tiêu diệt được cả Bách Tế và Cao Cú Lệ. Sự tiêu diệt này tưởng như giúp Triều Tiên thống nhất thì Trung
Quốc lại thành lập các Đô hộ phủ để cai trị -> thôn tính luôn luôn Triều Tiên.
Phía Bắc Triều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc xuất hiện Nước Thần/Bột Hải (Parhae) khu vực này bao gồm
người Triều Tiên, người Khiết Đan sống hỗn hợp với nhau sau đó có thêm người Nữ Chân sau là người Mãn
Châu -> Quan hệ ở khu vực này phức tạp hơn. Người Khiết Đan nổi dậy đánh chiếm khu vực của Vương Quốc Phù Dư .
Tân La thống nhất Triều Tiên, cải thiện quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản (luôn cử các sứ đoàn sang ngoại
giao). Do Nhật Bản buôn bán với Bột Hải nhưng Tân La thù địch với vương quốc này. -> Ảnh hưởng quan hệ
Tân La và Nhật Bản, mặc dù Tân La luôn muốn giao hảo với Nhật Bản.
- Tân la thống nhất triều tiên, trong nước loạn lạc, hậu duệ Cao Câu Ly và Bách Tế nổi dậy:
+ Năm 918, Vương Kiến tướng của Cao Câu Ly tạo phản đổi tên thành Cao Ly.
+ Vua hậu Bách Tế, nổi dậy đánh Tân La, giết vua. Vua mới của Tân La cầu cứu Cao Ly -> Vương Kiến
chiếm Tân La diệt con cháu Bách Tế lập Cao Ly thống nhất cả nước.
Tuy nhiên trong nội bộ triều đình Cao Ly luôn xảy ra xung đột cùng với các cuộc nổi dậy nông dân khiến cho
tình hình Triều Tiên trong khoảng thời gian này luôn có những tranh chấp.
2.2. QHQT ở Đông Á dưới sự bành trướng của đế quốc Nguyên Mông
- Thế kỷ VII, xuất hiện một thế lực mới là Mông Cổ khiến cho khu vực xung quanh xảy ra chiến loạn liên miên.
- Thành Cát Tư Hãn thôn tính rất nhiều bộ lạc ở Mông Cổ và trở thành Đại Hãn.
- Người Mông Cổ xuất thân từ các bộ lạc du mục, cưỡi ngựa, bắn cung.
- Hốt Tất Liệt đánh bại các nước trên lãnh thổ Trung Quốc lập nên nước Nguyên thôn tính sang cả Ấn Độ,
châu Âu lập ra đất nước Mông Cổ rộng lớn (trải dài từ châu Âu và châu Á).
- Khi thôn tính TQ, tiến hành các chiến dịch thôn tính Cao Ly -> lôi kéo, mua chuộc, liên minh với Cao Ly để
chống lại các thế lực khác trên lãnh thổ TQ, khiến Cao Ly phụ thuộc vào nước mình.
- Từ 1259, trực tiếp chi phối Cao Ly, đặt quan lại người Mông Cổ cai trị, bắt Cao Ly cống tiến phụ nữ xinh
đẹp cho quan lại Mông cổ và bắt con gái Mông Cổ lấy người Cao Ly (đây là một chính sách đồng hóa, triệt
tiêu đi khả năng phản kháng về lâu về dài). Sử dụng Triều Tiên làm bàn đạp để tiến công sang Nhật Bản.
-> Các cuộc tấn công của Trung Quốc về lâu dài sau này cũng theo hướng này mà đánh sang Nhật Bản.
Chiến dịch xâm chiếm Nhật Bản lần thứ nhất 3 vạn quân của Hốt Tất Liệt đánh qua Nhật Bản gặp Cuồng
phong thuyền bị đánh chìm. -> thất bại,
Sau 7 năm, chuẩn bị chu toàn mang theo 13 vạn quân tiến đánh Nhật Bản lần hai. Đạo quân phía Nam TQ
đang di chuyển lên kết hợp với quân Nguyên Mông Triều Tiên thì gặp cuồng phong đánh tan tác 2/3 số quân.
-> quân Nguyên Mông nhận thất bại lần 2.
Quân Nguyên Mông chuẩn bị mở đợt tiến công lần thứ 3 vào Nhật Bản thì gặp phải sự thất bại do đang dồn
sức tấn công Đại Việt lần thứ 3 nhưng thất bại. Sau thất bại với Đại Việt dồn sống tấn công Nhật Bản lần thứ
ba thì Hốt Tất Liệt qua đời, lực lượng bị suy yếu phải dừng lại kế hoạch xâm chiếm lần ba với Nhật Bản.
2.3. Sự bành trướng của Nhật Bản vào đại lục
Đến TK XV, quan hệ quốc tế ở Đông á chỉ thấy quá trình bành trướng ở TQ đến bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản.
Vào thế kỷ XVI, hiện tượng mới, sự bành trướng của Nhật Bản vào đại lục đánh dấu một sắc thái ở quan hệ
Đông Á. Thế kỷ XIV – XV, Đông Á có hoạt động buôn bán phát đạt trên biển Đông, xuất hiện con đường tơ
lụa trên biển gây ra một vấn đề gay cấn nạn hải tặc.
TQ cho rằng các lãnh chúa Nhật Bản nuôi dưỡng -> các lãnh chúa Nhật Bản giàu có. Chính vì vậy TQ thực
thi lệnh hải cấm (cấm buôn bán trên biển) khiến cho các lãnh chúa Nhật Bản nổi giận.
Tuy nhiên, TKXV -XVI, Nhật Bản hỗn chiến (thời đại Chiến Quốc) do các cuộc giao tranh trong Nhật Bản
nhưng chính vì vậy gây ra một điều là lãnh chúa Nhật không đủ lực để phản đối lại lệnh hải cấm của TQ.
- Giữa thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, ba nhân vật nổi tiếng: Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa
Ieyasu, có công lao lớn thống nhất đất nước. Công lao lớn nhất thuộc về Oda Nobunaga, rồi đến Hideyoshi.
- Thời Hideyoshi Nhật Bản thống nhất, tiềm lực quân sự mạnh mẽ -> tấn công đại lực: bành trướng thế lực
của Nhật Bản ở khu vực và xoa dịu tinh thần võ sĩ. Tham vọng; thôn tính cả châu Á (TQ, Mông Cổ, Ấn Độ),
bước đầu thực hiện bắt đầu từ việc thôn tính Triều Tiên.
- Năm 1588, cứ sứ giả đến Triều Tiên với lý do muốn thiết lập mối quan hệ hữu hảo với Triều Tiên và muốn
mượn đường Triều Tiên để tân công TQ.
- Tuy nhiên Triều Tiên lại không đồng ý nên đã cầu viện Trung Quốc, dựa vào Trung Quốc chống Nhật Bản.
Năm 1592, Nhật Bản tấn công Triều Tiên lần 1 với 15 vạn quân, 700 chiến thuyền và vũ khí hiện đại mua của phương Tây
- Đô Đốc thủy quân Yi Shushin -> đóng thuyền chiến hình con rùa gọi là thuyền rùa gây cho Nhật Bản tổn thất to lớn.
- Nhà minh cử quân cứ quân đánh Nhật, liên quân Trung quốc – Triều Tiên đẩy lùi quân Nhật về tận hải cảng
phía nam là Pusan, đình chiến để đàm phán.
- Nhật Bản đòi hỏi vô lý, cắt % bỏ bán đảo Triều Tiên cho Nhật Bản, cử hoàng tử thân vương sang Nhật Bản
làm con tin, Triều Tin không chấp nhận đàm phán kéo dài 3 năm không kết quả.
Năm 1597, 14 vạn quân Nhật Bản xâm lược Triều Tiên lần thứ hai giành 1 số thắng lợi, chiếm miền nam
Triều Tiên, liên quân Triều Trung lại kháng cự khiến cho cuộc tiến công dậm chân tại chỗ.
Năm 1598, Hideyoshi qua đời, Triều Tiên tổn thất lớn là Yi Shushin tử trận -> hai bên giảng hòa, cảng Pusan
thành cảng tự do buôn bán của NB và TT. -> Buộc mở cửa tự do buôn bán khiến TT phải lệ thuộc vào NB
Nhà lý của Triều Tiên được Nhà Minh giúp đỡ. Tuy ngăn chặn được sự xâm lược của Nhật Bản nhưng mặt
khác nhà Lý lại lệ thuộc vào nhà Minh -> đây không phải con đường thuận lợi cho sự phát triển của Triều Tiên.
Triều Tiên thành khu vực tranh chấp giữa TQ với Nhật Bản.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 3: QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÔNG Á Ở THỜI CẬN ĐẠI
CNTB phương Tây và Đông Á. Sự thay đổi minh chủ ở Đông Á.
NB duy tân và QHQT ở Đông Á
CTTG và QHQT ở Đông Á
3.1. Sự xâm nhập của CNTB phương Tây vào Đông Á.
Từ TK XVII, Đông Á ổn định hơn trước.
- Trung Quốc sau khi nhà Minh sụp đổ triều Mãn Thanh lên nắm quyền thay thế cho nhà Minh. Thống trị hàng thế kỷ.
- Triều Tiên: Nhà Lý thống trị đến TK XX.
- Nhật Bản: dòng họ Tokugawa thống trị suốt 254 năm. (1603 – 1868)
Trong quan hệ Đông Á, nhà Thanh gây được ảnh hưởng toàn diện với Lý, Nhật Bản lớn mạnh gây ảnh hưởng
phía nam của Triều Tiên. Đặc biệt, Nhật Bản gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến Đài Loan, Lưu Cầu.
Từ TKXVII – TK XVIII, các nước châu Á đối mặt sự xâm nhập của CNTB phương Tây vào khu vực này.
Mang lại màu sắc mới trong quan hệ quốc tế Đông Á trong giai đoạn này.
Phương Tây xâm nhập vào Đông Á theo ba bước:
Bước 1: Các thương nhân phương Tây ồ ạt sang các nước Đông Á buôn bán.
Bước 2: Đoàn truyền giáp rầm rập sang các nước Đông Á.
Bước 3: Họ muốn dùng mọi biện pháp để xâm nhập sâu hơn vào Đông Á.
Quá trình xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Phương Tây vào một số nước tiêu biểu:
Trung Quốc: luôn là mục tiêu hấp dẫn, thu hút người phương Tây, quá trình xâm nhập diễn ra lâu dài.
- Từ thế kỷ thứ XV, Trung Quốc buôn bán phát đạt với phương Tây, nhưng thương nhân Phương Tây can
thiệp nội bộ Trung Quốc, xúi dục người dân chống chính quyền -> Trung Quốc nhiều lần đóng cửa nhưng
không thể chống lại sức hấp dẫn của thị trường và quy luật thương mại, tái mở cửa thông thương
- TK XVI, thương nhân Bồ Đào Nha đến Ma Cao biến nơi đây trở thành trung tâm mua bán sầm uất, mang tính quốc tế.
- Sau người Bồ Đào Nha là người Tây Ban Nha, người Tây Ban Nha được chính quyền TQ ưu ái (tiêu diệt hải
tặc ). Tây Ban Nha không tập trung xây dựng thương điếm -> không để lại dấu ấn thương mại sâu đậm (TBN chú ý đến Philippines).
- Người Hà Lan, thương thuyền mạnh, buôn bán với Trung Quốc, vận chuyển hàng cho thương nhân TQ –
NB – ĐNA, thiết lập thương điếm buôn bán với đảo Đài Loan.
- Sau đó là người Anh, Pháp. Nhà Thanh cảnh giác phương Tây.
- Các nước phương Tây luôn nhập siêu từ TQ (hình thành cán cân thương mại xu hướng mới), nhất là Anh.
- Để giải quyết việc chênh lệch cán cân thương mại, Anh đã nhập thuốc phiện từ Ấn Độ vào Trung Quốc ->
Quan – dân Trung Quốc sử dụng phổ biến dẫn đến tài chính kiệt quệ, quan lại hủ bại, sức khỏe dân suy thoái,
xã hội hỗn loạn => Chính quyền Mãn Thanh thực thi kiên quyết chính sách cấm thuốc phiện.
- Dấy lên sự bất mãn từ các thương điếm của người Anh, Thương nhân Anh kêu cứu hải quân và chính phủ
Anh, năm 1840, Anh phát động chiến tranh với Trung Quốc mà sau này được gọi với cái tên chiến tranh thuốc phiện.
=> Không đơn thuần là chiến tranh vì thuốc phiện, mà là sự đụng độ Tây – Đông, giữa CNTB và CNP, là câu
trả lời cho một vấn đề chung của thời đại: là mở cửa đón nhận cái mới hay đóng cửa để giữ lại những giá trị truyền thống.
Quá trình theo thứ tự xâm nhập vào TQ: Bồ Đào Nha -> Tây Ban Nha -> Anh -> Pháp.
Quân Anh với vũ khí hiện đại đã nhanh chóng giành thắng lợi.
+ Thắng lợi của Anh đối với Trung Quốc
+ Thắng lợi của Phương Tây đối với phương Đông.
+ Thắng lợi của CNTB đối với chủ nghĩa phong kiến, là bằng chứng về thất bại của chính sách đóng cửa của Trung Quốc.
Bước ngoặt của lịch sử TQ và ảnh hưởng to lớn các nước Đông Á, ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước
Đông Á, đối đầu trực tiếp với phương Tây là không hiệu quả.
Triều Tiên: Sau khi đánh đuổi quân xâm lược Nhật Bản (1592, 1597), tình hình tiếp theo Triều Tiên không thuận lợi.
- Đầu TK XVII, chịu ảnh hưởng dưới sự bành trướng của người Mãn Châu, như các triều đại trước lại tiếp
tục thành nước triều cống Mãn Thanh, dần dần đi lên mối quan hệ liên minh với quân sự với Nhà Thanh.
- Phương Tây chưa muốn xâm chiếm Triều Tiên:
+ Triều Tiên lệ thuốc quá nhiều vào TQ, là khu vực được đánh giá không ổn định. Xâm nhập vào sẽ có hậu
quả xấu đối với phương Tây.
+ Triều Tiên không phải là một thị trường khổng lồ, phương Tây chưa mặn mà.
+ Ở Đông Á còn một thị trường khác đầy tiềm năng là Nhật Bản dẫn đến việc Triều Tiên càng được ít sự chú ý của phương Tây.
Nhật Bản: Được các nước phương Tây biết đến sớm
Gây ảnh hưởng lớn nhất đến Nhật Bản là người Bồ Đào, thu được nguồn lợi lớn từ việc chở súng đến Nhật
Bản buôn bán, Nhật BẢn thời Chiến quốc, nhu cầu súng cao (Đảo Tanegashima, mặt hàng súng) -> Nhật Bản
rút ngắn thời gian nội chiến và thống nhất đất nước.
Tây Ban Nha cũng đến Nhật Bản, tuy nhiên vì TBN quan tâm đến philippines nên người TBN không có dấu
ấn ở Nhật Bản. Người Hà Lan để lại dấu ấn đậm và rất có duyên với Nhật Bản, mang hàng hóa phương Tây
sang buôn bán với các nước Đông Á, mà còn đem hàng hóa Nhật Bản về với phương Tây. Chính quyền Nhật
Bản còn cho người Hà Lan mở hải cảng ở Hirado với Nagasaki.
Người Nhật Bản lợi dụng thành tựu hải cảng phương Tây, buôn bán với Đông Á: thời đại mậu dịch Châu ấn
thuyền (hơn 30 năm). Lập các phố Nhật ở Đông Nam Á (Hội An,..)
Thương nhân Nhật Bản giàu có, tiếp xúc với tư tưởng châu Âu, nhiều đại thương muốn ở nước ngoài luôn ->
gây lo lắng cho chính quyền Bakufu -> Nhật Bản đóng cửa, tuy nhiên khác với chính sách đóng cửa của Trung Quốc và Việt Nam.
1) Lúc đầu không nhằm trực tiếp chống lại phương Tây, chủ yếu cấm người Nhật buôn bán với nước ngoài.
2) Đóng cửa nhưng không khép kín cửa. Cửa ngõ Nagasaki để buôn bán với nước ngoài, chỉ cho phép
người Hà Lan và Trung Quốc được buôn bán ở đấy -> không đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài, vẫn
tìm hiểu thế giới phương Tây thông qua Nagasaki, qua người Hà Lan.
Ở Nagasaki, trường học dạy tiếng Hà Lan, kỹ thuật hàng hải và y học -> nững nhà Tây học đầu tiên của Nhật
Bản là Hà Lan học 私蘭学-> về sau thành Dương học 洋学 (phương Tây học 西学), ngoài tiếng Hà Lan còn
học tiếng Pháp và tiếng Anh.
- Trong khi thực hiện chính sách đóng cửa nhưng người Nhật Bản vấn để hé mở để đủ cho họ tiếp thu văn minh phương Tây.
- Đây cũng là nguồn gốc để cho Nhật Bản sau này cải cách thành công hơn các nước Đông Á khác.
3.2. Nhật Bản duy Tân và QHQT Đông Á cuối TK XIX đầu TK XX
3.2.1. Nhật Bản Duy Tân
Lật đổ chính quyền Tokugawa, tháng 3/1868, Thiên Hoàng Meiji 明 治 (Minh Trị), công bố năm lời thề
nguyện -> cương lĩnh xây dựng Nhật Bản mới: 1. Thiết lập quốc hội, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, 2. Tất
cả mọi người đồng lòng hoạt động vì lợi ích quốc gia, 3.Tất cả mọi người đều được phép thể hiện nguyện
vọng và phát huy tài năng, 4. Bãi bỏ những tập quán xấu, mọi việc đều làm theo đúng pháp luật, 5. Phải thu
lượm những kiến thức của thế giới để phát triển đất nước.
Theo đó, thực hiện hàng loạt cải cách -> xóa bỏ chế độ phong kiến xây dựng nước Nhật Bản mới, TBCN,
phát triển và hiện đại. Cũng là phương thức bảo vệ độc lập, thống nhất trước áp lực Phương Tây; là thành tựu
to lớn rất ít nước Đông Á làm được.
Từ 1 nước phong kiến trở thành nước TBCN tiên tiến, “phú quốc cường binh” -> chuyển biến có tính cách
mạng và toàn diện. Mẫu hình cho phong trào cải cách, duy tân của các nước châu Á, có tác động to lớn tới
phong trào độc lập, tự cường ở châu Á (TQ, VN, Philippines,..).
3.2.2. Sự thay đổi trong QHQT ở Đông Á:
Nhật Bản = Minh chủ châu Á Nhờ sự ph/triển mạnh mẽ về KT, NB trở thành một nước "phủ quốc cường
bình"; 2 nhiệm vụ đối ngoại quan trọng nhất của NB lúc bấy giờ là:
1) Đòi hỏi sửa đổi các hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền Bakufu đã ký với p.Tây,
2) Bành trưởng thế lực sang các nước Đông Á, xác lập vị trí cường quốc trong khu vực và trên thế giớ
Nhờ cuộc cải cách Minh Trị (theo cái mới) Nhật Bản trở thành minh chủ châu Á, sự phát triển mạnh mẽ về
kinh tế, Nhật Bản trở thành một nước “phú quốc cường binh”; 2 nhiệm vụ đối ngoại quan trọng nhất của Nhật Bản lúc bấy giờ là:
1) Đòi hỏi sửa đổi các hiệp ước bất bình đẳng mà chính quyền Bakufu đã ký với phương Tây.
2) Bành trướng thế lực sang các nước Đông Á, xác lập vị trí cường quốc trong khu vực và trên thế giới.
Nhật Bản mở cửa Triều Tiên:
Nhật Bản có kế hoạch chinh Hàn năm 1873, không thực hiện được, nuôi tham vọng. 1875, Nhật Bản đưa tàu
chiến Unyo (Vân Dương) đến đảo Kanghwa (Giang Hoa) -> chiếm đảo Kanghwa, buộc TT ký hiệp ước mở cửa.
Tháng 2/1876, Nhật Bản và Triều Tiên ký hiệp định ngoại giao và thông thương -> mở cửa cảng Busan,
Inchon, Wonsan để Nhật Bản tự do buôn bán và lập sứ quán ở Seoul, thuế quan, lãnh sự tài phán -> Chính
thức mở cửa Triều Tiên, Triều tiên lệ thuộc vào Nhật Bản (vết đau cho Triều Tiên).
Mỹ, Anh, Đức, Nga lần lượt ký với Triều Tiên với các hiệp ước tương tự -> Triều Tiên lệ thuộc vào NB và
phương Tây, dần tách khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc.
Chiến tranh Nhật – Thanh (1894 – 1895)
Nhật mở cửa Triều Tiên, Trung Quốc không chấp nhận, vẫn coi Triều Tiên là nước triều cống của nhà Thanh -
> mâu thuẫn giữa Nhật – nhà Thanh.
Hoàng tộc nhà Lý chia thành 2 phái, phái thân Nhật và thân Mãn Thanh. Phải thân Nhật (phải cải cách):
muốn cải cách Triều Tiên như Nhật Bản, loại bỏ ả/hưởng Thanh Quốc & tăng cường QH với NB và p.Tây.
Phái thân Thanh (phải bảo thủ): dựa vào nhà Thanh chống sự bành trưởng của NB.
1882, các lực lượng thân Thanh bao vây sứ quán Nhật ở Seoul. Nhân đó, Ngô Trường Khánh mang 4,500
quân Mãn Thanh vào Seoul, xác lập lại quyền lực của TQ đối với Triều Tiên.
Năm 1884 (giáp Thân), phái thân Nhật tiến hành chính biến (Kapshin Chongbyon) không thành -> Triều Tiên
căng thẳng. Cùng năm, quân Thanh thất bại trong cuộc chiến với Pháp (liên quan đến Việt Nam) -> Nhật Bản
chủ trương tiến hành chiến tranh với Nhà Thanh.
Tháng 7/ 1894, Nhật Bản không tuyên bố, tấn công hạm đội nhà Thanh -> chiến tranh Nhật -Thanh bùng nổ
(trang bị tốt, chiếm Triều Tiên, tấn công bán đảo Sơn Đông, uy hiếm Bắc Kinh -> Quân Thanh tahats bại nahnh chóng.
Tháng 4/1895, tại cảng Shimonoseki, hiệp ước Nhật – Thanh ký kết, xác nhận sự thắng lợi to lớn của Nhật Bản.
Thắng lợi của Tư bản đang lên với phong kiến suy tàn, thắng lợi của lực lượng cải cách – duy tân với lực
lượng bảo thủ Đông Á. Sự thay đổi minh chủ ở châu Á từ tay Trung Quốc sang Nhật Bản. Ý nghĩa to lớn đối
với Nhật Bản: các nước phương Tây coi Nhật Bản là cường quốc. => Nhật Bản “thoát Á” thành công, bảo vệ
được độc lập chủ quyền.
Các cường quốc phương Tây không muốn -> Nga, Đức, Pháp ra một bản khuyến nghị Nhật Bản phải trả bán
đảo Liêu Đông TQ (Nga khởi xướng). – Nhật Bản không thể đối đầu lại 3 cường quốc -> Nhật Bản chấp
nhận, đổi lại nhận thêm 45 triệu yên từ TQ -> hiểu ra: Phải đối mặt với Nga.
Chiến tranh Nhật – Nga (1904 – 1905)
Nga tham vọng khu vực Đông Á (đặc biệt Mãn châu Trung Quốc và Triều Tiên Nga Nhật cùng vào Trung
Quốc, Triều Tiên -> Nga, Nhật mâu thuẫn sâu sắc.
Chính Nga khởi xướng và lôi kéo Pháp – Đức bắt Nhật trả lại bán dảo Liêu Đông cho Trung Quốc -> Nhật
căm tức. Nhật Bản tích cực chuẩn bị cuộc chiến tranh với Nga.
Nhật: sở dĩ chiến thắng nhà Thanh không trọn vẹn vì Nhật không có đồng mình -> tích cực hoạt động ngoại
giao, tìm đồng minh. Năm 1902, Nhật ký hiệp ước liên minh với Anh, Anh bận rộn ở châu Phi -> muốn Nhật
chặn bớt Nga về phía Đông và bảo vệ quyền lợi của Anh ở khu vực này.
Các cuộc hội đàm giữa Nhật – Nga không có kết quả vì tham vọng của cả hai bên với Trung Quốc và Triều Tiên quá lớn.
2/1904 Nhật tuyên chiến với Nga.
8/2/1904 Nhật tấn công Nga ở cảng Lữ Thuận (hải cảng Nga đòi Nhật trả cho Trung Quốc), ngày 19/02 đổ bộ
Tháng lên cảng Inchon -> liên tục thắng lợi trên bán dảo Triều Tiên, Mãn Châu Trung Quốc và biên giới Nga – Triều.
- Tháng 8/1904, giao tranh ác liệt ở Liêu Đông, dù hai bên tổn thất rất nhiều để dành thắng lợi
- Tháng 3/1905, Trận Phong Thiên, khoảng 7 vạn quân lính Nhật chết và bị thương, Nga khoảng 9 vạn ->
Nhật giành thắng lợi nhưng dường nhưu cũng kiệt quệ về binh lực. Về cơ bản thì Nhật thắng lợi nhưng Nga
vẫn còn hạm đội Baltic đến ứng cứu (lá bài cuối cùng).
Tháng 5/1905, hạm đội Baltic bị đánh bại tan tác ở eo biển Tsushima, sau trận này về cơ bản thì quân Nga bị thất bại.
Tháng 8/1905, qua Trung Gian của Mỹ, Nga ngồi vào bàn đàm phá với Nhật ở thành phố Postmouth (Mỹ) ->
Tháng 9/1905, Nga ký kiệp ước hòa bình với Nhật.
Nhật Bản thu được nhiều quyền lợi trong cuộc chiến tranh với Nga, đặc biệt là được Nga thừa nhận quyền
thống trị ở Triều Tiên và Nam Mãn Châu => Nhật củng cố vững chắc vị trí minh chủ ở châu Á.
3.3. QHQT ở Đông Á giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới.
3.3.1. CTTG I và quan hệ quốc tế ở Đông Á
Đầu TK XX, đua vũ trang, bầu QHQT nóng lên -> các nước ĐQ chia thành 2 phe, chuẩn bị chiến tranh.
Phe liên minh: Đức Áo Hung Ý (Thổ), phe đế quốc mới, muốn chia lại thị trường thế giới.
Phe hiệp ước: Anh Pháp Nga (Mỹ, Nhật): phe đế quốc già, nhiều thuộc địa, muốn duy trì trật tự cũ.
Năm 1914, WW1 bùng nổ. Vì diễn ra trên bình diện lớn: châu âu, phi, á và ảnh hưởng toàn thế giới -> chiến tranh thế giới.
Ở Đông Á, NB và TQ tham chiến, đứng về phe Hiệp ước, 2 nước có mục tiêu riêng.
Một sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn: cách mạng Tân Hợi (1911) do TQ Đồng minh hội, 1 tổ chức cách mạng
của TQ thành lập ở Tokyo, Tôn Trung Sơn lãnh đạo, các nhà lãnh đạo TQ Đồng minh hội có thời gian sống ở
NB, có quan hệ sâu sắc với các chính khách NB => NB ủng hộ cuộc cách mạng này, muốn ảnh hưởng hơn đối với TQ mới.
Sau khi cách mạng thành công, thành quả vào tay Viên Thế Khải -> nội bộ TQ phức tạp. Sau khi Tôn Trung
Sơn và TQDMH phát động cách mạng lần 2 thì TQ bị chia rẽ nghiêm trọng. Lợi dụng điều đó và CTTG, năm
1915, NB chuyển cho Viên Thế Khải 1 hiệp ước bí mật 21 điều, trong đó có những điều khoản hết sức bất bình đẳng,…
Tham vọng vội vàng và quá đáng của NB, cho rằng các cường quốc đang bận rộn với chiến tranh ở châu âu,
là cơ hội gây sức ép với TQ và vai trò chủ đạo thống trị TQ.
NB không lường được tâm lý dân tộc và lòng tự trọng của nhân dân TQ -> làn sóng phản đối. Các thành phố
lớn: Thượng Hải, Quảng Châu dấy lên phong trào chống Nhật, tẩy chay hàng hóa Nhật.
Viên Thế Khải vẫn chấp nhận, cắt 1 số điều khoản phi lý.
Trong điều kiện các nước châu âu bận rộn với chiến tranh, NB bắt buộc TQ chấp nhận những đòi hỏi -> đây
khong phải là thắng lợi ngoại giao của NB, mầm mống cho những bất bình mới của TQ với Nhật.
Năm 1917, Mỹ tham chiến, phe hiệp ước -> CT nhanh kết thúc # TQ có tham gia nhưng địa vị TQ không được cải thiện.
Sau W1, NB càng củng cố địa vị ở bán đảo TT # tại diễn đàn TQ, TT đòi hỏi quyền lợi dân tộc -> NB bác bỏ,
các nước đế quốc phớt lờ.
Có thể nói, trong quan hệ các nước Đông Á thười kì này, Nhật Bản: thống trị; TT: bị trị, TQ: kẻ bị phuj thuộc.
WW1 kết thúc, QH giữa các nước Đông Á cũng không được giải quyết theo hướng tích cực, tức đảm bảo
quyền tự quyết của các dân tộc, mà được giải quyết theo hướng tăng thêm tham vọng của NB.
Hệ thống Versaille – Washington và QHQT Đông Á
Các nước thắng trận, Versaille, chia thành quả. Đặc điểm: -
Có Mỹ tham gia, không có nước thắng trận – Nga (Trong tiến trình chiến tranh, cách mạng tháng 10
Nga bùng nổ, Lenin ra Sắc lệnh hòa bình và tuyên bố rút khỏi chiến tranh). -
Có nhiều nước tham gia: Hội nghị quốc tế rộng rãi đầu tiên và nghị quyết chi phối toàn bộ QHQT đến trước CTTG 2
Các nước Anh Pháp Mỹ thu nhiều quyền lợi, NB dù tham gia chiến tranh ít nhưng thu được quyền lợi nhiều.
TQ hy sinh, mất mát nhiều nhưng chỉ được tham gia hội nghị. TQ đòi hỏi NB bãi bỏ hiệp ước 21 điều. Các đế
quốc tỏ vẻ đồng tình nhưng không có một hiệp ước cụ thể và không có điều khoản riêng nào. NB vẫn cảm
thấy bị phương Tây chèn ép -> giới quân phiệt của NB chủ trương tăng cường quân sự, đặc biệt là hải quân.
Sau hội nghị Versaille -> Washington (1922) -> quyền lợi trên biển -> 5 (Mỹ) -> 3 (Anh) -> Nhật (3)
Cách mạng tháng Mười 1917 bùng nổ -> Liên bang Xô – Viết ra đời, nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới -
> ảnh hưởng QHQT Châu Á -> XV giúp đỡ cách mạng ở TQ và nhiều nước khác.
Các nước đế quốc can thiệp liên bang xô viết, NB tham gia trên mặt trận phía đông: thời tiết khác nghiệt,,
lương thực khan hiếm, địa hình tác chiến quá rộng lớn…-> thất bại nặng nề
LX ủng hộ TQ đòi lại chủ quyền và khôi phục quyền lợi, xóa bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng Nga kí với
TQ trước đây, đấu tranh đòi đế quốc xóa bỏ, trong đó có NB.
Tuy nhiên, LX còn đơn phương lẻ loi. TQ cũng chưa thể đấu tranh với các nước đế quốc, trong đó có NB.
3.3.2. WW2 và quan hệ quốc tế ở Đông Á
Phe Đồng minh: Mỹ, Anh, LX >< phe phát xít Đức Ý Nhật
Có thể chia 2 giai đoạn lớn
GD 1 1939-1942: phe phát xít chiếm ưu thế. Đức chiến hầu hết Châu Âu, Ý chiếm Bắc Phi, Nhật phát động
ct ở Châu Á- TBD, 1 bộ phận WW2. Thắng Mỹ ở Trân Châu cảng, Nhật đánh chiếm ĐNA.]
CT TBD&Nhật mở rộng ct-> qhqt châu á – đông á đối địch -> trào lưu chính: chống quân phiệt Nhật.
GD2 1943-1945: Quân đồng minh phản công thắng lợi. Mùa xuân 1943, mặt trận châu âu, chiến thắng
Stalingrad. Quân đội Anh, Bắc Phi. Đồng minh thắng ở Ý. TBD, Nhật thất bại đầu tiên trước Anh, Mỹ trên
biển TBD. Trên bộ, nhân dân TQ phản kích, TT, ĐNA -> tổn thất lớn. Ở TT, quân du kích của tướng Kim
Nhật Thành được LX ủng hộ -> đánh phá hậu phương của NB.
Từ 1944, LX tiến công Đông Âu; quân Đồng mình giải phóng Pháp: 30/4/1945, Hồng quân vào Berlin, quân
Mỹ tiến vào dòng sông Enber -> Phát xít Đức bị tiêu diệt
Mặt trận CA-TBD, liên quân Anh, Mỹ tấn công Okinawa. Quân Mỹ ném bom NB: Tokyo, Osaka…-> thiệt hại nặng .
Ngày 6/8/1945, ném bom nguyên tử Hiroshima; 2 ngày sau 8/8, LX tuyên chiến với Nhật, đánh bại đội quân
chủ lực hùng mạnh nhất: đạo quân Kanto (Quan Đông). Ngày 9/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng không điều
kiện, kết thúc chiến tranh TBD và cũng kết thúc WW2.
Từ 1944, LX tiến công Đông Âu, quân Đồng minh giải phóng Pháp. 30/4/1945, Hồng quân vào Berlin, quân
Mỹ tiến vào dòng sông Enber -> PX Đức bị tiêu diệt.
Mặt trận CA-TBD, liên quân Anh, Mỹ tấn công Okinawa. Quân Mỹ ném bom vào NB: Tokyo, Osaka…-> thiệt hại nặng
Ngày 6/8/1945, ném bom nguyên tử HIroshima: 2 ngày sau ngày 8/8, LX tuyên chiến với Nhật, đánh bại đội
quân chủ lực hùng mạnh nhất: đạo quân Kanto (Quan Đông). Ngày 9/8/1945, ném quả bom thứ hai xuống Nagasaki.
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng không điều kiện, kết thúc chiến tranh TBD và cũng kết thúc WW2
Tóm lại, khoảng 100 năm của thời cận đại, QHQT ở Đông Á diễn ra theo các xu hướng chính sau:
Nhà Thanh suy yếu và sụp đổ, NB Duy tân và thành 1 cường quốc ở châu Á, trở thành “minh chủ” châu Á,
thay thế vị trí vốn TQ nắm giữ. Đến lượt mình, NB dùng quân sự xâm chiếm TT, uy hiếp TQ -> quá trình độ
phát triển và dẫn tới chiến tranh TBD
Xu hướng quân phiệt của NB đẩy quan hệ ở Châu á: Quan hệ đối địch giữa NB với các nước Châu Á, tuy
nhiên, kết cục, chủ nghĩa quân phiệt Nhật sụp đổ, QHQT Đông Á bước sang giai đoạn mới. Nhưng ngay sau
WW2, thế giới bước vào thời kì chiến tranh lạnh, thế giới bị chi phối mạnh mẽ của hai siêu cường quốc Mỹ-
Xô. Một lần nưuax, Đông Á lại bị phân chia thành 2 phe đối lập, dưới 1 hình thái khác.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 4: QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÔNG Á TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH
đông Á thời kỳ chiến tranh lạnh
4.1 Về chiến tranh lạnh
Chiến tranh lạnh: hình thái chiến tranh mà không diễn ra chiến tranh có quy mô thế giới, là sự đối đầu, đe dọa
chiến tranh giữa 2 siêu cường Mỹ và Liên Xô kéo theo đó là sự đối dầu giữa hai phe TBCN và XHCN
Dù không có CTTG nhưng có những cuộc chiến tranh cục bộ ở khu vực như chiến tranh Triều Tiên (1950-
1953), chiến tranh VN, Trung Đôngv.v
Bắt đầu 1945, kết thúc 1989; trật tự thế giới bị phân chia thành 2 cực theo quy định tại Hội nghị Ianta -> cũng
được gọi thế giới 2 cực Ianta. QHQT ở Châu Á – Đông Á cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của cục diện 2 cực đó.
4.2 Việc xử lí các vấn đề ở Đông Á sau WW2 4.2.1 Vấn đề TQ
LX và Mỹ muốn ngăn chặn cuộc nọi chiến Quốc – Cộng ở TQ -> không thành công. Nội chiến bùng nổ, Mỹ
ủng hộ Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch, Liên Xô -> quân của ĐCS của Mao Trạch Đông -> quân của Mao giành thắng lợi.
Cách mạng TQ thành công -> 1/10/1949, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Thắng lợi vĩ đại của TQ, cũng là
thắng lợi to lớn của cách mạng thế giới.
Quân Tưởng thất bại -> đảo Đài Loan. Trung Hoa dân quốc của Tưởng vẫn coi mình là chính phủ hợp pháp
của toàn bộ TQ. Mỹ ủng hộ -> tuyên bố tiếp tục chiến tranh để tái chiếm đại lục.
4.2.2 Vấn đề Nhật Bản
Quan điểm chung: tiêu diệt CNQP và dân chủ hóa NB một cách toàn diện. Đối lập quan điểm Liên Xô – Mỹ -
> LX: dân chủ hóa NB, diệt tận gốc chế độ quân phiệt và xóa bỏ chế độ Thiên Hoàng; Mỹ: không muốn xóa
bỏ Thiên Hoàng và không muốn chia sẻ quyền chiếm đóng (LX muốn chiếm đóng Hokkaido…)
Quân chiếm đóng danh nghĩa là quân đồng minh (SCAP), thực tế là quân đội Mỹ -> thiên về cách giải quyết của Mỹ.
Các cải cách -> dân chủ hóa NB về chính trị, giáo dục và xóa bỏ các tập đoàn tài phiệt, dân chủ hóa kinh tế và khôi phục kinh tế.
Trong quá trình đó, cách mạng TQ (1949) và chiến tranh TT (1950-1953)-> Mỹ nhanh chóng thay đổi ->
Nhật Bản độc lập, nền kinh tế NB phục hồi, đội tự vệ -> đồng mình số 1 của Mỹ ở châu á, thay thế vai trò của
Tưởng Giới Thạch ở TQ.
Mỹ thúc giục giải quyết vấn đề NB. Năm 1951, Hội nghị San Francisco có 52 nước tham dự, NB ký với 48 nước.
LX, Ba Lan, Tiệp Khắc tham gia nhưng không ký, Ấn ĐỘ và Myanmar không tham gia. Trung Quốc,
VNDCCH không được mời… Hiệp ước SF phản ánh cách giải quyết vấn đề NB của Mỹ -> vấn đề NB còn tồn đọng (với LX).
4.3. Một số vấn đề ở Đông Á những năm 1950
4.3.1 Vấn đề bồi thường chiến tranh của Nhật Bản
Điều 14 Hiệp ước SF: “Nhật Bản chi trả bồi thường cho các nước đồng minh vì nhưunxg thiệt hại và đau khổ
đã gây ra trong chiến tranh”.
Nhất quán việc sd mph thân thiết với lân cận và triển khai chính sách “ngoại giao kinh tế”: Bộ trưởng Ngoại
giao Kishi: “để làm được điều này, trước tiên cần giải quyết vấn đề bồi thường”.
Lào, campuchia đã từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường.
Từ ngày 25/6/1953, Nhật Bản và QGVN bắt đầu thương lượng -> 16/9/1953, hiệp định bồi thường tạm thời 2,25 triệu USD.
Với VNCH: đàm phán 9/1956 – 3/1958; 4/1958 – 5/1959, đàm phán soạn thảo nội dung hiệp định.
Ngày 13/5/1959, ký HD bồi thường CT -> 39 triệu USD (14,04 tỷ yên) & gói vay 16,6 triệu USD (7,5 triệu
USD & 9,1 triệu USD) -> nhà máy thủy điện Đa Nhim.
Tháng 12/1959, Quốc hội Nhật Bản phê chuẩn -> Nửa đầu 1960s, chi trả.
4.3.2 Vấn đề Triều Tiên
Bán đảo Triều Tiên bị phân chia thành 2 miền: Nam vĩ tuyến 38 chịu ảnh hưởng của Mỹ, Bắc vĩ tuyến 38
chịu ảnh hưởng của Liên Xô.
Đầu TK 20, Triều Tiên: thuộc địa của Nhật Bản -> Nhật Bản đầu hàng, chia cắt ở vĩ tuyến 38 – vùng tập kết
quân sự theo thỏa thuận của Đồng Minh: LX nửa phía Bắc (Kim Nhật Thành), Mỹ nửa phía Nam (Lý Thừa
Vãn) ->. Tuyên bố là CP hợp pháp duy nhất.
1950 quân đội phía Bắc vượt ranh giới -> Chiến tranh Triều Tiên, Mỹ giúp Nam Triều Tiên, TQ giúp Bắc
Triều Tiên, LX bận rộn với vấn đề Đức và Đông Âu -> không trực tiếp tham chiến # ủng hộ Bắc Triều Tiên, thúc giục TQ tham chiến.
Lúc đầu, 25/6/1950, quân miền Bắc chiếm gần hết bán đảo TT, trừ Busan -> 9/1950, quân đội Mỹ +15 nước
khác (LHQ) vào Inchon, đánh bật quân miền Bắc về sông Áp Lục (biên giới Triều – Trung). Sau đó, quân chí
nguyện TQ vào ủng hộ miền Bắc đẩy lùi liên quân Mỹ ra tận VT 38 -> đàm phán.
Ngày 27/7/1953, hiệp định đình chiến ở bán đảo TT đã được ký kết, TT tiếp tục bị chia cắt.
Trong và sau CT TT, các nước Đông Á chia thành 2 cực rõ rệt, đối lập nhau: TQ và Bắc TT (LX) >< Nhật
BẢn và Nam TT (Mỹ). Vấn đề TT làm cho quan hệ Đông Á càng căng thẳng.
4.3.3. Hội nghị Geneve 1954 và QHQT ở Đông Á
Chiến dịch Biên giới thu đông 1950 -> Pháp sa lầy tại Đông Dương -> Truman quan tâm hơn đối với Đông Dương
Mỹ đã quyết định hỗ trợ cho Pháp ở Đông Dương, bước đầu trực tiếp dính líu vào VN. Tháng 8/1950, Mỹ
thành lập MAAG & viện trợ về kinh tế, quân sự cho Pháp ở Đông Dương -> Tháng 1/1953, Dwight D.
Eisenhower thay thế Harry S. Truman kế nhiệm Tổng Thống Mỹ -> biện pháp cân nhắc can thiệp quân sự
vào Đông Dương bãi bỏ -> con đường duy nhất là viện trợ quân sự.
Xu hướng hòa dịu ở bán đảo TT, Liên Xô đề nghị đàm phán chấm dứt chiến tranh TT -> hiệp định Bàn Môn Điểm tháng 7/1953.
Tháng 9/1953, LX kêu gọi Mỹ, Anh, Pháp tổ chức đàm phán có mặt cả TQ để thảo luận về vấn đề Đông Dương.
Thủ tướng Pháp Laniel chấp nhận, chính phủ VNDCCH cũng thể hiện lập trường hòa bình.
Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Tứ cường nhóm họp ở Berlin 25/1 – 18/2/1954 bàn về vấn đề Đức -> bàn về
vấn đề TT và Đông Dương
LX đề nghị tiếp tục triệu tập hội nghị ở Geneve có cả Trung Quốc -> bàn TT và Đông Dương. Các bên chấp nhận.
Hội nghị Berlin không đúng mục đích ban đầu -> con đường đến hội nghị Geneve -> triển vọng đối thoại trên toàn thế giới.
Ngày 26/4/1954, hội nghị Geneve bắt đầu nhóm họp để bàn giải pháp cho vấn đề TT. Ngày 8/5/1954, một
ngày sau khi quân đội Pháp thất bại hoàn toàn ở DBP, hội nghị Geneve bàn về hòa bình cho Đông Dương được khai mạc.
Hội nghị Geneve không đưa lại kết quả chấm dứt chiến tranh và thống nhất Bán đảo TT. Vấn đề TT, QHQT ở Đông Á vẫn phức tạp.
4.4 Một số vấn đề ở Đông Á những năm 1960 4.4.1 Tình hình chung
Bầu không khí CTL, 2 phe rõ rệt & có quan hệ đối lập nhau.
Nội bộ mỗi phe quan hệ khá tốt đẹp. CHND Trung Hoa và CHDCND Triều Tiên phát triển. Năm 1961, Hiệp
định hữu nghị, hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau (đồng minh), thống nhất với nhau trong các vấn đề quốc tế (vấn
đề TT, Đài Loan), đòi Mỹ rút quân ra khỏi khu vực Đông Bắc Á.
Quan hệ Nhật – Hàn cải thiện nhanh chóng sau những khác biệt vì quan điểm về vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh.
Năm 1965: 2 nước kỹ hiệp ước Nhật – Hàn, NB viện trợ cho HQ và cho vay ưu đãi.
Trong những năm 1960, có vấn đề lớn xảy ra ảnh hưởng QHQT ở Đông Á, Chiến tranh VN.
Chiến tranh VN, theo quan niệm của VN là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là một biểu hiện tiêu biểu
của “chiến tranh nóng” trong “chiến tranh lạnh”. Lôi kéo hai phe tham gia vào chiến tranh -> làm cho QHQT
ở Châu Á phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn.
4.4.2. Nhật Bản trỗi dậy như cường quốc kinh tế
Thập niên 1960: cường quốc kinh tế lớn ở Châu Á, ngày cnafg có vai trò quan trọng
Năm 1964 Nhật Bản gia nhập IMF, OECD
Năm 1965, lần đầu tiên đạt được thặng dư trong cán cân thương mại với Mỹ
Cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ đầu 1960s thâm hụt -> chính sách cải thiện thu chi quốc tế và phòng vệ
đồng USD, đồng thời hoan nghênh Nhật Bản cùng gánh vác những hoạt động tài chính ở Châu Á - TBD,
trong bối cảnh chiến tranh VN leo thang.
4.4.3. Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa quan hệ Nhật – Hàn
Tokyo và Seoul thúc đẩy đàm phán -> bình thường hóa quan quan hệ Nhật Bản và Hàn Quốc, nội tình có vận động hành lang của Mỹ.
Mỹ vẫn muốn đồng minh Nhật Bản gánh vác một phần viện trợ mà Mỹ vấn một mình thực hiện đến bấy giờ.
Đến giữa 1960s, Mỹ đã viện trở 12 tỷ USD cho Hàn Quốc (3.8 tỷ viện trợ kinh tế, còn lại là viện trợ quân sự -
> Lớn nhất của viện trợ Mỹ chính vì vậy Mỹ muốn Nhật Bản cùng mình chia sẻ -> Hàn Quốc là một pháo đài
chống Cộng ở châu Á – Thái Bình Dương.
Tống thống Mỹ Lyndon B. Johnson và ngoại trưởng Dean Rusk giục thủ tướng Sato Eisaku và Tổng thống
Park Chung Hee (Tokyo và Seoul 6 lần hội đàm từ 1952 nhưng không khả quan). -> Ngoại giao con thoi việc
đi lại của các nhà ngoại giao.
Tháng 9-10/1964, Cố vấn đối ngoại William Bundy: “Giải quyết các vấn đề châu Á dựa vào người châu Á”,
hay “hợp tác con người trong khu vực châu Á” hay “tăng cường thống trị mang tính khu vực “.
Ngày 3/12/1964, Hội đàm Nhật – Hàn lần thứ 7 đã khai mạc, đến ngày 20/2/1965, hiệp ước cơ bản thuận hai bên được tạm ký.
4.4.4. Chiến tranh Việt Nam và kinh tế Đông Á *Với Nhật Bản:
Lợi ích kinh tế từ Chiến tranh Việt NAm, có được từ những nhu cầu đặc biệt phát sinh nhằm phục vụ cho
Chiến tranh Việt Nam, tiếng Nhật gọi là “Betonamu Tokuju”. – Đặc nhu Việt Nam.
Tokuju (Đặc Nhu) xuất hiện từ thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên.
特需: Đặc Nhu khái niệm xuất hiện từ nguồn lợi Nhật thu được từ chiến tranh Việt Nam
特別需要: Nhu cầu đặc biệt
Tác động của Chiến tranh Việt Nam đối với kinh tế Đông Á.
1. Nhật Bản được lợi ích kinh tế lớn từ Chiến tranh Việt Nam, khi so sánh với các quốc gia, vùng lãnh thổ khác ở khu vực Đông Á.
2. Tác đông của lợi ích từ Chiến tranh Việt Nam đối với nền kinh tế Nhật Bản là không lớn như các nước Đông Á.
80% lượng xuất khẩu của Nhật Bản xuất phát từ chiến tranh Triều Tiên. Chính vì vậy số lượng lợi ích Nhật
Bản thu được từ Việt Nam, đối với Nhật Bản là sự đóng góp rất nhỏ.
3.Cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã kích thích hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ và cả khu
vực Đông Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam.
4. Cơ hội để Nhật Bản phô diễn những thành quả và niềm tự hào của sự nghiệp tăng trưởng kinh tế cao độ
4.5. Một số vấn đề ở Đông Á những năm 1970, 1980.
4.5.1. Việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung, Nhật – Trung, Nhật – Việt
Đầu 1970s, Nixon lên Tổng thống Mỹ, chủ trương bắt tay với kẻ thù Trung Quốc. Với Trung Quốc, phát động
Đại cách mạng văn hóa, thất bại và tổn thất quay ra bắt tay với Mỹ. Hơn nữa, quan hệ Trung Quốc và Liên
Xô xấu đi, Trung Quốc sợ bị cô lập -> giành lại ghế ở Liên Hợp Quốc.
Năm 1972, Nixon thăm Trung Quốc -> Tuyên bố chung Thương Hải bình thường hóa quan hệ ngoại giao
Mỹ - Trung -> Thừa nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là đại diện Trung Quốc, Đài Loan là một bộ phận
của TQ. Đổi lại Trung Quốc ủng hộ Mỹ trong một số vấn đề trên bàn Quốc tế. Tuyên bố Thượng Hải gây một
cú shock lớn trong quan hệ Đông Á và thế giới -> cú sốc Nixon.
Với Nhật Bản: Vốn vẫn chịu sự kiềm chế của Mỹ, không bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Mỹ bắt
tay với Trung Quốc không báo trước với Nhật (sự tiền thông báo) -> Nhật bị sốc và quay ra đẩy mạnh “ngoại
giao tự chủ”. -> Thúc đẩy các bước đi để bình thường hóa quan hệ.
Trung Quốc lúc bấy giờ cần tài chính, kĩ thuật và kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản. Tháng 2/1972, thủ
tướng Tanaka ghé thăm Trung Quốc. Tháng 9/1972, Nhật Trung bình thường hóa quan hệ.
=> Sự kiện lướn trong quan hệ quốc tế ở Đông Á -> Quan hệ quốc tế ở Đông Á dịu đi, triển vọng giải quyết
các vấn đề khu vực bằng biện pháp hòa bình.
Trong biến chuyển của quan hệ quốc tế ở đông á: 1 nhân tố hết sức quan trọng đảm bảo cho ổn định của khu vực.
Ngày 27/01/1973, Hiệp đinh Paris được ký. Tokyo đã nhanh chóng có những động thái tích cực với
VNDCCH, giới ngoại giao Nhật Bản đã sớm nhạy bén, nhất là sau 7/1971, khi Wasshington công bố việc thăm Bắc Kinh.
Ngày 21/09/1973, Nhật Bản và VNDCCH đã ký kết và trao đổi văn bản ghi nhớ & tuyên bố chung -> thiết
lập quan hệ ngoại giao giữa NB và VNDCCH
Thiết lập quan hệ ngoại giao với VNCDCH: Bộ ngoại giao NB xếp ở vị trí đầu tiên trong 3 hoạt động đáng
chú ý với khu vực Đông Dương năm 1973.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN 5: QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÔNG Á SAU CHIẾN TRANH LẠNH
5.1. Sự biến đổi của tình hình quốc tế và quan hệ châu Á
1989, bức tường Berlin sụp đổ. Sau đó hai nguyên thủ của LX (Gorbachov) và Mỹ (Bush cha) gặp nhau ở
Malta -> tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh dài hơn 40 năm; thực sự chấm dứt vào năm 1991 khi Liên Xô
tan vỡ -> Thế giới 2 cực Ianta sụp đổ.
=> Thế giới đa cực đã được thiết lập với trật tự mới: 1 siêu cường quốc và nhiều cường quốc. Đặc biệt là,
Trung Quốc dần trở thành cường quốc không chỉ về chính trị, quân sự mà còn về kinh tế.
- Sự phát triển nhanh chóng của Khoa học kĩ thuật, nhất là công nghệ IT. Sự phát triển đó làm cho thế giới “phẳng” hơn.
- Toàn cầu hóa và hội nhập. Song song là quá trình khu vực hóa cũng gia tốc nhanh chóng, thúc đẩy việc phát
triển quan hệ hợp tác và cạnh tranh thúc đẩy giữa các nước châu Á.
- Từ đối đầu chuyển sang đối thoại, hợp tác coi trọng chính sách ngoại giao kinh tế.
=> Nhưng bên cạnh đó tuy chiến tranh lạnh biến mất, nhưng tình hình quốc tế vẫn rất phức tạp với nguy cơ
xuất hiện những cuộc chiến mới.
5.2. Sự thay đổi trong quan hệ giữa các nước vào những năm 1990.
Chiến tranh lạnh chấm dứt, NB thay đổi quốc sách, coi trọng quan hệ với Châu Á.
Trục chủ đạo QHQT Đông Á: quan hệ Nhật – Trung -> nhanh chóng, lợi ích thiết thực cho 2 nước
Nhật Bản: 1 trong những bạn hàng lớn nhất của TQ, ODA lớn nhất, 1 trong những nước FDI hàng đầu vào TQ
Nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao -> gánh vác xây dựng khu vực Đông Á, CA-TBD phát triển, thái độ mềm dẻo
với vấn đề nhạy cảm (sự kiện Thiên An Môn, Anpo), phối hợp giải quyết khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á cuối
1990s -> ý nghĩa vì là vấn đề kinh tế - tài chính ở Đông Á.
Mặt khác, quan hệ TQ – bán đảo TT thay đổi nhiều, TQ thiết lập quan hệ ngoại giao với HQ (1992) & quan
hệ này phát triển rất nhanh # quan hệ với Bắc TT lạnh nhạt đi.
Thiết lập cơ chế thường xuyên trao đổi và thảo luận các vấn đề QHQT, khu vực và song phương, phối hợp
giải quyết vấn đề Bắc TT.
Quan hệ NB – Bắc TT nói chung có xu hướng phát triển hội đàm tiến tới bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Trong bầu không khí đó, quan hệ 2 miền Nam – Bắc TT có đột phá -> cuộc gặp thượng đỉnh liên triều vào
năm 2000 (Kim – Kim) -> hi vọng lớn về giải phát cho vấn đề TT.
NB và TQ gia tốc cải thiện quan hệ với Ấn Độ, Ấn Độ cũng thực hiện chính sách hướng Đông.
Khu vực Châu Á thu hút sự quan tâm. Ngoài Mỹ, có thêm Nga -> sự tăng cường mối quan hệ Nga – Trung,
khôi phục quan hệ Nga – Bắc TT& Nga tăng cường quan hệ với HQ.
Mỹ luôn quan tâm đặc biệt Châu Á: tăng cường quan hệ toàn diện với TQ, kìm hãm ảnh hưởng của TQ với khu vực và thế giới.
Vấn đề Campuchia được giải quyết. Việt Nam gia nhập ASEAN -> ASEAN trở thành một trong những tổ chức liên kết khu vực.
5.3. Những vấn đề trong QHQT ở Đông Á trong hơn 2 thập niên gần đây
5.3.1. Quan hệ song phương và đa phương
*Quan hệ Nhật – Trung
“Kinh nóng, chính lạnh” -> thủ tướng Koizumi (2001 – 2006) nắm quyền -> Nhật – Trung căng thẳng, các
hội đàm cao cấp (trước 2004) không tiếp tục # QH kinh tế - thương mại tiếp tục phát triển nhanh chonhs.
Năm 2005: 2 chiều đạt 227 tỷ đô, vượt Mỹ - EU, trở thành bạn hàng lớn nhất của NB
Abe Shinzo (2006-2007) và Fukuda Yasuo (2007-2008) tích cực giải quyết quan hệ với Châu Á, NhẬT 0 Trung cũng ấm lên.
Nhiều vấn đề tồn đọng: Vấn đề cải tổ LHQ, tranh chấp Senkaku (NB) – Điếu Ngư (TQ), vấn đề Taiwan và cạnh tranh thương mại.
*Quan hệ Nhật – Hàn : Quan hệ thương mại phát triển tốt, buôn bán 2 chiều: 70 tỷ đô, sau TQ, Mỹ, Eu. Nhật xuất siêu 20 tỷ.
Chính quyền Roo Mo-hyun: tiếp tục chính sách Ánh Dương, với TQ trong vấn đề hạt nhân ở TT và các vấn
đề quốc tế khác. Vấn đề cỉa tổ LHQ, tranh chấp đảo Takeshima (Nhật Bản) = Dokdo (Hàn Quốc).
Chính quyền Yi Myong-Bak lại tăng cường quan hệ với Nhật *Các quan hệ khác:
Phụ thuộc quan hệ đa phương của TT, cải thiện dưới thời Kim Dae-Jung và Rho Muyn-hyon, có vẻ căng
thẳng thời chính quyền Yi Myong-Bak.
Ấn Độ trỗi dậy: cường quốc IT -> QHQT ở Đông Á thay đổi.
Ấn Độ cải thiện & nâng cấp QH với Mỹ, cải thiện QH với TQ và Pakistan, nâng cấp QH với NB và ĐNA.
Yesu tố Ấn Độ nâng cao trong quan hệ quốc tế ở Đông Á.
ASEAN củng cố xác lập vị trí trong QHQT. Vị thế VN lên cao, xác lập vị trí trong tổ chức này và thế giới.
Trong ASEAN, quan hệ Thailand với Malaysia, với Singapore, có vấn đề, ảnh hưởng đến tổ chức ASEAN
5.3.3. Vấn đề hạt nhân trên bán đảo TT
Liên quan đến Mỹ, Hàn, Nhật, Trung, Nga, LHQ, AIEA, Kedo
Các nước nghi ngờ TT có ý định sản xuất vũ khí hạt nhân. Tình hình bán đảo, KV căng thẳng
- 12/1985, TT chịu sức ép của Liên Xô phải tham gia Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, nhưng không hoàn
tất thỏa thuận bảo đảm với cơ quan Năng lượng Nguyên từ quốc tế (IAEA).
- Năm 1992, 2 miền TT lý tuyên bố chung về phi hạt nhân trên Bán đảo TT. Theo đó, TT đồng ý để IAEA giám sát.
- 2/1993, các chuyên gia của IAEA phát hiện nhiều khác thường trong các hoạt động hạt nhân mà TT báo cáo.
- TT tuyên bố rút khỏi Hiệp định, nhưng “treo” quyết định này.
- 6/1994, Hội đàm Kim II Sung (Kim Nhật Thành) – Jimmy Carter -> 10/1994, Hiệp định khung: TT từ bỏ lò
hạt nhân, 5 nước và EU xây cho TT 2 lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và cung cấp dầu.
- 7/1994, Kim II Sung từ trần, Kim Jong – II lên thay, vấn đề hạt nhân ở TT bị gián đoạn.
- Căng thẳng vẫn tiếp diễn dù Khung Thoả thuận đã được ký: 12/1995, TT bắn hạ 1 trực thăng Mỹ bay lạc
vào không phận TT; 1996, tàu ngầm giám sát của TT đi vào lãnh thổ HQ.
- Năm 1998, TT bắn tên lửa Tepodong qua biển NB gây tình hình căng thẳng trong khu vực.
- 2001, Bush (con) lên làm TT Mỹ. Trong diễn văn nhậm chức đã gọi TT là “trục ác quỷ”. Làm cho quan hệ
Đông Á căng thẳng. Các cuộc hội đàm về vấn đề hạt nhân gián đoạn.
- 2002, 2003, TT Nhật Koizumi thăm CHDCNDTT: vấn đề bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước; vấn đề
người Nhật bị bắt cóc… và vấn đề đa phương, vấn đề hạt nhân.
- 2005, 2006, 2007 và 2008, Hội đàm 6 bên (2 miền TT, Mỹ, TQ, Nhật, Nga) về vấn đề hạt nhân trên bán đảo
TT nhóm họp và gián đoạn.
- Có thể thấy vấn đề này rất phức tạp không sớm được giải quyết hiệu quả, khó tiên đoán.
Sự ảnh hưởng của Chiến tranh Mỹ - Việt Nam đến quan hệ quốc tế ở Đông Á và ngược lại.
a. Ảnh hưởng của Chiến tranh Việt Nam đối với tam giác quan hệ Mỹ - Trung - Liên Xô
Chiến tranh Việt Nam (1955 -1975) cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta một thời, cuộc chiến
tranh được đánh giá là “dài ngày nhất trong lịch sử nước Mỹ” nước Mỹ trải qua 5 đời tổng thống. Cuộc
chiến đầy máu và nước mắt trên trang sử vàng của nước ta không chỉ là một cuộc xâm lược từ các cường
quốc thế giới lúc bấy giờ, mà còn kéo vào trong một cuộc chiến đối đầu rộng lớn hơn giữa các cường
quốc trong thời kỳ Chiến tranh Lanh. Cuộc chiến đấu này xét trên quan hệ quốc tế đã có tác động sâu sắc
tới tam giác quan hệ Mỹ - Trung – Liên Xô, định hình lại cục diện địa chính trị thế giới.
a.Mỹ điều chỉnh chiến lược toàn cầu
oGiảm can dự vào Đông Nam Á sau những tổn thất nặng nề.
oTìm cách xích lại gần Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô, dẫn đến chuyến thăm Trung Quốc của Nixon năm 1972.
oCông nhận "Một Trung Quốc" và giảm hỗ trợ cho Đài Loan.
b.Trung Quốc tận dụng cơ hội ngoại giao:
oCải thiện quan hệ với Mỹ để giảm áp lực từ Liên Xô.
oTái định hướng chính sách đối ngoại, chuyển từ đối đầu sang hợp tác chiến lược với Mỹ.
c.Liên Xô tăng cường hỗ trợ Việt Nam:
oLo ngại Mỹ - Trung xích lại gần, đẩy mạnh viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam.
oCủng cố quan hệ với Việt Nam để duy trì ảnh hưởng tại Đông Nam Á. d.Hệ quả:
oĐịnh hình lại cục diện Chiến tranh Lạnh tại châu Á.
oĐông Nam Á trở thành khu vực cạnh tranh ảnh hưởng giữa ba cường quốc. I.1.
Nhật Bản – Lợi ích kinh tế và vấn đề Okinawa
Hưởng lợi từ kinh tế chiến tranh:
oNhật trở thành trung tâm cung ứng hậu cần, nguyên liệu cho quân đội Mỹ.
oDoanh nghiệp Nhật hưởng lợi từ các hợp đồng quân sự, đặc biệt trong lĩnh vực đóng tàu,
chế tạo linh kiện máy bay và sản xuất nhiên liệu.
oOkinawa đóng vai trò là trung tâm quân sự quan trọng, nơi tập kết binh lính, đạn dược và
vũ khí (bao gồm cả chất độc da cam) để hỗ trợ chiến tranh Việt Nam.
Phong trào phản chiến và vấn đề Okinawa:
oDư luận Nhật Bản ngày càng phản đối việc nước này gián tiếp tham gia vào chiến tranh Việt Nam.
oOkinawa trở thành tâm điểm của làn sóng phản đối:
Người dân Okinawa chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự hiện diện quân sự của Mỹ, bao
gồm ô nhiễm môi trường, tai nạn quân sự và xung đột văn hóa.
Biểu tình lớn nổ ra, yêu cầu Mỹ trao trả Okinawa cho Nhật Bản và giảm sự hiện diện quân sự.
Mỹ trao trả Okinawa – bước đi mang tính chiến lược:
oTrước áp lực chính trị và để giữ vững quan hệ với Nhật, Nixon quyết định trao trả Okinawa
vào năm 1972 nhằm thắt chặt quan hệ với Nhật Bản và đối trọng với Liên Xô – Trung Quốc.
oTuy nhiên, Mỹ vẫn duy trì căn cứ quân sự tại đây, mặc dù quyền kiểm soát trực tiếp đã
được trao lại cho Nhật.
Phần 6: Một số vấn đề trong QHQT ở Đông Á hiện nay
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------