















Preview text:
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
1. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới
2. Các thành tựu khoa học tự nhiên của Ai Cập cổ đại
3. Trình bày các thành tựu khoa học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại
4. Đạo thiên chúa ở La Mã cổ đại
5. Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại Trình bày:
1. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu lịch sử văn minh thế giới:
Để tiếp cận Lịch sử văn minh thế giới, ta cần tìm hiểu những vấn đề sau đây: 1) Văn minh là gì?
Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài
người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh là dã man, hoang dã, lạc hậu,...
Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa,...
2) So sánh văn hoá với văn minh
- Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra
để góp phần vào sự ổn định, tô điểm, làm đẹp cho cuộc sống của con người và xã hội.
- Đặc trưng của văn hoá:
+ Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người.
+ Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu.
+ Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá. Văn hóa Văn minh - Có bề dày quá khứ. - Lát cắt đồng đại - Mang tính dân tộc - Mang tính siêu dân tộc
3) Thế nào là một nền văn minh?
- Nền văn minh: là phản ánh trạng thái tiến bộ về văn hóa vật chất và tinh thần của
một cộng đồng dân tộc nhất định trong tiến trình lịch sử
Trình độ phát triển cao của một kiểu hình thái kinh tế - xã hội
- Một nền văn minh hình thành trong một không gian địa lý nhất định, có một thời
gian tồn tại nhất định và có chủ nhân riêng.
- Một nền văn minh gồm 3 yếu tố: ( chức năng )
+ Chức năng sản xuất ra của cải vật chất. ( kinh tế )
+ Chức năng điều chỉnh, tổ chức và phát triển xã hội.
+ Chức năng tạo ra các sản phẩm tinh thần.
4) Những cơ sở hình thành nền văn minh: - Điều kiện tự nhiên:
+ Thuận lợi: thời tiết ổn định, nguồn lao động dồi dào, giàu tài nguyên khoáng sản,...
+ Khó khăn: thời tiết bất thường (bão, lũ lụt, hạn hán,...), chiến tranh,...
- Điều kiện kinh tế: nền tảng vật chất của nền văn minh (nguồn lao động dồi dào, thị
trường tiêu thụ rộng lớn, sự giao lưu buôn bán,...)
- Điều kiện chính trị: trình độ tổ chức, quản lý xã hội.
- Điều kiện xã hội: sự phân hoá và kết cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
- Điều kiện cư dân: cư dân là chủ nhân của nền văn minh, cộng đồng cư dân tạo ra nền văn minh.
5) Nội dung của lịch sử văn minh thế giới
- Trình độ sản xuất vật chất: Thể hiện trình độ kiểm soát, chiếm lĩnh của con người
với thế giới tự nhiên, thông qua các hoạt động sản xuất ra của của vật chất, các sinh
hoạt kinh tế trong mỗi nền văn minh.
- Trình độ kiểm soát, quản lí xã hội: Thể hiện trình độ tổ chức và quản lí xã hội thông
qua bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, các thể chế xã hội (giai cấp, tư tưởng, tập
quán xã hội, cộng đồng,...)
- Trình độ chiếm lĩnh thế giới tư duy và sáng tạo văn hoá: Bao gồm tổng thể tri thức
về thế giới khách quan được sáng tạo, khám phá (nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, khoa học,...)
6) Những thành tựu chủ yếu của nền văn minh
- Chữ viết: là hệ thống các kí tự đặc biệt ghi lại tiếng nói của con người, là phương
tiện để truyền tải thông tin qua không gian và thời gian.
Ví dụ: chữ tượng hình (Ai Cập), chữ Brami (Ấn Độ), chữ Lệ (Trung Hoa),... - Văn học. - Sử học.
- Nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. - Tôn giáo, tư tưởng:
+ Hoàn cảnh, tích truyện.
+ Hệ thống thế giới quan, nhân sinh quan.
+ Sự thờ phụng và cuộc sống đạo đức. - Triết học. - Pháp luật. - Khoa học tự nhiên. 7) Phân loại văn minh
- Theo nền văn minh: Alvin Toffler đã phân kỳ lịch sử theo 3 đợt sóng văn minh: văn
minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học. - Theo khu vực.
+ Phương Đông: các trung tâm văn minh nằm trên lưu vực các dòng sông lớn ở châu
Á, Đông Bắc châu Phi như sông Ấn, sông Hằng, sông Hoàng Hà, sông Trường
Giang,... Thời cổ đại có các trung tâm như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc.
Thời trung đại có các trung tâm như Trung Quốc, Ấn Độ, Ả Rập.
+ Phương Tây: các trung tâm văn minh nằm ở các đảo, bán đảo. Thời cổ đại có các
trung tâm như Hy Lạp, Roma. Thời trung đại có trung tâm văn minh Tây Âu.
8) Vai trò của Lịch sử văn minh thế giới đối với sự phát triển của nhân loại
Động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những thành tựu
phát triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người,...
Phương pháp nghiên cứu môn LSVMTG
1. Đối tượng nghiên cứu:
Lịch sử văn minh là một phân ngành của khoa học lịch sử, có đối tượng nghiên cứu là
những thành tựu đỉnh cao thể hiện sự tiến bộ của con người và xã hội loài người kể từ
khi nhà nước xuất hiện đến nay. Những thành tựu đó được biểu hiện cả trong lĩnh vực
cơ sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng của xã hội.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Là một phân ngành của khoa học lịch sử, phương pháp nghiên cứu của lịch sử văn
minh dựa trên phương pháp luận Mác-xít, mà nền tảng là quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
Ngoài ra, còn phải tiếp cận với phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, như
phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp lịch đại, phương pháp đồng
đại, phương pháp so sánh,..
Phương pháp lịch sử là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự
vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó đã từng diễn ra (quá
trình ra đời, phát triển, tiêu vong).
Ví dụ như khi nghiên cứu về sự phát triển và truyền bá của Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại,
bằng phương pháp lịch sử, nhà nghiên cứu sẽ tìm kiếm nguồn tư liệu một cách chính
xác và đầy đủ nhất có thể để mô tả quá trình ra đời, quá trình truyền bá ở Ấn Độ cho
đến lúc phát triển rộng rãi như ngày nay với đầy đủ các chi tiết cụ thể và phức tạp,
gồm cả những sự kiện tất nhiên lẫn ngẫu nhiên, theo đúng thứ tự thời gian như nó đã từng diễn ra.
Phương pháp logic chỉ rõ sự kiện, hiện tượng lịch sử tiêu biểu; chỉ rõ vai trò của từng
yếu tố trong một hệ thống chỉnh thể – thực tế lịch sử đã diễn ra - để đến chân lý.
Phương pháp này chủ yếu để phát hiện quy luật (xu hướng, bản chất) của các sự kiện,
hiện tượng được nghiên cứu. Như vậy, phương pháp logic chủ yếu không phải để
quan sát, mô tả mà là phân tích các hiện tượng, sự kiện lịch sử.
Những nghiên cứu bao gồm việc thu thập và phân tích thông tin theo thời gian được
gọi là nghiên cứu lịch đại và những nghiên cứu chỉ dựa trên những thông tin thu thập
về một thời điểm, hay trong một khoảng thời gian ngắn, được gọi là những nghiên cứu đồng đại.
2. Các thành tựu khoa học tự nhiên của Ai Cập cổ đại: -Mở bài:
Nền văn minh Ai Cập cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi và được xem là một trong
những cái nôi của văn minh nhân loại. Địa lý là một trong những điều kiện thuận lợi
góp phần hình thành nên nền văn minh sớm nhất thế giới. Sông Nile dài hơn 6000 km,
có 7 nhánh đổ ra Địa Trung Hải, là một trong những con sông dài nhất thế giới. Hạ
lưu sông có hình dáng tam giác, dài 700 km với hai bên lưu vực sông đất đai phì
nhiêu, màu mỡ nhờ lượng phù sa lớn bồi đắp, thuận lợi cho các loại cây trồng phát
triển. Nơi đây cũng sở hữu quần thể động vật đa dạng. Nhờ đó, cư dân sống ở hai bờ
sông Nile không chỉ an cư lạc nghiệp mà còn phát triển thông thương. Trải qua nhiều
đời pharaon với những biến động lịch sử, nền văn minh Ai Cập cổ đã tạo ra được vô
số thành tựu rực rỡ, trong đó không thể không kể đến những thành tựu về khoa học tự nhiên.
-Nguyên nhân Khoa học tự nhiên phát triển ở Ai Cập là:
▪Thời tiết: bầu trời Ai Cập thường trong xanh, dễ quan sát.
▪Tôn giáo: những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng tế.
▪Mực nước lên xuống của sông Nin( 2 mùa nước dâng hạ)
▪Nhu cầu của nông nghiệp: chia lại ruộng đất( do sông Nile bồi đắp hàng năm),
tính ra thuế, xây dựng các công trình. -Thiên Văn
−Để nắm vững thời tiết và khai thác nguồn thủy lợi sông Nile phục vụ canh tác
nên ở Ai Cập sớm ra đời thiên văn học, lịch pháp.
−Từ rất sớm người Ai Cập đã dùng những dụng cụ thô sơ như sợi dây dọi, mảnh
ván có khe hở và ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời.
−Người Ai Cập sớm phát hiện ra các chòm sao và đã soạn ra bản đồ các thiên
thể, nó được vẽ lên các trần của những đền đài cổ.
−Họ biết nhiều hành tinh khác như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bản đò 12
cung hoàng đạo có từ thời vương triều XIV.
−Từ thời Tảo và cổ vương quốc, người Ai Cập đã biết dựa vào mực nước sông
Nile để tính quy luật thời gian và phục vụ các nghi lễ tôn giáo.
−Việc xây dựng lịch gắn liền với việc quan sát sao Lang(Sirius) trên bầu trời.
Theo đó 1 năm có 365 ngày-khoảng cách giữa 2 lần sao Lang xuất hiện ở
đường chân trời. Tháng có 30 ngày, còn dư để vào cuối năm làm ngày lễ. Như
vậy, lịch của người Ai Cập cổ đại là một loại lịch được phát minh rất sớm (vào
khoảng thiên kỷ thứ IV TCN), tương đối chính xác và thuận tiện. Tuy nhiên,
lịch Ai Cập cổ đại so với lịch mặt trời còn thiếu mất 1⁄4 ngày, nhưng lúc bấy
giờ, họ chưa biết đặt ra năm nhuận.
−Để đo thời gian, từ thời cổ vương quốc người Ai Cập đã phát minh ra các nhật
khuê (đồng hồ mặt trời). Tuy nhiên, dụng cụ này chỉ xem được thời gian ban
ngày và chỉ khi có nắng. Đến thời Vương triều XVII, người Ai Cập phát minh
ra đồng hồ nước. Loại đồng hồ này đã khắc phục được nhược điểm của loại nhật khuê nói trên. -Toán học
−Do nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, tính
toán…là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời.
−Những quan niệm về số học xuất hiện từ thiên niên kỉ thứ III TCN.Đến đầu
thiên niên kỉ thứ II thì người Ai Cập đã phát triển thành công hệ số đếm của mình.
Ví dụ: đơn vị: hình nhiều cái que, chục: hình một đoạn dây thừng, trăm: hình một
vòng đoạn dây thừng, ngàn: hình cây sậy,....
−Họ đã biết dùng hệ đếm thập phân, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và
chia thì thực hiện bằng cách cộng và trừ nhiều lần. Họ có thể giải được phương trình bậc nhất.
(Đến thời Trung vương quốc, mầm mống của đại số học đã xuất hiện. Ẩn số x được
gọi là “aha” nghĩa là “một đống”, ví dụ một số ngũ cốc chưa biết được số lượng thì
gọi là “một đống ngũ cốc”. Người Ai Cập đã biết được cấp số cộng và giải được phương trình bậc nhất.)
−Về hình học, họ biết tính diện tích tam giác, tứ giác và biết rằng bình phương
của cạnh huyền bằng tổng bình phương của 2 cạnh trong tam giác vuông.
−Họ còn tính được số Pi=3.16. -Y học
−Do tục ướp xác thịnh hành nên họ hiểu biết khá sớm về cơ thể con người và
khá nổi tiếng với các nước láng giềng: Vua Ba Tư đã xin vua Ai Cập thầy
thuốc chữa mắt, Hêrôđốt rất khâm phục con số đông đảo và trình độ chuyên
môn cao của người Ai Cập về: răng, đầu, mắt, bụng và bệnh nội thương. Đặc
biệt họ sống rất sạch sẽ và “ là người mạnh khỏe nhất”.
−Người Ai Cập biết rằng nguyên nhân của bệnh tật không phải do ma quỷ hay
phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu. Họ cũng nhận
thức về óc và tim là 2 bộ phận quan trọng của cơ thể.
Ngoài ra, các lĩnh vực khác như vật lý học, hóa học... cũng có những hiểu biết đáng kể.
Không thể tưởng tượng được rằng trong việc thiết kế và xây dựng các Kim Tự Tháp
mà cho đến nay vẫn rất vững bền lại thiếu những kiến thức về vật lý học nhất là về lực học. -Tổng kết:
Có thể nói rằng văn minh Ai Cập là một trong những nền văn minh phát triển rực rỡ
nhất của thế giới cổ đại. Bên cạnh thành tựu về khoa học tự nhiên, người dân Ai Cập
còn có những thành tựu vô cùng to lớn trên các lĩnh vực khác của đời sống như: chữ
viết, văn hoá, tôn giáo, kiến trúc, điêu khắc... mà ngày nay nhân loại không thể phủ
nhận được. Cho đến nay, những thành tựu ấy vẫn làm cho chúng ta thán phục và ngạc
nhiên trước sức sáng tạo kì diệu của Ai Cập thời cổ đại.
3. Trình bày các thành tựu khoa học tự nhiên của Hy Lạp cổ đại Mở bài:
Nền kinh tế phát triển cao, đời sống vật chất của giai cấp thống trị Hy Lạp được nâng
cao, do đó thúc đẩy nhu cầu nâng cao cả về đời sống tinh thần. Hy Lạp được coi là
quê hương của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của khoa học tự nhiên (Thiên văn
học, địa lí, toán học, vật lí, sinh vật, y dược). Là nơi sản sinh ra những con người
khổng lồ, kiến thức uyên bác, với những thành tựu đáng giá đóng góp cho kho tàng
khoa học tự nhiên của lịch sử nhân loại.
-Nguyên nhân KHTN phát triển ở Hy Lạp là: +Kinh tế phát triển
+Không bị chi phối bởi tôn giáo và vương quyền
+Nhu cầu xây dựng các công trình kiến trúc,... -Các thành tựu: ▪Thiên văn và địa lý: −Thales:
+ Ông được mệnh danh là “nhà toán học đầu tiên, nhà thiên văn học đầu
tiên”. Là người đã khai sinh ra ngành thiên văn học cổ đại và là người hình thành
trường phái khoa học Mile.
+ Ông đã học tập và kế thừa những thành tựu thiên văn học Lưỡng Hà.
+ Ông đã phát minh ra được cách tính toán và dự báo các hiện tượng nhật
thực, nguyệt thực. Ông đã dự báo chính xác nguyệt thực ở Mile ngày 28/05/585 TCN. −Pitago:
+ Ông cho rằng mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều có quy luật của nó.
Ông cho rằng Trái đất hình cầu và chuyển động theo 1 quỹ đạo nhất định, ông cũng
là người đầu tien dùng danh từ Cosmos để chỉ vũ trụ. −Aristarque:
+ Ông đã tính được khối lượng của mặt trăng, Trái đất, Mặt trời và khoảng
cách giữa các thiên thể. Ông khẳng định: Không phải mặt trời xoay quanh Trái đất
mà chính trái đất xoay quanh mặt trời và mỗi ngày tự quay quanh nó 1 vòng. −Ératosthène:
+ Ông là người đầu tiên tính được độ nghiêng của trục quay Trái Đất là 23’27.
+ Ông cũng là người đầu tiên tính toán khá chính xác chu vi của Trái đất
bằng cách đo độ dài của đường xích đạo là 39.700 km, gần bằng con số ngày nay tính được. −Hecataus:
+ Sống cùng thời với Thales, là người đầu tiên vẽ được bản đồ Thế Giới.
Đây là bản đồ địa lý sớm nhất trong lịch sử địa lý học phương Tây. ▪Toán học: −Thales:
+ Là người đầu tiên phát biểu định lý tỷ lệ thức( định lý Thales). Ông chứng
minh được 2 góc đáy của tam giác cân bằng nhau, xác định tam giác bởi 1 cạnh và 2
góc kề bù, hoặc tính khoảng cách của 1 vật mà không đến gần được.
+ Ông là người đầu tiên tinhd được chiều cao của Kim Tự tháp. −Pi-ta-go:
+ Ông nêu các định lý được chứng minh bằng suy luận lôgic chứ không phải
bằng trực giác. Ông có đóng góp về bảng tính nhân, thập phan và conga thức nổi tiếng về tam giác vuông. −Eclít:
+ Với tác phẩm nổi tiếng nhất là bộ “Cơ bản” gồm 13 cuốn được giữ lại đến
ngày nay. Hệ thống định đề của ông làm nền tảng xây dựng môn hình học phẳng hay
còn gọi là hình học Eclít. −Ác-si-mét: + Toán học:
oTính được số pi bằng 1 trị số chính xác và sớm nhất trong lịch sử phương Tây.
oÔng đưa ra phương pháp tính diện tích hình nón, hình cầu, tìm được mối liên
hệ giữa diện tích toàn phần và thể tích hình cầu nội tiếp trong hình trụ. + Vật lý:
oÔng là người đặt nền móng cho ngành cơ học và ứng dụng của nó vào việc giải
phóng sức lao động của con người như: đòn bẩy, ròng rọc, chan vịt(dùng để hút
nước), ông phát minh ra nguyên lý đòn bẩy và nguyên lý về thủy lực, định luật về vật nổi.
oÔng được coi là người phát minh ra: ròng rọc, đòn bẩy, máy bơm nước, máy
bắn đá, bánh xe răng cưa, đường xoáy trôn ốc, nguyên lý hội tụ ánh sáng của gương cầu lồi… ▪Y học:
−Hipprocrate: Ông đã phát biểu những luận điểm quan trọng như:
+ Nguyên nhân của bệnh tật xuất phát từ giới tự nhiên.
+ Khi đau thì người ta phải uống thuốc và hết sức lưu ý đến vấn đè vệ sinh ăn uống.
+ Khi cần thiết thì phải dùng đến thuật mổ xẻ để trị bệnh.
Ông là người đầu tiên ở Châu Âu phát biểu về vấn đề y đức. Ông phát biểu: “
Nghề thầy thuốc là một nghề hết sưc quan trọng, hết sức đặc biệt vì nó liên quan đến
sức khỏe và tính mạng con người. Do đó, không được dùng nghề nghiệp chuyên môn
của mình để trục lợi. −Heradide:
+ Ông là người đầu tiên nêu lên vấn đề dùng thuốc mê trong phẫu thuật.
+ Ý tưởng này của ông mãi đến năm 1840 người ta mới dùng ête để gây mê
và năm 1861 thì dùng Morphine để giảm đau. -Tổng kết:
Tóm lại, cách đây trên dưới 2000 năm nền khoa học của Hy Lạp đã có những thành
tựu rất lớn. Những thành tựu ấy đã đặt cơ sở cho sự phát triển huy hoàng của nền
khoa học thời cận hiện đại.
4. Đạo thiên chúa ở La Mã cổ đại ● Mở bài:
Được hình thành tại vùng đất Palestine (lúc bấy giờ nằm trong lãnh thổ của đế quốc
La Mã), do Chúa Giêsu Kitô là người sáng lập ra. Trải qua hơn 2 nghìn năm lịch sử
hình thành và phát triển, có thể nói Ki - tô giáo là một trong những tôn giáo lớn nhất
của thế giới khi có đến gần 2 tỷ người theo đạo, chiếm 1/3 số người số người sống trên Trái Đất.
● Hoàn cảnh ra đời:
Theo truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Kitô là con của Chúa Trời đầu thai vào
người con gái đồng trinh Maria và được sinh ra ở Bétlêhem vào khoảng năm 5 hoặc
4TCN, người đã sáng lập ra đạo Ki tô. Đến năm 30 tuổi, Chúa Giêsu vừa truyền đạo,
vừa chữa bệnh, có thể làm cho người chết sống lại. Trong khi truyền đạo, Chúa Giêsu
khuyên mọi người phải nhẫn nhục chịu đựng mọi đau khổ ở đời, sau khi chết sẽ được
hưởng hạnh phúc vĩnh viễn ở thiên đường.
Sự ra đời của Ki tô giáo khởi nguyên từ năm 63 TCN, khi La Mã thôn tính vùng
Palextin, nơi mà từ thế kỉ VI TCN cư dân đã theo một tôn giáo nhất thần gọi là đạo Do
Thái. Người La Mã áp dụng một chế độ cai trị hà khắc khiến nô lệ, dân nghèo và thợ
thủ công bị áp bức hết sức nặng nề. Họ đã bao lần nôi dậy đấu tranh nhưng đều bị đàn
áp đè bẹp, khiến họ mất niềm tin vào hạnh phúc, tự do trong cuộc sống hiện thực.
Trong khi đó tư tưởng của phái triết học khắc kỉ với các nội dung như thần thống trị
thế giới, sống nhẫn nhục chịu đựng là đức tính tốt đẹp, mọi người đều bình đẳng, đang
được lưu hành ở La Mã. Chính giáo lí của đạo Do Thái, tư tưởng của phái khắc
kỉ và đời sống cực khổ không có lối thóa của nhân dân bị áp bức là những yếu tố dẫn
đến sự ra đời của đạo kitô.
Vì không tìm được lối thoát nên con người tìm đến sự ảo mộng trong tôn giáo như
một lối thoát cho mình. Do vậy Kito giáo trở thành tôn giáo của người bị áp bức bốc
lột: nô lệ, nông dân, thợ thủ công.
● Quá trình truyền bá và phát triển:
1. Kitô giáo buổi đầu
Về tổ chức, lúc đầu các tín đồ của đạo Kitô bao gồm nô lệ, nô lệ được giải phóng, dân
nghèo thành thị. Họ lập thành những công xã nhỏ. Đó không những là những đoàn thể
của các giáo hữu mà còn là những tổ chức giúp đỡ lẫn nhau và làm việc từ thiện.
Các công xã đều có quỹ chung để tiêu dùng và tổ chức những bữa tiệc chung. Mọi
thành viên của công xã đều bình đẳng. Quyền lãnh đạo các công xã Kitô giáo trong
thời kỳ này thuộc về các nhà truyền giáo lưu động, các sứ đồ. Họ đều là đại biểu của quần chúng nghèo khổ.)
Trong quá trình phát triển, Ki tô giáo đã phát triển qua hai giai đoạn:
2. Các giai đoạn phát triển của Kitô giáo
a) Giai đoạn 1 (từ thế kỷ I đến thế kỷ IV SCN)
- Đây là giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt và cũng là giai đoạn mà số tín đồ
không nhiều, chỉ có một bộ phận ở Palestine tham gia.
- Sau cái chết của Chúa Jésus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý của ngài truyền bá
ra ngoài Palestine. Năm 62, thánh Paulo sang Roma để truyền đạo thì thấy ở đây đã có
nhiều tín đồ Kitô giáo.
- Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng do
Kitô giáo lên án giới nhà giàu, tức là lên án tầng lớp thống trị trong xã hội và khẳng
định đế quốc La Mã sẽ bị diệt vong. Điều đó khiến giới cầm quyền và quý tộc rất căm
ghét nên họ cho rằng tín đồ Kitô là bọn phiến loạn trong xã hội và tiến hành đàn áp rất
khốc liệt. Tuy nhiên càng đàn áp thì Kitô giáo càng phát triển. - Nguyên nhân.
+ Chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong xã hội càng
sâu sắc, sự bần cùng hoá, sự áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên. Do đó Kitô là tôn
giáo duy nhất mà giới lao động và những người nghèo khổ có thể tìm thấy được con đường giải phóng.
+ Các tín đồ Kitô giáo sinh hoạt trong các khu vực mà thực chất là các tổ chức tương
tế đã giúp người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm để duy trì cuộc sống thường ngày.
- Do vậy trong thời kỳ đầu, cuộc vận động tham gia Kitô mang một ý nghĩa xã hội rất
tích cực, mang tính chất vận động những người nghèo chống lại chính quyền La Mã áp bức bóc lột.
- Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ
yếu tại các thành phố lớn. Cùng với sự phát triển của Kitô giáo là giới cầm quyền La
Mã cũng quyết định thay đổi chính sách đối với tôn giáo này.
b) Giai đoạn 2 (trong thế kỷ IV sau Công nguyên)
Đây là giai đoạn Kitô giáo được thừa nhận về mặt pháp lý và được công nhận là quốc giáo của La Mã.
- Năm 311, Hoàng đế Galerius hạ lệnh đình chỉ việc sát hại các tín đồ Kitô giáo. Kitô
giáo được thừa nhận về mặt pháp lý và có một địa vị bình đẳng với các tôn giáo khác.
- Năm 313, Hoàng đế Constantin ban bố sắc lệnh Milano xác định địa vị hợp pháp của
giáo hội Kitô, nâng Kitô giáo lên địa vị quốc giáo. - Năm 325, Hoàng đế Constantin ra
lệnh triệu tập Đại hội Kitô giáo lần thứ nhất tại Nicée (vùng Tiểu Á). Đại hội đã giải
quyết được 2 vấn đề lớn:
+ Thống nhất lại cuối cùng nội dung của Kinh thánh, nghĩa là chọn ra 4 phần tương
đối trùng khớp, ít mâu thuẫn, loại bỏ bớt yếu tố mê tín dị đoan, thống nhất và đưa vào Tân ước.
+ Chấn chỉnh tổ chức giáo hội. - Sau đại hội này, Kitô giáo trở thành một bộ phận
trong bộ máy của giai cấp thống trị LaMã.
- Năm 337, Hoàng đế Constantin đã chịu phép rửa tội và trở thành vị hoàng đế La Mã
đầu tiên theo Kitô giáo.
- Kitô giáo ra đời là biểu hiện phong trào phản kháng của đông đảo quần chúng bị áp
búc, lúc đầu là nô lệ, dân nghèo sau đó lan rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội.
- Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Kitô giáo từ chỗ là tôn giáo của những người nghèo,
chống lại chính quyền cai trị, đã trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần, vật chất
của chính quyền Rôma và là một bộ phận của chính quyền thống trị La Mã. Liên hệ Việt Nam:
Quá trình hình thành và phát triển đạo Ki tô ở nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm,
biến cố. Từ một tôn giáo hoàn toàn xa lạ với Việt Nam, đến nay Ki tô giáo là một
trong những tôn giáo có số người tin theo lớn thứ hai (với hơn 7 triệu triệu tín đồ)
trong các tôn giáo có mặt tại Việt Nam. Đồng thời khi đạo Ki tô vào Việt Nam cũng
đã mang theo nhiều yếu tố văn hóa phương Tây du nhập vào, làm cho văn hóa Việt
Nam trở nên phong phú hơn, phát triển thêm nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật mới,
trong đó đặc biệt nhất phải kể đến sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Cho đến nay đạo Ki tô
đã có được một nền móng tương đối vững chắc nhờ từng bước hội nhập vào trong văn
hoá Việt Nam theo đánh giá của các nhà khoa học về tôn giáo này./. Kết luận:
Kitô giáo là một bộ phận quan trọng của văn hóa phương Tây. Trải qua hơn 20 thế kỷ,
tuy có những giai đoạn thăng trầm, những biến thiên theo thời gian và thời cuộc, có
lúc tưởng chừng như diệt vong, nhưng cuối cùng thì Kitô giáo đã chiếm một vị trí khá
vững vàng trên thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù Kitô giáo có thể đang xuống dốc ở châu Âu và ổn
định ở Mỹ, tôn giáo ấy vẫn là một trong những tôn giáo phát triển nhanh nhất ở mọi nơi trên thế giới.
Hầu hết sự phát triển này có vẻ không do sự truyền giáo từ những người Kitô giáo
phương Tây mà do một phong trào có tính cơ sở
5. Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại Mở bài:
“Nếu ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi
chỗ này” là lời thề nổi tiếng của Thái tử Tất Đạt Đa – người sáng lập ra Phật giáo.
Thái tử sinh khoảng năm 624 trước công nguyên thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con
vua Tịnh Phạn Vương Đầu Đà Na). Dù sống trong cuộc đời vương giả nhưng Thái tử
vẫn nhận ra sự đau khổ của nhân sinh, vô thường của thế sự nên Thái tử đã quyết tâm
xuất gia tìm đạo nhằm tìm ra căn nguyên của đau khổ và phương pháp diệt trừ đau
khổ để giải thoát khỏi sinh tử luân hồi. Sau nhiều năm tìm thầy học đạo, Thái tử nhận
ra rằng phương pháp tu hành của các vị đó đều không thể giải thoát cho con người hết
khổ được. Sau 49 ngày đêm thiền định dưới gốc cây Bồ đề, Thái tử đã đạt được Đạo
vô thượng, thành bậc “Chánh đẳng chánh giác”, hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển, đạo Phật du nhập vào trên 100 nước trên
thế giới, ở hầu khắp các châu lục nhưng luôn với trạng thái ôn hoà, chưa bao giờ đi
liền với chiến tranh xâm lược hay xảy ra các cuộc thánh chiến. Tính đến năm 2008,
đạo Phật có khoảng 350 triệu tín đồ và hàng trăm triệu người có tình cảm, tín ngưỡng
và có ảnh hưởng bởi văn hoá, đạo đức Phật giáo.
Điều kiện hình thành:
- Thứ nhất về tiền đề kinh tế - xã hội: Cuối thế kỷ thứ VI TCN, ở miền Bắc AD, phía
Nam dãy Himalaya, vùng biên giới AD với Nepal, sự phát triển của kinh tế nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp khiến cho LLSX phát triển dẫn đến sự phát
triển vượt bậc của kinh tế AD so với trước đó. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải
có sự thay đổi trong tổ chức sản xuất và xã hội (hình thức sở hữu, phân công lao động,
phân công sản phẩm...) mở đường cho kinh tế phát triển.
Dựa trên nền tảng kinh tế phát triển như thế quá trình phân hóa xã hội ở AD diễn ra
sâu sắc đẩy một bộ phận lớn dân cư vào chỗ khốn cùng. Nó đặt ra yêu cầu cần có một
cơ cấu xã hội mới bình đẳng hơn đáp ứng nguyện vọng của các giai cấp thấp trong xã hội lúc bấy giờ.
- Thứ hai về tiền đề tư tưởng – chính trị: Cuộc sống khổ cực làm cho nhân dân lao
động thêm căm ghét những kẻ bóc lột mình, oán ghét chế độ đẳng cấp, không còn tin
vào các vị thần Bàlamôn. Những nghi lễ phức tạp, những nghĩa vụ phiền toái, giáo lí
ngày càng khó hiểu làm cho người dân ngày càng xa rời tôn giáo này. Trong bối cảnh
đó vào thế kỷ VI TCN ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trường phái tôn giáo, triết học mới
chủ trương xa lánh thực tại, khổ hạnh, ép xác, tiêu cực, tự kỉ nhưng có 1 điểm chung
là trực tiếp và gián tiếp chống lại đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp. Phật giáo cũng là
một trong những trào lưu đó và được xem là một phản đề của đạo Bàlamôn.
Quá trình truyền bá và phát triển
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ khoảng giữa thiên niên kỷ I TCN, vào thời điểm rất hưng
thịnh của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp. Với giáo lý đề cao lòng từ bi của con
người với đồng loại, chống lại chế độ đẳng cấp, với tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh
chóng chinh phục được đông đảo các tầng lớp nhân dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân
dân lao động. Từ thế kỷ V TCN đến thế kỷ V SCN là quá trình truyền bá và phát triển
đạo Phật, từ khi Đức Phật viên tịch cho đến khi đạo Phật không còn phổ biến ở Ấn
Độ. Quá trình đó trải qua 4 hội nghị kết tập:
+ Thứ nhất, hội nghị kết tập lần 1
- Ngay sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, một số tăng sỹ bắt đầu có những biểu hiện
sống tự do vượt ra ngoài những giới luật ràng buộc. Trước tình hình đó, Ca Diếp - đệ
tử tối cao của Đức Phật đã triệu tập một đại hội kết tập lại giáo pháp Phật tổ dạy một
cách thống nhất để mọi người tuân theo. Hội nghị kết tập lần này diễn ra ở thành
Vương Xá, kinh đô nước Ma Kiệt Đà, kéo dài bảy tháng. Thành phần hội nghị gồm
500 vị đã chứng quả A La Hán. - Cuộc kết tập này có ý nghĩa quan trọng hàng đầu
trong lịch sử Phật giáo. Bước đầu hình thành nên cơ cấu tổ chức giáo hội, Luật và
Pháp được phân chia rõ ràng: Pháp gồm những lời thuyết giáo của Phật được nhớ lại
theo ký ức của các đệ tử lúc bấy giờ; Luật là quy chế của hội Phật giáo do Đại hội thảo ra.
Thứ hai, hội nghị kết tập lần 2
- 100 năm sau kỳ kết tập lần thứ nhất, 12.000 tăng sỹ thành Tỳ Xá Lỵ không sống theo
tất cả giới luật. Theo họ, trong giới luật có 10 điều được châm chế và họ đã không giữ
những giới luật này. Để xem xét lại 10 điều luật trên, cũng là để một lần nữa xác định
lại giới pháp nhằm ngăn ngừa mọi điều phi pháp có thể xảy ra, hội nghị kết tập lần thứ
hai được triệu tập. Hội nghị quy tụ 700 vị trưởng lão tại thành Phệ Xá Lỵ kéo dài khoảng 8 tháng
- Sau nhiều lần thảo luận với nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng, hội nghị tuyên bố, 10
điều trên vẫn là những giới luật cần tuân giữ, nếu không sẽ phạm giới. Tuy nhiên, đa
số các vị Đông bộ không phục tùng nghị quyết này, họ (gọi là Đại chúng bộ, là mầm
mống của phái Đại thừa sau này) cùng nhau hội họp ở nơi khác để kết tập kinh điển,
gọi là Đại chúng kết tập. Từ đấy, giáo đoàn Phật giáo chia thành hai bộ phái khác
nhau. Thượng toạ bộ theo khuynh hướng bảo thủ, Đại chúng bộ theo khuynh hướng cách tân.
Thứ ba, hội nghị kết tập lần 3
- Diễn ra vào khoảng thế kỷ III TCN với 1000 tăng ni tham dự trong 9 tháng. - Với sự
giúp đỡ của Asoka, nhiệm vụ chính là chấn chỉnh lại tổ chức và giáo lý của giáo hội,
đồng thời đặt ra kinh kệ và các nghi thức. Asoka còn cho xây dựng nhiều chùa tháp,
thành lập nhiều tăng đoàn, khuyến khích việc truyền bá đạo Phật đến nhiều vùng đất
trên báo đảo Ấn Độ và một số quốc gia khác (Sri Lanka, Mianma, Thái Lan,...). Tuy
nhiên, sau khi vương quốc Magada tan rã, đạo Phật cũng suy yếu dần.
Thứ tư, hội nghị kết tập lần 4
- Diễn ra vào thế kỷ I SCN với sự giúp đỡ của vua Kanisca với 500 tăng ni tham dự ở
Casmia. - Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, có một hiện tượng mang tính quy luật, đó
là sự phân phái của các hệ thống triết lý tôn giáo lớn trong quá trình phát triển của
chúng. Phật giáo cũng không nằm ngoài quy luật đó. Thông qua giáo lý của Phật giáo
cải cách và phái Phật giáo này được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật
giáo cũ (gọi là phái Tiểu Thừa). - Phái Tiểu (hay Nam tông) thừa nghĩa là “cỗ xe nhỏ”
hoặc “con đường cứu vớt hẹp”, cho rằng những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt.
+ Quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh, gắn với giác ngộ sáng suốt, không còn
phiền não khổ đau, không còn nhân quả luân hồi, cũng tức là hư vô.
+ Phật Thích Ca là người đầu tiên đạt đến cảnh giới Niết bàn lúc 35 tuổi.
+ Được truyền bá từ Ấn Độ sang Sri Lanca rồi đến các quốc gia ở Đông Nam Á như
Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Nam Việt Nam,...
- Phái Đại Thừa (Bắc tông) nghĩa là “cỗ xe lớn” hoặc “con đường cứu vớt rộng”, cho
rằng không chỉ những tu hành mà cả những người quy y cũng được cứu vớt.
+ Quan niệm Niết bàn như thiên đường, tức là vương quốc của các vị Phật, cũng là nơi Cực lạc.
+ Đề cao vai trò của tầng lớp tăng ni, coi họ là trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.
+ Phật giáo Đại thừa được truyền bá từ Ấn Độ sang Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên và Bắc Việt Nam,...
Sau đại hội Phật giáo lần thứ tư, các nhà sư được khuyến khích ra nước ngoài truyền
đạo; do đó đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc.
Những thế kỉ tiếp sau đó, đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được phát triển ở phần
lớn Châu Á và đã trở thành quốc giáo của một số nước như Xri Lanca, Mianma, Lào, Thái Lan và Campuchia. Tiểu thừa Đại thừa
- “Cỗ xe nhỏ”, chỉ những người
- “Cỗ xe lớn”, cứu vớt tất thảy
xuất gia đi tu mới được cứu vớt
chúng sinh quy y theo đạo Phật
- Phật Thích Ca là Phật duy nhất
- Phật Thích Ca là Phật cao nhất,
- Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn
ngoài ra có Phật A Di Đà, Phật Di
liền với giác ngộ sáng suốt, không
Lặc, Phật Đại Dược Sư. Ai cũng còn phiền não khổ đau.
có thể thành Phật. Các Bồ tát đã
thành Phật nhưng ở lại cõi trần
trần để cứu độ chúng sinh.
- Niết bàn là thế giới của các Phật,
giống như thiên đường, nên phái
này còn tạo ra khái niệm địa ngục
- Đề cao vai trò của tăng ni, coi họ
là trung gian giữa tín đồ và Bồ tát
→ Tượng Phật đúc tạc nhiều, nghi thức
cúng bái phức tạp, dùng hương hoa trong lễ cúng
a) Lý do Phật giáo trở thành một tôn giáo thế giới
- Sau đại hội Phật giáo lần thứ tư, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước
ngoài truyền đạo; do đó đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang Trung Á và Trung Quốc.
- Tư tưởng bình đẳng, ưa chuộng hòa bình
- Gắn với đời sống hiện thực, không xa rời thực tế (không có đấng tối cao, không
có ma thuật, pháp thuật)
- Gắn với tầng lớp bị áp bức, bóc lột trong xã hội
- Truyền bá vào các nước lân cận theo con đường hòa bình, không áp đặt, dễ
dàng dung hợp với văn hóa bản địa
b) Sự suy tàn của Phật giáo ở Ấn Độ
- Sự du nhập của Hồi giáo vào Ấn Độ: Vào nửa cuối thế kỉ thứ 8, vua Al-Mahdi
(775-785) của triều đại Hồi giáo Abbasad đã đem quân tấn công Ấn Độ. Họ đã
phá hủy, cướp bóc các tài liệu, công trình, kiến trúc Phật giáo - trong đó quan
trọng là trung tâm Phật học Valabhi (Valabhī). Mặc dù sau đó họ không tiếp tục
bức hại Phật giáo, nhưng dầu sao đây cũng là bước đầu trong việc hủy hoại
Phật giáo tại Ấn Độ, Afghanistan và Trung Đông. Đến năm 1178, quân đội Hồi
giáo của Muhammad Ghuri đã tiến hành nhiều cuộc chinh phạt Ấn Độ. Hầu hết
các công trình Phật giáo đã bị tiêu hủy. Vào năm 1197, trung tâm Phật giáo
Nālandā bị hủy diệt hoàn toàn, kể cả các tăng sĩ. Vikramaśīla cũng bị chiếm
năm 1203, chấm dứt hoàn toàn một thời đại lịch sử của Phật giáo tại Ấn Độ.
- Bản thân Phật giáo phát triển theo hướng tu khổ hạnh, xa rời đời sống: Từ thế
kỉ thứ 7 trở đi, đạo Phật đã có nhiều phân hoá. Nhiều tông phái đã xuất hiện lại
có đường lối dị biệt và nhiều lúc chia rẽ nhau. Thời gian đó, cũng là lúc ra đời
các tông phái Mật tông. Các phái này đưa ra rất nhiều hình ảnh Bồ Tát và có
nhiều hoạt động về hình thức tương tự với việc thờ cúng thần linh của Ấn giáo,
do đó, ít nhiều đã làm lu mờ các điểm đặc thù của Phật giáo. Sự bao dung và tự
do của Phật giáo cũng là một tiền đề cho sự suy tàn. Các vua trong nước Ấn
mặc dù sẵn sàng nghe thuyết giảng Phật pháp nhưng vẫn không bỏ quên đạo Bà
La Môn và không ngừng phát huy đạo này thay vì Phật giáo.
- Người Ấn quay lại với tôn giáo truyền thống là Bà-la-môn mà nay là Ấn Độ
giáo: Ấn Độ giáo (hay Bà La Môn) là một tôn giáo ra đời từ thế kỷ 15 TCN,
với một điểm đặc thù là nó sẵn sàng tiếp thu các nguyên lý hay khái niệm của
đạo khác. Trong số tín đồ Phật giáo có rất nhiều tu sĩ phát gốc từ đạo Bà La
Môn nên các tư tưởng và nề nếp của Ấn giáo có ảnh hưởng ít nhiều đến đạo
Phật. Mặt khác quan trọng hơn là việc Ấn giáo đã mặc nhiên thu nạp các tư
tưởng của Phật giáo để làm thành tư tưởng Bà La Môn. (Trong đó có việc Phật
Thích Ca Mâu Ni đã trở thành một vị tiên tri quan trọng của tôn giáo này).
Những cuộc tự đổi mới của Ấn Độ giáo kể từ thế kỉ thứ 7 đã đem lại sinh khí
cho tôn giáo này cũng như làm mờ nhạt dần hình ảnh Phật giáo. Sự pha trộn
của các tư tưởng Phật giáo vào Ấn giáo sâu và rộng đến nỗi một người bình dân
rất khó phân biệt được rõ ràng giữa Ấn giáo và Phật giáo. Mãi cho đến ngày
nay, khi nghiên cứu về Phật giáo và Ấn giáo nhiều tác giả Tây phương vẫn còn
bối rối khi phân biệt hai tôn giáo này. Ngoài ra, trong thời gian đó, với đặc tính
dễ thích nghi và phù hợp với nhu cầu thờ phụng của người bình dân ở Ấn Độ,
đạo Phật đã dần dà trở thành thứ yếu hay trở thành tôn giáo của tầng lớp trí thức. Liên hệ Việt Nam:
Còn đối với Việt Nam, gần hai ngàn năm có mặt ở Việt Nam, đạo Phật đã trải qua
nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, song thời nào Phật giáo cũng lấy đức Từ bi
để giáo hoá chúng sinh, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Phật giáo Việt Nam đã xây dựng
cho mình truyền thống yêu nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Với bản chất từ bi,
yêu tự do, yêu hoà bình, tôn trọng sự sống, GHPGVN hôm nay với phương châm hoạt
động “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” luôn tích cực trong các phong trào
tương thân tương ái, giúp đỡ cộng đồng, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc,
đoàn kết tôn giáo, xây dựng xã hội bình đẳng và văn minh, xứng đáng là một tôn giáo “Hộ quốc - An dân”./.