Đề cương ôn thi môn LSVMTG
1/ Phân biệt các khái niệm “văn minh” ,”văn hóa”, “lịch sử văn minh”
a, Văn minh gì?
Văn minh trạng thái tiến bộ cả về hai mặt vật chất tinh thần của hội loài người,
tức trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh man, hoang dã,
lạc hậu,… dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa,
văn minh Hy Lạp,…
b, So sánh văn hoá với văn minh
- Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất tinh thần do con người sáng tạo ra để
góp phần vào sự ổn định, điểm, làm đẹp cho cuộc sống của con người hội.
- Đặc trưng của văn hoá:
+ cái để phân biệt con người với động vật, đặc trưng riêng của hội loài người.
+ Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) phải học tập, giao lưu.
+ cách ứng xử đã được mẫu thức hoá.
“Văn hóa”
- bề dày quá khứ.
- Mang toàn bộ những giá trị loài người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử.
- Mang tính dân tộc.
“Văn minh”
- lát cắt đồng đại.
- Chỉ những giá trị loài người sáng tạo trong giai đoạn phát triển cao của hội.
- Mang tính siêu dân tộc.
2/ Cách nhận diện 1 nền văn minh.
- Khi con người bắt đầu biết chế tạo ra công cụ bằng đá cũng lúc họ biết sáng tạo ra
văn hóa dần dần nghệ thuật tôn giáo,... Trên sở nền văn hóa nguyên thủy,
đến một giai đoạn nhất định, loài người mới tiến vào thời văn minh.
- Nền văn minh bao gồm những giá trị loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát
triển cao của hội.
- Giai đoạn phát triển cao đó giai đoạn nhà nước. Thông thường vào thời thành
lập nhà nước thì chữ viết cũng xuất hiện, đó cũng một yếu tố quan trọng giúp cho
văn hóa bước phát triển nhảy vọt đến giai đoạn phát triển cao văn minh.
-
3/ Ý nghĩa của việc học tập LSVMTG
- Động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những
thành tựu phát triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất
lượng cuộc sống của con người,…
- Người học sẽ biết thêm hiểu về lịch sử, nền tảng, nguồn gốc của các nền
văn minh, sự kiện trên thế giới để từ đó biết quý trọng, giữ gìn, tiếp thu những
tinh hoa của thế giới kế thừa, phát triển.
Văn minh Bắc Phi Tây Á
I/ Văn minh Ai Cập
1/ Vai trò của điều kiện tự nhiên đối với sự hình thành nền văn minh Ai Cập.
- Điều kiện tự nhiên của Ai Cập: “Ai Cập tặng phẩm của sông Nile”. Ai Cập một
thung lũng hẹp dài nằm dọc lưu vực sông Nin, giáp Địa Trung Hải Biển Đỏ
- Điều kiện tự nhiên vai trò quan trọng trong sự hình thành phát triển của các nền
văn minh Ai Cập. Điều này được thể hiện việc:
+ Điều kiện tự nhiên (đồng bằng màu mỡ, nguồn nước dồi dào…) thuận lợi cho sự
sinh trưởng phát triển của cây cối vật nuôi. Do đó, xu hướng phát triển kinh tế
của dân Ai Cập cổ đại thường thiên về sản xuất nông nghiệp.
+ Điều kiện tự nhiên cũng một yếu tố tác động, thúc đẩy sự ra đời sớm của các nhà
nước cổ đại Ai Cập.
+ Điều kiện tự nhiên thuận lợi đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế => sớm đưa tới sự
phân hóa hội thành các tầng lớp: quý tộc, nông dân công xã, lệ,...
+ Mặt khác, điều kiện tự nhiên cũng một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự
hình thành phát triển về văn hóa của dân Ai Cập.
2/ Những thành tựu giá trị lâu dài trong nền VM Ai Cập
Toán học
- Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng
các công trình kiến trúc, đo đạc,… những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời.
- Thiên niên kỷ III trước Công nguyên: xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về
các con số.
- Thiên niên kỷ II trước Công nguyên: phát triển thành công hệ đếm.
+ Hệ số thập phân: số 10, chưa số 0, biết làm các phép cộng trừ, còn nhân
chia thì thực hiện bằng cách cộng trừ liên tiếp.
+ Đại số: giải phương trình bậc nhất.
+ Hình học: tính diện tích tam giác, tứ giác, diện tích hình cầu, tính được
số π = 3,16.
Thiên văn học
- Để nắm vững được thời tiết khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho
canh tác nông nghiệp, Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học lịch pháp.
- Từ rất sớm, người Ai Cập cổ đại đã dùng những dụng cụ thô như sợi dây dọi, mảnh
ván khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời.
- Họ biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
- Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các thiên thể, được vẽ lên trần của
các đền đài cổ.
- Bản đồ 12 cung Hoàng đạo từ thời Vương triều XIV.
- Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời việc phát minh ra đồng hồ mặt trời, đồng
hồ nước những thành tựu quan trọng thời Tân vương quốc.
- Việc xây dựng lịch gắn liền với việc quan sát sao Lang (Sirus) trên bầu trời. Theo đó,
một năm 365 ngày, một tháng 30 ngày, còn để vào cuối năm làm ngày lễ tết.
Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nile bắt đầu dâng, mỗi năm chia làm
3 mùa (mùa nước dâng, mùa ngũ cốc, mùa thu hoạch), mỗi mùa 4 tháng.
Y học
- Do tục ướp xác thịnh hành nên người Ai Cập cổ đại hiểu biết khá sớm về cấu tạo
thể người, điều đó đã tạo điều kiện cho y học phát triển khá nổi tiếng với các nước
láng giềng.
- Họ trình độ chuyên môn cao về răng, đầu, mắt, bụng các bệnh nội thương.
- Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật không phải do ma quỷ
hay phù thủy gây ra do sự không bình thường của mạch máu.
- Nhận thức được óc tim hai bộ phận quan trọng của thể con người.
II/ Văn minh Lương
1/ Những thành tựu giá trị lâu dài trong nền văn minh Lưỡng cổ đại
-Toán học: Do nhu cầu của việc đo đạc ruộng bậc thang, đào đắp kênh tưới, xây dựng
cung điện, cưdân Lưỡng đã biết đến những con số đưa ra công thức tính diện tích
các hình. Họ lấy số 5 làm số trung gian để đếm số hạng thấp hoặc cao hơn 5. Dùng
số 60 (nay vẫn dùng trong hệ thống đo thời gian: giờ, phút, giây) phép khai căn, lấy dấu
tròn để chỉ độ. Khi đo đạc người ta biết dùng số = 3 để tính diện tích chu vi hình
tròn, biết tính hình tròn của tam giác vuông.
- Thiên văn học: Người Babylon đã khám phá ra 5 hành tinh của mặt trời (Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Hải Vương tinh), biết gần đúng quỹ đạo của các hành tinh, nghiên cứu hiện
tượng sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, động đất, tính lịch theo mặt trăng: một
năm 12 tháng, xen kẽ một tháng đủ, một tháng thiếu, tổng cộng 354 ngày. Dùng
ánh mặt trời nước chảy để đoán giờ.
- Y học: chữa nhiều bệnh về tiêu hóa, hấp, thần kinh, đau mắt. Hình thành nhiều
ngành như nội khoa, ngoại khoa, giải phẫu. Tuy nhiên, do tín ngưỡng ma thuật rất
nhiều, hiện nay còn lưu lại ảnh thần bảo hộ y học, biểu tượng con rắn quấn quanh chiếc
gậy.
2/ Trình bày thành tựu kiến trúc văn minh Lưỡng cổ đại
- Kiến trúc: Người Lưỡng đã xây dựng được các cung điện, đền, miếu lớn hai
trung tâm lớn Xume Atcat các thành bang Ua, Kit... đạt trình độ kiến trúc cao.
- Một trong những công trình kiến trúc cao được đánh giá vườn treo Babylon - đây
một trong bảy quan của thế giới.
- Do điều kiện thuận lợi về kinh tế, chính trị vị trí địa nên thành Babylon đã trờ
thành trung tâm sầm uất phồn thịnh. Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Đến
đầu thế kỉ VII TCN dưới triều đại vua Nabucodonossor (604- 561 TCN), Babylon được
hồi sinh. Vườn treo Babylon một khuôn viên hình vuông, cấu trúc kiểu dốc bậc, các
tầng hiên xếp chồng lên nhau toàn bộ công trình cao tới 77m, 4 tầng, mỗi tầng
một vườn cây. Mặt bằng của mỗi tầng được lát bằng những phiến đá to rất khít phủ một
lớp cói mỏng, đổ đất lên để trồng cây. Đây một công trình kiến trúc hết sức độc đáo,
cung điện của nhà vua vườn treo tạo thành một quần thể kiến trúc hùng vĩ. Nhưng
toàn bộ công trình đã bị tàn phá, chôn vùi dưới lớp đất sâu.
III/ Văn minh Rập
1/ Mối quan hệ giữa đạo Hồi với nền văn minh Rập
- Vào đầu thế kỉ VII, con đường buôn bán Đông Tây chuyển sang vịnh Ba thuộc quyền
kiểm soát của đế quốc Ba Tư. Việc mất quyền kiểm soát này ảnh hưởng lớn đến kinh tế của
các vương quốc bán đảo Rập. Bọn quý tộc, nhà giàu mất đi một nguồn lợi lớn từ việc thu
thuế của các đoàn thương nhân, bắt đầu chuyển snag bóc lột thậm tệ dân nghèo. Cùng lúc đó,
bán đảo Rập đứng trước nguy bị xâm lấn của đế quốc Bidantium từ phía Tây đế
quốc Ba từ phía Đông. Tình hình này đòi hỏi phải một chính quyền tập trung vững
mạnh , khả năng thống nhất các bộ lạc , duy trì nền thống trị con đường buôn bán Đông
Tây, đẩy lùi nguy xâm lấn bành trướng xâm lược các quốc gia. Song tín ngưỡng đa
thần của các bộ lạc không những không đáp ứng được còn gây trở ngại cho khuynh
hướng trên. Trong hoàn cảnh ấy, khí tưởng thích hợp nhất để tập hợp, đoàn kết các bộ
lạc một tôn giáo mới tôn giáo độc thần. Hồi giáo đã ra đời.
- Nhà nước Rập mãi đến thế kỷ VII mới thành lập. Quá trình thành lập nhà nước rập gắn
liền với quá trình ra đời đạo Hồi do Mohamet truyền bá. (Người sáng lập truyền đạo
Hồi)
- Năm 622, bị tầng lớp quý tộc Mecca phản đối hãm hại, Mohamet tín đồ phải chạy lên
thành phố Yatorip(sau đổi tên Medina) phía Bắc.
- đây Mohamet đã thành lập một lực lượng chính trị tôn giáo thường xuyên tập kích các
đội buôn của Mecca.Dần dần sức mạnh cũng như tín đồ theo đạo Hội của Mohamet càng
mạnh lên. Đến năm 630 quân đội của Medina đã chiến thắng quân Mecca Mohamet đã trở
thành người đứng đầu nhà nước rập. Mecca trở thành thánh đại chủ yếu của đạo Hồi.
- Để mở rộng đất đai truyền đạo Hồi, rập tích cực thi hành chính sách xâm lược bên
ngoài như: Ai Cập, Ba Tư. Để mở rộng đất đai truyền đạo Hồi, rập tích cực thi hành
chính sách xâm lược bên ngoài như: Ai Cập, Ba Tư..
- Năm 632, Mohamet đã chết. Sau đó người đứng đầu nhà nước tôn giáo rập gọi
Calipha( người thừa kế của nhà tiên tri)
- Trong lịch sử thế giới, chưa từng một tôn giáo nào bành trướng một cách mạnh mẽ
nhanh chóng cho bằng đạo Hồi. Từ một nhóm người du mục sống trong một ốc đảo heo hút
giữa sa mạc đã mau chóng biến thành những con người đầy quyền lực tung hoành từ Cận
Đông đến Âu Châu từ Bắc Phi đến tận các nước Châu Á: vương triều Omayat Arap đã
chiếm được dải miền bắc châu Phi, bán đảo tây ban nha, đến thế kỷ VIII Rập đã trở
thành một đế quốc rộng lớn với lãnh thổ rộng lớn Hồi giáo phạm vi ảnh hưởng rộng từ
châu Âu, châu Phi, cả châu Á. Sự xuất hiện bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7
hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng
2/ Đặc điểm những đóng góp quan trọng của văn minh Rập thời trung đại?
- Người Hồi giáo quan niệm khám phá khoa học đang đi trên con đường của
Thánh A La, do đó khoa học rất được đề cao.
- Toán học: kế thừa sâu sắc toán học Ấn độ, Hy Lạp nhưng sáng tạo thêm phép
lượn giác, giải phương trình bậc 3, 4.
- Vật lý: cũng kế thừa sâu sắc các thành tựu Hy Lạp Ấn độ, nhưng tập hợp
thành công trình chuyên về quang học, đặc biệt thuyết về khúc xạ ánh sáng qua
gương cầu lồi lõm.
- Hóa học: các thành tựu điều chế a xit từ dấm thực vật, chế rượu Rum từ mía,
chế tạo nồi chưng nước tinh khiết, đặc biệt ngành giả kim thuật.
- Thiên văn học: do đời sống du mục nên người Rập điều kiện quan sát bầu
trời, hơn nữa do yêu cầu của việc hành lễ đạo Hồi, nên rất nhiều thành tựu :
Hồ về 5015 ngôi sao, 47 chòm sao, gia thuyết trái đất tròn với chu vi 35 vạn
km, mặt trời không phải trung tâm của trụ, trên trái đất 7 miền khí hậu.
- Y học: quốc gia sự nghiệp y tế tiến tiến nhất thời trung đại: nhiều khoa, bộ
môn: tây y, nội khoa, ngoại khoa, dược khoa, dưỡng sinh, tâm trị liệu, vật
trị liệu. hệ thống y tế cộng đồng, y tế từ thiện…
- Thành tựu về giáo dục: Với quan niệm giáo dục để mở rộng tri thức để các tín
đồ bước trên con đường của Thánh A La, người Rập rất coi trọng các nhà
khoa học, nhà giáo Mực của các nhà bác học cũng linh thiêng như máu của các
chiến binh”, công việc biên dịch cũng rất được đề cao, đặc biệt rập đã mời rất
nhiều nhà bác học, giáo phương Tây sang dạy tại các trường đại học. vậy
nền giáo dục rập những thành tựu cùng rực rỡ: hệ thống giáo dục từ tiểu
học lên đến đại học, học toàn diện, nhiều hình dạy học, trên đế quốc rập
nhiều trường Đại học lớn giống như các viện đại học: Batđa, Coócđôba, Cai
rô…
IV/ Văn minh Ấn Độ
1/ Những thành tựu nổi bật trong lịch sử VM Ấn Độ thời cổ - trung đại.
1. Chữ viết
- Chữ viết đầu tiên được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa, tìm thấy trên các con dấu cổ
này một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm ghi vần. Chức năng của các con dấu
đóng trên hàng hóa để xác nhận hàng hóa chỉ nơi xuất xứ của mặt hàng đó.
- Đến khoảng thế kỷ thứ V TCN, xuất hiện loại chữ Kharosthi, phỏng theo chữ viết
vùng Lưỡng Hà. Sau đó xuất hiện chữ Brahmi. Trên sở chữ Brahmi, đặt ra chữ
Đêvanagari cách viết đơn giản, thuận tiện hơn. Đó thứ chữ mới để viết tiếng
Sanskrit hiện nay vẫn được dùng tại Ấn Độ Nepal.
2. Văn học - hai thành tựu rực rỡ nhất: Vêđa Sử thi
- Kinh Vêđa:
oHình thức: các bài ca các bài cầu nguyện
oNội dung: phản ánh bối cảnh hội Ấn Độ thời tan của chế độ công thị
tộc, hình thành một hội giai cấp nhà nước; cuộc sống của nhân dân Ấn
Độ tại thời điểm đó; chế độ đẳng cấp, việc hành quân hay một số mặt của đời
sống hội
oBộ kinh Vêđa bao gồm 4 tập Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda, Artharva Veda
- Sử thi: Hai bộ sử thi rất nổi tiếng Mahabharata Ramayana được truyền miệng từ
đầu thiên niên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ
Mahabharata: bộ sử thi dài nhất thế gới với 220.000 câu, phản ánh cuộc đấu
tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương miền Bắc Ấn Độ.
Ramayana: bộ sử thi dài 48.000 câu kể về câu chuyện của hoàng tử Rama
(một hóa thân của vị thần Vishnu) người vợ chung thủy Sita.
Ngoài ra, còn nhiều thành tựu nổi bật như các tác phẩm của Caliđaxa (tiêu biểu vở
kịch Sơcuntla) các tác phẩm văn học khác viết bằng các phương ngữ,…
3. Nghệ thuật
- Kiến trúc: Tiêu biểu nhất các công trình kiến trúc tôn giáo như trụ đá Asoka, chùa
hang Ajanta, chùa hang Enlôra, chùa Tanjo, các đền thờ của đạo Hinđu,… Các công
trình kiến trúc thường kết hợp với điêu khắc, hội họa. Thời Môgôn, công trình kiến
trúc tiêu biểu nhất được xây dựng lăng Taj Mahal.
- Điêu khắc: Nghệ thuật tạo hình của Ấn Độ chủ yếu khắc họa các nội dung tôn giáo
song vẫn thể hiện tính hiện thực nét. Tiêu biểu các bức tượng Phật, tượng thần
Shiva, Vishnu,… của đạo Hinđu với nhiều mắt, nhiều đầu, nhiều tay,…
4. Khoa học tự nhiên
-Thiên văn học: xác định được một năm chia 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày
30 giờ, cứ 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận. Ngoài ra, đạt được một số thành tựu trong
quan trắc thiên văn như biết trái đất, mặt trăng hình cầu, phân biệt được một số hành
tinh sự vận hành của chúng.
-Toán học: sáng tạo ra hệ thống chữ số chúng ta sử dụng ngày nay, tính được một
cách chính xác số pi bằng 3,1416 biết tính diện tính một số hình, quan hệ giữa các
cạnh của một tam giác vuông
- Vật học: Các nhà khoa học kiêm triết học của Ấn Độ cổ đại đã nêu ra thuyết
nguyên tử biết được sự tồn tại của lực hút trái đất
- Y dược học: đã những hiểu biết quan trọng về y học, chữa được nhiều loại bệnh,
đặc biệt đã biết dùng tới phẫu thuật.
5. Tôn giáo
Ấn Độ nơi ra đời của nhiều tôn giáo trong đó quan trọng nhất đạo La
Môn (sau đạo Hinđu) đạo Phật. Ngoài ra còn một số tôn giáo khác như đạo Jain,
đạo Xích. Các tôn giáo vai trò quan trọng chi phối cả đời sống chính trị - hội
của nhân dân Ấn Độ. Nhiều tôn giáo đã vượt ra ngoài phạm vi Ấn Độ trở thành tôn giáo
mang tính quốc tế. VD: Phật giáo.
2/ Mối quan hệ giữa tôn giáo với các thành tựu VM trong lịch sử Ấn Độ cổ - trung đại
a. Ảnh hưởng của tôn giáo đến chữ viết
Một trong những đặc trưng tôn giáo trong những ngôn ngữ Ấn Độ thể đối tượng
quan sát một cách ràng trong đó các nhà lôgic học phương Tây gọi “những
phán đoán khách quan”. Người Ấn Độ cổ đại, khi họ nghĩ về các hiện tượng tự nhiên,
họ luôn luôn tưởng tượng ra một vị thần tạo ra các hiện tượng đó như thể chúng tồn
tại một cách một cách mật.Ở Ấn Độ, họ đã phát triển một quan niệm rất phức tạp về
thần linh. Họ nhiều từ ngữ để chỉ thần linh. Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, miền
Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng
3000 con dấu khắc những hiệu đồ hoạ. Thế kỉ VII TCN, đây đã xuất hiện chữ
Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá khắc loại chữ này. Trên sở chữ Brami,
thế kỉ V TCN Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây sở của nhiều loại chữ viết
Ấn Độ Đông Nam Á sau này.
b. Ảnh hưởng của tôn giáo đến văn học
Ấn Độ nước nền văn học rất phát triển, gồm 2 bộ phận chính Vêđa sử thi.
Những tập Vêđa gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái,
những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết trong kinh Vêđa. Sử thi Ấn Độ hai
tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại Mahabharata Ramayana. Mahabharata bản
trường ca gồm 220 000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa
các con cháu Bharata. Bản trường ca này thể coi một bộ “bách khoa toàn thư”
phản ánh mọi mặt về đời sống hội Ấn Độ thời đó. Ramayana một bộ sử thi dài 48
000 câu thơ, tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama công chúa Sita. Thiên
tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. dụ Riêmkê
Campuchia, Riêmkhiêm Thái Lan chắc chắn ảnh hưởng từ Ramayana. Thời cổ đại
Ấn Độ còn tâp ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tưởng được
gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu. Ngoài văn học tiếng Xanxcrit ra, còn
những tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết phải kể đến
những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.
c. Ảnh hưởng của tôn giáo đến nghệ thuật
Ấn Độ nơi nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước
Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do
yêu cầu của tôn giáo đó thể hiện. thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo,
Phật giáo, Hồi giáo. rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên dãy
chùa hang Ajanta miền trung Ấn Độ. Đây dãy chùa được đục vào vách núi, tới
29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên
vách hang những bức tượng Phật nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ được
xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII XI. Tiêu biểu cho các công trình Hinđu giáo
cụm đền tháp Khajuraho Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước
những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật Ấn Độ tháp Mina, được xây dựng vào
khoảng thế kỉ XIII lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII.
Nói chung nghệ thuật tạo hình Ấn Độ phần lớn nhằm vào chủ đề tôn giáo, nhưng bắt
nguồn từ cuộc sống thực tế nên tính hiện thực vẫn thể hiện rất rệt, dụ tượng nhiều
tay nhiều đầu phỏng theo thế của các đội múa trong đền cung đình.
d. Ảnh hưởng của tôn giáo đến khoa học tự nhiên
Do nhu cầu cuộc sống hằng ngày nhân dân Ấn Độ đã nhiều phát minh quan trọng về
một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lí…. nhưng vẫn chịu ảnh
hưởng rất mạnh của tôn giáo.
Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng,
mỗi tháng 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường 360 ngày ). Cứ sau 5 năm thì họ
lại thêm vào một tháng nhuận.
Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính chủ nhân của hệ thống chữ số ngày
nay ta quen gọi số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ đặt ra số không, nhờ vậy mọi
biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây Âu vậy từ bỏ
số La sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính được căn bậc 2 căn bậc 3;
đã hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác. Pi =
3,1416.
Về vật lý: Người Ấn Độ cổ đại cũng đã thuyết nguyên tử. Thế kỉ V TCN, một nhà
thông thái Ấn Độ đã viết “…trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về
phía nó”.
Y học: cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã tả các dây gân, cách chắp ghép
xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển
sách Y học toát yếu” Luận khảo về trị liệu”.
3/ Về Phật giáo
*Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử Xitđacta
Gôtama, hiệu Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo
lấy năm 544 TCN năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho đây năm Đức Phật
nhập niết bàn. (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ý đến
ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên chúa).
- Giáo bản của đạo Phật Tứ diệu đế (bốn điền suy xét diệu):
Khổ đế (suy xét về sự khổ cực, luân hồi, nghiệp báo)
Nhân đế-Tập đế(nguyên nhân của sự khổ dục-lòng ham muốn)
Diệt đế (con đường tiết dục, diệt dục để trừ nghiệp báo)
Đạo đế (con đường để giải thoát khỏi sự luân hồi, nghiệp báo)
- Đức Phật còn đề ra tám con đường chính trực để tu hành- :Bát chánh
Chánh kiến: Phải tín ngưỡng đúng đắn.
Chánh duy: Phải suy nghĩ đúng đắn.
Chánh ngữ: Phải lời nói đúng.
Chánh nghiệp: Phải hành động đúng .
Chánh mệnh: Phải cuộc sống đúng đắn.
Chánh tinh tiến: Phải những ước đúng đắn.
Chánh niệm: Phải những điều tưởng nhớ đúng đắn.
Chánh định: Phải tập trung tưởng suy nghĩ .
- Đạo Phật còn đề ra :Ngũ giới
Bất sát sinh: Không giết hại các động vật.
Bất đạo tặc: Không trộm cướp.
Bất vọng ngữ: Không nói dối .
Bất dâm: Không tham vợ hay chồng của người khác.
Bất ẩm tửu: Không uống rượư.
- Về mặt thế giới quan, nội dung bản của đạo Phật thuyết duyên khởi. Do
quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương tạo giả,
ngã, thường.
- tạo giả quan niệm, thế giới này không do một đấng tối cao nào tạo ra, tự
nhiên cùng tận. Như vậy đạo Phật không dựa vào một đấng tối
cao nào để giải thích về sự xuất hiện thế giới như các tôn giáo khác.
- ngã cho không những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con
người cũng chỉ tập hợp của Ngũ uẩn ( sắc, thụ, tưởng, hành , thức) chứ không
phải một thực thể tồn tại lâu dài.
- thường cho vạn vật trong thế giới này biến đổi không ngừng, không
vĩnh cửu cả.
Qua những giáo ban đầu của đạo Phật như vậy, ta thấy lúc đầu đạo Phật chỉ
một triết về nhân sinh quan. Đạo Phật khai lúc đầu không thời bất cứ một vị thần
thánh nào. Ngay cả Phật tổ Sakya Muni cũng không tự coi mình thần thánh. Tuy Phật
tổ Sakya Muni tổ chức các tăng đoàn Tỳ Kheo (đoàn thể những tăng lữ khất thực) để
đi truyền đạo Phật khắp nơi nhưng đó không phải một tổ chức tôn giáo hệ
thống chùa tháp như ngày nay.
Trong hoàn cảnh hội đầy rẫy bất công do chế độ đẳng cấp gây ra, thì đạo Phật
lại chủ trương không phân biệt đẳng cấp, kêu gọi lòng thương người(từ bi hỉ xả),tránh
điều ác, làm điều thiện. Những lời kêu gọi sự công bằng, lòng nhân đức đó đã được
đông đảo người dân hưởng ứng.
* .Đạo Jain-Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI TCN. Đạo này chủ trương
bất sát sinh một cách cực đoan nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh.
* Đạo Sikh- Xích xuất hiện Ấn Độ vào khoảng thế kỉ XV. Giáo của đạo Xích
sự kết hợp giáo của đạo Hinđu giáo của đạo Islam. Tín đồ đạo Xích tập
trung rất đông bang Punjap ngôi đền thiêng liêng của họ ngôi đền Vàng
Punjap.
3/ sao Ấn Độ được mệnh danh “xứ sở của thần tinh”?
- Ấn Độ được mệnh danh “xứ sở của thần linh” bởi đây chính mảnh đất
sản sinh ra rất nhiều tôn giáo ra nhiều tôn giáo lớn trên thế giới mỗi tôn giáo
đều những nghi thức thờ phụng thần linh riêng.
+Đạo La Môn một tôn giáo đa thần, vị thần gần gũi nhất Indra
thần mưa bão, sấm sét. Brahma vị thần sáng tạo thế giới, Shiva thần
hủy diệt thế giới, Vishnu thần bảo vệ ánh sáng, bảo tồn trụ, bốn mùa,
thần làm cho nước sông Hằng dâng lên làm mưa để tưới tiêu cho đồng
ruộng… Cho tới đầu công nguyên, đạo La Môn phân chia thành 2
phái: phái thờ thần Shiva phái thờ thần Vishnu. Để thống nhất về
tưởng, đạo La Môn đưa ra quan niệm rằng 3 vị thần đó tuy ba nhưng
vốn một. Ngoài ra, đạo La Môn sùng bái rất nhiều loài vật như voi,
khỉ, bò,…
+Đạo Hindu:sùng bái chủ yếu ba vị thần Brahma, Vishnu Shiva; chia
thành hai phái phái thờ thần Vishnu phái thờ thần Shiva.
V/ Văn minh Trung Quốc
1/ Thành tựu KH - KT của Trung Hoa thời cổ đại - trung đại ?
- Trung Hoa một trong những cái nôi của lịch sử nhân loại. Văn minh Trung
Hoa qua các thời kỳ đã sự phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến các
nước trong khu vực nói riêng thế giới nói chung với nhiều thành tựu rực rỡ.
*Khoa học tự nhiên
-Toán học
+ Người Trung Hoa đã biết sử dụng hệ thống thập tiến vị từ rất sớm.
+ Nhiều cuốn sách toán học như Chu bễ toán kinh, Cửu chương toán thuật cho
thấy, họ đã biết đến phân số, mối quan hệ giữa ba cạnh của một tam giác vuông,
phép toán khai căn, phương trình bậc một, khái niệm về số âm số dương,…
+ Thời Nam Bắc Triều xuất hiện nhà toán học nổi tiếng Tổ Xung Chi, ông đã
tính được số pi bằng 3,14159265 đây con số chính xác nhất thế giới thời kỳ
đó.
- Thiên văn học:
+ Từ thời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao với 800 sao, xác
định được chu kỳ chuyển động của 120 sao => Từ đó, người Trung Hoa đã đặt
ra lịch Can chi (âm lịch).
+ Ngay từ thời cổ đại, một số nhà thiên văn đã phát hiện ra vết đen trên mặt trời,
chế tạo ra dụng cụ dự báo động đất,… Năm 1230, Quách Thủ Kính đời Nguyên
đã đặt ra Thụ thời lịch xác định một năm 365,2425 ngày. Đây một con số
rất chính xác so với kết quả của các nhà thiên văn châu Âu cùng thời.
- Y học
+ Thời Chiến Quốc đã sách Hoàng đế nội kinh được coi bộ sách kinh điển
của y học cổ truyền Trung Hoa. Đến thời Minh, cuốn Bản thảo cương mục của
Thời Xuân ra đời, được Darwin đánh giá bộ “Bách khoa về sinh vật” của
người Trung Quốc thời đó.
+ Nhiều thầy thuốc giỏi được truyền tụng như Biển Thước, Hoa Đà, Thời
Trân…
+ Châm cứu một thành tựu y học nổi bật đặc sắc của người Trung Quốc.
*Kĩ thuật: 4 phát minh lớn
- Giấy: được Thái Luân phát minh từ thời Đông Hán. Giấy đã nhanh chóng được dùng
phổ biến để ghi chép thay cho các vật liệu trước đây như thẻ tre, đá, lụa,.. Nghề làm
giấy sau đó được truyền sang các nước châu Á cả châu Âu.
- Kỹ thuật in: chưa chắc chắn bắt đầu từ bao giờ nhưng chắc chắn đã đến khoảng thế kỉ
VII đầu thời Đường đã nghề in. Kỹ thuật in được bắt nguồn từ việc khắc các chữ cái
trên con dấu từ thời Tần, sau đó việc in các bùa chú để trừ ma của Đạo giáo. Kỹ
thuật in ngày càng hoàn thiện tiến bộ sau đó đã được truyền rộng rãi ra các nước
châu Á châu Âu, đặt sở cho kỹ thuật in hiện đại ngày nay.
- Thuốc súng: được phát minh một cách ngẫu nhiên bởi các đạo luyện đan của Đạo
giáo vào thời Đường, được người Trung Quốc gọi Hỏa dược. Đó một hỗn hợp các
chất dễ cháy như than gỗ, lưu huỳnh, diêm tiêu trộn với nhau rồi đốt. Đến khoảng thế
kỷ X, thuốc súng được sử dụng vào chế tạo khí thô
- Kim chỉ nam: được người Trung Quốc biết đến từ thế kỷ III TCN. Đến thời Tống, họ
đã phát minh ra nam châm nhân tạo bằng cách dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam
châm để thu từ tính rồi dùng kim đó làm la bàn. La bàn được sử dụng trong việc đi biển
từ Trung Quốc truyền sang A Rập rồi sang đến châu Âu.
=> Các phát minh trên đã giúp cải thiện đời sống của người dân Trung Quốc, đóng góp
to lớn cho văn minh nhân loại. Các phát minh này góp phần vào công cuộc chinh phục
tự nhiên, đấu tranh sinh tồn phát triển của con người.
2/ Các học thuyết tưởng Trung Hoa thời cổ - trung đại
-Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia:
+ Âm dương, bát quái, ngũ hành, những thuyết người Trung Quốc đã
nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong trụ luôn
tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật
âm dương ( lưỡng nghi).
+ Bát quái 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm),
Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái,
hai quẻ Càn, Khôn quan trọng nhất.
+ Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó 5 nguyên tố tạo thành vạn
vật. Các vật khác nhau do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh
ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm
dương với Ngũ hành rồi vận dụng để giả thích các biến động của lịch
sử hội .
+ Về tưởng:
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà
tưởng đưa ra những thuyết để tổ chức hội giải thích các vấn đề của cuộc sống(
Bách gia tranh minh ).
- Nho gia:
+ Đại biểu cho phái Nho gia Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ
trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường,
cùng với tưởng Chính danh định phận đề cao tưởng Thiên mệnh.
Giá trị quan trọng nhất trong tưởng của Khổng Tử về giáo dục. Ông
chủ trương dạy học cho tất cả mọi người.
+ Tới thời Hán Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng
Thư, Hán Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho
gia đã được đề cao một cách tuyệt đối nâng lên thành Nho giáo.
- Đạo gia:
+ Đại biểu cho phái Đạo gia Lão Tử Trang Tử . Hai ông đã thể hiện
tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh Nam Hoa kinh. Theo
Lão Tử, “Đạo” sở đầu tiên của trụ, trước cả trời đất, nằm trong
trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi “Đức”. Lão
Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển suy vong đều mối liên hệ
với nhau.
+ Tới thời Trang Tử, tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi,
xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không
thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tưởng an phận, lánh đời.
+ Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc phái trong
Đạo giáo tôn Lão Tử làm “Thái thượng lão quân”. Hạt nhân bản của
Đạo giáo tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống một việc sung
sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh.
3/ Mối quan hệ giữa VM TQ VM Châu Âu thời cổ trung đại.
-Mối quan hệ mạnh mẽ nhất giữa hai nền văn minh quan hệ thương mai
bắt đầu từ“con đường lụa” -Con đường lụa bắt đầu được hình thành từ thế
kỷ thứ 2 TCN, khi ấy Trương Kiên - một triều thần của Hán Đế đã nhận lệnh
đi về phía Tây để liên minh với những quốc gia dân tộc mới.
- Trong lịch sử, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc... đến Ba La
đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa.
Từ đây, con đường lụa phát triển với tốc độ chóng mặt, bắt nguồn từ Phúc
Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh của Trung Quốc qua Mông Cổ, Ấn Độ, Kazkhstan,
Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp…
- Từ thế kỷ thứ VII, con đường lụa trên biển ra đời bởi các thương gia Rập.
Sau đó, các quốc gia như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Lan lần lượt kéo đến
Trung Quốc buôn bán qua đường biển với tốc độ nhanh, an toàn hơn.
4/ Đặc điểm nghệ thuật kiến trúc điêu khắc của nền VN Trung Hoa thời cổ trung đại.
*Kiến trúc
- Kiến trúc Trung Quốc đã sự phát triển rực rỡ, để lại nhiều công trình độc đáo
tầm cỡ quốc tế như Vạn trường thành, kinh đô Trường An, chùa Phật Quang, tháp
Giang Thiên, Cố cung, Viên minh viên, Di Hòa viên,…
- Đặc điểm của kiến trúc:
+Thường sử dụng vật liệu gỗ, bố trí các công trình thành quần thể kiến trúc
+Gia công nghệ thuật ngay trên kết cấu của kiến trúc
+Sự bố trí màu sắc trong bố cục tương phản, tôn tạo lẫn nhau
+Có sự phản ánh tâm linh của người Trung Quốc: tôn giáo, tín ngưỡng,…
*Điêu khắc
- Cách đây 6000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng ngọc chế tác thành đồ trang sắc
đeo trước cổ. Đây cũng kỹ thuật chế tác ngọc sớm nhất trên thế giới.
- Cuối thời Thương Chu, xuất hiện kỹ thuật điêu khắc đá, đến thời Tần Hán, điêu
khắc đá đã đạt tới trình độ cao tiêu biểu như Tần Ngẫu, Lạc Sơn Đại Phật,
- Đến đời Tống Vạn tự bi tác phẩm điêu khắc bia đá cao gần 3m với 39 vạn chữ.
=> Nghệ thuật điêu khắc đã từ lâu đời, phát triển rực rỡ với các thành tựu đáng kinh
ngạc.
I/ Văn minh Ai Cập

Preview text:

Đề cương ôn thi môn LSVMTG
1/ Phân biệt các khái niệm “văn minh” ,”văn hóa”, “lịch sử văn minh” a, Văn minh là gì?
Văn minh là trạng thái tiến bộ cả về hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người,
tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. Trái với văn minh là dã man, hoang dã,
lạc hậu,… Ví dụ: Văn minh phương Tây, văn minh phương Đông, văn minh Trung Hoa, văn minh Hy Lạp,…
b, So sánh văn hoá với văn minh
- Văn hoá dùng để chỉ những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra để
góp phần vào sự ổn định, tô điểm, làm đẹp cho cuộc sống của con người và xã hội.
- Đặc trưng của văn hoá:
+ Là cái để phân biệt con người với động vật, là đặc trưng riêng của xã hội loài người.
+ Không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền) mà phải học tập, giao lưu.
+ Là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá. “Văn hóa” - Có bề dày quá khứ.
- Mang toàn bộ những giá trị mà loài người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. - Mang tính dân tộc. “Văn minh”
- Là lát cắt đồng đại.
- Chỉ là những giá trị mà loài người sáng tạo trong giai đoạn phát triển cao của xã hội. - Mang tính siêu dân tộc.
2/ Cách nhận diện 1 nền văn minh.
- Khi con người bắt đầu biết chế tạo ra công cụ bằng đá cũng là lúc họ biết sáng tạo ra
văn hóa và dần dần là nghệ thuật và tôn giáo,... Trên cơ sở nền văn hóa nguyên thủy,
đến một giai đoạn nhất định, loài người mới tiến vào thời kì văn minh.
- Nền văn minh bao gồm những giá trị mà loài người sáng tạo ra trong giai đoạn phát triển cao của xã hội.
- Giai đoạn phát triển cao đó là giai đoạn có nhà nước. Thông thường vào thời kì thành
lập nhà nước thì chữ viết cũng xuất hiện, đó cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho
văn hóa có bước phát triển nhảy vọt đến giai đoạn phát triển cao là văn minh. -
3/ Ý nghĩa của việc học tập LSVMTG
- Động lực thúc đẩy sự phát triển của nhân loại, giúp nhân loại đạt đến những
thành tựu phát triển đỉnh cao, góp phần ngày càng hoàn thiện, nâng cao chất
lượng cuộc sống của con người,…
- Người học sẽ biết thêm và hiểu rõ về lịch sử, nền tảng, nguồn gốc của các nền
văn minh, sự kiện trên thế giới để từ đó biết quý trọng, giữ gìn, tiếp thu những
tinh hoa của thế giới và kế thừa, phát triển.
Văn minh Bắc Phi và Tây Á I/ Văn minh Ai Cập
1/ Vai trò và của điều kiện tự nhiên đối với sự hình thành nền văn minh Ai Cập.
- Điều kiện tự nhiên của Ai Cập: “Ai Cập là tặng phẩm của sông Nile”. Ai Cập là một
thung lũng hẹp và dài nằm dọc lưu vực sông Nin, giáp Địa Trung Hải và Biển Đỏ
- Điều kiện tự nhiên có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của các nền
văn minh Ai Cập. Điều này được thể hiện ở việc:
+ Điều kiện tự nhiên (đồng bằng màu mỡ, nguồn nước dồi dào…) thuận lợi cho sự
sinh trưởng và phát triển của cây cối và vật nuôi. Do đó, xu hướng phát triển kinh tế
của cư dân Ai Cập cổ đại thường thiên về sản xuất nông nghiệp.
+ Điều kiện tự nhiên cũng là một yếu tố tác động, thúc đẩy sự ra đời sớm của các nhà
nước cổ đại ở Ai Cập.
+ Điều kiện tự nhiên thuận lợi đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế => sớm đưa tới sự
phân hóa xã hội thành các tầng lớp: quý tộc, nông dân công xã, nô lệ,...
+ Mặt khác, điều kiện tự nhiên cũng là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự
hình thành và phát triển về văn hóa của cư dân Ai Cập.
2/ Những thành tựu có giá trị lâu dài trong nền VM Ai Cập ●Toán học
- Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng
các công trình kiến trúc, đo đạc,… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời.
- Thiên niên kỷ III trước Công nguyên: xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về các con số.
- Thiên niên kỷ II trước Công nguyên: phát triển thành công hệ đếm.
+ Hệ số thập phân: cơ số 10, chưa có số 0, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và
chia thì thực hiện bằng cách cộng và trừ liên tiếp.
+ Đại số: giải phương trình bậc nhất.
+ Hình học: tính diện tích tam giác, tứ giác, diện tích hình cầu, tính được số π = 3,16. ●Thiên văn học
- Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho
canh tác nông nghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp.
- Từ rất sớm, người Ai Cập cổ đại đã dùng những dụng cụ thô sơ như sợi dây dọi, mảnh
ván có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời.
- Họ biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ.
- Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các thiên thể, nó được vẽ lên trần của các đền đài cổ.
- Bản đồ 12 cung Hoàng đạo có từ thời Vương triều XIV.
- Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời và việc phát minh ra đồng hồ mặt trời, đồng
hồ nước là những thành tựu quan trọng ở thời Tân vương quốc.
- Việc xây dựng lịch gắn liền với việc quan sát sao Lang (Sirus) trên bầu trời. Theo đó,
một năm có 365 ngày, một tháng có 30 ngày, còn dư để vào cuối năm làm ngày lễ tết.
Năm mới của Ai Cập bắt đầu từ ngày nước sông Nile bắt đầu dâng, mỗi năm chia làm
3 mùa (mùa nước dâng, mùa ngũ cốc, mùa thu hoạch), mỗi mùa 4 tháng. ●Y học
- Do tục ướp xác thịnh hành nên người Ai Cập cổ đại hiểu biết khá sớm về cấu tạo cơ
thể người, điều đó đã tạo điều kiện cho y học phát triển và khá nổi tiếng với các nước láng giềng.
- Họ có trình độ chuyên môn cao về răng, đầu, mắt, bụng và các bệnh nội thương.
- Người Ai Cập nhận thức được rằng nguyên nhân của bệnh tật không phải do ma quỷ
hay phù thủy gây ra mà do sự không bình thường của mạch máu.
- Nhận thức được óc và tim là hai bộ phận quan trọng của cơ thể con người. II/ Văn minh Lương Hà
1/ Những thành tựu có giá trị lâu dài trong nền văn minh Lưỡng Hà cổ đại
-Toán học: Do nhu cầu của việc đo đạc ruộng bậc thang, đào đắp kênh tưới, xây dựng
cung điện, cưdân Lưỡng Hà đã biết đến những con số và đưa ra công thức tính diện tích
các hình. Họ lấy số 5 làm số trung gian để đếm số hạng thấp hoặc cao hơn 5. Dùng cơ
số 60 (nay vẫn dùng trong hệ thống đo thời gian: giờ, phút, giây) phép khai căn, lấy dấu
tròn để chỉ độ. Khi đo đạc người ta biết dùng số = 3 để tính diện tích và chu vi hình
tròn, biết tính hình tròn của tam giác vuông.
- Thiên văn học: Người Babylon đã khám phá ra 5 hành tinh của mặt trời (Kim, Mộc,
Thủy, Hỏa, Hải Vương tinh), biết gần đúng quỹ đạo của các hành tinh, nghiên cứu hiện
tượng sao chổi, sao băng, nhật thực, nguyệt thực, động đất, tính lịch theo mặt trăng: một
năm có 12 tháng, xen kẽ một tháng đủ, một tháng thiếu, tổng cộng là 354 ngày. Dùng
ánh mặt trời và nước chảy để đoán giờ.
- Y học: chữa nhiều bệnh về tiêu hóa, hô hấp, thần kinh, đau mắt. Hình thành nhiều
ngành như nội khoa, ngoại khoa, giải phẫu. Tuy nhiên, do tín ngưỡng ma thuật rất
nhiều, hiện nay còn lưu lại ảnh thần bảo hộ y học, biểu tượng con rắn quấn quanh chiếc gậy.
2/ Trình bày thành tựu kiến trúc văn minh Lưỡng Hà cổ đại
- Kiến trúc: Người Lưỡng Hà đã xây dựng được các cung điện, đền, miếu lớn ở hai
trung tâm lớn là Xume và Atcat và các thành bang Ua, Kit... đạt trình độ kiến trúc cao.
- Một trong những công trình kiến trúc cao được đánh giá là vườn treo Babylon - đây là
một trong bảy kì quan của thế giới.
- Do có điều kiện thuận lợi về kinh tế, chính trị và vị trí địa lí nên thành Babylon đã trờ
thành trung tâm sầm uất phồn thịnh. Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Đến
đầu thế kỉ VII TCN dưới triều đại vua Nabucodonossor (604- 561 TCN), Babylon được
hồi sinh. Vườn treo Babylon là một khuôn viên hình vuông, cấu trúc kiểu dốc bậc, các
tầng hiên xếp chồng lên nhau và toàn bộ công trình cao tới 77m, có 4 tầng, mỗi tầng là
một vườn cây. Mặt bằng của mỗi tầng được lát bằng những phiến đá to rất khít phủ một
lớp cói mỏng, đổ đất lên để trồng cây. Đây là một công trình kiến trúc hết sức độc đáo,
cung điện của nhà vua và vườn treo tạo thành một quần thể kiến trúc hùng vĩ. Nhưng
toàn bộ công trình đã bị tàn phá, chôn vùi dưới lớp đất sâu. III/ Văn minh Ả Rập
1/ Mối quan hệ giữa đạo Hồi với nền văn minh Ả Rập
- Vào đầu thế kỉ VII, con đường buôn bán Đông – Tây chuyển sang vịnh Ba Tư thuộc quyền
kiểm soát của đế quốc Ba Tư. Việc mất quyền kiểm soát này ảnh hưởng lớn đến kinh tế của
các vương quốc bán đảo Ả Rập. Bọn quý tộc, nhà giàu mất đi một nguồn lợi lớn từ việc thu
thuế của các đoàn thương nhân, bắt đầu chuyển snag bóc lột thậm tệ dân nghèo. Cùng lúc đó,
bán đảo Ả Rập đứng trước nguy cơ bị xâm lấn của đế quốc Bidantium từ phía Tây và đế
quốc Ba Tư từ phía Đông. Tình hình này đòi hỏi phải có một chính quyền tập trung vững
mạnh , có khả năng thống nhất các bộ lạc , duy trì nền thống trị và con đường buôn bán Đông
– Tây, đẩy lùi nguy cơ xâm lấn và bành trướng xâm lược các quốc gia. Song tín ngưỡng đa
thần của các bộ lạc không những không đáp ứng được mà còn gây trở ngại cho khuynh
hướng trên. Trong hoàn cảnh ấy, vũ khí tư tưởng thích hợp nhất để tập hợp, đoàn kết các bộ
lạc là một tôn giáo mới – tôn giáo độc thần. Hồi giáo đã ra đời.
- Nhà nước Ả Rập mãi đến thế kỷ VII mới thành lập. Quá trình thành lập nhà nước Ả rập gắn
liền với quá trình ra đời đạo Hồi do Mohamet truyền bá. (Người sáng lập và truyền bá đạo Hồi)
- Năm 622, bị tầng lớp quý tộc Mecca phản đối và hãm hại, Mohamet và tín đồ phải chạy lên
thành phố Yatorip(sau đổi tên là Medina) ở phía Bắc.
- Ở đây Mohamet đã thành lập một lực lượng chính trị và tôn giáo thường xuyên tập kích các
đội buôn của Mecca.Dần dần sức mạnh cũng như tín đồ theo đạo Hội của Mohamet càng
mạnh lên. Đến năm 630 quân đội của Medina đã chiến thắng quân Mecca và Mohamet đã trở
thành người đứng đầu nhà nước Ả rập. Mecca trở thành thánh đại chủ yếu của đạo Hồi.
- Để mở rộng đất đai và truyền bá đạo Hồi, Ả rập tích cực thi hành chính sách xâm lược bên
ngoài như: Ai Cập, Ba Tư. Để mở rộng đất đai và truyền bá đạo Hồi, Ả rập tích cực thi hành
chính sách xâm lược bên ngoài như: Ai Cập, Ba Tư..
- Năm 632, Mohamet đã chết. Sau đó người đứng đầu nhà nước và tôn giáo ở Ả rập gọi là
Calipha( người thừa kế của nhà tiên tri)
- Trong lịch sử thế giới, chưa từng có một tôn giáo nào bành trướng một cách mạnh mẽ và
nhanh chóng cho bằng đạo Hồi. Từ một nhóm người du mục sống trong một ốc đảo heo hút
giữa sa mạc đã mau chóng biến thành những con người đầy quyền lực tung hoành từ Cận
Đông đến Âu Châu và từ Bắc Phi đến tận các nước Châu Á: ở vương triều Omayat Arap đã
chiếm được dải ở miền bắc châu Phi, bán đảo tây ban nha, đến thế kỷ VIII Ả Rập đã trở
thành một đế quốc rộng lớn với lãnh thổ rộng lớn và Hồi giáo phạm vi ảnh hưởng rộng từ
châu Âu, châu Phi, và cả châu Á. Sự xuất hiện và bành trướng của đạo Hồi trong thế kỷ 7
hung bạo dữ dội như cơn gió xoáy khiến cho cả thế giới phải kinh hoàng
2/ Đặc điểm và những đóng góp quan trọng của văn minh Ả Rập thời trung đại?
- Người Hồi giáo quan niệm khám phá khoa học là đang đi trên con đường của
Thánh A La, do đó khoa học rất được đề cao. -
Toán học: kế thừa sâu sắc toán học Ấn độ, Hy Lạp nhưng sáng tạo thêm phép
lượn giác, giải phương trình bậc 3, 4.
- Vật lý: cũng kế thừa sâu sắc các thành tựu Hy Lạp và Ấn độ, nhưng tập hợp
thành công trình chuyên về quang học, đặc biệt thuyết về khúc xạ ánh sáng qua gương cầu lồi lõm. -
Hóa học: có các thành tựu điều chế a xit từ dấm thực vật, chế rượu Rum từ mía,
chế tạo nồi chưng nước tinh khiết, đặc biệt ngành giả kim thuật.
- Thiên văn học: do đời sống du mục nên người Ả Rập có điều kiện quan sát bầu
trời, hơn nữa do yêu cầu của việc hành lễ đạo Hồi, nên có rất nhiều thành tựu :
Hồ sơ về 5015 ngôi sao, 47 chòm sao, gia thuyết trái đất tròn với chu vi 35 vạn
km, mặt trời không phải là trung tâm của vũ trụ, trên trái đất có 7 miền khí hậu.
- Y học: là quốc gia có sự nghiệp y tế tiến tiến nhất thời trung đại: nhiều khoa, bộ
môn: tây y, nội khoa, ngoại khoa, dược khoa, dưỡng sinh, tâm lý trị liệu, vật lý
trị liệu. Có hệ thống y tế cộng đồng, y tế từ thiện…
- Thành tựu về giáo dục: Với quan niệm giáo dục là để mở rộng tri thức để các tín
đồ bước trên con đường của Thánh A La, người Ả Rập rất coi trọng các nhà
khoa học, nhà giáo “ Mực của các nhà bác học cũng linh thiêng như máu của các
chiến binh”, công việc biên dịch cũng rất được đề cao, đặc biệt Ả rập đã mời rất
nhiều nhà bác học, giáo sư phương Tây sang dạy tại các trường đại học. Vì vậy
nền giáo dục Ả rập có những thành tựu vô cùng rực rỡ: hệ thống giáo dục từ tiểu
học lên đến đại học, học toàn diện, có nhiều mô hình dạy học, trên đế quốc Ả rập
có nhiều trường Đại học lớn giống như các viện đại học: Batđa, Coócđôba, Cai rô… IV/ Văn minh Ấn Độ
1/ Những thành tựu nổi bật trong lịch sử VM Ấn Độ thời cổ - trung đại. 1. Chữ viết
- Chữ viết đầu tiên được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa, tìm thấy trên các con dấu cổ
này là một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần. Chức năng của các con dấu
đóng trên hàng hóa để xác nhận hàng hóa và chỉ rõ nơi xuất xứ của mặt hàng đó.
- Đến khoảng thế kỷ thứ V TCN, xuất hiện loại chữ Kharosthi, phỏng theo chữ viết
vùng Lưỡng Hà. Sau đó xuất hiện chữ Brahmi. Trên cơ sở chữ Brahmi, đặt ra chữ
Đêvanagari có cách viết đơn giản, thuận tiện hơn. Đó là thứ chữ mới để viết tiếng
Sanskrit hiện nay vẫn được dùng tại Ấn Độ và Nepal.
2. Văn học - hai thành tựu rực rỡ nhất: Vêđa và Sử thi - Kinh Vêđa:
oHình thức: các bài ca và các bài cầu nguyện
oNội dung: phản ánh bối cảnh xã hội Ấn Độ thời kì tan rã của chế độ công xã thị
tộc, hình thành một xã hội có giai cấp và nhà nước; cuộc sống của nhân dân Ấn
Độ tại thời điểm đó; chế độ đẳng cấp, việc hành quân hay một số mặt của đời sống xã hội
oBộ kinh Vêđa bao gồm 4 tập Rig Veda, Sama Veda, Yajur Veda, Artharva Veda
- Sử thi: Hai bộ sử thi rất nổi tiếng là Mahabharata và Ramayana được truyền miệng từ
đầu thiên niên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ
●Mahabharata: là bộ sử thi dài nhất thế gới với 220.000 câu, phản ánh cuộc đấu
tranh trong nội bộ một dòng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ.
●Ramayana: là bộ sử thi dài 48.000 câu kể về câu chuyện của hoàng tử Rama
(một hóa thân của vị thần Vishnu) và người vợ chung thủy Sita.
Ngoài ra, còn có nhiều thành tựu nổi bật như các tác phẩm của Caliđaxa (tiêu biểu là vở
kịch Sơcuntla) và các tác phẩm văn học khác viết bằng các phương ngữ,… 3. Nghệ thuật
- Kiến trúc: Tiêu biểu nhất là các công trình kiến trúc tôn giáo như trụ đá Asoka, chùa
hang Ajanta, chùa hang Enlôra, chùa Tanjo, các đền thờ của đạo Hinđu,… Các công
trình kiến trúc thường kết hợp với điêu khắc, hội họa. Thời kì Môgôn, công trình kiến
trúc tiêu biểu nhất được xây dựng là lăng Taj Mahal.
- Điêu khắc: Nghệ thuật tạo hình của Ấn Độ chủ yếu khắc họa các nội dung tôn giáo
song vẫn thể hiện tính hiện thực rõ nét. Tiêu biểu là các bức tượng Phật, tượng thần
Shiva, Vishnu,… của đạo Hinđu với nhiều mắt, nhiều đầu, nhiều tay,… 4. Khoa học tự nhiên
-Thiên văn học: xác định được một năm chia là 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày
30 giờ, cứ 5 năm thì thêm 1 tháng nhuận. Ngoài ra, đạt được một số thành tựu trong
quan trắc thiên văn như biết trái đất, mặt trăng có hình cầu, phân biệt được một số hành
tinh và sự vận hành của chúng.
-Toán học: sáng tạo ra hệ thống chữ số mà chúng ta sử dụng ngày nay, tính được một
cách chính xác số pi bằng 3,1416 và biết tính diện tính một số hình, quan hệ giữa các
cạnh của một tam giác vuông
- Vật lý học: Các nhà khoa học kiêm triết học của Ấn Độ cổ đại đã nêu ra thuyết
nguyên tử và biết được sự tồn tại của lực hút trái đất
- Y dược học: đã có những hiểu biết quan trọng về y học, chữa được nhiều loại bệnh,
đặc biệt đã biết dùng tới phẫu thuật. 5. Tôn giáo
Ấn Độ là nơi ra đời của nhiều tôn giáo trong đó quan trọng nhất là đạo Bà La
Môn (sau là đạo Hinđu) và đạo Phật. Ngoài ra còn một số tôn giáo khác như đạo Jain,
đạo Xích. Các tôn giáo có vai trò quan trọng và chi phối cả đời sống chính trị - xã hội
của nhân dân Ấn Độ. Nhiều tôn giáo đã vượt ra ngoài phạm vi Ấn Độ trở thành tôn giáo
mang tính quốc tế. VD: Phật giáo.
2/ Mối quan hệ giữa tôn giáo với các thành tựu VM trong lịch sử Ấn Độ cổ - trung đại
a. Ảnh hưởng của tôn giáo đến chữ viết
Một trong những đặc trưng tôn giáo trong những ngôn ngữ Ấn Độ có thể là đối tượng
quan sát một cách rõ ràng mà trong đó các nhà lôgic học phương Tây gọi là “những
phán đoán khách quan”. Người Ấn Độ cổ đại, khi họ nghĩ về các hiện tượng tự nhiên,
họ luôn luôn tưởng tượng ra một vị thần tạo ra các hiện tượng đó như thể là chúng tồn
tại một cách một cách bí mật.Ở Ấn Độ, họ đã phát triển một quan niệm rất phức tạp về
thần linh. Họ có nhiều từ ngữ để chỉ thần linh. Thời đại Harappa-Môhenjô Đarô, ở miền
Bắc Ấn đã xuất hiện một loại chữ cổ mà ngày nay người ta còn lưu giữ được khoảng
3000 con dấu có khắc những kí hiệu đồ hoạ. Thế kỉ VII TCN, ở đây đã xuất hiện chữ
Brami, ngày nay còn khoảng 30 bảng đá có khắc loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami,
thế kỉ V TCN ở Ấn Độ lại xuất hiện chữ Sanscrit, đây là cơ sở của nhiều loại chữ viết ở
Ấn Độ và Đông Nam Á sau này.
b. Ảnh hưởng của tôn giáo đến văn học
Ấn Độ là nước có nền văn học rất phát triển, gồm có 2 bộ phận chính là Vêđa và sử thi.
Những tập Vêđa gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái,
những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lí trong kinh Vêđa. Sử thi Ấn Độ có hai
tác phẩm văn học nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana. Mahabharata là bản
trường ca gồm 220 000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa
các con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa toàn thư”
phản ánh mọi mặt về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó. Ramayana là một bộ sử thi dài 48
000 câu thơ, mô tả một cuộc tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Sita. Thiên
tình sử này ảnh hưởng tới văn học dân gian một số nước Đông Nam Á. Ví dụ Riêmkê ở
Campuchia, Riêmkhiêm ở Thái Lan chắc chắn có ảnh hưởng từ Ramayana. Thời cổ đại
ở Ấn Độ còn có tâp ngụ ngôn Năm phương pháp chứa đựng rất nhiều tư tưởng được
gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á-Âu. Ngoài văn học tiếng Xanxcrit ra, còn
có những tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết phải kể đến
những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.
c. Ảnh hưởng của tôn giáo đến nghệ thuật
Ấn Độ là nơi có nền nghệ thuật tạo hình phát triển rực rỡ, ảnh hưởng tới nhiều nước
Đông Nam Á. Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại hầu hết đều phục vụ một tôn giáo nhất định, do
yêu cầu của tôn giáo đó mà thể hiện. Có thể chia ra ba dòng nghệ thuật: Hinđu giáo,
Phật giáo, Hồi giáo. Có rất nhiều chùa tháp Phật giáo, nhưng đáng kể đầu tiên là dãy
chùa hang Ajanta ở miền trung Ấn Độ. Đây là dãy chùa được đục vào vách núi, có tới
29 gian chùa, các gian chùa thường hình vuông và nhiều gian mỗi cạnh tới 20m. Trên
vách hang có những bức tượng Phật và nhiều bích hoạ rất đẹp.
Các công trình kiến trúc Hinđu giáo được xây dựng nhiều nơi trên đất Ấn Độ và được
xây dựng nhiều vào khoảng thế kỉ VII – XI. Tiêu biểu cho các công trình Hinđu giáo là
cụm đền tháp Khajuraho ở Trung Ấn, gồm tất cả 85 đền xen giữa những hồ nước và những cánh đồng.
Những công trình kiến trúc Hồi giáo nổi bật ở Ấn Độ là tháp Mina, được xây dựng vào
khoảng thế kỉ XIII và lăng Taj Mahan được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII.
Nói chung nghệ thuật tạo hình Ấn Độ phần lớn nhằm vào chủ đề tôn giáo, nhưng vì bắt
nguồn từ cuộc sống thực tế nên tính hiện thực vẫn thể hiện rất rõ rệt, ví dụ tượng nhiều
tay nhiều đầu là phỏng theo tư thế của các đội múa trong đền và cung đình.
d. Ảnh hưởng của tôn giáo đến khoa học tự nhiên
Do nhu cầu cuộc sống hằng ngày nhân dân Ấn Độ đã có nhiều phát minh quan trọng về
một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lí…. nhưng vẫn chịu ảnh
hưởng rất mạnh của tôn giáo.
Về Thiên văn: người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng,
mỗi tháng có 30 ngày. ( Như vậy năm bình thường có 360 ngày ). Cứ sau 5 năm thì họ
lại thêm vào một tháng nhuận.
Về Toán học: Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày
nay ta quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi
biến đổi toán học trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ
số La Mã mà sử dụng số Arập trong toán học.) Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3;
đã có hiểu biết về cấp số, đã biết về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác. Pi = 3,1416.
Về vật lý: Người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỉ V TCN, có một nhà
thông thái ở Ấn Độ đã viết “…trái đất, do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó”.
Y học: cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp ghép
xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển
sách là “ Y học toát yếu” và “ Luận khảo về trị liệu”. 3/ Về Phật giáo
*Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử Xitđacta
Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo
lấy năm 544 TCN là năm thứ nhất theo Lịch Phật, họ cho là đây là năm Đức Phật
nhập niết bàn. (Vì vậy, những người châu Á theo đạo Phật trước kia vẫn để ý đến
ngày qua đời hơn ngày ra đời, khác hẳn những người theo đạo Thiên chúa).
- Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điền suy xét kì diệu):
• Khổ đế (suy xét về sự khổ cực, luân hồi, nghiệp báo)
• Nhân đế-Tập đế(nguyên nhân của sự khổ là dục-lòng ham muốn)
• Diệt đế (con đường tiết dục, diệt dục để trừ nghiệp báo)
• Đạo đế (con đường để giải thoát khỏi sự luân hồi, nghiệp báo)
- Đức Phật còn đề ra tám con đường chính trực để tu hành-Bát chánh:
• Chánh kiến: Phải có tín ngưỡng đúng đắn.
• Chánh tư duy: Phải có suy nghĩ đúng đắn.
• Chánh ngữ: Phải có lời nói đúng.
• Chánh nghiệp: Phải có hành động đúng .
• Chánh mệnh: Phải có cuộc sống đúng đắn.
• Chánh tinh tiến: Phải có những ước mơ đúng đắn.
• Chánh niệm: Phải có những điều tưởng nhớ đúng đắn.
• Chánh định: Phải tập trung tư tưởng mà suy nghĩ .
- Đạo Phật còn đề ra Ngũ giới:
• Bất sát sinh: Không giết hại các động vật.
• Bất đạo tặc: Không trộm cướp.
• Bất vọng ngữ: Không nói dối .
• Bất tà dâm: Không tham vợ hay chồng của người khác.
• Bất ẩm tửu: Không uống rượư.
- Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của đạo Phật là thuyết duyên khởi. Do
quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương Vô tạo giả, Vô ngã, Vô thường.
- Vô tạo giả quan niệm, thế giới này không do một đấng tối cao nào tạo ra, tự
nhiên mà có và vô cùng vô tận. Như vậy là đạo Phật không dựa vào một đấng tối
cao nào để giải thích về sự xuất hiện thế giới như các tôn giáo khác.
- Vô ngã cho là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con
người cũng chỉ là tập hợp của Ngũ uẩn ( sắc, thụ, tưởng, hành , thức) chứ không
phải là một thực thể tồn tại lâu dài.
- Vô thường cho là vạn vật trong thế giới này biến đổi không ngừng, không có gì là vĩnh cửu cả.
Qua những giáo lí ban đầu của đạo Phật như vậy, ta thấy lúc đầu đạo Phật chỉ là
một triết lí về nhân sinh quan. Đạo Phật sơ khai lúc đầu không thời bất cứ một vị thần
thánh nào. Ngay cả Phật tổ Sakya Muni cũng không tự coi mình là thần thánh. Tuy Phật
tổ Sakya Muni có tổ chức các tăng đoàn Tỳ Kheo (đoàn thể những tăng lữ khất thực) để
đi truyền bá đạo Phật ở khắp nơi nhưng đó không phải là một tổ chức tôn giáo có hệ
thống chùa tháp như ngày nay.
Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công do chế độ đẳng cấp gây ra, thì đạo Phật
lại chủ trương không phân biệt đẳng cấp, kêu gọi lòng thương người(từ bi hỉ xả),tránh
điều ác, làm điều thiện. Những lời kêu gọi sự công bằng, lòng nhân đức đó đã được
đông đảo người dân hưởng ứng.
* .Đạo Jain-Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI TCN. Đạo này chủ trương
bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh.
* Đạo Sikh- Xích xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ XV. Giáo lí của đạo Xích có
sự kết hợp giáo lí của đạo Hinđu và giáo lí của đạo Islam. Tín đồ đạo Xích tập
trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjap.
3/ Vì sao Ấn Độ được mệnh danh là “xứ sở của thần tinh”?
- Ấn Độ được mệnh danh là “xứ sở của thần linh” bởi vì đây chính là mảnh đất
sản sinh ra rất nhiều tôn giáo ra nhiều tôn giáo lớn trên thế giới và mỗi tôn giáo
đều có những nghi thức thờ phụng thần linh riêng.
+Đạo Bà La Môn là một tôn giáo đa thần, vị thần gần gũi nhất là Indra
thần mưa bão, sấm sét. Brahma là vị thần sáng tạo thế giới, Shiva là thần
hủy diệt thế giới, Vishnu là thần bảo vệ ánh sáng, bảo tồn vũ trụ, bốn mùa,
thần làm cho nước sông Hằng dâng lên và làm mưa để tưới tiêu cho đồng
ruộng… Cho tới đầu công nguyên, đạo Bà La Môn phân chia thành 2
phái: phái thờ thần Shiva và phái thờ thần Vishnu. Để thống nhất về tư
tưởng, đạo Bà La Môn đưa ra quan niệm rằng 3 vị thần đó tuy là ba nhưng
vốn là một. Ngoài ra, đạo Bà La Môn sùng bái rất nhiều loài vật như voi, khỉ, bò,…
+Đạo Hindu:sùng bái chủ yếu ba vị thần Brahma, Vishnu và Shiva; chia
thành hai phái là phái thờ thần Vishnu và phái thờ thần Shiva. V/ Văn minh Trung Quốc
1/ Thành tựu KH - KT của Trung Hoa thời cổ đại - trung đại ?
- Trung Hoa là một trong những cái nôi của lịch sử nhân loại. Văn minh Trung
Hoa qua các thời kỳ đã có sự phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc đến các
nước trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung với nhiều thành tựu rực rỡ. *Khoa học tự nhiên -Toán học
+ Người Trung Hoa đã biết sử dụng hệ thống thập tiến vị từ rất sớm. +
Nhiều cuốn sách toán học như Chu bễ toán kinh, Cửu chương toán thuật cho
thấy, họ đã biết đến phân số, mối quan hệ giữa ba cạnh của một tam giác vuông,
phép toán khai căn, phương trình bậc một, khái niệm về số âm và số dương,…
+ Thời Nam – Bắc Triều xuất hiện nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã
tính được số pi bằng 3,14159265 đây là con số chính xác nhất thế giới thời kỳ đó. - Thiên văn học:
+ Từ thời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao với 800 vì sao, xác
định được chu kỳ chuyển động của 120 vì sao => Từ đó, người Trung Hoa đã đặt
ra lịch Can chi (âm lịch). +
Ngay từ thời cổ đại, một số nhà thiên văn đã phát hiện ra vết đen trên mặt trời,
chế tạo ra dụng cụ dự báo động đất,… Năm 1230, Quách Thủ Kính đời Nguyên
đã đặt ra Thụ thời lịch xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số
rất chính xác so với kết quả của các nhà thiên văn châu Âu cùng thời. - Y học +
Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển
của y học cổ truyền Trung Hoa. Đến thời Minh, cuốn Bản thảo cương mục của
Lý Thời Xuân ra đời, được Darwin đánh giá là bộ “Bách khoa về sinh vật” của
người Trung Quốc thời đó.
+ Nhiều thầy thuốc giỏi được truyền tụng như Biển Thước, Hoa Đà, Lý Thời Trân…
+ Châm cứu là một thành tựu y học nổi bật và đặc sắc của người Trung Quốc.
*Kĩ thuật: 4 phát minh lớn
- Giấy: được Thái Luân phát minh từ thời Đông Hán. Giấy đã nhanh chóng được dùng
phổ biến để ghi chép thay cho các vật liệu trước đây như thẻ tre, đá, lụa,.. Nghề làm
giấy sau đó được truyền sang các nước châu Á và cả châu Âu.
- Kỹ thuật in: chưa chắc chắn bắt đầu từ bao giờ nhưng chắc chắn đã đến khoảng thế kỉ
VII đầu thời Đường đã có nghề in. Kỹ thuật in được bắt nguồn từ việc khắc các chữ cái
trên con dấu có từ thời Tần, sau đó là việc in các bùa chú để trừ ma của Đạo giáo. Kỹ
thuật in ngày càng hoàn thiện và tiến bộ sau đó đã được truyền rộng rãi ra các nước
châu Á và châu Âu, đặt cơ sở cho kỹ thuật in hiện đại ngày nay.
- Thuốc súng: được phát minh một cách ngẫu nhiên bởi các đạo sĩ luyện đan của Đạo
giáo vào thời Đường, được người Trung Quốc gọi là Hỏa dược. Đó là một hỗn hợp các
chất dễ cháy như than gỗ, lưu huỳnh, diêm tiêu trộn với nhau rồi đốt. Đến khoảng thế
kỷ X, thuốc súng được sử dụng vào chế tạo vũ khí thô sơ
- Kim chỉ nam: được người Trung Quốc biết đến từ thế kỷ III TCN. Đến thời Tống, họ
đã phát minh ra nam châm nhân tạo bằng cách dùng kim sắt, mài mũi kim vào đá nam
châm để thu từ tính rồi dùng kim đó làm la bàn. La bàn được sử dụng trong việc đi biển
từ Trung Quốc truyền sang A Rập rồi sang đến châu Âu.
=> Các phát minh trên đã giúp cải thiện đời sống của người dân Trung Quốc, đóng góp
to lớn cho văn minh nhân loại. Các phát minh này góp phần vào công cuộc chinh phục
tự nhiên, đấu tranh sinh tồn và phát triển của con người.
2/ Các học thuyết tư tưởng Trung Hoa thời cổ - trung đại
-Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia: +
Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã
nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn
tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là
âm và dương ( lưỡng nghi).
+ Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm),
Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái,
hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất.
+ Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn
vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh
ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm
dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội . + Về tư tưởng:
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư
tưởng đưa ra những lí thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống( Bách gia tranh minh ). - Nho gia:
+ Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ
trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường,
cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh.
Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông
chủ trương dạy học cho tất cả mọi người.
+ Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng
Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, Nho
gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo. - Đạo gia:
+ Đại biểu cho phái Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử . Hai ông đã thể hiện tư
tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo
Lão Tử, “Đạo” là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong
trời đất. Qui luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là “Đức”. Lão
Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau.
+ Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi,
xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không
thể cưỡng lại “đạo trời”, từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời.
+ Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong
Đạo giáo tôn Lão Tử làm “Thái thượng lão quân”. Hạt nhân cơ bản của
Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung
sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh.
3/ Mối quan hệ giữa VM TQ và VM Châu Âu thời cổ trung đại.
-Mối quan hệ mạnh mẽ nhất giữa hai nền văn minh là quan hệ thương mai và
bắt đầu từ“con đường tơ lụa” -Con đường tơ lụa bắt đầu được hình thành từ thế
kỷ thứ 2 TCN, khi ấy Trương Kiên - một triều thần của Hán Vũ Đế đã nhận lệnh
đi về phía Tây để liên minh với những quốc gia và dân tộc mới.
- Trong lịch sử, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc... đến Ba Tư và La Mã
đồng thời những doanh nhân các vùng khác cũng tìm đường đến với Trung Hoa.
Từ đây, con đường tơ lụa phát triển với tốc độ chóng mặt, bắt nguồn từ Phúc
Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh của Trung Quốc qua Mông Cổ, Ấn Độ, Kazkhstan, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp…
- Từ thế kỷ thứ VII, con đường tơ lụa trên biển ra đời bởi các thương gia Ả Rập.
Sau đó, các quốc gia như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt kéo đến
Trung Quốc buôn bán qua đường biển với tốc độ nhanh, an toàn hơn.
4/ Đặc điểm nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của nền VN Trung Hoa thời cổ trung đại. *Kiến trúc
- Kiến trúc Trung Quốc đã có sự phát triển rực rỡ, để lại nhiều công trình độc đáo có
tầm cỡ quốc tế như Vạn lý trường thành, kinh đô Trường An, chùa Phật Quang, tháp
Giang Thiên, Cố cung, Viên minh viên, Di Hòa viên,…
- Đặc điểm của kiến trúc:
+Thường sử dụng vật liệu gỗ, bố trí các công trình thành quần thể kiến trúc
+Gia công nghệ thuật ngay trên kết cấu của kiến trúc
+Sự bố trí màu sắc trong bố cục tương phản, tôn tạo lẫn nhau
+Có sự phản ánh tâm linh của người Trung Quốc: tôn giáo, tín ngưỡng,… *Điêu khắc
- Cách đây 6000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng ngọc chế tác thành đồ trang sắc
đeo trước cổ. Đây cũng là kỹ thuật chế tác ngọc sớm nhất trên thế giới.
- Cuối thời Thương – Chu, xuất hiện kỹ thuật điêu khắc đá, đến thời Tần – Hán, điêu
khắc đá đã đạt tới trình độ cao tiêu biểu như Tần Ngẫu, Lạc Sơn Đại Phật, …
- Đến đời Tống có Vạn tự bi là tác phẩm điêu khắc bia đá cao gần 3m với 39 vạn chữ.
=> Nghệ thuật điêu khắc đã có từ lâu đời, phát triển rực rỡ với các thành tựu đáng kinh ngạc. I/ Văn minh Ai Cập