



















Preview text:
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
QUÁ TRÌNH TRUYỀN BÁ VÀ PHÁT TRIỂN KITO GIÁO Ở LA MÃ CỔ ĐẠI
1. Bối cảnh ra đời
a) Cơ sở kinh tế - xã hội
- Roma đánh chiếm và biến vùng Palestine thành một bộ phận lãnh thổ của đế quốc La Mã. Nơi
đây vốn đã từng chịu nhiều tai họa xâm lược trong quá khứ từ Ai Cập, Ba Tư,...
- Người La Mã đã áp dụng những chính sách cai trị hết sức khắc nghiệt. Nô lệ, dân nghèo, thợ thủ
công đều bị áp bức bóc lột hết sức nặng nề.
- Nô lệ và quần chúng nổi dậy thì bị đè bẹp khủng khiếp, họ mất hắn niềm tin vào sự tự do, hạnh
phúc trong đời sống hiện thực.
- Vì chưa tìm được lối thoát trong thực tế nên quần chúng tìm lối thoát trong ảo tưởng về tôn giáo.
- Do vậy, Kitô giáo trở thành tôn giáo của những người bị áp bức như nô lệ, dân nghèo, thợ thủ công,...
(Vào khoảng thế kỷ V – TCN, nhà nước chiếm hữu nô lệ La Mã được thành lập ở phía Bắc bán
đảo Italia. Đến thế kỷ I – TCN, mặc dù là một đế chế hùng mạnh, một nhà nước chiếm hữu nô lệ
hoàn chỉnh ở trình độ cao nhưng trong lòng đế quốc La Mã đã chứa chất mâu thuẫn và rạn nứt
– mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô, giữa các dân tộc bị xâm lược và kẻ chinh phục. Quần chúng
lao khổ bị bóc lột, càng bị đàn áp dã man càng cảm thấy bất lực trước cuộc sống thực tại. Họ
luôn trông chờ vào sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay đấng cứu thế để có thể
đánh đổ đế quốc La Mã, giải phóng dân tộc, xây dựng một vương quốc của sự công bằng. Ki-tô
giáo đã ra đời trong hoàn cảnh chính trị xã hội như vậy.
Ăng –ghen đã nhận xét: “Nguồn gốc của Ki-tô giáo là cuộc vận động của những người bị áp
bức; đạo đó xuất hiện trước hết như một thứ tôn giáo của người nô lệ và bán tự do, của những
người nghèo khó và những người bị tước hết mọi quyền lợi, các dân tộc bị Roma đô hộ hay làm tan tác”…)
b) Cơ sở tư tưởng và tôn giáo
- Hình thành dựa trên thần thoại của các tôn giáo cổ phương Đông.
- Triết học của phái “khắc kỷ” của 2 nhà Triết học là Senèque và Philon.
(Đạo Ki-tô ra đời, xét về mặt tư tưởng là sự kế thừa và tiếp nối giáo thuyết của Do Thái giáo,
đồng thời có sự thu nhận những yếu tố duy tâm của triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại; ngoài ra
còn sử dụng nhiều yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của các dân tộc vùng Trung
Cận Đông để xây dựng học thuyết của mình; trong quá trình hoàn thiện đã chọn lọc, cải biên,
gạt bỏ những chi tiết địa phương không thích hợp.)
=> Nguồn gốc hình thành đạo Kito: Giáo Lý đạo Do Thái, Tư tưởng phái khắc ký, Đời sống
cực khổ không lối thoát của nhân dân
2. Quá trình truyền bá và phát triển
a) Giai đoạn 1 (từ thế kỷ I đến thế kỷ IV sau Công nguyên)
- Đây là giai đoạn Kitô giáo bị đàn áp rất khốc liệt và cũng là giai đoạn mà số tín đồ không nhiều,
chỉ có một bộ phận ở Palestine tham gia.
- Sau cái chết của Chúa Jésus, các tông đồ đã bắt đầu đem giáo lý của ngài truyền bá ra ngoài Palestine.
- Năm 62, thánh Paulo sang Roma để truyền đạo thì thấy ở đây đã có nhiều tín đồ Kitô giáo.
- Ban đầu giới cầm quyền La Mã giữ thái độ khoan dung đối với Kitô giáo. Nhưng do Kitô giáo
lên án giới nhà giàu, tức là lên án tầng lớp thống trị trong xã hội và khẳng định đế quốc La Mã sẽ bị diệt vong.
- Điều đó khiến giới cầm quyền và quý tộc rất căm ghét nên họ cho rằng tín đồ Kitô là bọn phiến
loạn trong xã hội nên tiến hành đàn áp rất khốc liệt.
- Tuy nhiên càng đàn áp thì Kitô giáo càng phát triển. -=> Nguyên nhân:
+ Chế độ chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì sự phân hoá giai cấp trong xã hội càng sâu sắc, sự
bần cùng hoá, sự áp bức, đàn áp, bóc lột càng tăng lên. Do đó Kitô là tôn giáo duy nhất mà giới
lao động và những người nghèo khổ có thể tìm thấy được con đường giải phóng.
+ Các tín đồ Kitô giáo sinh hoạt trong các khu vực mà thực chất là các tổ chức tương tế đã giúp
người lao động, người nghèo tìm công ăn việc làm để duy trì cuộc sống thường ngày.
- Do vậy trong thời kỳ đầu, cuộc vận động tham gia Kitô mang một ý nghĩa xã hội rất tích cực,
mang tính chất vận động những người nghèo chống lại chính quyền La Mã áp bức bóc lột.
- Sau hơn 200 năm truyền bá, Kitô giáo đã tạo được một thế lực hết sức chặt chẽ, chủ yếu tại các thành phố lớn.
- Cùng với sự phát triển của Kitô giáo là giới cầm quyền La Mã cũng quyết định thay đổi chính
sách đối với tôn giáo này.
b) Giai đoạn 2 (trong thế kỷ IV sau Công nguyên)
- Kitô giáo được thừa nhận về mặt pháp lý và được công nhận là quốc giáo của La Mã.
- Năm 311, Hoàng đế Galerius hạ lệnh đình chỉ việc sát hại các tín đồ Kitô giáo. Kitô giáo được
thừa nhận về mặt pháp lý và có một địa vị bình đẳng với các tôn giáo khác.
- Năm 313, Hoàng đế Constantin ban bố sắc lệnh Milano xác định địa vị hợp pháp của giáo hội
Kitô, nâng Kitô giáo lên địa vị quốc giáo.
- Năm 325, Hoàng đế Constantin ra lệnh triệu tập Đại hội Kitô giáo lần thứ nhất tại Nicée (vùng
Tiểu Á). Đại hội đã giải quyết được 2 vấn đề lớn:
+ Thống nhất lại cuối cùng nội dung của Kinh thánh, nghĩa là chọn ra 4 phần tương đối trùng
khớp, ít mâu thuẫn, loại bỏ bớt yếu tố mê tín dị đoan, thống nhất và đưa vào Tân ước.
+ Chấn chỉnh tổ chức giáo hội.
- Sau đại hội này, Kitô giáo trở thành một bộ phận trong bộ máy của giai cấp thống trị La Mã.
- Năm 337, Hoàng đế Constantin đã chịu phép rửa tội và trở thành vị hoàng đế La Mã đầu tiên theo Kitô giáo.
- Giêroma (340-420) đã dịch kinh cựu ước và tân ước từ tiếng Hy Lạp ra Latinh (73 cuốn)
-=> Kitô giáo ra đời là biểu hiện phong trào phản kháng của đông đảo quần chúng bị áp
búc, lúc đầu là nô lệ, dân nghèo sau đó lan rộng ra các tầng lớp khác trong xã hội.
=> Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Kitô giáo từ chỗ là tôn giáo của những người nghèo,
chống lại chính quyền cai trị, đã trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần, vật chất của
chính quyền Rôma và là một bộ phận của chính quyền thống trị La Mã.
3. Công giáo chia làm 4 loại: +Thiên Chúa Giáo +Tin Lành +Chính Thống Giáo +Anh Giáo
4. Khái niệm Kito giáo
-Kitô giáo là tôn giáo monotheistic lớn nhất trên thế giới. Nó dựa trên cuộc đời và nguyên tắc do
Chúa Jêsus Christ dạy và nó được tuyên xưng bởi hơn 2,3 tỉ người ở hơn 160 quốc gia. Niềm tin
chính của Kitô giáo là Chúa Giê Su Ky Tô, Con Thiên Chúa, đã đến thế gian như một người cứu
nhân loại – như đã được tiên đoán trong Cựu Ước. Theo đức tin Kitô giáo, Chúa Jêsus đã đến thế
gian, đau khổ, bị đóng đinh, chết và phục sinh để được sự sống đời đời cho loài người. Một trong
những trụ cột của đức tin Kitô giáo là ý tưởng về “ba ngôi. “Duy trì một tôn giáo monotheistic,
Kitô giáo tin rằng người duy nhất và Thiên Chúa duy nhất bao gồm ba thực thể cùng tồn tại
nhưng khác biệt: Cha (Chúa), Con (Chúa Giêsu Kitô) và Chúa Thánh Thần. Do các quan điểm
và niềm tin khác nhau, nhà thờ Thiên Chúa giáo chia rẽ theo các mệnh giá khác nhau, bao gồm,
chẳng hạn như: Công giáo; Chính thống phương Đông; Chính thống phương Đông; Chủ nghĩa
Anh giáo; Đạo Tin Lành; Phương pháp luận; Lễ Ngũ Tuần Thánh; và Kitô giáo Do thái.
Mặc dù tất cả các giáo phái đều dựa trên lời dạy của Chúa Giê Su Ky Tô và duy trì các tôn giáo
monotheistic, nhưng có những điểm khác biệt chính giữa chúng. Hơn nữa, Giáo hội Công giáo
và Giáo hội chính thống tự coi mình là những nhà thờ độc lập, trước kỳ quan.
5. Khái niệm Công giáo
-Công giáo là giáo phái lớn nhất của Kitô giáo với hơn 1.2 tỉ người theo đạo, chủ yếu là ở châu
Âu, Mỹ Latinh và một số phần của Châu Phi. Giáo hội Công giáo coi mình là một nhà thờ độc
lập trước giáo phái và nó được tổ chức theo một cách phân cấp trên khắp thế giới. Người đứng
đầu của Giáo hội Công giáo là Đức Giáo hoàng – Giám mục Rôma – người có thẩm quyền cao
nhất trong mọi vấn đề liên quan đến quản trị và đạo đức. Theo đức tin Công giáo, Chúa Giê Su
Ky Tô đã chỉ định các vị giám mục đầu tiên, những người lần lượt bổ nhiệm người kế vị của họ
theo nguyên tắc “Kế vị Tiếp tục tông tích”. ” Giáo hội Công giáo chính thức được thành lập vào
năm 1054 sau cái gọi là” Sự phân ly vĩ đại “, hay” sự phân ly Đông Tây. Tuy nhiên, ngay cả
trước sự phân biệt chính thức giữa Công giáo và Chính thống phương Đông, Giáo hội Cơ đốc
giáo đã trải qua những phân kỳ chính trị, thần học và văn hoá nội bộ.Sự khác biệt chính giữa Đạo
Công giáo và Chính Thống giáo Đông phương nằm ở thực tế là các nhà thờ phương Đông không
công nhận thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng.
6. Sự giống nhau giữa Kitô giáo và Công giáo
-Mặc dù Kitô giáo và Thiên chúa giáo chia thành hai nhà thờ khác nhau – với Giáo hội Công
giáo tự coi mình là tiền mệnh, nhà thờ độc lập – có nhiều điểm tương đồng giữa hai tôn giáo.
– Cả hai đều dựa trên cuộc đời và sự dạy dỗ của Chúa Jêsus Christ;
– Cả hai đều tôn giáo độc thần và tin vào ba ngôi; – Cả hai đều tin rằng nhân loại đã thừa
hưởng “tội lỗi ban đầu” của Adam và cần phải được cứu; – Cả hai đều tin rằng Chúa Jêsus
Christ đã đến thế gian, chịu đau khổ, chết và phục sinh để cứu lấy loài người; – Cả hai đều tin vào bí tích;
– Cả hai đều tin rằng địa điểm của Đấng Christ đã được tiên tri trong Cựu Ước;
Kinh Thánh là cuốn sách thiêng liêng của cả hai tôn giáo;
– Cả hai đều tin vào 10 điều răn;
– Cả hai đều tin rằng Đức Trinh Nữ Maria là mẹ của Chúa Giê Su Ky Tô;
– Cả hai đều phổ biến rộng rãi trong thế giới phương Tây;
– Cả hai đều tin vào sự tồn tại của Địa ngục, Thiên đàng và luyện ngục sau khi chết
– Vì Công giáo là nhà thờ lớn nhất của nhà thờ Cơ đốc giáo, hai từ thường có liên quan và đôi
khi hai từ này được thay đổi. Tuy nhiên, trong khi là một người Công giáo có nghĩa là trở thành
Kitô hữu, là một Kitô hữu không đòi hỏi phải là một người Công giáo.
7. Khác biệt giữa Kitô giáo và Công giáo là gì?
So sánh Công giáo và Cơ đốc giáo có thể là vấn đề vì Cơ đốc giáo bao gồm các giáo phái khác
nhau (mặc dù các tôn giáo chính là Công giáo, Chính thống và Tin lành). Như vậy, khi chúng ta
nói về Cơ đốc giáo, chúng ta đang đề cập đến nhiều niềm tin và mệnh giá có các quan điểm văn
hoá, chính trị và đạo đức khác nhau. Sự khác biệt chính giữa hai là:
Cấp bậc: Giáo hội Công giáo công nhận Đức Giáo hoàng là cơ quan đạo đức và tôn giáo cao
nhất. Ngược lại, các tôn giáo Cơ Đốc khác không chấp nhận bản chất phân cấp của thế giới Công giáo;
Đời sống độc thân: Giáo hội Công giáo có những quy định nghiêm ngặt nhất đối với các linh
mục và độc thân của các giám mục. Trên thực tế, tất cả các linh mục, phó tế, giám mục và tổng
giám mục không thể lập gia đình và không thể có quan hệ tình dục. Hơn nữa, chỉ có đàn ông
mới có thể trở thành linh mục, trong khi phụ nữ có thể là một phần của bộ máy tôn giáo chỉ khi
họ trở thành nữ tu. Những người theo đạo Tin Lành và các Giáo hội Chính Thống thì tự do hơn
về mặt này, và một số nhà thờ thậm chí còn cho phép phụ nữ trở thành Mục sư;
Niềm tin: Người Công giáo tin rằng nhà thờ là con đường duy nhất hướng về Chúa Jêsus và sự
cứu rỗi đời đời trong khi Kitô hữu có thể có nhiều cách giải thích khác nhau về Kinh Thánh và
có thể hoặc không thể đi nhà thờ;
Nguồn gốc: Cơ đốc giáo ban đầu có từ thế kỷ thứ nhất; nó xuất hiện như là đạo Do Thái nhưng
nhanh chóng mở rộng khắp Đế chế La Mã. Lịch sử của Kitô giáo được đề cập trong Công vụ
của Tân Ước. Ngược lại, lịch sử Công giáo gắn liền với Tông Đồ Phêrô – người được coi là cha
của Giáo hội Công giáo và là người chống lại tinh thần của tất cả các vị Giáo Hoàng.Tuy nhiên,
Giáo hội Công giáo chính thức ra đời sau 1054
Sử dụng hình ảnh thiêng liêng: theo nghĩa Công giáo, bức tượng và hình ảnh được sử dụng
rộng rãi để đại diện cho Chúa Giêsu Kitô, Ma-ri, Chúa Thánh Thần và các Thánh và ít nổi bật
hơn trong các giáo phái chính thống và đạo Tin Lành
8. Công trình kiến trúc Kito giáo vĩ đại
- Tu viện Kiev Pechersk Lavra (Ukraina) - Tu viện Meteora (Hy Lạp) - Tu viện Rila (Bulgari)
9. Sự ra đời của Kito giáo
Thời kỳ mới ra đời, dưới con mắt giai cấp thống trị của đế quốc La Mã, Ki-tô giáo là tà giáo,
những người theo Ki-tô giáo là những kẻ phản loạn. Do đó, nhà cầm quyền La Mã đã thẳng tay
đàn áp những người Ki-tô giáo. Vào thế kỷ II – Sau CN, đã xuất hiện trong cộng đồng Ki-tô giáo
những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp để hình thành tổ chức giáo hội sơ khai. Từ cuối
thế kỷ thứ III trở đi, cùng với sự suy yếu và tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, nhiều người thuộc
tầng lớp bóc lột đã theo đạo Ki-tô. Sự biến đổi thành phần xã hội trong các cộng đồng Ki-tô giáo
đã gây ra những chuyển biến về nội dung tư tưởng và tổ chức cộng đồng. Chính quyền La Mã dĩ
nhiên không thể dửng dưng, không thể không quan tâm đến chuyển biến đó và đã thay đổi thái
độ, từ chỗ cấm đoán xua đuổi, chuyển sang ủng hộ, tạo điều kiện cho Ki-tô giáo phát triển. Đến
cuối thế kỷ IV, Ki-tô giáo chính thức được thừa nhận là quốc đạo của La Mã…
Đến thời kỳ trung cổ (được xác định từ năm 476 với sự suy vong của đế quốc Tây La Mã), Ki-
tô giáo có nhiều sự kiện gắn bó với một giai đoạn lịch sử đầy biến động ở châu Âu. Sau khi đế
quốc La Mã diệt vong, lợi dụng tình hình không ổn định về chính trị - xã hội, giáo hội mở rộng
ảnh hưởng bằng việc thâm nhập các bộ tộc, các vương quốc mà họ cho là những đứa con man di.
Đến đó giáo hội tự nhận mình là người thầy, người mẹ để truyền giáo, dạy bảo. Từ thế kỷ VI đến
thế kỷ IX, với sự đỡ đầu của giáo hội, bộ tộc Frank chiếm được xứ Gaule, Clovis lên ngôi vua
năm 481; năm 800, giáo hội ủng hộ Saclomannho chiếm hầu hết các nước Tây Âu lập nên Thành
Quốc La Mã… Sự quan hệ chặt chẽ với những đứa con man di đã đem lại kết quả to lớn cho giáo
hội. Giáo hội đã lập được nước Tòa Thành và giáo hoàng thoát khỏi sự kiềm tỏa của các thế lực phong kiến.
Từ giữa thế kỷ IX đến thế kỷ XI, giáo hội lại bước vào thời kỳ “đen tối, hư hỏng” do một số
thế lực phong kiến tranh giành ngôi vị giáo hoàng và những quyền lợi do giáo hoàng đưa lại.
Giữa thế kỷ XI, một sự kiện lớn xảy ra trong đạo Ki-tô là sự chia rẽ về tổ chức giữa Giáo hội
Roma và Giáo hội Constantinople, hình thành Chính thống giá ở phương Đông. Nguyên nhân
chia rẽ Đông – Tây, một phần là vì lý do tôn giáo, một phần vì những nguyên nhân chính trị, xã hội, văn hóa…
Từ đó, hai bên công kích nhau, phủ nhận sự hiện diện của giáo hội đối lập. Cuối thế kỷ XI, Giáo
hội Roma có sức mạnh to lớn về vật chất và tinh thần. Với sức mạnh đó, giáo hội nhận thấy
không những phải hoàn toàn thoát khỏi sự khống chế của vua chúa mà còn phải trở thành thế lực
siêu phàm, đứng trên, trùm lên thế quyền. Ngược lại, vua chúa phong kiến châu Âu cũng muốn
giáo hội là công cụ của họ. Điều đó đã dẫn đến cuộc đấu tranh giành giật quyền lực giữa thế
quyền và giáo quyền hơn 200 năm. Đến năm 1302, cuộc đấu tranh này chấm dứt, Giáo hội Công
giáo bước vào giai đoạn sa sút, chịu sự chi phối của thế lực phong kiến…
Thời kỳ cận đại ở châu Âu được lịch sử viết đậm nét bằng các cuộc cải cách tôn giáo hình thành
đạo Tin Lành và các cuộc cách mạng tư sản. Cuộc cải cách tôn giáo ở châu Âu được thúc đẩy
bằng một loạt nguyên nhân mang nội dung kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng sâu sắc. Phong
trào cải cách đầu tiên nổ ra ở Đức, rồi lan sang Thụy Sĩ, Pháp và trở thành phong trào rộng lớn ở
các nước Tây Âu, Bắc Âu. Sau hơn 100 năm đấu tranh quyết liệt với Giáo hội Công giáo và thế
lực phong kiến, đến giữa thế kỷ XVII, phong trào cải cách tôn giáo chính thức cho ra đời một tôn
giáo mới – Đạo Tin Lành.
Cuộc cải cách này đã làm Giáo hội Công giáo mất đi một lực lượng đáng kể, từ đó uy tín, ảnh
hưởng cũng như quyền lực, quyền lợi của Giáo hội Công giáo bị thu hẹp và suy giảm. Tiếp đó,
trong 3 thế kỷ XVII, XVIII, XIX, một loạt cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Châu Âu. Các cuộc
cách mạng này đều có mục đích xóa bỏ giai cấp phong kiến và tấn công vào Giáo hội Công giáo
– được coi là lực lượng gắn bó và bảo vệ chế độ phong kiến… Để bù lại những suy giảm thế lực
ở châu Âu, Giáo hội Công giáo thực hiện một chương trình truyền giáo với quy mô lớn ra bên
ngoài, đến các nước châu Phi, châu Á và châu Mỹ. Kết quả, Giáo hội đã mở rộng ảnh hưởng đến
hầu hết các vùng dân cư trên thế giới.
Thời kỳ hiện đại, với sự xuất hiện hệ tư tưởng mới là Chủ nghĩa Cộng sản khoa học – học
thuyết này nhanh chóng trở thành hiện thực với nhà nước công nông đầu tiên sau Cách mạng
Tháng Mười Nga 1917 và nhanh chóng trở thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào giữa
thế kỷ XX. Cộng thêm sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật làm biến đổi sâu sắc đời
sống kinh tế, xã hội thế giới đã tác động mạnh mẽ đến Giáo hội Công giáo. Từ những phản ứng
phê phán, tuyệt thông với chủ nghĩa cộng sản, Giáo hội Công giáo đã ý thức rõ làm cho tôn giáo
thích ứng với đời sống xã hội, để theo kịp bước tiến của thế giới…
Sau 3 năm chuẩn bị, ngày 11/10/1962, Công đồng lần thứ 21 tại Vatican được Giáo hội khai
mạc, với sự tham gia của 2.500 giám mục. Qua 168 phiên họp với 538 cuộc bỏ phiếu kéo dài
trong 3 năm, Công đồng Vatican II bế mạc vào ngày 8/12/1965, đã thông qua 16 văn kiện quan
trọng với nhiều đường lối thích nghi thời đại. Công đồng Vatican II cho rằng, Giáo hội không thể
tự vỗ ngực là thần thánh như trước đây mà phải hạ mình xuống, phải nói đến chuyện phục vụ con
người. Giáo sĩ được Công đồng Vatican II đề cập: Giám mục không phải bắt người hầu hạ mà đi
hầu hạ người, linh mục phải từ bỏ quyền lợi cá nhân, đừng tính toán đến quyền lợi riêng. Công
đồng Vatican II chủ trương coi trọng những đặc điểm tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán và tín
ngưỡng truyền thống của mỗi dân tộc; chủ trương tự do tôn giáo cho mọi người, là tự nguyện và
phải xuất phát từ lương tâm; cho rằng các tôn giáo khác đều có những cái hay cần phải tôn trọng;
khoa học kỹ thuật phù hợp với đức tin tôn giáo…
Đạo Công giáo bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1533 – Đây là giai đoạn Giáo hội Công
giáo mở rộng nước Chúa đến “những vùng đất ngoại”. Tuy nhiên, mãi tới thế kỷ XIX, khi mà
chế độ phong kiến ở nước ta dường như bất lực trước tình trạng chậm tiến của đất nước thì Công
giáo mới có sức sống và phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ này, tình hình trong nước nhân dân đói
khổ, quan quân sách nhiễu thối nát trong khi đó họa xâm lăng đang từng ngày hiện rõ. Tư tưởng
“tự do - bình đẳng - bác ái” tuy là tư tưởng cốt lõi trong các cuộc cách mạng tư sản, nhưng tư
tưởng này từ lâu đã có trong giáo lý Công Giáo. Tư tưởng này gần như trái ngược hoàn toàn với giáo dục Nho giáo.
Cũng chính vì điều này mà tầng lớp nho sỹ, quan lại mới phản ứng, chính quyền phong kiến ban
hành các chỉ dụ cấm đạo, chính sách bế quan tỏa cảng. Trong khi đó, các tầng lớp xã hội khác lại
có một phản ứng trái ngược. Giáo lý Công giáo đưa đến cho họ nhận thức thế giới và nhân sinh
quan mới. Họ tìm thấy cho mình được cảm giác bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ trong quyền năng
của Chúa, đó là một cảm giác mới lạ và thú vị với tầng lớp bình dân. Tư tưởng tiến bộ của văn
hóa phương Tây được truyền bá qua tôn giáo đáp ứng được nguyện vọng của một bộ phận người
dân bản địa vốn đang muốn phá bỏ đi trật tự xã hội phong kiến đang áp đặt họ, cũng như tìm
phương cách mới để thoát khỏi cuộc sống đang càng ngày bị bần cùng hóa.
Sự xuất hiện của đạo Công giáo ở Việt Nam bên cạnh những đóng góp các giá trị văn hóa vật
chất còn có các đóng góp về mặt tinh thần. Công giáo xuất hiện, với bản chất quy hướng về
Chúa, tạo cho một bộ phận người bản địa có được lựa chọn niềm tin mới, giúp họ có được những
an ủi về mặt tinh thần trong bối cảnh đất nước phải chịu những đau khổ do hậu quả của chế độ
phong kiến mục nát. Tuy nhiên, do sự du nhập Công giáo vào Việt Nam cùng thời gian với sự
xâm lược của các nước phương Tây với Việt Nam, vì vậy, trong quá trình tồn tại phát triển ở
Việt Nam, đạo Công giáo thường bị lợi dụng cho các mục đích chính trị xấu xa của quân xâm lược.
10. Ai đã chọn TC Giáo cho La Mã?
Trước khi nhận cái tên Istanbul năm 1930, nó lần lượt được gọi là Byzantium, Nova Roma (Tân
La Mã) hay Stamboul. Nhưng, cái tên nổi tiếng nhất là Constantinopolis (hay Constantinople),
được đặt theo tên của một hoàng đế vĩ đại: Constantinus. Éo le thay, đó cũng chính là người xác
lập địa vị tuyệt đối của Thiên Chúa giáo trên toàn lãnh thổ đế quốc La Mã.
La Mã, từ đa thần đến độc thần
Trước khi Chúa Jesus cùng các tông đồ xuất hiện, theo đánh giá của nhóm tác giả cuốn Văn
minh phương Tây (Crane Brinton và Robert Lee Wolff - Đại học Harvard, John B.Christopher -
Đại học Rochester), tôn giáo của La Mã cổ đại là thứ "tôn giáo của một thị quốc nông nghiệp".
Sau đó, người La Mã vay mượn và "La Mã hóa" các vị thần trên đỉnh Olympus của thần thoại
Hy Lạp, trao các nghi lễ tôn giáo cho các giáo sĩ - một giai cấp đầy quyền lực, do giáo chủ lãnh đạo.
Song, đến thời cực thịnh, không một tín ngưỡng đa thần sơ khai nào theo kiểu ấy còn đủ sức hấp
dẫn đông đảo mọi tầng lớp dân chúng trên lãnh thổ mênh mông của đế quốc nữa. Điều đó, xét
cho cùng, làm các nhà cai trị gặp nhiều khó khăn hơn.
Bên cạnh thế quyền tuyệt đối của mình, giới quân chủ và quý tộc cũng luôn cần thần quyền - thứ
công cụ thống trị về mặt tinh thần, để đè nén và định hướng những đám đông bị bóc lột. Và thứ
thần quyền ấy, theo thời gian, được xác định rằng nên là (hay đúng hơn: phải là) một thứ tôn giáo có tính cách phổ quát.
Tín lý của Chúa Jesus, ngay khi ngài xuất hiện ở miền đông đế quốc, đã phần nào đáp ứng được
những yêu cầu đó. Những thông điệp mà Ngài đưa ra có tính chất tổng quát, và rất dễ hiểu. Ngài
nhanh chóng thu hút được đám đông bần hàn, những kẻ thất học, những nô lệ, những người đau
khổ và yếu đuối. Ngài rao giảng yêu thương và nhu hòa, khiêm tốn và thành thật, bao dung và
nhân ái…, để được hưởng phước tại Thiên Đàng, trong Ngày phán xét.
Nói một cách khác, tín lý ấy hướng con người đến sự nhẫn nhục. Bởi vậy, hầu như không có học
giả nào đánh giá Jesus là một nhà cách mạng (cho dù các luồng tư tưởng bài Thiên Chúa giáo cố
gắng chứng minh rằng Chúa Jesus có nỗ lực xách động quần chúng để đoạt quyền ở vương quốc
Do Thái Juda). Ngài là một nhà tư tưởng, với những tư tưởng khởi nguồn mang tính phản kháng
nhưng cuối cùng lại có lợi cho giới quân chủ La Mã.
Có điều, thoạt đầu, các hoàng đế La Mã chưa nhận ra khía cạnh ấy. Họ chỉ thấy một mầm họa,
một tư tưởng không chấp nhận trật tự xã hội đương thời, một thế lực đang lên, một địch thủ tiềm
tàng…, và họ tìm mọi cách để triệt hạ địch thủ ấy.
Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập giá, nhưng cả xứ Syria và xứ Palestine hưởng ứng các tông đồ
của Ngài. Vua Saul ở Tarsus, cải đạo từ Do Thái cổ sang Ki-tô giáo mới, trở thành Thánh tông
đồ Paul, tổ chức giáo hội đầu tiên. Thánh Paul và Thánh Pierre (St Pierre - St Peter), tương
truyền, rồi cuối cùng cũng đều tử đạo ở La Mã.
Những cuộc đàn áp ập xuống các tín đồ, ngay từ trước đó. Điều này không có gì khó hiểu, khi
giáo dân Ki-tô luôn từ chối làm thánh lễ trước tượng đương kim hoàng đế La Mã, theo luật lệ
hiện thời - một sự xấc xược không thể tha thứ. Họ không thừa nhận ông vua thế tục ấy. Họ chỉ có
một ông vua, ở Nước Trời. Họ sùng tín, và họ đoàn kết.
Đến tận năm 313, những cuộc đàn áp đẫm máu mới chấm dứt. Một trong hai người quyết định
điều đó, bên cạnh Licinius - hoàng đế Tây La Mã, là Constantinus - hoàng đế Đông La Mã.
Sắc lệnh Milan, đằng sau một huyền thoại
Chuyện được kể lại, rằng năm
, trên đường chinh phạt tới Damas, Constantinus gặp một ảo 312
giác. Ông nhìn lên trời, và chợt thấy dấu hiệu thập giá chắn trước mặt trời, với dòng chữ "In hoc
signo vinces" (Nhờ dấu hiệu này mà chiến thắng).
Ông cho thêu dấu hiệu ấy lên cờ trận của mình, quả nhiên chiến thắng, và xem chiến thắng ấy có
được là nhờ sự phù hộ của Chúa Trời. Trở về, dù vẫn theo tôn giáo cũ, ông cũng bắt đầu tự xem
mình là một giáo đồ Ki-tô giáo.
Và năm 313, ông ra sắc lệnh Milan. Với sắc lệnh ấy, Constantinus bãi bỏ toàn bộ các hình thức
trừng phạt dành cho giáo dân áp dụng trước đó, đồng thời trả lại toàn bộ tài sản bị tịch thu cho
Giáo hội. Và bởi vì tự xem mình là người lãnh đạo toàn thể tín đồ, Constantinus có thể được coi
là Giáo hoàng đầu tiên, một cách không chính thức. Song, như vậy cũng đã đủ là sự xác lập ưu
thế tuyệt đối - quốc giáo - của Ki-tô giáo tại phần đế quốc Đông La Mã.
Và rồi, năm 320, Licinius vi phạm Sắc lệnh Milan ở phía Tây. Constantinus lập tức động binh,
đánh bại, bắt sống và xử tử Licinius (năm 323). La Mã chỉ còn một hoàng đế duy nhất. Ki-tô
giáo trở thành quốc giáo của toàn đế quốc. Các thánh tích được tập trung, và các vương cung
thánh đường được xây dựng ở tân đô Byzantium/Nova Roma, cũng như cựu đô Roma.
Kể từ đó đến khi qua đời (năm 337), dù vốn là một hoàng đế ưa chinh chiến và sẵn sàng thu thuế
tàn khốc, Constantinus vẫn luôn luôn nâng đỡ Thiên Chúa giáo, từ tài chính đến địa vị. Tăng lữ -
tầng lớp phải đến Đại cách mạng Pháp 1789 mới bị đánh đổ - thoát thai từ đó. Các giáo xứ - hệ
thống hành chính giáo hội - xuất hiện từ đó.
Hàng giáo phẩm (linh mục, giám mục, tổng giám mục, hồng y giáo chủ và Giáo hoàng) cũng bắt
đầu hình thành từ đó, liên kết chặt chẽ với thế quyền, đóng vai trò biểu tượng tinh thần, hưởng
thụ mọi đặc quyền đặc lợi (và có người cũng nhiễm đủ mọi thói hư tật xấu thế tục…
Trở lại với câu chuyện "In hoc signo vinces", có lẽ bất cứ ai có hứng thú tìm hiểu và nghiên cứu
lịch sử quốc tế đều khó có thể tin rằng đó đơn thuần chỉ là một ảo giác. Đó là một huyền thoại
đẹp đẽ, cũng giống như huyền thoại Lý Thái Tổ thấy rồng vàng Thăng Long ở Việt Nam, được
lan truyền nhằm tạo thêm sức thuyết phục cho những vận động chính trị cần thiết. Vua Lý muốn
dời đô về đất rộng, xa các thế lực quý tộc Đinh - Lê tiền triều ở Hoa Lư, gần nơi phát tích của mình là Bắc Ninh.
Còn Constantinus? Ông cần một cái cớ để sử dụng một công cụ cai trị mới: thần quyền. Nói cách
khác, ông thông minh và khôn khéo hơn các hoàng đế La Mã tiền nhiệm, khi lợi dụng thay vì
tiếp tục đàn áp một tôn giáo mới, đầy sức hấp dẫn và phù hợp với bối cảnh lịch sử.
Dưới lá cờ in dòng khẩu hiệu thần thánh kia, Constantinus đã thắng một trận lớn. Với việc "làm
hòa" cùng Ki-tô giáo, ông thống nhất đế quốc, trở thành Đại đế. Năm 313, thập giá từ một công
cụ hành hình trở thành biểu tượng "Thánh giá".
Năm 325, Constantinus chủ trì Công đồng Nicea - đại hội nghị thống nhất giáo lý của các giáo
phái Ki-tô, điều chưa hề xảy ra suốt quãng thời gian tồn tại trước đó của tôn giáo này. Ki-tô giáo
nguyên thủy bị khai tử, thay vào đó là cơ cấu tổ chức và hệ thống tín điều được Constantinus lựa chọn và chuẩn y.
Với việc tìm thấy "Những cuộn giấy ở Biển Chết" - những bản ghi chép được cất giấu trong các
vò sành qua cả 2.000 năm, thành tựu nổi bật của ngành khảo cổ thế giới đầu thế kỷ trước - nhân
loại biết rằng có những bản Phúc âm lạ của các tông đồ đã bị gạt khỏi giáo lý chính thống (có lẽ
bởi chúng quá ít tính "thần thánh" và quá nhiều tính "trần tục" - nghĩa là không có nhiều giá trị
sử dụng - khi kể lại về cuộc đời Chúa Jesus) tại Công đồng Nicea.
Năm 340, hoàng đế kế nhiệm Constantinus đặt cho Ki-tô giáo danh xưng chính thức: Catholica
Roma (Thiên Chúa giáo La Mã), mà "catholica" có nghĩa là "mang tính toàn cầu".
Những tham vọng không nhỏ ẩn chứa trong các tiểu tiết đó. Chưa ai quên, thực dân Tây Ban Nha
và thực dân Bồ Đào Nha đã phải viện đến Giáo hoàng để phân chia lãnh thổ thuộc địa giành
được vào thời cực thịnh như thế nào, trên đường "mở mang nước Chúa".
Nhưng hiện tại, Constantinople (Thành phố của Constantinus) đã trở thành Istanbul - một trong
những đô thị lớn nhất và quan trọng nhất thuộc thế giới Hồi giáo…
Constantinopolis, trong một quãng rất dài của lịch sử, là kinh đô của đế quốc La Mã, kinh đô của
đế quốc Đông La Mã/Byzance (sau khi La Mã phân ly), thủ phủ của các lãnh thổ Latin (mà Thập
tự quân Tây Âu lập nên trong các cuộc Thập tự chinh), rồi kinh đô của đế quốc Ottoman.
* Ở một khía cạnh khác, Constantinus có lẽ cũng chính là người khởi xướng tinh thần bài Do
Thái, với những quy định cấm đoán đi ngược lại tinh thần khá khai phóng nguyên thủy của đế quốc La Mã. 11.Thành phố Rome
Địa điểm: Thành phố ban đầu được xây dựng trên
ở vùng tây-trung của nước Ý hiện sông Tiber
đại, gần bờ biển Tyrrhenian. Rome vẫn tương đối nguyên vẹn trong hàng ngàn năm và vẫn tồn
tại ngày nay như một trung tâm chính của thế giới hiện đại.
Dân số: Vào thời điểm Phao-lô viết Sách Rô-ma, tổng dân số của thành phố đó vào khoảng 1
triệu người. Điều này làm cho Rome trở thành một trong những thành phố lớn nhất Địa Trung
Hải của thế giới cổ đại, cùng với Alexandria ở Ai Cập, Antioch ở Syria và Corinth ở Hy Lạp.
Chính trị: Rome là trung tâm của Đế chế La Mã, đã biến nó trở thành trung tâm chính trị và
chính trị. Phù hợp, Hoàng đế La Mã sống ở Rome, cùng với Thượng viện. Tất cả những gì để
nói, Rome cổ đại có rất nhiều điểm tương đồng với Washington DC ngày nay
Văn hóa: Rome là một thành phố tương đối giàu có và bao gồm một số tầng lớp kinh tế - bao
gồm nô lệ, cá nhân tự do, công dân La Mã chính thức, và quý tộc các loại (chính trị và quân sự).
Rome thế kỷ thứ nhất được biết là được lấp đầy với tất cả các loại suy đồi và vô đạo đức, từ các
thực hành tàn bạo của đấu trường đến tình dục vô đạo đức của tất cả các loại.
Tôn giáo: Trong thế kỷ thứ nhất, Rô-ma bị ảnh hưởng nặng nề bởi thần thoại Hy Lạp và thực
hành thờ phượng hoàng đế (còn được gọi là Giáo phái Đế quốc).
Vì vậy, hầu hết cư dân của Rô-ma là đa thần - họ tôn thờ nhiều vị thần và thần tượng khác nhau
tùy thuộc vào tình huống và sở thích của họ. Vì lý do này, Rome có nhiều đền chùa, đền thờ và
những nơi thờ phượng mà không có nghi thức tập trung hoặc thực hành. Hầu hết các hình thức
thờ phượng được dung thứ.
12. Những ngày đầu tiên của Giáo hội Kitô giáo La Mã
Giáo hội ở Rome
Không ai chắc chắn về việc ai đã thành lập phong trào Kitô giáo ở Rô-ma và phát triển những
nhà thờ đầu tiên trong thành phố. Nhiều học giả tin rằng các Kitô hữu La mã sớm nhất là những
người Do Thái ở Rô-ma, những người đã tiếp xúc với Cơ đốc giáo khi viếng thăm Giê-ru-sa-
lem - có lẽ ngay cả trong Ngày lễ Ngũ tuần khi nhà thờ được thành lập lần đầu (xem Công-vụ 2: 1-12).
Những gì chúng ta biết là Kitô giáo đã trở thành hiện diện chính trong thành phố Rome vào cuối
những năm 40 như hầu hết các Kitô hữu trong thế giới cổ đại, các Kitô hữu La mã không được
thu thập thành một hội thánh duy nhất. Thay vào đó, những nhóm tín đồ nhỏ theo Chúa Kitô tụ
họp thường xuyên trong các nhà thờ trong nhà để thờ phượng, thông công và học Kinh Thánh với nhau.
Như một ví dụ, Phao-lô đề cập đến một hội thánh nhà cụ thể được dẫn dắt bởi những người kết
hôn đã trở về với Đấng Christ có tên là Priscilla và Aquilla (xem Rô-ma 16: 3-5).
Ngoài ra, có tới 50.000 người Do Thái sống ở Rô-ma trong thời của Phao-lô. Nhiều người trong
số họ cũng trở thành Kitô hữu và gia nhập hội thánh. Giống như những người Do Thái cải đạo từ
các thành phố khác, họ có thể gặp nhau trong các giáo đường Do Thái trên khắp Rô-ma cùng với
những người Do thái khác, ngoài việc tập hợp riêng biệt trong những ngôi nhà.
Cả hai nhóm này đều nằm trong số các nhóm Cơ-đốc nhân Phaolô đề cập đến việc mở cuốn Thư
của Ngài cho người La Mã:
Phao-lô, một đầy tớ của Chúa Jêsus Christ, được kêu gọi làm một sứ đồ và đặt ra cho Phúc âm
của Đức Chúa Trời .... Cho tất cả ở Rô-ma được yêu thương bởi Đức Chúa Trời và kêu gọi trở
thành người thánh của Ngài. Cha và Chúa Jêsus Christ. Rôma 1: 1,7 Bức hại
Người dân Rô-ma chịu đựng hầu hết các biểu hiện tôn giáo. Tuy nhiên, sự khoan dung đó phần
lớn bị giới hạn bởi các tôn giáo đa nguyên - có nghĩa là chính quyền La mã không quan tâm bạn
tôn thờ ai miễn là bạn bao gồm hoàng đế và không tạo ra vấn đề với các hệ thống tôn giáo khác.
Đó là một vấn đề cho cả người Ki tô giáo và người Do Thái vào giữa thế kỷ thứ nhất. Đó là bởi
vì cả hai Kitô hữu và người Do Thái đều cực kỳ độc thần; họ tuyên bố học thuyết không phổ
biến rằng chỉ có một Thiên Chúa - và bằng cách gia hạn, họ từ chối thờ phượng hoàng đế hoặc
thừa nhận ông như bất kỳ loại thần linh nào.
Vì những lý do này, các Kitô hữu và người Do Thái bắt đầu bị khủng bố dữ dội. Ví dụ, Hoàng đ ế
La Mã Claudius đã trục xuất tất cả người Do Thái từ thành phố Rome vào năm 49 sau Công
nguyên Nghị định này kéo dài cho đến khi Claudius qua đời 5 năm sau đó.
Các Kitô hữu bắt đầu trải qua cuộc đàn áp lớn hơn dưới sự cai trị của Hoàng đế Nero - một
người đàn ông tàn bạo và đồi bại, người có một sự ghét bỏ mãnh liệt đối với các Kitô hữu. Thật
vậy, nó được biết rằng gần cuối của quy tắc của ông, Nero rất thích chụp Kitô hữu và đặt chúng
trên lửa để cung cấp ánh sáng cho khu vườn của mình vào ban đêm. Sứ đồ Phao-lô đã viết Sách
Rô-ma trong thời kỳ đầu triều đại của Nero, khi cuộc bức hại Kitô giáo mới bắt đầu. Thật ngạc
nhiên, cuộc đàn áp chỉ trở nên tồi tệ hơn vào cuối thế kỷ thứ nhất dưới thời hoàng đế Domitian.
Cuộc xung đột
Ngoài sự bức hại từ các nguồn bên ngoài, cũng có bằng chứng dồi dào rằng các nhóm Kitô hữu
cụ thể trong phạm vi Rôma gặp phải xung đột. Cụ thể, đã có những xung đột giữa các Kitô hữu
gốc Do Thái và Kitô hữu là những người ngoại bang.
Như đã đề cập ở trên, những người Kitô hữu đầu tiên cải đạo ở Rô-ma có khả năng có nguồn gốc
Do Thái. Các nhà thờ La Mã đầu tiên bị chi phối và dẫn dắt bởi các môn đồ Do Thái của Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, khi Claudius trục xuất tất cả người Do Thái khỏi thành phố Rome, thì chỉ có các Kitô
hữu ngoại bang ở lại. Do đó, nhà thờ đã phát triển và mở rộng như một cộng đồng phần lớn là
người ngoại bang từ 49 đến 54 AD
Khi Claudius chết và người Do Thái được phép trở về Rome, những ng ườ i Kitô h ữ u Do Thái trở
về nhà để tìm một nhà thờ khác với một nhà thờ mà họ đã bỏ đi. Điều này dẫn đến những bất
đồng về cách kết hợp luật Cựu Ước vào theo Chúa Kitô, bao gồm các nghi lễ như cắt bao quy đầu.
Vì những lý do này, phần lớn bức thư của Phao-lô gửi cho người La Mã bao gồm những chỉ dẫn
cho các Kitô hữu Do Thái và người ngoại bang về cách sống hòa hợp và tôn thờ Thiên Chúa như
một nền văn hóa mới - một nhà thờ mới. Ví dụ, Rô-ma 14 đưa ra những lời khuyên mạnh mẽ về
việc giải quyết những bất đồng giữa các Kitô hữu Do thái và người ngoại bang liên quan đến
việc ăn thịt hy sinh cho thần tượng và quan sát những ngày thánh khác nhau của luật Cựu Ước.
Tiến về phía trước
Mặc dù có nhiều trở ngại, nhà thờ ở Rome trải qua sự phát triển lành mạnh trong suốt thế kỷ thứ
nhất. Điều này giải thích tại sao s ứ đ ồ Phao-lô
rất háo hức đến thăm các Cơ đốc nhân ở Rô-ma
và cung cấp thêm sự lãnh đạo trong cuộc đấu tranh của họ:
11 Tôi rất mong được gặp các bạn để tôi có thể truyền đạt cho bạn một số ân tứ thuộc linh để
làm cho bạn mạnh mẽ—
12 đó là, bạn và tôi có thể được khuyến khích lẫn nhau bởi đức tin của nhau.
13 Tôi không muốn bạn không biết, anh chị em , tôi đã lên kế hoạch nhiều lần để đến với
bạn (nhưng đã bị ngăn không cho đến bây giờ) để tôi có thể có một vụ thu hoạch giữa bạn,
giống như tôi đã có trong số những người ngoại quốc khác.
14 Tôi bắt buộc cả người Hy Lạp lẫn người không phải người Hy Lạp, cả với người khôn ngoan và ngu xuẩn.
15 Đó là lý do tại sao tôi rất háo hức rao giảng Tin Lành cũng cho các bạn ở Rô- ma. Rôma 1: 11-15
Thực ra, Phao-lô rất tuyệt vọng khi thấy các Cơ đốc nhân ở Rôma rằng ông đã sử dụng quyền
của mình như một công dân La Mã để thỉnh nguyện Caesar sau khi bị các quan chức La Mã bắt
giữ tại Giê-ru-sa-lem (xem Công-vụ 25: 8-12). Phao-lô đã được gửi đến Rô-ma và trải qua nhiều
năm trong một nhà tù - năm ông đã từng đào tạo các nhà lãnh đạo giáo hội và các Kitô hữu trong thành phố.
Chúng ta biết từ lịch sử nhà thờ rằng cuối cùng Paul đã được thả ra. Tuy nhiên, anh lại bị bắt vì
rao giảng Tin Lành dưới sự bức hại mới từ Nero. Truyền thống Giáo hội cho rằng Phao-lô bị
chặt đầu như một kẻ tử vì đạo ở Rô-ma - một nơi phù hợp cho hành động phục vụ cuối cùng của
ông đối với Hội thánh và biểu hiện thờ phượng với Đức Chúa Trời. 13. Ngôi Giáo Hoàng
Ngôi Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo La Mã là một chức vụ đã có từ lâu và thường giữ vai
trò quan trọng trên thế giới cho đến nay. Kitô giáo ra đời trong Đế quốc La Mã giữa cộng đồng
dân Do Thái với câu chuyện Thánh kinh về Jesus, con của Chúa. Mặc dù Thánh kinh không nói
tới chức Giáo hoàng như hình ảnh ngày nay, ngôi Giáo hoàng, với vai trò kế vị Peter, dựa trên
một diễn giải thần học có tính lịch sử: Vị trí nổi bật của Peter trong 12 tông đồ. Phúc âm
Matthew 16:18-19 ghi lời Jesus nói với Simon:
“Ta bảo cho ngươi, ngươi là Peter [nghĩa là đá], ta sẽ xây Hội Thánh của ta trên tảng đá này,
và cổng âm phủ sẽ không thắng nổi nó. Ta sẽ cho ngươi chìa khóa nước thiên đàng; bất cứ điều
gì ngươi buộc dưới đất cũng sẽ buộc trên trời, và bất cứ điều gì ngươi cởi dưới đất cũng sẽ cởi trên trời”.
Sau nhiều thăng trầm, ngày nay về mặt tinh thần Giáo hoàng là Giám mục địa phận La Mã, có
quyền bổ nhiệm các chức vụ cốt lõi trong Giáo hội và là chủ chăn của hơn một tỉ tín đồ Công
giáo trên trần thế; về mặt thế tục ông đứng đầu nhà nước ở Vatican có liên hệ ngoại giao với
nhiều nước và tổ chức trên thế giới.
Cho đến nay có 265 người được Giáo hội ngày nay công nhận là Giáo hoàng hợp lệ. Trung bình
họ giữ ngôi dưới tám năm. Nếu không kể đến Peter, Piux IX (1846-1878) trị vì lâu nhất, hơn 31
năm. Urban VII (1590) làm Giáo hoàng ngắn nhất, qua đời 13 ngày sau khi được bầu, trước khi
kịp làm lễ đăng quang. Stephen II (752) được bầu làm Giáo hoàng nhưng mất 3 ngày sau đó, và
vì chưa thụ phong Giám mục nên ông không được coi là Giáo hoàng. Ngày nay, với tiến bộ về y
khoa và hết bị bức hại cũng như không còn đánh nhau giành quyền lợi với các nhà cai trị thế tục
nữa, Giáo hoàng thường trị vì lâu hơn. John Paul II (1978-2005) giữ ngôi hơn 26 năm, lâu thứ
nhì trong lịch sử Giáo hội.
Lịch sử đạo Kitô xảy ra nhiều vụ tranh chấp nội bộ, dẫn tới ly giáo hoặc các nhóm tín đồ tự bầu
ra Giáo hoàng của phe mình để chống lại Giáo hoàng của phe khác. Nhiều vị bị cho là bất hợp lệ,
gọi là Giáo hoàng đối lập, “anti-popes”. Nhiều khi có ba hay bốn Giáo hoàng được bầu lên đúng
thủ tục quy định, mỗi vị dựa vào một thế lực riêng để chống lại các vị kia. Giáo hoàng đối lập
đầu tiên thời Giáo hội còn sơ khai là Thánh Hippolytus (217-236). Giáo hoàng đối lập cuối cùng
là Felix V (1439-1449). Sau thời ông, các tín đồ bất mãn với đường lối của Giáo hội La Mã
thường rủ nhau lập giáo phái mới chứ không đoái hoài gì tới vai trò của La Mã và Giáo hoàng
nữa. Ngày nay, hàng năm Vatican xuất bản Annuario Pontificio, trong đó có danh sách các Giáo
hoàng được Giáo hội chính thức công nhận.
Nhiều Giáo hoàng sống đúng lời gọi thiêng liêng của nhiệm vụ được giao, nhưng cũng có ông
đáng bị chỉ trích về mọi mặt. Cho đến nay có 78 Giáo hoàng được phong thánh (gần 30%), mặc
dù khi còn sống vị thánh này có thể chống lại và phạt vạ tuyệt thông một vị thánh khác hay gây
ra chiến tranh đẫm máu. Trong 49 Giáo hoàng của 5 thế kỷ đầu tiên, chỉ có hai vị không được coi
là thánh, Liberius (352-366) và Anastasius II (496-498). Giáo hoàng được phong thánh gần đây
nhất là Pius X (1903-1914). Ba vị thường được hậu thế gọi là Giáo hoàng “Cả” (The Great), Leo
I và Gregory I và Nicholas I, vì có công lớn về mặt tinh thần, học thuật, xã hội, chính trị… Có
Giáo hoàng là anh hùng, như Leo I năm 452 đã dám đi triều cống vua Attila để Ý khỏi bị tấn
công. Có ông trụy lạc như John XII (955-963), lên ngôi Giáo hoàng khi 18 tuổi và sa đoạ tới nỗi
kinh đô của tội lỗi thời đó là La Mã cũng thấy xấu hổ. Nhiều Giáo hoàng có vợ con và là người
chồng, người cha gương mẫu, nhưng cũng có ông có nhiều nhân tình và con rơi sau khi đã lên ngôi.
Giáo hoàng có thể xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội. Callistus I (218-223) là cựu nô lệ, Pius XII
(1939-1958) là quý tộc La Mã, nhưng John XXIII (1958-1963) kế vị Pius lại là nông dân. Giáo
hoàng có thể thuộc mọi sắc dân: Pháp, Hy Lạp, Đức, Tây Ban Nha, Phi châu và hơn 80% là
người Ý. Một vị người Anh là Hadrian IV, một Ba Lan là John Paul II, nhưng chỉ có một vị từ
Galilee là Peter, và chưa có Giáo hoàng gốc Úc hay Á. Một số vị chưa là tu sĩ khi được chỉ định,
vì thế họ phải nhận chức linh mục, rồi tấn phong Giám mục La Mã trước khi chính thức được
xem là Giáo hoàng. Cho đến nay tất cả Giáo hoàng đều là nam giới, nhưng huyền thoại về nữ
Giáo hoàng Joan trong thời Trung cổ vẫn cứ lưu truyền. Người ta cũng nói đến các Giáo hoàng
có khuynh hướng đồng tính luyến ái, nhưng chưa ai tìm thấy tài liệu cụ thể nào trong thư khố của hội thánh.
Trong thời gian đầu, Giám mục La Mã là người có uy tín ở địa phương do tín hữu cử ra. Một
thời gian sau các hoàng đế La Mã chỉ định kẻ thân cận giữ chức Giáo hoàng để phục vụ đắc lực
cho quyền lợi của đế quốc. Khi Giáo hội trở nên độc lập hơn đối với các nhà cầm quyền thế tục,
Giáo hoàng lại được người đồng đạo bầu ra. Ngày xưa cử tri đoàn bầu Giáo hoàng có thể họp bất
cứ nơi nào thuận tiện tùy theo tình hình, hoặc ở nơi Giáo hoàng qua đời, không nhất thiết phải ở La Mã.
Là người cầm đầu cộng đồng tín hữu, Giáo hoàng thường có cuộc sống giàu sang và tiện nghi
hơn các giáo dân cùng thời, trừ những khi bị bức hại. Nhiều vị chi tiêu xa hoa ngoài sức tưởng
tượng, xây những cung điện và giáo đường vĩ đại trong lúc giáo dân cùng khốn, nhưng cũng có
vị sống đời khổ hạnh đáng làm gương cho mọi thời và mọi người kế vị. Là Giám mục La Mã, họ
cai quản tài sản của giáo xứ, và vào thời kỳ đầu họ phải cưỡng lại nhiều cám dỗ đi đôi với chức
Giám mục đó. Tín đồ thường hiến đất và tiền cho “Thánh Peter”, nghĩa là cho Giám mục La Mã.
Điền sản Thánh Peter mở rộng nhất hồi thế kỷ 18, kéo dài từ Naples tới Venice cùng một số nơi
ở Pháp, và Giáo hoàng trở thành vua của các Nước Giáo hoàng, với đầy đủ những vấn đề của
một nhà cai trị thế tục. Lợi tức của họ có từ đất đai của Giáo hội và các giáo xứ giao nộp hay
cướp được, hoặc có khi từ việc bán giấy xoá tội và bán chức vụ trong hội thánh, hoặc do các lãnh
chúa tặng vì lợi ích của Giáo hội hay vì muốn đổi lấy một ân huệ nào đó. Y phục của họ thường
diêm dúa, chỗ ở của họ là các cung điện hoành tráng. Họ không phải lo đến bữa ăn, trừ khi phải
chạy trốn vì thất bại trong cuộc tranh chấp với các lãnh chúa hay giáo sĩ khác. Mỗi khi di
chuyển, đoàn tùy tùng của họ có thể lên đến hàng ngàn người, từ Hồng y tới binh lính, từ vua
chúa tới tiện dân, để giúp việc, để bảo vệ khỏi bị hãm hại, và cũng để phô trương thanh thế.
Ngày nay, Giáo hoàng là người đứng đầu nhà nước Vatican với dân số dưới một ngàn người trên
mảnh đất rộng 44 hectare giữa thành phố La Mã. Vatican theo chế độ quân chủ tuyệt đối và có
quan hệ ngoại giao với đa số các nước trên thế giới. Về mặt tinh thần, Giáo hoàng còn có vai trò
tối cao về hành pháp, lập pháp và tư pháp đối với cộng đồng hơn một tỉ tín đồ sống khắp hoàn
cầu. Các huấn dụ và phán quyết của Giáo hoàng có ảnh hưởng lớn không những đối với cuộc đời
riêng của giáo dân mà cả sinh hoạt chính trị-xã hội nơi họ sống.
Lá cờ Toà thánh: màu vàng tượng trưng cho quyền uy tinh thần của Giáo hoàng; màu trắng là
quyền lực trần thế; trên nền trắng là huy hiệu Toà thánh, hình hai chiếc chìa khóa của Thánh
Peter đặt chéo trên vương miện ba tầng của Giáo hoàng. ***
Mọi chức vụ trên trần thế đều phản ảnh tình hình chính trị của xã hội. Ngôi Giáo hoàng cũng
không đi ra ngoài quy luật đó. Lịch sử ngôi Giáo hoàng có năm mốc quan trọng:
1) Khi cộng đồng tín hữu còn phôi thai, hai thánh tông đồ Peter và Paul đến rao giảng và tử đạo
ở La Mã. Vì tầm quan trọng của kinh đô La Mã và địa vị của Peter, vai trò chủ chăn ở La Mã có
địa vị trội hơn giám mục các nơi khác. Khi Kitô giáo còn bị áp bức, Giám mục La Mã tự đặt cho
mình một nhiệm vụ rất khiêm tốn là giữ cho mộ thánh Peter và Paul khỏi bị phá hoại, cử hành
thánh lễ tại các nhà thờ địa phương và giúp dân nghèo. Khi các Giám mục khắp nơi có tranh cãi
về thần học, họ thường hội ý với những vị có uy tín ở các giáo xứ quan trọng, trong đó có Giám
mục La Mã, người kế vị Peter.
2) Đầu thế kỷ thứ 4, Hoàng đế Constantine cải đạo sang Kitô giáo – công lao của Constantine
lớn tới nỗi một số tín đồ Kitô xem ông là tông đồ thứ 13. Khi Hoàng đế theo tôn giáo mới, triều
đình và thần dân cũng cải đạo theo. Hơn nữa, Constantine đốc thúc các Giám mục trên toàn cõi
đế quốc nhận nhiệm vụ dân sự, từ đó Giáo hội ngày càng mạnh và dấn sâu vào việc hình thành
cơ cấu chính trị của xã hội. Giám mục La Mã vừa chăn dắt giáo dân địa phương, vừa giúp Hoàng
đế giải quyết những vấn đề liên quan đến Kitô hữu trên toàn cõi đế quốc.
Khi Kitô giáo trở thành quốc giáo của đế quốc La Mã, nhất là sau Chỉ dụ Milan năm 313, ngôi
Giáo hoàng thường do Hoàng đế chỉ định, không do tín hữu địa phương cử ra nữa. Hoàng đế là
vua của đế quốc, vua của các vua. Giáo hoàng chỉ là vua một vùng đất nhỏ trong đế quốc, vì thế
phải thoả mãn yêu cầu của Hoàng đế, đôi khi của hai Hoàng đế cùng một lúc, một ở La Mã phía
tây và một ở Constantinople phía đông.
3) Đến thế kỷ thứ 8, đế quốc La Mã đã suy đồi, Hoàng đế ở Constantinople không bảo vệ được
La Mã nữa, vì thế Giáo hoàng tìm sự giúp đỡ của triều đình Carolingian, Pháp. Liên hệ giữa
Giáo hoàng với các nhà cai trị phía Tây trở nên gắn bó, và ảnh hưởng của Byzantine nhạt dần.
Sau biến cố Giáo hoàng đội Léon III vương miện cho Hoàng đế Charlemagne năm 800, ngôi
Giáo hoàng dần thoát khỏi sự kiềm chế của thế quyền và đôi khi lấn át các ông vua khác ở Âu
châu. Các Nước Giáo hoàng hiện ra ngày càng rõ, tuy không liền một khối. Công việc cai trị đòi
hỏi phải mộ quân, tích lũy lương thực, củng cố thành lũy, nhà thờ, cung điện, và thu thuế khắp
nơi. Giai đoạn này cũng thường xuyên xuất hiện các Pháp đình Tôn giáo để răn đe và chống kẻ
dị giáo, hoặc chỉ dùng danh nghĩa tôn giáo để dập tắt kẻ chống đối. Rồi khi Đất Thánh bị vua
Hồi xâm lăng, các Giáo hoàng đứng lên kêu gọi thực hiện cuộc viễn chinh Thập tự giá. Các cuộc
thánh chiến đẫm máu do họ đề xướng kéo dài suốt mấy thế kỷ nhằm giành lại Jerusalem cho tín
đồ Kitô, và trên thực chất cũng để giải quyết các vấn đề kinh tế-chính trị ở phương Tây.
4) Quyền uy lớn dẫn đến băng hoại lớn, Giáo hội Công giáo là một tổ chức của con người cũng
không thoát khỏi điều đó. Thời Phục hưng và Khai sáng ở Âu châu, kéo dài từ thế kỷ 14 đến 18,
với các phát triển trong ngành nhân văn và khoa học tự nhiên đã bộc lộ rõ sự lỗi thời và phản tiến
bộ của Giáo hội Công giáo La Mã thời ấy dưới mắt nhiều người. Giáo hội ngày càng phải dựa
vào Pháp đình Tôn giáo để đàn áp và củng cố quyền lực của mình. Tu sĩ các dòng tu Francisco,
Dominic, Jesuit… giúp Giáo hoàng vượt qua nhiều cơn bão của thời đại và cũng là phán quan
đắc lực trong các Pháp đình Tôn giáo khắp vòm trời Kitô.
Trong khi đó, tình trạng nhũng lạm của tu sĩ ngày càng trầm trọng, trí thức Âu châu và các tu sĩ
có tinh thần cải cách liên tục kêu gọi chỉnh đốn Giáo hội. Họ dịch Thánh kinh ra ngôn ngữ địa
phương để giáo dân có thể trực tiếp đọc và hiểu lời Chúa, một điều làm Giáo hội La Mã sợ hãi.
Cùng với sự tiến bộ của ngành in, các bản dịch Thánh kinh phổ biến rộng trong dân chúng, mang
lại một sức sống mới cho thần học Kitô. Họ cũng lập ra rất nhiều giáo phái khác để cùng nhau
sống đạo trong tinh thần mới, phản đối một số phán quyết và tác phong của Giáo hội La Mã. Các
Giáo hoàng thời kỳ này vừa phải chống đỡ với những băng hoại từ bên trong Giáo hội, vừa phải
lúng túng đối phó với tiến bộ về mọi mặt của xã hội thế tục. Giáo hoàng không còn địa vị tối cao
dưới mắt nhiều cộng đồng Kitô hữu nữa.
5) Vào thế kỷ 19, dân trên bán đảo Ý bắt đầu muốn lập một nước Ý thế tục và thống nhất. La Mã
dần dần trở thành thủ đô của một nước Ý đang định hình, những nước nhỏ của các đại gia trên
bán đảo bắt đầu phải chịu giải thể và sáp nhập lại, trong đó Giáo hoàng là một trong những đại gia có thế lực nhất.
Giáo hội La Mã là lực lượng cuối cùng phản đối nỗ lực của người dân muốn thành lập nước Ý.
Giáo hoàng Pius IX (1846-78) không công nhận vương quốc Ý, vì thế ông bị tước mọi quyền thế
tục và bị đuổi khỏi lâu đài Quirinale, phải vào ở trong Vatican. Để chống lại, Pius IX tuyên bố
rút phép thông công những ai đi bầu hoặc tham gia vào chính quyền Ý. Năm 1905, Pius X
(1903-14) mới chính thức cho giáo dân quyền bầu cử, và phải bầu cho các đại biểu không thuộc
phe xã hội. Năm 1929, không thể đi ngược với trào lưu tiến hoá nữa, Toà thánh ký Hiệp ước
Lateran với nhà độc tài phát xít Benito Mussolini, giao tất cả đất đai của các Nước Giáo hoàng
trên bán đảo và thành phố La Mã cho chính phủ Ý, đổi lại dân Ý công nhận Vatican là một nước
độc lập có chủ quyền. Từ nay, Giáo hoàng không còn quyền sinh sát như trước, mà chú trọng
nhiều hơn vào trách nhiệm tinh thần, dẫn dắt Giáo hội qua hai cuộc thế chiến của thế kỷ 20 và
đối diện với những tiến bộ mới sau đó trong khoa học tự nhiên và nhân văn. ***
Vai trò của Giáo hoàng giữa trần thế và trong cộng đồng tín hữu thay đổi theo thời gian. Mối liên
hệ giữa Giáo hoàng với các nhà cai trị thế tục cũng như với các tu sĩ khác trong Giáo hội thường
rất phức tạp. Để tranh quyền với vị Hoàng đế đã chỉ định mình, Giáo hoàng có thể lập vây cánh
với các ông vua khác. Để nắm chắc Giáo hội đi theo đường lối của mình, Giáo hoàng có thể
phong thật nhiều chức Hồng y, Giám mục hay trưởng dòng tu cho phe nhóm hay gia đình mình,
để chính sách và quyền lợi của phe mình sẽ được duy trì ngay cả sau khi mình qua đời.
Diễn giải thần học về vai trò của Giáo hoàng đối với các nhà cai trị thế tục cũng biến đổi theo
tương quan lực lượng về chính trị-kinh tế. Với nhiều tình cờ của lịch sử, từ vai trò rất khiêm tốn
ở buổi đầu còn bị bách hại, đến khi Kitô là tôn giáo thống trị trên một vùng rộng lớn, Giáo hoàng
dần trở thành người có quyền chuẩn nhận tính hợp pháp thiêng liêng của các ông vua trần thế.
Với tư cách là người đứng đầu Giáo hội linh thánh, Giáo hoàng phong vương cho các ông vua
Công giáo, qua hành động đội vương miện lên đầu họ. Khi bị Hoàng đế chèn ép, Giáo hoàng có
thể cầu cứu thế lực của ông vua nào mạnh nhất hay ở gần nhất. Khi Hoàng đế tỏ ra suy yếu, Giáo
hoàng có thể lấn thêm một bước. Tranh chấp quyền lực giữa Giáo hoàng và các nhà cai trị thế tục
luôn luôn phức tạp, nhưng nguyên nhân chính vẫn từ tham vọng, và kết quả chính vẫn tùy thuộc
phần lớn vào sức mạnh trần thế của hai bên.
Ngày nay Giáo hoàng không chuẩn nhận tính chính thống của nhà cầm quyền thế tục nào nữa,
mà chỉ là lãnh tụ tối cao của Giáo hội hoàn vũ. Ông có toàn quyền chỉ định Giám mục trên khắp
thế giới, thay vì Giám mục được cộng đồng tín hữu địa phương chọn ra như thuở ban đầu. Giáo
dân mất quyền chọn người dẫn dắt gần gũi với mình, nhưng toàn Giáo hội có một tiếng nói thống
nhất. Trong khi đó, Giáo hoàng thường trao đổi, thương lượng với nhà nước thế tục trước khi bổ
nhiệm các chức sắc của Giáo hội địa phương, và có quốc gia không công nhận quyền này của
ông. Ngày nay, Giáo hoàng cũng tiếp xúc đông đảo mọi người trên khắp thế giới, kể cả người ngoại đạo.
Giáo hoàng cũng viết huấn dụ gửi Giám mục các nước, vạch đường hướng cho Giáo hội và giáo
dân trên trần thế. Tín đồ có thể gặp khó khăn khi luật của hội thánh mâu thuẫn với luật của quốc
gia. Khi luật của hội thánh khác với suy nghĩ và sinh hoạt trong đời sống riêng của mình, các
giáo dân thường tỏ ra linh động và tùy nghi áp dụng, chẳng hạn trong vấn đề ngừa thai. Huấn dụ
của Giáo hoàng thường liên quan tới các vấn đề lớn nhỏ của thời đại, như chiến tranh, khoa học,
công bằng xã hội, đức tin, vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, ngừa thai, hôn nhân giữa nam nữ và
giữa những người đồng tính, lời nguyện độc thân và nạn xách nhiễu tình dục của tu sĩ, sự hợp
nhất với các Giáo hội Kitô khác… Ngoài ra, khi Giáo hoàng có những tuyên bố “không thể sai
lầm” thì toàn thể giáo dân không được tranh biện, đến khi tuyên bố ấy bị một Giáo hoàng khác hủy bỏ. ***
Một số tín đồ Công giáo cho rằng Giáo hoàng là đại diện duy nhất của Chúa trên trần thế nên
được Chúa trực tiếp chọn ra. Do đó, lúc họp kín để bầu Giáo hoàng mới, Mật nghị Hồng y chỉ
cầu xin đấng tối cao hướng dẫn họ. Tuy được thánh linh dẫn dắt, các Hồng y thường phải bầu đi
bầu lại nhiều lần, và khó giải thích các cuộc vận động ngầm hay công khai bên trong và ngoài
Giáo hội, trước và trong khi bầu chọn Giáo hoàng mới. Ngày nay bầu Giáo hoàng bằng cách lên
tiếng tán thành không còn hợp lệ mà phải bỏ phiếu chính thức. Mật nghị Hồng y chỉ gồm các
Hồng y dưới 80 tuổi. Họ không được dàn xếp ngầm, nghĩa là một số Hồng y cùng thoả thuận về
một ứng viên, biết rằng các Hồng y khác sẽ chịu theo thoả thuận đó. Mọi diễn tiến liên quan đến
việc bầu Giáo hoàng phải được giữ bí mật tuyệt đối, ngoại trừ kết quả của những lần bỏ phiếu.
Hình thức bầu cử duy nhất là bỏ phiếu kín.
Mật nghị Hồng y họp kín, nhưng vẫn chịu áp lực của thế giới bên ngoài vì họ xuất thân từ cõi đó.
Áp lực có thể từ hội thánh hay thế tục, đúng với niềm tin rằng Giáo hội là tổ chức vừa thiêng
liêng vừa thuộc về con người. Vì Giáo hội mang tính thiêng liêng, nên Chúa tham dự vào quá
trình lựa chọn đấng dẫn dắt con chiên có tầm quan trọng như Giáo hoàng. Vì Giáo hội mang tính
con người, nên con người tham dự vào việc bầu lên Giáo hoàng. Và nơi nào có con người, nơi đó
có chính trị, tư lợi và khát vọng quyền lực. Không ai biết chắc hai yếu tố linh thiêng và con
người tác động nhau thế nào, nhưng đó là điều huyền bí của hội thánh.
Giáo lý Công giáo cho rằng Giáo hoàng là người kế vị Peter và đại diện của Chúa, nhưng thủ tục
bầu ông lại là một thủ thuật chính trị do con người đặt ra. Hồng y đoàn lựa một số ứng viên. Ứng
viên được chọn vì hình như có khả năng thích hợp với nhu cầu của thời đại, hay bị chống đối vì
hình như có thể làm hại đến sứ mạng và sự tồn vong của Giáo hội. Tất nhiên, không phải lúc nào
Hồng y đoàn cũng chọn được người mình muốn. Vì thế họ tính toán, chọn một ứng viên khác dễ
được chấp nhận hơn hay ít bị chống đối hơn. Nhiều khi việc bầu bán kéo dài rất lâu vì các thế lực
bên ngoài điều đình chưa xong. Sau khi Clement IV mất năm 1268, Mật nghị Hồng y họp ba
năm ở Viterbo mới bầu được Gregory X kế vị, vì các Hồng y thuộc hai phe Pháp và Ý kình địch
nhau. Nhà cầm quyền Viterbo phải nhốt họ trong cung điện, rồi giỡ mái nhà, cúp bớt lương thực
và cuối cùng doạ bỏ đói họ mới chịu bầu xong. Ngược lại, năm 1503, Mật nghị Hồng y sau khi
nhận hối lộ chỉ cần họp nửa buổi để bầu lên Julius II. Về sau, chính Julius II (1503-1513) quy
định rằng mua chuộc bầu cử là bất hợp pháp và vô giá trị, và người được bầu là kẻ bội giáo. Năm
1975, Paul VI (1963-1978) bãi bỏ quy định vô hiệu hoá kết quả bầu cử để tính pháp lý của cuộc
bầu Giáo hoàng trong quá khứ cũng như tương lai không bị đặt vấn đề vì bất cứ lý do nào.
Vì ngôi Giáo hoàng là thể chế quân chủ tuyệt đối, Giáo hội phải đối phó ra sao nếu vị Giáo
hoàng làm trái với nhiệm vụ thiêng liêng của mình? Trong quá khứ, Giáo hội và các nhà cai trị
thế tục, đôi khi không vì lợi ích Phúc âm, đã cách chức vĩnh viễn hay tạm thời 26 Giáo hoàng
(gần 10%), kể cả phạt vạ tuyệt thông hay truất phế và giết họ mà không được sự chấp thuận rộng
rãi trong Giáo hội. Giáo hoàng đầu tiên phải thoái vị là Thánh Pontian (230-235), và người bị bắt
giam và truất phế gần đây nhất là Pius VI (1775-1799).
Ngày nay, giáo luật quy định ngôi Giáo hoàng chỉ bỏ trống khi Giáo hoàng qua đời, hay tự ý từ
chức. Tuy nhiên, không ai có thẩm quyền nhận lời từ chức của người kế vị Thánh Peter. Giáo
luật không dự tính trường hợp Giáo hoàng bị điên, hôn mê, hay quá yếu không làm nhiệm vụ
được nữa. Cũng không có quy định nào khi Giáo hoàng bị nhiều người cho là theo dị giáo, hay
gây ra ly giáo, hay thiếu đạo đức. Luật chỉ nói rằng Giáo hoàng luôn hợp nhất với các Giám mục
và Giáo hội hoàn vũ. Hơn nữa, ai công khai phản đối Giáo hoàng trong các vấn đề về đức tin và
luân lý có thể sẽ bị khiển trách và chế tài, hay bị phạt vạ tuyệt thông, hay gọi về Vatican để bị
chất vấn và cấm phát biểu. ***
Chữ Latin “papa” nghĩa là cha, để chỉ Giáo hoàng. Thoạt tiên, “papa” dùng để gọi những người
có uy tín và được yêu mến trong cộng đồng tín hữu ở các địa phương. Vào thế kỷ thứ 5, khoảng
thời Giáo hoàng Leo I, danh hiệu “papa” bắt đầu dùng riêng cho Giám mục La Mã, một địa phận
đặc biệt linh thiêng vì tông đồ Peter và Thánh Paul đã giảng đạo và qua đời ở đó. Mặc dù hãnh
diện về vai trò của Peter và Paul, các Giáo hoàng thường nhìn mình chỉ dưới hình ảnh Peter. Họ
thấy mình là đại diện cho Peter dưới thế gian, vicarius Petri. Ngày nay Giáo hoàng làvicarius
Christus, một danh hiệu lúc đầu dùng cho mọi tu sĩ và cả nhà cai trị thế tục vì họ trông nom nhà
thờ và làm nhiệm vụ dưới danh nghĩa của Chúa. Đến đầu thế kỷ 13, Innocent III mới chính thức
dùng tước hiệu đó để tỏ quyền hạn cao hơn các Giám mục khác.
Trong thời Trung cổ, Giáo hoàng đôi khi tự xưng là “Giáo phụ La Mã”, về sau trở thành “Giáo
phụ phương Tây” để phân biệt với “Giáo phụ phương Đông” ở Constantinople. Đến thế kỷ 19,
danh hiệu này được chính thức ghi nhận trong bảng liệt kê các danh hiệu của Giáo hoàng, nhưng
đến năm 2006 lại bị loại bỏ.
Ngày nay các huấn dụ do Giáo hoàng ban hành dưới tên Summus Pontifex (Cha cả). Công đồng
Vatican II (1962-1965) nhấn mạnh vai trò phục vụ khiêm tốn của người cầm đầu Giáo hội, từ đó
Giáo hoàng còn gọi là “tôi tớ của các tôi tớ Thiên chúa”, servus servorum Dei. Tiếng Việt dùng
các danh hiệu Đức Thánh Cha, Đức Giáo tông, Đấng Giáo chủ, Giáo hoàng… để chỉ người cầm đầu Giáo hội hoàn vũ.
Trong một thế kỷ qua các Giáo hoàng đóng vai trò rất lớn trong việc định hình Giáo hội. Mười
thế kỷ trước đa số tín đồ chưa chắc đã biết có ngôi Giáo hoàng, hay nghĩ rằng chức vụ đó có ảnh
hưởng gì đến đức tin và tôn giáo của họ. Giữa thế kỷ 15, một phần nhờ máy in, các phái Tin
Lành loan truyền rộng rãi những luận cứ gạt bỏ quyền lực của Giáo hoàng, vì thế Giáo hội Công
giáo La Mã và tín đồ lại càng ủng hộ ngôi vị ấy. Nhiều giáo dân Công giáo tự xem mình là người
theo chủ nghĩa giáo hoàng (papists). Từ khi Công đồng Vatican I (1869-1870) ban hành tín điều