










Preview text:
THU HÀ KHOA VĂN HỌC - CHÚC CÁC BẠN THI TỐT
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Văn minh là giai đoạn phát triển cao của văn hóa, là một trạng thái tiến bộ được thể hiện ở hai mặt vật chất và tinh thần
được con người và xã hội loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội. Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
Văn minh có tính siêu dân tộc (quốc tế) . Những thành tựu văn minh xuất hiện ở xã hội Phương Tây đô thị. Văn hóa có
trước văn minh (loài người xuất hiện thì văn hóa cũng xuất hiện). Tuy nhiên, có những thành tựu văn hóa có giá trị nhưng
không tiến bộ, còn các giá trị văn minh đều mang tinh chất tiến bộ ở đỉnh cao. Văn minh có nghĩa hẹp nhưng mang tính chất đỉnh cao.
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa,…
Lịch sử văn minh là sử dụng phương pháp khoa học lịch sử, hệ tư tưởng quan điểm khoa học lịch sử, nghiên cứu các quá
trình phát sinh, phát triển của các hiện tượng văn minh, các nền văn minh và các thời đại văn minh. Dựa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác-Lenin, vận dụng phương pháp luận của trường phái sử học Maxsis-Leninist là lý thuyết kết hợp giữa chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong
nhận thức đời sống xã hội và toàn bộ lịch sử nhân loại.
Một số phương pháp cụ thể như:
Phương pháp lịch sử: Là phương pháp xem xét và trình bày quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo
một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Yêu cầu đối
với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh,
phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự vật xung quanh.
Phương pháp lôgích: Là phương pháp xem xét, nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản
chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử. Có nghĩa là trình bày các sự kiện một cách khái quát trong mối
quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản.
Phương pháp đồng đại: Thực chất là xác định các hiện tượng, quá trình khác nhau xảy ra cùng một thời điểm (có liên
quan đến nhau). Phương pháp này giúp chúng ta bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử ; so sánh được cái gì
đã xảy ra trong cùng một thời gian, ở các nước khác nhau, cũng như so sánh các quá trình có tính chất khác nhau xảy ra
trên cùng một lãnh thổ (Ví dụ : phong trào công nhân, nông dân, trí thức, quân đội,...).
Phương pháp lịch đại: Cho phép nghiên cứu quá khứ lần theo các giai đoạn phát triển trước kia của nó. Dựa vào quan
niệm của chủ nghĩa Mác Lênin về sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng cho
rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước.
Phương pháp liên ngành: Do Lịch sử văn minh đề cập đến các lĩnh vực của rất nhiều ngành khoa học khác (ngôn ngữ học,
triết học, tôn giáo,...), phải nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các tri thức khoa học liên ngành để nghiên cứu lịch sử văn minh.
Ngoài ra còn cần sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực địa, phân kỳ, ...
Lịch sử văn minh thế giới là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những thành tựu phát
triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,… PAGE 1
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về hay mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao
của nền văn hoa. Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,…
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông,...
So sánh văn hoá với văn minh
Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để góp phần vào sự ổn định, tô điểm,
làm đẹp cho cuộc sống của con người và xã hội.
Đặc trưng của văn hoá: Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người. Không được
kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu. Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá. Văn hóa Văn minh Có bề dày quá khứ.
Là lát cắt đồng đại. Mang tính dân tộc. Mang tính siêu dân tộc.
Xuất hiện khi có con người
Xuất hiện khi có Nhà nước
Văn hóa là sự khác biệt
Văn minh thể hiên sự cao thấp
Xu hướng tìm đến cái riêng
Xu hướng cái chung, cái phổ biến
Thường liên quan đến tinh thần
Thường liên quan đên khoa học – công nghệ - kĩ thuật
Thế nào là một nền văn minh?
Nền văn minh có thể hiểu như là văn hoá của một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội thống nhất.
Các nền văn minh có nền tảng văn hoá đa dạng, bao gồm văn học, hội hoạ, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng,… được kết
hợp hài hoà. Nền văn minh có bản năng mở rộng ra khu vực khai sinh ban đầu, vươn xa và ảnh hưởng đến những vùng
đất xa xôi khác. Một nền văn minh hình thành trong một không gian địa lý nhất định, có một thời gian tồn tại nhất định và
có chủ nhân riêng. Một nền văn minh gồm 3 yếu tố: Chức năng sản xuất ra của cải vật chất., chức năng điều chỉnh tổ chức
và phát triển xã hội, chức năng tạo ra các sản phẩm tinh thần.
Những cơ sở hình thành nền văn minh Điều kiện tự nhiên :
Vị trí địa lý – Khí hậu :
Thuận lợi: thời tiết ổn định, nguồn lao động dồi dào, giàu tài nguyên khoáng sản,…
Khó khăn: thời tiết bất thường (bão, lũ lụt, hạn hán,…), chiến tranh,…
Điều kiện kinh tế: nền tảng vật chất của nền văn minh (nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, sự giao lưu buôn bán,…)
Điều kiện chính trị: trình độ tổ chức, quản lí xã hội.
Điều kiện xã hội: sự phân hoá và kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội
Điêu kiện cư dân: Cư dân là chủ nhân của nền văn minh, cộng đồng cư dân tạo ra nền văn minh.
Nội dung của lịch sử văn minh thế giới :
Trình độ sản xuất vật chất: Thể hiện trình độ kiểm soát, chiếm lĩnh của con người với thế giới tự nhiên, thông qua các
hoạt động sản xuất ra của của vật chất, các sinh hoạt kinh tế trong mỗi nền văn minh.
Trình độ kiểm soát, quản lí xã hội: Thể hiện trình độ tổ chức và quản lí xã hội thông qua bộ máy nhà nước, hệ thống pháp
luật, các thể chế xã hội (giai cấp, tư tưởng, tập quán xã hội, cộng đồng,…)
Trình độ chiếm lĩnh thế giới tư duy và sáng tạo văn hoá: Bao gồm tổng thể tri thức về thế giới khách quan được sáng tạo,
khám phá (nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, khoa học,…)
Tám yếu tố của thành tựu văn minh bao gồm:
Chữ viết: là hệ thống các kí tự đặc biệt ghi lại tiếng nói của con người, là phương tiện để truyền tải thông tin qua không gian và thời gian.
Ví dụ: chữ tượng hình (Ai Cập), chữ Brami (Ấn Độ), chữ Lệ (Trung Hoa),…
Văn học: những sang tác văn học thể hiện niềm tin, ý chí, tình cảm của bộ phận dân cư sang tại ra nền văn minh.
Sử học: quá trình hình thành nền sử học cùng những nhận xét, nhận định về các sự kiện trong tiến trình lịch sử. PAGE 2
Nghệ thuật: hội họa, điêu khắc,kiến trúc,…
Khoa học tự nhiên: các phát minh về toán học, vật lý, hóa học, sinh học,..xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Triết học: hệ thống tư tưởng quan điểm của bộ phận dân cư đó về cuộc sống, con người, xã hội…
Tôn giáo, tư tưởng: Các niềm tin và tín ngưỡng (Hoàn cảnh, tích truyện, hệ thống thế giới quan, nhân sinh quan, sự thờ
phụng và cuộc sống đạo đức)
Luật pháp: hệ thống quy tắc tổ chức, quản lý xã hội. Phân loại văn minh
Theo nền văn minh: Alvin Toffler đã phân kỳ lịch sử theo 3 đợt sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công
nghiệp, văn minh tin học. Theo khu vực :
Phương Đông: các trung tâm văn minh nằm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu Á, Đông Bắc châu Phi như sông Ấn,
sông Hằng, sông Hoàng Hà, sông Trường Giang,… Thời cổ đại có các trung tâm như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung
Quốc. Thời trung đại có các trung tâm như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả rập.
Phương Tây: các trung tâm văn minh nằm ở các đảo, bán đảo. Thời cổ đại có các trung tâm như Hy Lạp, Roma. Thời
trung đại có trung tâm văn minh Tây Âu.
Lịch sử văn minh thế giới là động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những thành tựu phát
triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,… PAGE 3
KHOA HỌC TỰ NHIÊN AI CẬP
Cơ sở hình thành : Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát. Mực nước lên xuống của sông
Nile, có hai mùa nước dâng hạ. Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các
công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán
thuế khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng tế. Toán học
Xuất hiện khá sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực tế cuộc sống của người Ai Cập. Tóan học Ai Cập ra đời từ rất
sớm và phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất
nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc,… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời.
Thiên niên kỷ III trước Công nguyên xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về các con số.
Thiên niên kỷ II trước Công nguyên phát triển thành công hệ đếm, nhưng vẫn chưa sáng tạo ra số 0, cho nên khi đếm đến
10, họ đã lấy một đọan dây thừng để ghi nhớ, đến 1000 thì vẽ cái cây
Hệ số thập phân: cơ số 10, chưa có số 0, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng và trừ liên tiếp.
Đại số: giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhân,
Hình học: Tính diện tích hình vuông, chữ nhật, hình thang, tam giác, tứ giác, diện tích hình cầu,... Tính được số π = 3,16
và bước đầu biết đến tính chất đồng dạng . Biết tính thể tích của hình lăng trụ, lập phương…
Số học: Thành tựu đầu tiên là phép đếm theo cơ số 10, các chữ số cũng được dùng chữ tượng hình để biểu thị và chưa tìm
ra con số 0. Biết tính cộng trừ, nhưng phép nhân và chia được hiểu là công trừ liên tiếp Biết căn cứ khả năng nhân đôi của
một số . Căn cứ khả năng lấy 2/3 của một số. Thiên văn học
Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác nông
nghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp. Với những dụng cụ hết sức thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván
có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời cả ngày lẫn đêm, theo dõi sự lên xuống của mực nước sông Nile .
Thông qua đó họ cũng xác định được bản đồ của 12 cung hoàng đạo vẽ được chòm sao Bắc cực và biết đến hành tinh
trong Thái Dương hệ, có từ thời Vương triều XIV . Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, người Ai Cập đã sáng
tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê, giúp người Ai Cập biết được thời gian chính xác hơn.
Họ biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các
thiên thể, nó được vẽ lên trần của các đền đài cổ. Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời và việc phát minh ra đồng hồ
mặt trời, đồng hồ nước là những thành tựu quan trọng ở thời Tân vương quốc. Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi trong
thời gian ban đêm và trời mưa (không có nắng) vì vậy vào ban đêm họ sử dụng dụng cụ để đo thời gian gọi là đồng hồ
nước, nó khắc phục hạn chế của Nhật Khuê (người Trung Quốc là Trích lậu hộ).
Lịch pháp (sự ra đời của hệ thống lịch Ai Cập)
Là kết quả từ quá trình quan sát thiên văn qua quá trình quan sát bầu trời và mực nước sông Nile họ phát hiện ra một mối
quan hệ giữa mực nước sông Nile và sao Thiên Lang. Một buổi sáng sớm một ngày mùa hè khi ngôi sao Thiên Lang xuất
hiện ở đường chân trời đó là thời điểm nước sông Nile lên cao, chu kỳ này của sao Thiên Lang là khoảng 365 lần mặt trời
mọc xuất hiện. Từ mối quan hệ trên người Ai Cập đã lấy 365 ngày tính làm thời gian cho 01 năm. Dựa vào 12 tháng
hoàng đạo, 1 năm được chia thành 12 tháng, mỗi tháng 60 ngày, còn dư 5 ngày xếp vào cuối năm làm ngày lễ. Năm mới
của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nile bắt đầu dâng , họ chia 1 năm thành 3 mùa : Mùa nước lên, mùa ngũ cốc, mùa
thu hoạch, mỗi mùa bốn tháng.
Lịch Ai Cập tương đối chính xác. Năm 45 trước công nguyên Julius Ceasae cho mời nhà thiên văn Sasigene từ Ai Cập về
Roma để cải cách lịch La Mã trên cơ sở lịch Ai Cập, hình thành lịch Julien. Y học
Do tục ướp xác thịnh hành nên người Ai Cập cổ đại hiểu biết khá sớm về cấu tạo cơ thể người, điều đó đã tạo điều
kiện cho y học phát triển và khá nổi tiếng với các nước láng giềng. Họ có trình độ chuyên môn cao về răng, đầu, mắt,
bụng và các bệnh nội thương. Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật không phải do ma quỷ hay
phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu. Nhận thức được óc và tim là hai bộ phận quan trọng của cơ
thể con người, tay nghề và sự tài giỏi của thầy thuốc được đánh giá bằng sự hiểu biết về trái tim. PAGE 4
KHOA HỌC TỰ NHIÊN HI LẠP Cơ sở hình thành
Nền kinh tế phát triển cao, đời sống vật chất của giai cấp thống trị Hy Lạp được nâng cao, do đó thúc đẩy nhu cầu nâng
cao không chỉ đối với đời sống vật chât mà còn cả về đời sống tinh thần. Thiên văn và địa lý
Thales : Được mệnh danh là “Nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu tiên”. Là người đã khai sinh ra nền thiên văn
học Hy Lạp cổ đại và là người hình thành trường phái khoa học Milet . Ông đã học tập và kế thừa những thành tựu thiên
văn học của Lưỡng Hà. Là người dự báo chính xác về hiện tượng Nhật thực, Nguyệt thực.
Nhưng ông sai lầm khi cho rằng trái đất nổi trên nước, vòm trời có hình bán cầu úp trên mặt đất.
Pitago : Ông cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều có quy luật của nó. Về thiên văn học, ông có tiến bộ hơn
Talét, ông nhận thức được quả đất hình cầu và chuyển động theo quỹ đạo nhất định (Sau này Copecnic, nhà bác học ngươi
Ba lan đã phát triển thành thuyết "nhật tâm" nổi tiếng). Là người đầu tiên dùng danh từ Cosmos để chỉ vũ trụ.
Aristarque : Ông tính toán khá chính xác thể tích, khối lượng của mặt trời, quả đất, mặt trăng và khoảng cách của các
thiên thể ấy. Ông khẳng định “Không phải mặt trời xoay quanh Trái đất mà chính Trái đất xoay quanh Mặt trời và mỗi
ngày tự quay quanh nó một vòng”.
Ératosthène : Là người đầu tiên tính được độ nghiêng của trục quay Trái đất là 23’27. Ông cũng là người đầu tiên tính
toán khá chính xác chu vi của Trái đất bằng cách đo độ dài của đường xích đạo là 39 700 km, gần bằng con số ngày nay tính được.
Hecataus: Sống cùng thời với Thales, là người đầu tiên vẽ được bản đồ thế giới, đây là bản đồ địa lý sớm nhất trong lịch
sử địa lý học phương Tây. Toán học
Thales: Là người đầu tiên phát biểu định lý tỷ lệ thức (định lý Thales), dựa vào đó tính được chiều cao của Kim tự tháp.
Ông chứng minh được 2 góc đáy của tam giác cân bằng nhau, xác định tam giác bởi 1 cạnh và 2 góc kề bù hoặc tính
khoảng cách của 1 vật mà không đến gần được. Mọi đường kính chia đôi một đường tròn, góc nội tiếp trong nửa hình tròn là một góc vuông.
Pithagore : Ông nêu các định lý được chứng minh bằng suy luận logic chứ không phải bằng trực giác.
Một số đóng góp của ông:
Định lý Pythagore : “Tổng hai cạnh góc vuông bằng bình phương của cạnh huyền trong một tam giác vuông”.
Chứng minh tổng các góc trong một tam giác bằng 180 độ.
Đưa ra định nghĩa về điểm, đường, số vô cực, số vô tỷ.
Phân biệt các số chẳn, lẻ, số không chia hết ,... đưa ra những nghiên cứu thú vị về các con số như số chẵn thì xấu, không may, ....
Ông có đóng góp về bảng tính nhân, thập phân.
Euclide: Với tác phẩm nổi tiếng nhất là bộ “Cơ bản” gồm 13 cuốn được giữ lại đến ngày nay. Hệ thống định đề của ông
làm nền tảng xây dựng môn hình học phẳng hay còn gọi là hình học Euclide. Archimede :
Về toán học : Ông tính được số pi bằng 1 trị số chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây. Ông đưa ra phương pháp
tính diện tích hình nón, hình cầu, tìm được mối liên hệ giữa diện tích toàn phần và thể tích hình cầu nội tiếp trong hình trụ.
Một số tác phẩm tiêu biểu :
Về trạng thái cân bằng: Nghiên cứu về trọng tâm, hình bình hành, hình tam giác.
Cầu phuơng hình parabol: Cho lời giải về cơ học và cả lời giải toán học. Về vật lý :
Ông là người đặt nền móng cho ngành cơ học và ứng dụng của nó vào việc giải phóng sức lao động của con người như:
đòn bẩy, ròng rọc, chân vịt (dùng để hút nước). Ông phát minh ra nguyên lý đòn bẩy và nguyên lý về thủy lực, định luật
về vật nổi. Ông được coi là người phát minh ra ròng rọc, đòn bẩy, máy bơm nước, máy bắn đá, bánh xe răng cưa, đường
xoáy trôn ốc, nguyên lý hội tụ ánh sáng của gương cầu lồi,… PAGE 5
4. Y học của Hi Lạp cổ đại
Hippocrate : Là người đầu tiên đặt cơ sở ban đầu cho sự phát triển của y học phương Tây và được tôn vinh là ông tổ của
ngành y học phương Tây. Ông đã phát biểu những luận điểm quan trọng như: nguyên nhân của bệnh tật xuất phát từ giới
tự nhiên, khi đau thì người ta phải uống thuốc và hết sức lưu ý đến vấn đề vệ sinh ăn uống, khi cần thiết thì phải dùng đến
thuật mổ xẻ để trị bệnh. Ông là người đầu tiên ở Châu Âu phát biểu về vấn đề y đức “Nghề thầy thuốc là một nghề hết sức
quan trọng, hết sức đặc biệt vì nó liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người. Do đó, không được dùng nghề nghiệp
chuyên môn của mình để trục lợi”. Ở phương Tây, các bác sỹ khi ra trường đều phải đọc “Lời thề Hippocrate”.
Heraclide : Đã chứng minh rằng não là khí quan tư duy, cảm giác do hệ thần kinh truyền đạt, xem mạch mạnh yếu nhanh
chậm có thể biết được tình hình sức khỏe . Là người đầu tiên nêu lên vấn đề dùng thuốc mê trong phẫu thuật. Ý tưởng này
của ông mãi đến năm 1840 người ta mới dùng ete để gây mê, năm 1861 dùng morphine để giảm đau. PAGE 6
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO PHẬT Ở ẤN ĐỘ Bối cảnh ra đời
Xã hội : Vào khoảng giữa thiên niên kỷ I Trước công nguyên, Ấn Độ xưa đã hình thành hàng loạt tiểu quốc. Các vương
quốc có điều kiện tự nhiên khác nhau . Kinh tế, xã hội, chính trị phát triển không đều nhau. Do vậy, các vương quốc luôn
mâu thuẫn, cạnh tranh và thôn tính nhau làm tình hình chính trị bất ổn, tâm lý dân chúng bất an. Đến thế kỷ V Trước công
nguyên chỉ còn 4 quốc gia: Kashi, Koshala, Magadha, Virigis. Mâu thuẫn đẳng cấp tăng lữ, quý tộc và sự phân hoá giai
cấp mạnh mẽ, trở thành nỗi bức xúc lớn trong xã hội bấy giờ.
Tăng lữ (Brahman) thao túng toàn bộ đời sống chính trị, tinh thần, vơ vét tài sản, bắt dân chúng nộp thuế cao và nghĩa vụ khác.
Quý tộc bảo vệ và trực tiếp cai trị đất nước, là người giữ vai trò quyết định trong chiến tranh nhưng địa vị lãnh đạo lại
không rõ ràng do ở dưới đẳng cấp tăng lữ.
Dân thường có cuộc sống không ổn định do chiến tranh, mất mùa nhưng thuế không giảm và những áp lực của tôn giáo đè nặng.
Nô lệ là kẻ thấp hèn, có một số dân thường bị phá sản trở thành nô lệ, một số phải đi ăn xin. Họ chịu cuộc sống cực khổ
dẫn đến tâm lí chán nản, tuyệt vọng.
Kinh tế : Công cụ bằng kim loại đã làm thay đổi bản chất của sản xuất. Nhiều ngành kinh tế đã ra đời và ngày càng mở
rộng, làm xuất hiện tầng lớp mới, trong đó có thương nhân. Thương nhân là tầng lớp có tiềm lực về kinh tế, nên muốn
thay đổi địa vị trong hệ thống đẳng cấp. Tầng lớp này lúc đầu không được xếp vào đẳng cấp nào và cuối cùng bị đẩy
xuống đẳng cấp nô lệ, đẳng cấp thấp hèn nhất.
Tôn giáo : Cuộc sống khổ cực càng làm cho nhân dân lao động thêm căm ghét những kẻ bóc lột mình, oán ghét chế độ
đẳng cấp, không còn tin vào các vị thần Bàlamôn. Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí ngày càng
khó hiểu làm cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này. T
rong bối cảnh đó vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ đã xuất hiện
nhiều trường phái tôn giáo, triết học mới chủ trương xa lánh thực tại, khổ hạnh, ép xác, tiêu cực, tự kỉ nhưng có 1 điểm
chung là trực tiếp và gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp. Phật giáo cũng là một trong những trào lưu đó
và được xem là một phản đề của đạo Bàlamôn.
Tiền đề tư tưởng - chính trị : Đạo Bà La Môn đã xác lập được vai trò vững chắc ở Ấn Độ, chi phối đời sống tư tưởng
chính trị của các đẳng cấp khác trong xã hội Ấn Độ .
Người sáng lập : Do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu Thích Ca Mâu Ni khởi xướng.
Quá trình truyền bá và phát triển : Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ khoảng giữa thiên niên kỷ I TCN, vào thời điểm rất hưng
thịnh của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp. Với giáo lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại, chống lại chế độ
đẳng cấp, với tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân dân Ấn Độ từ vua chúa
đến nhân dân lao động nên sau khi ra đời đạo Phật nhanh chóng được truyền bá ở miến Bắc Ấn Độ.
Từ thế kỷ V trước công nguyên đến thế kỷ V sau công nguyên là quá trình truyền bá và phát triển đạo Phật, từ khi Đức
Phật viên tịch cho đến khi đạo Phật không còn phổ biến ở Ấn Độ. Quá trình đó trải qua 4 hội nghị kết tập :
Hội nghị kết tập lần 1
Ngay sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, để tránh sự sai biệt, bảo tồn các giáo pháp và luật lệ cho được toàn vẹn. Được tổ
chức tại Vương xá thuộc Magada vào thế kỷ V Trước công nguyên . Có 500 đại biểu tham dự, kéo dài trong 7 tháng.
Kết thúc hội nghị hình thành bộ Kinh tạng và Luật tạng.
Nội dung thống nhất được 2 phần:
Pháp: gồm những lời thuyết giáo của Phật được nhớ lại theo ký ức của các đệ tử lúc bấy giờ.
Luật: là quy chế của hội Phật giáo do Đại hội thảo ra.
Hội nghị kết hợp tập lần 2
Sau 100 năm có nhiều người muốn thay đổi một số điều chi tiết trong giới luật.
Diễn ra vào khoảng thế kỷ IV Trước công nguyên với 700 tăng ni tham dự, diễn ra trong 8 tháng.
Trong Đại hội này, một số tỳ kheo khác lại chủ trương canh tân, đưa ra 10 điều luật mới sửa lại luật, họ bị Đại hội trục
xuất nên đã thành lập một phái riêng gọi là Đại chúng bộ, là mầm móng của phái Đại thừa sau này.
Hội nghị kết tập lần 3
Diễn ra vào khoảng thế kỉ III Trước công nguyên với 1000 tăng ni tham dự trong 9 tháng. Hội nghị thảo luận và hình
thành phần Luận tạng. Với sự giúp đỡ của vua Asoka, nhiệm vụ chính là chấn chỉnh lại tổ chức và giáo lý của giáo hội,
đồng thời đặt ra kinh kệ và các nghi thức . Asoka cho xây dựng nhiều chùa tháp, thành lập nhiều tăng đoàn, khuyến khích
việc truyền bá đạo Phật đến nhiều vùng đất trên báo đảo Ấn Độ và một số quốc gia khác (Sri Lanka, Mianma,...) Đây là
thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh. Tuy nhiên sau khi vương quốc Magada tan rã, đạo Phật cũng suy yếu dần. PAGE 7
Hội nghị kết tập lần 4
Diễn ra vào thế kỷ I SCN với sự giúp đỡ của vua Kanisca với 500 tăng ni tham dự ở Casmia.
Thông qua giáo lý của Phật giáo cải cách và phái Phật giáo này được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo
cũ (gọi là phái Tiểu Thừa). Phái Tiểu thừa nghĩa là “cỗ xe nhỏ” hoặc “con đường cứu vớt hẹp”, cho rằng những người
xuất gia đi tu mới được cứu vớt.
Quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh, gắn với giác ngộ sáng suốt, không còn phiền não khổ đau, không còn nhân quả
luân hồi, cũng tức là hư vô. Phật Thích Ca là người đầu tiên đạt đến cảnh giới Niết bàn lúc 35 tuổi. Phái Đại Thừa nghĩa
là “cỗ xe lớn” hoặc “con đường cứu vớt rộng”, cho rằng không chỉ những tu hành mà cả những người quy y cũng được
cứu vớt. Quan niệm Niết bàn như thiên đường, tức là vương quốc của các vị Phật, cũng tức là nơi Cực lạc.
Đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.
Nguyên nhân Phật giáo được chấp nhận ở Ấn Độ
Giai cấp cầm quyền cho rằng Phật giáo không làm tổn hại đến lợi ích của họ, đồng thời cũng không hài lòng với địa vị ưu
đãi của những người theo đạo Bàlamôn nên họ ủng hộ đạo Phật.
Học thuyết Phật giáo có nhiều điểm phù hợp với nguyện vọng của nhân dân nên được quần chúng hoan nghênh.
Nguyên nhân suy yếu Đạo Phật ở Ấn Độ:
Sau những thế kỉ rất thịnh đạt trong khoảng 1000 năm, từ triều đại GUPTA (TK 5 sau TC) đạo Phật có biểu
hiện suy thoái, đó là không thống nhất về học thuyết và tổ chức. Chỉ phát triển trong thành phố, những nơi hẻo
lánh theo Phật giáo không nhiều. Trong khi đó Hindu đã có từ rất lâu, bám rễ chặt cả ở nông thôn, còn Phật
giáo đã yếu ở thành phố là suy yếu hẳn.
Trong 3 thế kỷ,Vaisya cảm thấy không có lợi gì, không phải là chỗ dựa, thay đổi xã hội.
Đạo Bàlamôn - Hindu bớt khắt khe, nới lỏng đồng thời kế thừa một số ưu điểm của Phật giáo nên dần thu hút
dân chúng. Đạo Phật được một số vua cho là quốc giáo nhưng mang tính chất áp đặt nên khi nhà vua chết, đạo
Phật cũng dần mất vị trí. Giáo lý ngày càng trở nên uyên thâm, khó hiểu và xa lạ đối với quần chúng, nên khi đã
suy yếu thì không còn cơ hội quay trở lại đời sống tinh thần. PAGE 8
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ, PHÁT TRIỂN THIÊN CHÚA GIÁO – KITO GIÁO Ở LA MÃ Bối cảnh ra đời
Cơ sở kinh tế - xã hội : Năm 63 Trước công nguyên , tại Palestin nơi người Do Thái sống xảy ra một cuộc nội chiến.
Một trong những bên tham chiến đã cầu viện La Mã . Pompei - một trong ba nhân vật trong chế độ tam hùng lần thứ nhất
trong lịch sử La Mã đem quân chinh phục vùng đất này, trực tiếp cai trị hoặc chỉ định hoàng tử Palestin cai trị theo chủ
trương, quyền lợi của người La Mã .
Nô lệ, dân nghèo, thợ thủ công đều phải gánh chịu cuộc sống cực khổ, bất công, bị áp bức, cuộc sống không lối thoát.
Vì thế, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại sự thống trị, bóc lột của nhà nước - chủ nô La Mã đặc biệt là người
Zealot, nhưng đều bị đàn áp hết sức dã man. Khối quần chúng nhất là nô lệ, dân nghèo nảy sinh tâm lý bi quan, chán nản,
tuyệt vọng, mất niềm tin vào tự do, hạnh phúc trong cuộc sống hiện thực. Họ tìm lối thoát trong ảo tưởng về tôn giáo,
trông chờ vào sự cứu giúp của một lực lượng siêu nhiên có thể giúp họ thoát khỏi ách thống trị, xây dựng một vương quốc
công bằng, bình đẳng. Do vậy, Kitô giáo trở thành tôn giáo của những người bị áp bức.
Cơ sở tư tưởng, tôn giáo :
Hình thành dựa trên thần thoại của các tôn giáo cổ phương Đông. Tổ tiên của người Do thái là người Hebre, một
tộc người sống du mục. Khoảng giữa thế kỷ XIII Trước công nguyên, dưới sự dẫn dắt của Moises, người Do Thái đã từ
Ai Cập trở về Palestin và lập nên quốc gia Do Thái. Kể từ đó, người Do Thái đi theo một tôn giáo nhất thần - thờ vị thần
duy nhất là Chúa Giêhôva . Họ tin rằng dân tộc Do thái là dân được Chúa trọn, Chúa chỉ nói chuyện với người Do Thái
thông qua Sứ giả là Moises.
Năm 586, quốc gia Do thái bị Tân Babilon cai trị, nền độc lập của quốc gia này đã không còn tồn tại trong thời gian dài.
Trong bối cảnh như vậy, các nhà tiên tri Do Thái giáo đã dự đoán rằng sẽ có một vị Chúa Cứu Thế sắp xuống trần gian để
cứu vớt loài người, tiêu diệt kẻ xấu, giải thoát những đau khổ, kiếp nô lệ của con người.
Về tư tưởng triết học: Từ giữa thế kỷ I Trước công nguyên trở đi, nhà nước La Mã chuyển dần từ hưng thịnh sang
suy thoái. Giai cấp chủ nô muốn lợi dụng tôn giáo để duy trì trật tự xã hội. Do vậy triết học La Mã chuyển dần sang duy
tâm luận, quay về với trường phái triết học khắc kỷ - Stoicism đựoc hinh thành ở Hy Lạp khoảng cuối thế kỷ IV Trước
công nguyên. Tiêu biểu cho trường phái này ở La Mã là các tư tưởng của Seneque và Philo.
Seneque : ông muốn thiết lập một hệ thống luân lý dựa trên nguyên tắc khiêm nhường và nhẫn nhục.
Philo: cho rằng thế giới vật chất, con người là can nguyên của tội lỗi, thể xác là ngục thất của linh hồn.
Quá trình truyền bá và phát triển
Giai đoạn 1: Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt, chỉ có một bộ phận tín đồ ở Palestine tham gia. Sau cái chết của Chúa
Jesus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý của ngài truyền bá ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang Roma để
truyền đạo thì thấy ở đây đã có nhiều tín đồ Kitô giáo.
Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng Chúa Jesus cho rằng đế quốc La Mã là
một "mụ đàn bà đầy tội lỗi – tức lên án tầng lớp giàu có, thống trị và đế quốc La Mã sẽ sớm bị diệt vong", tín đồ Kitô giáo
sẽ được sống trong vương quốc của Chúa. Đây chính là những yếu tố mới phủ nhận sự tồn tại của chế độ và nhà nước
chiếm hữu nô lệ La Mã. Điều đó khiến giới cầm quyền và quý tộc căm ghét Kito giáo, cho rằng tín đồ Kitô là lũ phiến
loạn và tiến hành đàn áp khốc liệt, đẫm máu nhất là vụ đàn áp vào năm 64, dưới thời hoàng đế Nêrông. Cho dù càng đàn
áp thì Kitô giáo vẫn càng phát triển.
Nguyên nhân : Chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong xã hội càng sâu sắc, sự bần cùng
hoá, áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên. Kitô là tôn giáo duy nhất mà giới lao động và những người nghèo khổ có thể
tìm thấy được con đường giải phóng.
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau
trong cuộc sống. Họ giúp người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm. Đến thế kỉ II, các công xã Kitô dần phát
triển thành Giáo hội. Cuộc vận động Kito giáo trong buổi đầu mang một ý nghĩa xả hội rất tích cực: Đó là cuộc vận động
của dân nghèo chống chế độ áp bức.
Về sau, Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho Chúa trời” tức không dính dáng đến
chính trị. Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn .
Trước sự phát triển này và đàn áp mãi không được, giới cầm quyền La Mã quyết định “sống chung” , thay đổi chính sách đối với Kito giáo.
Giai đoạn 2: Năm 311, Hoàng đế Galerius đình chỉ việc sát hại các tín đồ Kitô giáo. Năm 313, Hoàng đế Constantin xác PAGE 9
định địa vị hợp pháp của giáo hội Kitô, nâng Kitô giáo lên địa vị quốc giáo. Năm 325, Hoàng đế Constantin ra lệnh triệu
tập Đại hội Kitô giáo lần thứ nhất tại Nicée. Đại hội đã giải quyết được 2 vấn đề lớn:
Thống nhất lại cuối cùng nội dung của Kinh thánh : Chọn ra 4 phần tương đối trùng khớp, ít mâu thuẫn, loại bỏ bớt
yếu tố mê tín dị đoan, thống nhất rồi đưa vào Tân ước
Chấn chỉnh tổ chức giáo hội.
Sau đại hội này, Kitô giáo trở thành một bộ phận trong bộ máy của giai cấp thống trị La Mã
Năm 337, Constantin là hoàng đế La Mã đầu tiên theo Kitô giáo. Các quan lại đua nhau theo Đạo. Ngân quĩ quốc gia
cũng được chi ra để đóng góp cho Nhà thờ. Đạo Kitô được truyền bá rộng khắp ra các tầng lớp xã hội quanh Địa Trung
Hải. Đến giai đoạn này, tính chất tiến bộ ban đầu của Kito giáo không còn nữa, các giáo sĩ dần dần trở thành các quan lại
của nhà nước, giáo hội trở thành công cụ trong tay giai cấp thống trị. Do bất đồng trong sự giải thích thuyết “tam vị nhất
thể” và cả việc đụng chạm nhau về khu vực truyền đạo nên đến năm 1054, giáo hội Kitô ở La Mã đã bị chia làm hai : giáo
hội Thiên chúa và giáo hội Chính thống
Về ý nghĩa lịch sử, Kitô giáo ra đời là biểu hiện phong trào phản kháng của đông đảo quần chúng bị áp búc sau đó lan
rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Kitô giáo từ chỗ là tôn giáo của những người
nghèo, chống lại chính quyền cai trị, đã trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần, vật chất của chính quyền Rôma và là
một bộ phận của chính quyền thống trị La Mã. Kito giáo ra đời là một sự kiện lịch sử rất lớn lao vì sau này nó đã tác động
mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng của người Châu Âu. PAGE 10