Sự ra đời và phát triển
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union; còn được
gọi Khối Liên Âu, viết tắt EU) một liên minh chính trị kinh tế bao gồm
27 quốc gia thành viên tại châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp
ước Maastricht vào ngày 1 tháng 1 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC).
Liên minhtất cả lợi thế của một khu vực thương mại lớn, thống nhất nhưng vẫn
xung đột chính trị giữa các quốc gia thành viên. EU đang cố gắng khắc phục
điểm yếu này thông qua một loạt các thỏa thuận đàm phán thương mại. EU
tên chính thức là Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu.
Sự hình thành
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với xu thế toàn cầu hóa khuynh hướng liên kết
khu vực cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, tiêu biểu quá trình hình thành
phát triển của EU.
18/1/1951, hiệp ước Paris được kết giữa 6 nước Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Lan,
Lúcxămbua để thành lập “Cộng đông than thép Châu Âu” (ESCS), nhằm thống
nhất việc sản xuất phối hợp than, thép của các nước thành viên. Hiệp ước này
chứa đựng ý đồ của các nhà sáng lập ESSC là gây dựng nền tảng cho việc nhất thể
hóa kinh tế Châu Âu.
25/3/1957 sáu nước này kí hiệp ước Rooma thành lập “Cộng đồng nguyên tử Châu
Âu” (EURATOM) “Cộng đồng kinh tế Châu Âu” (EEC). Năm 1958, Cộng
đồng Nguyên tử châu Âu.
Ngày 1/7/1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành “Cộng đồng Châu Âu” (EC).
Đến tháng 12/1991 các nước thành viên EC đã tại Lan bản hiệp ước
Maxtrich (Hà Lan), hiệu lực từ ngày 1/1/1993, đổi tên thành Liên Minh Châu
Âu (EU) với 15 nước thành viên (1995).
Năm 2004 kết nạp thêm 10 nước. Với việc mở rộng lần thứ năm này, EU trở thành
một khối kinh tế thị trường lớn nhất thế giới. năm 2007 thêm 2 nước, nâng tổng
số thành viên lên 27 nước.
EU ra đời không chỉ nhằm tập hợp giữa các nước thành viên trong lĩnh vực kinh tế,
tiền tệ còn liên minh trong lĩnh vực chính trị (như xác định luật công dân châu
âu, chính sách đối ngoại và an ninh chung, Hiến pháp chung…)
+ Về an ninh: Láy NATO khối liên minh phòng thủ Tây Âu làm hai trụ cột
chính, tuy nhiên EU vẫn đang cố gắng tạo cho mình một cánh tay quân sự với bản
sắc riêng, tránh phụ thuộc vào Hoa Kì.
+ Về chính trị: Chính trị hoá các nhân tố kinh tế, an ninh, nghĩa kết hợp các
phương tiện kinh tế và quân sự nhằm đạt được mục tiêu kinh tế.
+ hội: Các nước thành viên đang áp dụng một chính sách chung về lao động,
bảo hiểm, môi trường, năng lượng, giáo dục, y tế (tuy nhiên một số lĩnh vực chưa
thống nhất)
+ Kinh tế: Theo số liệu bộ của Eurostat, trong quý II/2021, tổng sản phẩm trong
nước (GDP) của các nền kinh tế thành viên Liên minh EU tăng 13,7% so với cùng
kỳ năm trước tăng 2% so với quý trước. Trong tháng 6/2021, Liên minh châu
Âu (EU) đã giải chi khoản tiền mặt đầu tiên từ quỹ phục hồi hậu Covid-19 để tạo
việc làm và hỗ trợ các doanh nghiệp ở các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
NỘI DUNG HỢP TÁC TRONG LIÊN MINH EU
Được thực hiện bởi các chính sách chung như sau:
Xây dựng thực thi chính sách cạnh tranh của thị trường thống nhất. Chính sách
cạnh tranh của châu Âu dựa trên ba nội dung chính là: Chống độc quyền lạm
dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp, kiểm soát các hoạt động kinh doanh
của các nước thành viên, kiểm soát hỗ trợ nhà nước của các nước thành viên.
Xây dựng thực thi chính sách nông nghiệp chung EU: CAP (chính sách nông
nghiệp chung) ra đời năm 1985 với nguyên tắc xúc tiến việc hình thành thị trường
chung cho các sản phẩm nông nghiệp của EU. Các mục tiêu CAP được xác định là:
Tăng năng suất nông nghiệp, tăng thu nhập nâng cao mức sống người dân, tạo
thị trường ổn định. Tuy nhiên chính sách nông nghiệp chung mang nặng tính bao
cấp, bảo hộ và đòi hỏi chi phí tốn kém làm nảy sinh nhiều ảnh hưởng.
Xây dựng và thực thi chính sách thương mại chung: Kể từ khi thành lập Cộng đồng
kinh tế Châu Âu (1957) EEC, Hiệp ước Rome đã đưa ra một chính sách thương
mại chung. Việc hình thành một thị trường chung Châu Âu đã mang lại nhiều lợi
ích cho EU. EU thiết lập thị trường chung trong khối Để xóa bỏ những trở ngại
trong việc phát triển kinh tế trên cơ sở thực hiện bốn mặt của tự do lưu thông: tự do
lưu thông con người, tự đo lưu thông hàng hóa, tự do lưu thông tiền vốn, tự do lưu
thông dịch vụ. Tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của EU so với
các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới. Ý nghĩa của việc hình thành thị trường
chung châu Âu : Xóa bỏ những trở ngại trong việc phát triển kinh tế trên sở
thực hiện bốn mặt của tự do lưu thông. Thực hiện chung một số chính sách thương
mại với các nước ngoài EU. Tăng cường sức mạnh và khả năng cạnh tranh của EU
với các trung tâm kinh tế khác trên thế giới.
Xây dựng thực thi chính sách tiền tệ chung: Liên minh tiền tệ Châu Âu (EMU)
đã đẩy mạnh hơn nữa liên kế kinh tê, hướng tới một chính sách tiền tệ thống nhất
vì một đồng tiền chung. Năm tiêu chuẩn khi tham gia vào EMU là: Ổn định giá cả:
tỉ lệ lạm pháp không vượt quá 1,5% tỉ lệ lạm phát trung bình của ba nước thành
viên ổn định nhất; Ổn định tỷ giá: Các nước thành viên phải đạt được ổn định tỷ
giá theo chế của EMU ít nhất hai năm liên tục; Hội tụ lãi suất dài hạn: Không
được vượt quá 2% lãi suất dài hạn trung bình của ba nước thực hiện tốt nhất; Thâm
hụt ngân sách: Đảm bảo dưới 3% GDP; Nợ công không được vượt quá 60% GDP.
Xây dựng thực thi chính sách vùng gắn kết kinh tế - hội: Quỹ phát triển
vùng Châu Âu hay còn gọi quỹ cấu được thành lập năm 1975, đến giai đoạn
hoàn thiện thị trường thống nhất, quỹ đã tăng nhanh trở thành nguồn lực quan
trọng cho một chính sách vùng thực sự đóng góp vào việc hội tụ kinh tế trong
liên minh trong giai đoạn liên kết chặt chẽ hơn sau này
Xây dựng thực thi chính sách môi trường chung châu Âu: EU đã cam kết theo
đuổi mục tiêu giảm thiểu những tác nhân gây biến đổi khí hậu. Hội đồng Môi
trường (ENVI),chịu trách nhiệm về chính sách môi trường của EU, bao gồm bảo
vệ môi trường, sử dụng tài nguyên một cách thận trọng bảo vệ sức khỏe con
người. Hội đồng cùng với Nghị viện Châu Âu, chịu trách nhiệm thông qua luật môi
trường nhằm bảo vệ môi trường sống tự nhiên, giữ cho không khí nước sạch,
đảm bảo xử chất thải thích hợp, nâng cao kiến thức về các hóa chất độc hại
giúp các doanh nghiệp hướng tới một nền kinh tế bền vững. Đồng thời cũng đảm
bảo rằng các khía cạnh môi trường được lồng ghép hợp lý vào các chính sách khác
của EU, chẳng hạn như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, năng lượng dịch
vụ. cấp độ quốc tế, EU các nước thành viên nỗ lực đảm bảo rằng các tiêu
chuẩn môi trường của EU được phản ánh trong các hiệp định quốc tế về môi
trường biến đổi khí hậu. Về vấn đề này, Hội đồng trách nhiệm chuẩn bị các
vị trí của EU cho các hội nghị quốc tế và các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu.
Xây dựng thể chế hoạch định chính sách tầm khu vực của EU: Quá trình hình
thành và phát triển của EU gắn liền với các hiệp ước. Các hiệp ước quy định quyền
hạn của các quan quyền lực các nguyên tắc hoạch định chính sách, nhằm
đảm bảo cho các hiệp ước được tuân thủ cũng như được các nước thành viên tôn
trọng tuần thủ. Luôn sự đổi mới trong việc cân bằng quyền lực giữa các thể
chế của EU nhằm bảo đảm cho quá trình hoạch định chính sách dân chủ hơn, hiệu
quả hơn.
Cơ cấu tổ chức
EU có năm cơ quan chính là:
Hội đồng châu âu:
quan quyền lực tối cao nhất của EU gồm lãnh đạo cao nhất của 27 nước
thành viên. Hội nghị của Hội đồng Châu Âu Hội Nghị thượng đỉnh, thường họp
bốn lần một năm, chủ tịch Uỷ ban châu Âu chủ tịch Hội đồng châu Âu chủ trì
các cuộc hội nghị. Hội đồng châu Âu ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng
thuận. trừ các ngoại lệ do hiệp ước quy định.
Hội đồng Bộ trưởng
Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các Bộ trưởng
đại diện cho các thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ 6
tháng. Giúp việc cho Hội đồng Uỷ ban Đại diện Thường trực Ban Tổng Thư
ký.
Từ năm 1975, người đứng đầu nhà nước, hoặc đứng đầu chính phủ, các ngoại
trưởng, Chủ tịch Phó Chủ tịch Uỷ ban châu Âu các cuộc họp thường kỳ để
bàn quyết định những vấn đề lớn của EU. Cơ chế này gọi là Hội đồng châu Âu hay
Hội nghị Thượng đỉnh EU.
Hội đồng Bộ trưởng chính là cơ quan lãnh đạo tối cao của Liên minh châu Âu.
Uỷ ban Châu Âu
quan điều hành gồm 20 uỷ viên, nhiệm kỳ 5 năm do các chính phủ nhất trí
cử chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện Châu Âu. Chủ tịch hiện nay
Romano Prodi, cựu Thủ tướng Ý (được bầu tại cuộc họp Thượng đỉnh EU bất
thường ngày 23 tháng 3 năm 1999 tại Berlin). Dưới các uỷ viên các Tổng Vụ
trưởng chuyên trách từng vấn đề, từng khu vực.
Nghị viện Châu Âu
Gồm 732 Nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.
Trong Nghị viện các Nghị ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo quốc
tịch.
Nhiệm vụ: thông qua ngân sách, cùng Hội đồng Châu Âu quyết định trong một số
lĩnh vực, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, quyền bãi
miễn các chức vụ uỷ viên Uỷ ban châu Âu.
Toà án Châu Âu
Đặt trụ sở tại Luxembourg, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sư, do các chính phủ thoả
thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Toà án vai trò độc lập, quyền bác bỏ
những quy định của các tổ chức của Uỷ ban châu Âu, văn phòng chính phủ các
nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU.
Ngoài các quan trên, EU còn có: Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB), Toà
án kiểm toán Châu Âu, Uỷ ban kinh tế hội (EESC), Uỷ ban về khu vực,
Ngân hàng đầu tư Châu âu
Đồng tiền chung châu âu
Ý tưởng cho sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu đã từ ngay trog Hiệp ước
Rome trở thành chủ đề được lặp đi lặp lại trong các chương trình nghị sự Châu
Âu. Quá trình ra đời được chia làm 3 giai đoạn:
1. 1/7/1990 – 31/12/1993: Trong giai đoạn này, các nước thực hiện 3 nội dung:
Thực hiện tự do hoá lưu thông vốn thanh toán, tăng cường phối hợp giữa
các ngân hàng trung ương đảm bảo phối hợp chính sách tiền tệ nhằm ổn định
giá cả, tăng cường hợp tác các chính sách kinh tế
2. 1/1/1994 31/12/1998: Nội dung chính gồm: Tăng cường triển khai chiến
lược hội tụ về chính sách kinh tế thị trường giữa các nước thành viên, tạo
điều kiẹn cho đồng EUR ra đời. Hoàn chỉnh các công tác về mặt thể chế
(Ngân hàng Trung Ương châu Âu ra đời). Quyết định tỷ giá chuyển đổi, căn
cứ vào tiêu chuẩn đề ra để xét các nước đủ tiêu chuẩn tham gia đồng EUR.
Phê chuẩn đầu tiên 11 nước.
3. 1/1/1999 30/6/2002: Chính thức ra đời đồng tiền chung đi vào lưu
thông. Bước 1 lưu thông song song với đồng tiền quốc gia. Bước 2 thu
đổi đồng tiền quốc gia và ra đời đồng EUR giấy.
Ngày nay, Euro một trong những đồng tiền mạnh nhất thế giới, được sử dụng
bởi hơn 320 triệu công dân 24 quốc gia. 19 Quốc gia thành viên EU 5 quốc
gia châu Âu khác sử dụng đồng Euro. Đó là:
Andorra, Áo, Bỉ, Síp, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Kosovo,
Latvia, Luxembourg, Malta, Monaco, Montenegro, Lan, Bồ Đào Nha, San
Marino, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha và Thành phố Vatican.
Tác động của đồng tiền chung châu Âu
- Thị trường sẽ trở nên đồng nhất hiệu quả hơn: Cạnh trang trên thị trường
thương mại, thị trường vốn thị trường chứng khoán sẽ quyết liệt hơn, phạm vi
thị trường cũng được mở rộng hơn
- Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối: Làm biến mất các nghiệp vụ giao
dịch ngoại hối trực tiếp giữa các đồng tiền nội bộ khối với nhau hoặc các giao dịch
gián tiếp qua USD.
- Giảm rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro: Khi các đồng tiền bản tệ mất đi và nhường
chỗ cho một đồng tiền duy nhất tại các nước trong khối thì các rủi ro và chi phí bảo
hiểm rủi ro về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền bản tệ đó sẽ tự động mất đi.
- Khuyến khích đầu tư, kích thích tăng trưởng: Lãi suất các nước sau khi tham gia
khu vực đồng EUR có xu hướng giảm so với trước.
- Tăng cường hoạt động thương mại với các nước thành viên:Thúc đẩy thương mại
của các nước thành viên đặc biệt các thành viên trong khối. làm đa dạng hoá thị
trường chứng khoán, thúc đẩy hệ thống tiền tệ quốc tế phát triển theo hướng đa
cực. Khi đồng EUR ra đời với chức năng tiền tệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các
quốc gia đa dạng hoá dự trữ, thể một ngoại tệ mạnh dùng để phát triển các hoạt
động đối ngoại.
Thành tựu đạt được:
Với lien minh Châu âu , thị trường thông nhất là một chìa khóa chủ chốt tạo nên s
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Trong 10 năm kể từ năm 1992 đến năm 2002,
thị trường chung này đã góp phần làm tăng GDP lên 1,8% , tạo 2,5 triệu việc làm
nhờ chính sách bãi bỏ kiểm soát biên giới giữa các quốc gia trong cộng đồng, góp
phần tăng trưởng thương mại trong sản xuất hàng hóa tăng 30 % ,tăng chất lượng
hàng hóa và sức cạnh tranh .
EU là khối thương mại lớn nhất trên thế giới. Đây là nhà xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ sản xuất lớn nhất thế giới và là thị trường nhập khẩu lớn nhất của hơn 100
quốc gia. Thương mại tự do giữa các thành viên là một trong những nguyên tắc
sáng lập của EU. Điều này có thể thực hiện được nhờ thị trường đơn lẻ. Ngoài ra,
EU cũng cam kết tự do hóa thương mại thế giới.
Trong quý II/2021, kinh tế toàn cầu ghi nhận những diễn biến tích cực hơn trong
bối cảnhnhiều quốc gia đã kiểm soát được đại dịch Covid-19 nhờ việc triển khai
hàng loạt biện pháp siết chặt và nỗ lực đẩy nhanh tiến trình tiêm chủng vaccine.
Theo số liệu sơ bộ của Eurostat, Trong quý II/2021, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) của các nền kinh tế thành viên Liên minh EU tăng 13,7% so với cùng kỳ
năm trước và tăng 2% so với quý trước.
Quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu Âu
Năm 1990, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với EU ở cấp đại sứ.
Kể từ đó Việt Nam đã tích cực khai thác thương mại với EU. Đến nay EU là đối
tác thương mại của Việt Nam. Từ năm 1995, Việt Nam và EU ký hiệp định hợp tác
giành cho nhau chế độ tối hệ quốc, cam kết mở cửa thị trường cho nhau đến mức
tối đa có tính đến điều kiện đặc thù của mỗi bên và EU cam kết giành cho hàng hóa
xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi phổ cập.
Quan hệ Việt Nam - EU phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn chiều sâu đặt ra
yêu cầu xây dựng một khuôn khổ hợp tác mới, phản ánh được mối quan hệ đối tác
đang phát triển mạnh mẽ và xây dựng khuôn khổ pháp lý mới thay thế cho Hiệp
định khung Việt Nam - EC năm 1995.
Ngày 27/6/2012, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Đại diện cấp cao của
EU về chính sách đối ngoại và an ninh đã cùng ký chính thức Hiệp định PCA tại
Brussels, Bỉ. PCA giữa Việt Nam và EU đánh dấu một mốc mới trong quan hệ hợp
tác hai bên, thể hiện những bước phát triển to lớn, sâu rộng của quan hệ Việt Nam -
EU trong 20 năm qua, đồng thời tạo cơ sở pháp lý đưa quan hệ hợp tác Việt Nam –
EU bước sang một giai đoạn mới với phạm vi rộng lớn và mức độ hợp tác sâu sắc
hơn.
Hiệp định PCA mới, dựa trên cơ sở các mối quan tâm và nguyên tắc chung như
bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, nền pháp trị và quyền con người, sẽ mở ra một kỷ
nguyên mới trong quan hệ song phương. Hiệp định sẽ mở rộng thêm phạm vi hợp
tác của chúng ta trong các lĩnh vực như thương mại, môi trường, năng lượng, khoa
học và công nghệ, quản trị công hiệu quả, cũng như du lịch, văn hóa, di cư, chống
khủng bố và cuộc đấu tranh chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức. Hiệp định
PCA cũng tạo tiền đề quan trọng để hai Bên tiến hành đàm phán các Hiệp định
thương mại tự do (FTA) và hợp tác hướng tới sớm công nhận quy chế thị trường
của Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc thúc đẩy mối quan hệ với EU, bởi đây là
đối tác quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược của Việt Nam trong hợp tác
kinh tế, thương mại và đầu tư, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển và hội nhập
quốc tế, Việt Nam đã nỗ lực tiến hành đàm phán và đưa vào thực thi Hiệp định
Thương mại tự do (EVFTA); đồng thời đang tích cực thúc đẩy quá trình phê chuẩn
Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA).
EVFTA là Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả
Việt Nam và EU; củng cố mối quan hệ song phương theo định hướng chiến lược,
toàn diện và bền vững. Đây cũng là FTA đầu tiên mà EU ký kết với một nước đang
phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mức cam kết cao nhất mà một
đối tác dành cho Việt Nam trong số các FTA đã được ký kết. Hiệp định này là một
bước tiến quan trọng cả về chiến lược và kinh tế trong quan hệ với EU, góp phần
đẩy mạnh hoạt động giao thương, kết nối đầu tư, mang lại những lợi ích to lớn, cụ
thể và thiết thực cho nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân, tạo xung lực mới cho
mối quan hệ đối tác hợp tác toàn diện giữa Việt Nam – EU. Trong bối cảnh
EVFTA đi vào thực thi, EVFTA được kỳ vọng sẽ tạo cú huých mạnh mẽ cho xuất
khẩu, đặc biệt với các nhóm hàng trọng điểm như dệt may, da giày, nông thủy sản,
đồ gỗ…có thể coi EVFTA là hiệp định có chất lượng cao nhất. EVFTA có nội
dung toàn diện, không chỉ bao gồm các lĩnh vực thương mại truyền thống như
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, minh bạch hóa, pháp lý-thể chế... mà còn có các lĩnh vực
“phi truyền thống” như mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, thương
mại và phát triển bền vững... Cam kết trong nhiều lĩnh vực của Hiệp định EVFTA
đều cao hơn cam kết của Việt Nam và EU trong WTO.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, EU là đối tác quan trọng hàng
đầu trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Hai bên duy trì
tiếp xúc cấp cao; ký và triển khai hiệu quả nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng
(PCA, EVFTA, FPA, FLEGT), duy trì các cơ chế hợp tác và đối thoại định kỳ, góp
phần đưa quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam - EU lên một tầm cao
mới.
LỢI ÍCH
Có thể nói, EU đã đồng hành cùng Việt Nam trong suốt thời kỳ bắt đầu hội nhập
đầy khó khăn với những hoạt động hỗ trợ quan trọng. Thành tựu hội nhập quốc tế
mà Việt Nam đạt được có đóng góp không nhỏ từ EU. Từ một quốc gia bị bao vây,
cấm vận, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm
2007 với tư cách là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
tham gia đàm phán FTA với Trung Quốc (năm 2004), Hàn Quốc (năm 2005), Nhật
Bản (năm 2008), Ô-xtrây-li-a - Niu Di-lân (năm 2009), Hiệp định Đối tác toàn diện
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (năm 2018) và EVFTA (năm 2020)...
Hiệp định EVFTA được Việt Nam và EU khởi động và kết thúc đàm phán trong
bối cảnh mối quan hệ hai bên đang phát triển tốt đẹp về mọi mặt. Về thương mại-
đầu tư, tổng kim ngạch thương mại song phương đã tăng gần 11 lần, từ khoảng 4,1
tỷ đô la Mỹ năm 2000 lên hơn 45 tỷ đô la Mỹ năm 2016. EU luôn là một trong
những đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Đặc điểm nổi bật
trong cơ cấu thương mại giữa hai bên là tính bổ sung lớn về lợi thế và nhu cầu xuất
nhập khẩu, ít mặt hàng mang tính đối đầu, cạnh tranh trực tiếp. Đây chính là lý do
khiến Hiệp định EVFTA luôn được tin tưởng sẽ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho
doanh nghiệp và người dân của cả hai bên.
Việt Nam nhập khẩu từ EU chủ yếu vật tư, thiết bị nông nghiệp, các sản phẩm
chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
Kể từ 1/8/2020 khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU có hiệu lực, thương
mại nông lâm thủy sản giữa 2 bên ngày càng khởi sắc.
Hiện nay, EU là khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và châu Âu, là đối tác thương mại lớn hàng đầu và là thị trường xuất khẩu lớn
thứ 2 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Quan hệ thương mại Việt Nam - EU đã phát
triển rất nhanh chóng và hiệu quả; kim ngạch hai chiều tăng hơn 12 lần từ mức 4,1
tỷ USD năm 2000 lên gần 50 tỷ USD năm 2020; trong đó xuất khẩu của Việt Nam
vào EU tăng gần 13 lần từ 2,8 tỷ USD lên 35,1 tỷ USD năm 2020. Năm 2020, Việt
Nam tiếp tục là nước xuất siêu sang thị trường EU với thặng dư thương mại
29.307,1 triệu USD.
Có thể nói, sau 31 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, EU đã trở thành một trong
những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Trong thời gian tới, tình hình thị trường sẽ tiếp tục có những thay đổi; quá trình
toàn cầu hóa, khu vực hóa sẽ ngày càng mạnh mẽ và thiết thực hơn. Các nước EU
sẽ gia tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông thủy sản, rau quả nhiệt đới, trái
mùa và hữu cơ, cũng như các mặt hàng công nghiệp chủ lực của Việt Nam như dệt
may, da giày,đồ gỗ... Tuy nhiên, EU cũng là một thị trường khó tính, đòi hỏi đáp
ứng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật cao đối với hàng hóa nhập khẩu. Đây có thể
được nhìn nhận như thách thức xen lẫn cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam nâng
cao năng lực sản xuất nội tại, gia tăng sức cạnh tranh, phát triển xuất khẩu theo
hướng bền vững, tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Preview text:

Sự ra đời và phát triển
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union; còn được
gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU) là một liên minh chính trị và kinh tế bao gồm
27 quốc gia thành viên tại châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp
ước Maastricht vào ngày 1 tháng 1 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC).
Liên minh có tất cả lợi thế của một khu vực thương mại lớn, thống nhất nhưng vẫn
có xung đột chính trị giữa các quốc gia thành viên. EU đang cố gắng khắc phục
điểm yếu này thông qua một loạt các thỏa thuận và đàm phán thương mại. EU có
tên chính thức là Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu. Sự hình thành
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với xu thế toàn cầu hóa khuynh hướng liên kết
khu vực cũng diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, tiêu biểu là quá trình hình thành và phát triển của EU.
18/1/1951, hiệp ước Paris được kí kết giữa 6 nước Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan,
Lúcxămbua để thành lập “Cộng đông than thép Châu Âu” (ESCS), nhằm thống
nhất việc sản xuất và phối hợp than, thép của các nước thành viên. Hiệp ước này
chứa đựng ý đồ của các nhà sáng lập ESSC là gây dựng nền tảng cho việc nhất thể hóa kinh tế Châu Âu.
25/3/1957 sáu nước này kí hiệp ước Rooma thành lập “Cộng đồng nguyên tử Châu
Âu” (EURATOM) và “Cộng đồng kinh tế Châu Âu” (EEC). Năm 1958, Cộng
đồng Nguyên tử châu Âu.
Ngày 1/7/1967, ba tổ chức trên hợp nhất thành “Cộng đồng Châu Âu” (EC).
Đến tháng 12/1991 các nước thành viên EC đã kí tại Hà Lan bản hiệp ước
Maxtrich (Hà Lan), có hiệu lực từ ngày 1/1/1993, đổi tên thành Liên Minh Châu
Âu (EU) với 15 nước thành viên (1995).
Năm 2004 kết nạp thêm 10 nước. Với việc mở rộng lần thứ năm này, EU trở thành
một khối kinh tế và thị trường lớn nhất thế giới. năm 2007 thêm 2 nước, nâng tổng
số thành viên lên 27 nước.
EU ra đời không chỉ nhằm tập hợp giữa các nước thành viên trong lĩnh vực kinh tế,
tiền tệ mà còn liên minh trong lĩnh vực chính trị (như xác định luật công dân châu
âu, chính sách đối ngoại và an ninh chung, Hiến pháp chung…)
+ Về an ninh: Láy NATO và khối liên minh phòng thủ Tây Âu làm hai trụ cột
chính, tuy nhiên EU vẫn đang cố gắng tạo cho mình một cánh tay quân sự với bản
sắc riêng, tránh phụ thuộc vào Hoa Kì.
+ Về chính trị: Chính trị hoá các nhân tố kinh tế, an ninh, nghĩa là kết hợp các
phương tiện kinh tế và quân sự nhằm đạt được mục tiêu kinh tế.
+ Xã hội: Các nước thành viên đang áp dụng một chính sách chung về lao động,
bảo hiểm, môi trường, năng lượng, giáo dục, y tế (tuy nhiên một số lĩnh vực chưa thống nhất)
+ Kinh tế: Theo số liệu sơ bộ của Eurostat, trong quý II/2021, tổng sản phẩm trong
nước (GDP) của các nền kinh tế thành viên Liên minh EU tăng 13,7% so với cùng
kỳ năm trước và tăng 2% so với quý trước. Trong tháng 6/2021, Liên minh châu
Âu (EU) đã giải chi khoản tiền mặt đầu tiên từ quỹ phục hồi hậu Covid-19 để tạo
việc làm và hỗ trợ các doanh nghiệp ở các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
NỘI DUNG HỢP TÁC TRONG LIÊN MINH EU
Được thực hiện bởi các chính sách chung như sau:
Xây dựng và thực thi chính sách cạnh tranh của thị trường thống nhất. Chính sách
cạnh tranh của châu Âu dựa trên ba nội dung chính là: Chống độc quyền và lạm
dụng vị trí độc quyền của các doanh nghiệp, kiểm soát các hoạt động kinh doanh
của các nước thành viên, kiểm soát hỗ trợ nhà nước của các nước thành viên.
Xây dựng và thực thi chính sách nông nghiệp chung EU: CAP (chính sách nông
nghiệp chung) ra đời năm 1985 với nguyên tắc xúc tiến việc hình thành thị trường
chung cho các sản phẩm nông nghiệp của EU. Các mục tiêu CAP được xác định là:
Tăng năng suất nông nghiệp, tăng thu nhập và nâng cao mức sống người dân, tạo
thị trường ổn định. Tuy nhiên chính sách nông nghiệp chung mang nặng tính bao
cấp, bảo hộ và đòi hỏi chi phí tốn kém làm nảy sinh nhiều ảnh hưởng.
Xây dựng và thực thi chính sách thương mại chung: Kể từ khi thành lập Cộng đồng
kinh tế Châu Âu (1957) EEC, Hiệp ước Rome đã đưa ra một chính sách thương
mại chung. Việc hình thành một thị trường chung Châu Âu đã mang lại nhiều lợi
ích cho EU. EU thiết lập thị trường chung trong khối Để xóa bỏ những trở ngại
trong việc phát triển kinh tế trên cơ sở thực hiện bốn mặt của tự do lưu thông: tự do
lưu thông con người, tự đo lưu thông hàng hóa, tự do lưu thông tiền vốn, tự do lưu
thông dịch vụ. Tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của EU so với
các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới. Ý nghĩa của việc hình thành thị trường
chung châu Âu : Xóa bỏ những trở ngại trong việc phát triển kinh tế trên cơ sở
thực hiện bốn mặt của tự do lưu thông. Thực hiện chung một số chính sách thương
mại với các nước ngoài EU. Tăng cường sức mạnh và khả năng cạnh tranh của EU
với các trung tâm kinh tế khác trên thế giới.
Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ chung: Liên minh tiền tệ Châu Âu (EMU)
đã đẩy mạnh hơn nữa liên kế kinh tê, hướng tới một chính sách tiền tệ thống nhất
vì một đồng tiền chung. Năm tiêu chuẩn khi tham gia vào EMU là: Ổn định giá cả:
tỉ lệ lạm pháp không vượt quá 1,5% tỉ lệ lạm phát trung bình của ba nước thành
viên ổn định nhất; Ổn định tỷ giá: Các nước thành viên phải đạt được ổn định tỷ
giá theo cơ chế của EMU ít nhất hai năm liên tục; Hội tụ lãi suất dài hạn: Không
được vượt quá 2% lãi suất dài hạn trung bình của ba nước thực hiện tốt nhất; Thâm
hụt ngân sách: Đảm bảo dưới 3% GDP; Nợ công không được vượt quá 60% GDP.
Xây dựng và thực thi chính sách vùng và gắn kết kinh tế - xã hội: Quỹ phát triển
vùng Châu Âu hay còn gọi là quỹ cơ cấu được thành lập năm 1975, đến giai đoạn
hoàn thiện thị trường thống nhất, quỹ đã tăng nhanh và trở thành nguồn lực quan
trọng cho một chính sách vùng thực sự và đóng góp vào việc hội tụ kinh tế trong
liên minh trong giai đoạn liên kết chặt chẽ hơn sau này
Xây dựng và thực thi chính sách môi trường chung châu Âu: EU đã cam kết theo
đuổi mục tiêu giảm thiểu những tác nhân gây biến đổi khí hậu. Hội đồng Môi
trường (ENVI),chịu trách nhiệm về chính sách môi trường của EU, bao gồm bảo
vệ môi trường, sử dụng tài nguyên một cách thận trọng và bảo vệ sức khỏe con
người. Hội đồng cùng với Nghị viện Châu Âu, chịu trách nhiệm thông qua luật môi
trường nhằm bảo vệ môi trường sống tự nhiên, giữ cho không khí và nước sạch,
đảm bảo xử lý chất thải thích hợp, nâng cao kiến thức về các hóa chất độc hại và
giúp các doanh nghiệp hướng tới một nền kinh tế bền vững. Đồng thời cũng đảm
bảo rằng các khía cạnh môi trường được lồng ghép hợp lý vào các chính sách khác
của EU, chẳng hạn như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, năng lượng và dịch
vụ. Ở cấp độ quốc tế, EU và các nước thành viên nỗ lực đảm bảo rằng các tiêu
chuẩn môi trường của EU được phản ánh trong các hiệp định quốc tế về môi
trường và biến đổi khí hậu. Về vấn đề này, Hội đồng có trách nhiệm chuẩn bị các
vị trí của EU cho các hội nghị quốc tế và các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu.
Xây dựng thể chế và hoạch định chính sách tầm khu vực của EU: Quá trình hình
thành và phát triển của EU gắn liền với các hiệp ước. Các hiệp ước quy định quyền
hạn của các cơ quan quyền lực và các nguyên tắc hoạch định chính sách, nhằm
đảm bảo cho các hiệp ước được tuân thủ cũng như được các nước thành viên tôn
trọng và tuần thủ. Luôn có sự đổi mới trong việc cân bằng quyền lực giữa các thể
chế của EU nhằm bảo đảm cho quá trình hoạch định chính sách dân chủ hơn, hiệu quả hơn. Cơ cấu tổ chức
EU có năm cơ quan chính là: Hội đồng châu âu:
Là cơ quan quyền lực tối cao nhất của EU gồm lãnh đạo cao nhất của 27 nước
thành viên. Hội nghị của Hội đồng Châu Âu là Hội Nghị thượng đỉnh, thường họp
bốn lần một năm, chủ tịch Uỷ ban châu Âu và chủ tịch Hội đồng châu Âu chủ trì
các cuộc hội nghị. Hội đồng châu Âu ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng
thuận. trừ các ngoại lệ do hiệp ước quy định.
Hội đồng Bộ trưởng
Chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các Bộ trưởng
đại diện cho các thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ 6
tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Uỷ ban Đại diện Thường trực và Ban Tổng Thư ký.
Từ năm 1975, người đứng đầu nhà nước, hoặc đứng đầu chính phủ, các ngoại
trưởng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban châu Âu có các cuộc họp thường kỳ để
bàn quyết định những vấn đề lớn của EU. Cơ chế này gọi là Hội đồng châu Âu hay
Hội nghị Thượng đỉnh EU.
Hội đồng Bộ trưởng chính là cơ quan lãnh đạo tối cao của Liên minh châu Âu. Uỷ ban Châu Âu
Là cơ quan điều hành gồm 20 uỷ viên, nhiệm kỳ 5 năm do các chính phủ nhất trí
cử và chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện Châu Âu. Chủ tịch hiện nay là
Romano Prodi, cựu Thủ tướng Ý (được bầu tại cuộc họp Thượng đỉnh EU bất
thường ngày 23 tháng 3 năm 1999 tại Berlin). Dưới các uỷ viên là các Tổng Vụ
trưởng chuyên trách từng vấn đề, từng khu vực. Nghị viện Châu Âu
Gồm 732 Nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.
Trong Nghị viện các Nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo quốc tịch.
Nhiệm vụ: thông qua ngân sách, cùng Hội đồng Châu Âu quyết định trong một số
lĩnh vực, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của EU, có quyền bãi
miễn các chức vụ uỷ viên Uỷ ban châu Âu. Toà án Châu Âu
Đặt trụ sở tại Luxembourg, gồm 15 thẩm phán và 9 trạng sư, do các chính phủ thoả
thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Toà án có vai trò độc lập, có quyền bác bỏ
những quy định của các tổ chức của Uỷ ban châu Âu, văn phòng chính phủ các
nước nếu bị coi là không phù hợp với luật của EU.
Ngoài các cơ quan trên, EU còn có: Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB), Toà
án kiểm toán Châu Âu, Uỷ ban kinh tế và xã hội (EESC), Uỷ ban về khu vực,
Ngân hàng đầu tư Châu âu
Đồng tiền chung châu âu
Ý tưởng cho sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu đã có từ ngay trog Hiệp ước
Rome và trở thành chủ đề được lặp đi lặp lại trong các chương trình nghị sự Châu
Âu. Quá trình ra đời được chia làm 3 giai đoạn:
1. 1/7/1990 – 31/12/1993: Trong giai đoạn này, các nước thực hiện 3 nội dung:
Thực hiện tự do hoá lưu thông vốn và thanh toán, tăng cường phối hợp giữa
các ngân hàng trung ương đảm bảo phối hợp chính sách tiền tệ nhằm ổn định
giá cả, tăng cường hợp tác các chính sách kinh tế
2. 1/1/1994 – 31/12/1998: Nội dung chính gồm: Tăng cường triển khai chiến
lược hội tụ về chính sách kinh tế và thị trường giữa các nước thành viên, tạo
điều kiẹn cho đồng EUR ra đời. Hoàn chỉnh các công tác về mặt thể chế
(Ngân hàng Trung Ương châu Âu ra đời). Quyết định tỷ giá chuyển đổi, căn
cứ vào tiêu chuẩn đề ra để xét các nước đủ tiêu chuẩn tham gia đồng EUR.
Phê chuẩn đầu tiên 11 nước.
3. 1/1/1999 – 30/6/2002: Chính thức ra đời đồng tiền chung và đi vào lưu
thông. Bước 1 là lưu thông song song với đồng tiền quốc gia. Bước 2 là thu
đổi đồng tiền quốc gia và ra đời đồng EUR giấy.
Ngày nay, Euro là một trong những đồng tiền mạnh nhất thế giới, được sử dụng
bởi hơn 320 triệu công dân ở 24 quốc gia. 19 Quốc gia thành viên EU và 5 quốc
gia châu Âu khác sử dụng đồng Euro. Đó là:
Andorra, Áo, Bỉ, Síp, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Kosovo,
Latvia, Luxembourg, Malta, Monaco, Montenegro, Hà Lan, Bồ Đào Nha, San
Marino, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha và Thành phố Vatican.
Tác động của đồng tiền chung châu Âu
- Thị trường sẽ trở nên đồng nhất và có hiệu quả hơn: Cạnh trang trên thị trường
thương mại, thị trường vốn và thị trường chứng khoán sẽ quyết liệt hơn, phạm vi
thị trường cũng được mở rộng hơn
- Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối: Làm biến mất các nghiệp vụ giao
dịch ngoại hối trực tiếp giữa các đồng tiền nội bộ khối với nhau hoặc các giao dịch gián tiếp qua USD.
- Giảm rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro: Khi các đồng tiền bản tệ mất đi và nhường
chỗ cho một đồng tiền duy nhất tại các nước trong khối thì các rủi ro và chi phí bảo
hiểm rủi ro về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền bản tệ đó sẽ tự động mất đi.
- Khuyến khích đầu tư, kích thích tăng trưởng: Lãi suất các nước sau khi tham gia
khu vực đồng EUR có xu hướng giảm so với trước.
- Tăng cường hoạt động thương mại với các nước thành viên:Thúc đẩy thương mại
của các nước thành viên đặc biệt là các thành viên trong khối. làm đa dạng hoá thị
trường chứng khoán, thúc đẩy hệ thống tiền tệ quốc tế phát triển theo hướng đa
cực. Khi đồng EUR ra đời với chức năng tiền tệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các
quốc gia đa dạng hoá dự trữ, có thể một ngoại tệ mạnh dùng để phát triển các hoạt động đối ngoại.
Thành tựu đạt được:
Với lien minh Châu âu , thị trường thông nhất là một chìa khóa chủ chốt tạo nên sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Trong 10 năm kể từ năm 1992 đến năm 2002,
thị trường chung này đã góp phần làm tăng GDP lên 1,8% , tạo 2,5 triệu việc làm
nhờ chính sách bãi bỏ kiểm soát biên giới giữa các quốc gia trong cộng đồng, góp
phần tăng trưởng thương mại trong sản xuất hàng hóa tăng 30 % ,tăng chất lượng
hàng hóa và sức cạnh tranh .
EU là khối thương mại lớn nhất trên thế giới. Đây là nhà xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ sản xuất lớn nhất thế giới và là thị trường nhập khẩu lớn nhất của hơn 100
quốc gia. Thương mại tự do giữa các thành viên là một trong những nguyên tắc
sáng lập của EU. Điều này có thể thực hiện được nhờ thị trường đơn lẻ. Ngoài ra,
EU cũng cam kết tự do hóa thương mại thế giới.
Trong quý II/2021, kinh tế toàn cầu ghi nhận những diễn biến tích cực hơn trong
bối cảnhnhiều quốc gia đã kiểm soát được đại dịch Covid-19 nhờ việc triển khai
hàng loạt biện pháp siết chặt và nỗ lực đẩy nhanh tiến trình tiêm chủng vaccine.
Theo số liệu sơ bộ của Eurostat, Trong quý II/2021, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) của các nền kinh tế thành viên Liên minh EU tăng 13,7% so với cùng kỳ
năm trước và tăng 2% so với quý trước.
Quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu Âu
Năm 1990, Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với EU ở cấp đại sứ.
Kể từ đó Việt Nam đã tích cực khai thác thương mại với EU. Đến nay EU là đối
tác thương mại của Việt Nam. Từ năm 1995, Việt Nam và EU ký hiệp định hợp tác
giành cho nhau chế độ tối hệ quốc, cam kết mở cửa thị trường cho nhau đến mức
tối đa có tính đến điều kiện đặc thù của mỗi bên và EU cam kết giành cho hàng hóa
xuất xứ từ Việt Nam chế độ ưu đãi phổ cập.
Quan hệ Việt Nam - EU phát triển nhanh chóng cả về bề rộng lẫn chiều sâu đặt ra
yêu cầu xây dựng một khuôn khổ hợp tác mới, phản ánh được mối quan hệ đối tác
đang phát triển mạnh mẽ và xây dựng khuôn khổ pháp lý mới thay thế cho Hiệp
định khung Việt Nam - EC năm 1995.
Ngày 27/6/2012, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Đại diện cấp cao của
EU về chính sách đối ngoại và an ninh đã cùng ký chính thức Hiệp định PCA tại
Brussels, Bỉ. PCA giữa Việt Nam và EU đánh dấu một mốc mới trong quan hệ hợp
tác hai bên, thể hiện những bước phát triển to lớn, sâu rộng của quan hệ Việt Nam -
EU trong 20 năm qua, đồng thời tạo cơ sở pháp lý đưa quan hệ hợp tác Việt Nam –
EU bước sang một giai đoạn mới với phạm vi rộng lớn và mức độ hợp tác sâu sắc hơn.
Hiệp định PCA mới, dựa trên cơ sở các mối quan tâm và nguyên tắc chung như
bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, nền pháp trị và quyền con người, sẽ mở ra một kỷ
nguyên mới trong quan hệ song phương. Hiệp định sẽ mở rộng thêm phạm vi hợp
tác của chúng ta trong các lĩnh vực như thương mại, môi trường, năng lượng, khoa
học và công nghệ, quản trị công hiệu quả, cũng như du lịch, văn hóa, di cư, chống
khủng bố và cuộc đấu tranh chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức. Hiệp định
PCA cũng tạo tiền đề quan trọng để hai Bên tiến hành đàm phán các Hiệp định
thương mại tự do (FTA) và hợp tác hướng tới sớm công nhận quy chế thị trường của Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc thúc đẩy mối quan hệ với EU, bởi đây là
đối tác quan trọng hàng đầu, mang tính chiến lược của Việt Nam trong hợp tác
kinh tế, thương mại và đầu tư, hỗ trợ tích cực cho quá trình phát triển và hội nhập
quốc tế, Việt Nam đã nỗ lực tiến hành đàm phán và đưa vào thực thi Hiệp định
Thương mại tự do (EVFTA); đồng thời đang tích cực thúc đẩy quá trình phê chuẩn
Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA).
EVFTA là Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả
Việt Nam và EU; củng cố mối quan hệ song phương theo định hướng chiến lược,
toàn diện và bền vững. Đây cũng là FTA đầu tiên mà EU ký kết với một nước đang
phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mức cam kết cao nhất mà một
đối tác dành cho Việt Nam trong số các FTA đã được ký kết. Hiệp định này là một
bước tiến quan trọng cả về chiến lược và kinh tế trong quan hệ với EU, góp phần
đẩy mạnh hoạt động giao thương, kết nối đầu tư, mang lại những lợi ích to lớn, cụ
thể và thiết thực cho nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân, tạo xung lực mới cho
mối quan hệ đối tác hợp tác toàn diện giữa Việt Nam – EU. Trong bối cảnh
EVFTA đi vào thực thi, EVFTA được kỳ vọng sẽ tạo cú huých mạnh mẽ cho xuất
khẩu, đặc biệt với các nhóm hàng trọng điểm như dệt may, da giày, nông thủy sản,
đồ gỗ…có thể coi EVFTA là hiệp định có chất lượng cao nhất. EVFTA có nội
dung toàn diện, không chỉ bao gồm các lĩnh vực thương mại truyền thống như
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, minh bạch hóa, pháp lý-thể chế... mà còn có các lĩnh vực
“phi truyền thống” như mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh, thương
mại và phát triển bền vững... Cam kết trong nhiều lĩnh vực của Hiệp định EVFTA
đều cao hơn cam kết của Việt Nam và EU trong WTO.
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định, EU là đối tác quan trọng hàng
đầu trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Hai bên duy trì
tiếp xúc cấp cao; ký và triển khai hiệu quả nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng
(PCA, EVFTA, FPA, FLEGT), duy trì các cơ chế hợp tác và đối thoại định kỳ, góp
phần đưa quan hệ Đối tác và Hợp tác toàn diện Việt Nam - EU lên một tầm cao mới. LỢI ÍCH
Có thể nói, EU đã đồng hành cùng Việt Nam trong suốt thời kỳ bắt đầu hội nhập
đầy khó khăn với những hoạt động hỗ trợ quan trọng. Thành tựu hội nhập quốc tế
mà Việt Nam đạt được có đóng góp không nhỏ từ EU. Từ một quốc gia bị bao vây,
cấm vận, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm
2007 với tư cách là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),
tham gia đàm phán FTA với Trung Quốc (năm 2004), Hàn Quốc (năm 2005), Nhật
Bản (năm 2008), Ô-xtrây-li-a - Niu Di-lân (năm 2009), Hiệp định Đối tác toàn diện
và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (năm 2018) và EVFTA (năm 2020)...
Hiệp định EVFTA được Việt Nam và EU khởi động và kết thúc đàm phán trong
bối cảnh mối quan hệ hai bên đang phát triển tốt đẹp về mọi mặt. Về thương mại-
đầu tư, tổng kim ngạch thương mại song phương đã tăng gần 11 lần, từ khoảng 4,1
tỷ đô la Mỹ năm 2000 lên hơn 45 tỷ đô la Mỹ năm 2016. EU luôn là một trong
những đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam. Đặc điểm nổi bật
trong cơ cấu thương mại giữa hai bên là tính bổ sung lớn về lợi thế và nhu cầu xuất
nhập khẩu, ít mặt hàng mang tính đối đầu, cạnh tranh trực tiếp. Đây chính là lý do
khiến Hiệp định EVFTA luôn được tin tưởng sẽ mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho
doanh nghiệp và người dân của cả hai bên.
Việt Nam nhập khẩu từ EU chủ yếu vật tư, thiết bị nông nghiệp, các sản phẩm
chăn nuôi và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
Kể từ 1/8/2020 khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU có hiệu lực, thương
mại nông lâm thủy sản giữa 2 bên ngày càng khởi sắc.
Hiện nay, EU là khu vực chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và châu Âu, là đối tác thương mại lớn hàng đầu và là thị trường xuất khẩu lớn
thứ 2 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ). Quan hệ thương mại Việt Nam - EU đã phát
triển rất nhanh chóng và hiệu quả; kim ngạch hai chiều tăng hơn 12 lần từ mức 4,1
tỷ USD năm 2000 lên gần 50 tỷ USD năm 2020; trong đó xuất khẩu của Việt Nam
vào EU tăng gần 13 lần từ 2,8 tỷ USD lên 35,1 tỷ USD năm 2020. Năm 2020, Việt
Nam tiếp tục là nước xuất siêu sang thị trường EU với thặng dư thương mại 29.307,1 triệu USD.
Có thể nói, sau 31 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, EU đã trở thành một trong
những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là
kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Trong thời gian tới, tình hình thị trường sẽ tiếp tục có những thay đổi; quá trình
toàn cầu hóa, khu vực hóa sẽ ngày càng mạnh mẽ và thiết thực hơn. Các nước EU
sẽ gia tăng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm nông thủy sản, rau quả nhiệt đới, trái
mùa và hữu cơ, cũng như các mặt hàng công nghiệp chủ lực của Việt Nam như dệt
may, da giày,đồ gỗ... Tuy nhiên, EU cũng là một thị trường khó tính, đòi hỏi đáp
ứng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật cao đối với hàng hóa nhập khẩu. Đây có thể
được nhìn nhận như thách thức xen lẫn cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam nâng
cao năng lực sản xuất nội tại, gia tăng sức cạnh tranh, phát triển xuất khẩu theo
hướng bền vững, tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.