Chương 2 : c13 Cặp phạm trù cái riêng -cái chung.(208)/57
C14 cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả 216/59
Câu 15 tất yếu -ngẫu nhiên 219/61
Cau16 nội dung-hình thức222//63
Bản chất -hiện tượng225/65
Khả năng -hiện thực228/66
Câu 1: Mối quan hệ biện chứng giữa v/c và ý thức
1.KN vật chất: Theo Lênin vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, đc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Phân tích định nghĩa vat chat: 128
Ý nghĩa phương pháp luận vật chất:132
2.KN ý thức: Là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Phân tích định nghĩa:
- Phản ánh tính năng động sáng tạo: ý thực là sự phản ánh, nhưng không phải
đơn thuần phản ánh y nguyên sự vật mà có sự chọn lọc theo mục đích, yêu cầu của
con người, có thể dự báo những khía cạnh mới, thuộc tính mới.
 Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó.
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra
những ảo tưởng, huyền ảo.
- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất
kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính
xã hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện
tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan hệ
xã hội khách quan.
 Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến khi nào con
người còn tồn tại.
Nguồn gốc của ý thức: Thứ nhất, nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan và con người
được nhận định là các yếu tố tự nhiên là sự bắt nguồn và cũng là nguồn gốc tự
nhiên của ý thức. Sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới khách quan
là do có sự tác động của thế giới khách quan tới bộ óc của con người tạo ra khả
năng về sự hình thành ý này. Như vậy, có thể nhận định một điều rằng sự phản
ánh về thế giới khách quan từ con người được xem là ý thức.
Mà trong đó, phản ảnh được hiểu là sự sự tái tạo về đặc điểm dạng vật chất này
bởi dạng vật chất khác khi tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh sinh
học, phản ánh tâm lý, phản ánh vật lý hóa học, phản ánh năng động sáng tạo
được hiểu là hình thức của những sự phản ánh và phản ánh là một thuộc tính t
tất cả các dạng vật chất.
Một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất vô sinh là phản ánh về hóa
học vật lý. Những biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫn nhau bởi các
dạng vật chất vô sinh được nhận định là phản ánh về hóa học vật lý. Hình thức
được phản ánh chỉ mang tính thụ động của vật nhận tác động chứ phản ánh chưa
định hướng lựa chọn.
Phản ánh tâm lý được nhận định là sự phản ánh cho động vật đặc trưng đã được
phát triển đến trình độ mà có hệ thần kinh trung ương, phản ánh này thể hiện
dưới cơ chế phản xạ có điều kiện lên những tác động môi trường sống.
Hình thức để phản ánh năng động và sáng tạo bởi con người đó chính là phản
ánh ý thức.
Hình thức được phản ánh cao hơn và đặc trưng giới tự nhiên hữu sinh đó là phản
ánh sinh học. Quá trình phát triển giới tự nhiên hữu sinh, được thể hiện qua tính
kích thích, phản xạ và tính cảm ứng.
Thứ hai, nguồn gốc xã hội của ý thức bao gồm các nhân tố cơ bản nhất như lao
động và ngôn ngữ, nó trực tiếp tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức.
Một quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tự nhiên để thay
đổi giới tự nhiên phù hợp nhu cầu con người được nhận định là lao động. Còn
cái vỏ của vật chất từ ý thức, hình thức vật chất nhân tạo có vai trò trong thể
hiện, lưu trữ nội dung ý thức thì chính là ngôn ngữ.
Bản chất của ý thức?
Ý thức, nói một cách đơn giản nhất, là sự gửi gắm hay nhận thức về sự tồn tại
bên trong và bên ngoài. Bất chấp hàng thiên niên kỷ phân tích, định nghĩa, giải
thích và tranh luận của các triết gia và nhà khoa học, ý thức vẫn còn là điều khó
hiểu và gây tranh cãi, là “khía cạnh quen thuộc nhất và [cũng] bí ẩn nhất trong
cuộc sống của chúng ta”. Có lẽ khái niệm duy nhất được đồng ý rộng rãi về chủ
đề này là trực giác rằng ý thức tồn tại.
Các ý kiến khác nhau về những gì chính xác cần được nghiên cứu và giải thích
là ý thức. Đôi khi, nó đồng nghĩa với tâm trí, và những lúc khác, một khía cạnh
của tâm trí. Trong quá khứ, đó là “cuộc sống bên trong” của một người, thế giới
của nội tâm, của suy nghĩ, trí tưởng tượng và hành động riêng tư. Ngày nay, nó
thường bao gồm bất kỳ loại nhận thức, kinh nghiệm, cảm giác hoặc nhận thức
nào.
Nó có thể là nhận thức, nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về bản thân liên
tục thay đổi hoặc không. Có thể có các cấp độ hoặc trật tự ý thức khác nhau,
hoặc các loại ý thức khác nhau, hoặc chỉ một loại với các tính năng khác nhau.
Các câu hỏi khác bao gồm liệu chỉ con người có ý thức, tất cả các loài động vật,
hay thậm chí toàn bộ vũ trụ. Phạm vi nghiên cứu, quan niệm và suy đoán khác
nhau làm dấy lên nghi ngờ về việc liệu có đúng câu hỏi được đặt ra hay không
Đối với bản chất của ý thức đã được nhận định bằng nhiều ý kiến và quan điểm
khác nhau, và chưa có nhận định chung về bản chất của ý thức
Theo triết học duy tâm quan niệm: ” Ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại
duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra
vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất”.
Theo các nhà triết học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý
thức là sự phản ánh sự vật đó. Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý
luận phản ánh: “về bản chất, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan”.
Do đó, để hiểu về bản chất của ý thức cần dựa trên các yếu tố sau:
– Thứ nhất, vât chất và ý thức được chúng ta thừa nhận nhưng giữa chúng có sự
khác nhau mang tính đối lập. Trong đó, vật chất là cái được phản ánh, còn ý
thức là sự phản ánh, là cái phản ánh. Ý thức là hiện thực chủ quan, là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan. Trong khi đó, vật chất tồn tại khách quan, ở
ngoài và độc lập với ý thức.
+Thứ hai, những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan đó chính là ý thứ.
+ Thứ ba ý thức là một hiện tượng xã hội.
Y nghĩa phương pháp luận của ý thức :
1.Xuất phát từ quan hệ khách hàng thế giới trong nhận thức và thực hiện
hoạt động
Do ý thức là phản ánh thế giới của khách hàng vào trong bộ phận, nên trong
nhận thức và hoạt động thực hiện, chúng ta phải bắt đầu từ khách hàng thế giới
(Tức là, ta phải nghiên cứu đối tượng, tìm kiếm từ bên ngoài các vật chất đối
tượng, bộ phận phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các vật chất đó)
- Ta cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí.
(Tức là chống lại việc sử dụng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để
đóng vai trò cho các vật chất)
- Cần xóa bỏ quan hệ thống, sử dụng mong muốn chủ quản của cá nhân mình để
áp dụng thành chỉ tiêu cho quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng
2.Tự giác phát huy tính, chủ động của con người:
- Do ý thức là phản ánh năng lượng, sáng tạo ra thế giới khách quan, chúng ta
cần phát huy hết sức tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động
thực thi. Cần quyết định chống lại tư duy giáo dục, cứng nhắc, lý thuyết suông,…
về sự vật, hiện tượng.
- Ta cần phát huy hết trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao
động. Luôn luôn lực lượng bài trừ diệt trừ động, ỷ lại, quân chủ nghĩa
Đối với phương pháp luận trong kinh tế học, các nhà kinh tế có thể chấp nhận
những phương pháp luận trong ngành tự nhiên, nhưng thực tiễn xã hội là một hệ thống mở.
Đó có thể là có nhiều biến số can thiệp, hoặc không nhất thiết phải kiểm soát mọi
yếu tố như trong phòng thí nghiệm
Về chủ nghĩa thực chứng, lý thuyết phải nhất quán với nhau và thể hiện được sự
logic của nội dung. Ví dụ một số phát biểu về phương pháp luận “Không gì có thể
được chứng minh là luôn luôn đúng”:
Chúng ta không bao giờ chắc chắn được rằng mô hình của mình là hoàn
chỉnh hoặc đã thiết lập quan hệ nhân quả.
Chúng ta tiến bộ nhờ chứng minh vấn đề là sai bằng cách lặp lại các thử
nghiệm và loại bỏ những vướng mắc không có tác dụng
3.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua
lại lẫn nhau. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như
sau
Vật chất có vai trò quyết định ý thức174
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất 178
Ý nghĩa phương pháp luận mối quan hệ/ 180
Liên hệ bản thân với mối quan hệ vật chất và ý thức
Thứ nhất: Bản thân phải xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống hàng
ngày, vì vật chấtquyết định ý thức nên con người cần phải ý thức được những vật chất của cuộc
sống còn thiếu thốn để có hànhđộng phù hợp với thực tế khách quan.
Thứ hai: Phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động hàng ngày. Kết cấu của ý
thức thì tri thứclà quan trọng nhất nên mỗi chúng ta cần chú trọng phát triển tri thức của bảnthân.
Thứ ba: Cần phải tiếp thu có chọn lọc kiến thức mới và không chủ quan trong mọi tình huống.
Thứ tư: Khi giải thích một hiện tượng cần phải xét có yếu tố vật chất lẫn tinh thần, cả yếu tố
khách quan và điều kiện khách quan
Vận dụng đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắc bệnh chủ
quanduy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và
cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế .
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm
lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp. Văn kiện Đại Hội
toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuấtphát từ thực tế, tôn
trọng và hành động theo qui luật khách quan". Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa
nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được
xuất phát từ ý muốn chủ quan. Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức
đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật kháchquan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý
luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là
xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Trong bỗi dưỡng,
phát huy nhân tố con người, phải chú trọng nâng cao đời sống vật chất, đồng thời phải chú ý
nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần. Đảng ta chủ trương “phát triển kinh tế là trung tâm”, “làm
cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. “Kết hợp chặt chẽ giữa tăng
trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ, văn hóa,
khoa học-kỹ thuật, khơi dậy lòng yêu nước, phát huy đầy đủ tính năng động, ý chí sáng tạo của
con người trong việc nhận thức, cải tạo và phát triển xã hội.Hiện nay, trong tình hình đổi mới của
cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả
lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng,tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học
công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức
mà cách mạng nước ta trãi qua
Câu 2: Hai nguyên lí của phép biện chứng duy vật
biện chứng được chia thành 2 loại:
-Biện chứng khách quan: Là biện chứng của thế giới vật chất, tồn tại khách quan độc lập với ý
thức của con người.
-Biện chứng chủ quan:Biện chứng của sự thống nhất giữa logic biện chứng, phép biện chứng và
lý luận nhận thức, là tư duy biện chứng và biện chứng của quá trình phản ánh hiện thực khách
quan vào bộ óc của con người.Bởi vậy, biện chứng chủ quan một mặt phản ánh thế giới khách
quan, mặt khác phản ánh những quy luật của tư duy biện chứng
Khái niệm phép biện chứng duy vật: Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát
biện chứng của thế giới thành các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp
luận khoa học”
Đặc điểm và vai trò của PBCDV:
-Đặc điểm: Là sự sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng;
giữa lý luận nhận thức và lôgíc biện chứng; được chứng minh bằng sự phát triển của khoa học tự
nhiên trước đó.
-Vai trò:Là phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn để giải thích quá trình phát triển của
sự vật và nghiên cứu khoa học.
2 nguyên lý phép biện chứng duy vật
1. Khái nệm Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 189
T/c của mối liên hệ : 193
=>Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát toàn cảnh thế giới trong những mối liên
hệ chẵng chịt giữa các sự vật, hiện tượng. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới, luôn
luôn tồn tại trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng
nào tồn tại cô lập, riêng lẻ, không liên hệ với nhau
Ý nghĩa phương pháp luận 195
Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam:
+ Đảng ta đưa ra những đổi mới trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, xã
hội, văn hóa, tư tưởng…) chứ không ở một lĩnh vực nào. Như Đại hội VII của Đảng nêu kinh
nghiệm bước đầu đổi mới “Một là phải giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới, hai
là đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi hình thức và cách làm phùhợp”.
Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội. Trên
từng lĩnh vực nội dung đổi mới bao gồm nhiều mặt đổi mới cơ chế, chính sách tổ chức, cán bộ,
phong cách và lề lối làm việc.
+ Đổi mới toàn diện trên tất cả lĩnh vực, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm như xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường để tạo ra động lực nhằm phát huy, kiến trúc nền kinh tế trong
nhân dân, khai thác vốn đầu tư và trình độ cũng như vốn của nước ngoài, nâng cao tay nghề, tiếp
thu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đã gia nhập
WTO, tạo ra rất nhiều thuận lợi cho kinh tế VN ngày càng đi lên hội nhập toàn cầu hóa kinh tế
thế giới. Đó là sự vận dụng hết sức sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào sự nghiệp cách mạng
VN đặc biệt là vận dụng nguyên lý của mối liên hệ phổ biến
2.Nguyên lý về sự phát triển
Khái niệm196
-Những quan niệm khách nhau về sự phát triển:
Quan điểm siêu hình: phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa mặt ổn định
* Phát triển chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần hoàn,lặp đi, lặp lại mà
không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự vật,hiện tượng mới
* Những người theo quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong
quá trình tồn tại của chúng. Sự vật ra đời với những chấtnhư thế nào thì toàn bộ quá trình tồn tại
của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng
chỉ diễn ra trong một vòng khép kín
* Sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước quanh co, thăng trầm,
phức tạpQuan điểm biện chứng: đối lập với quan điểm siêu hình
* Phát triển là sự vận động đi lên, là quá trình tiến lên thông qua bước nhảy; sựvật, hiện tượng cũ
mất đi, sự vật, hiện tượng mới ra đời thay thế không phảilúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo
đường thẳng, mà rất quanh co, phứctạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời
* Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất, là
quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc, có kế thừa, có sựdường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ
nhưng trên cơ sở cao hơn
Quan điểm biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trongbản thân sự vật, đó là
do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Nói cáchkhác, đó là quá trình giải quyết liên tục mâu
thuẫn trong bản thân sự vật, do đó cũng là quá trình tự thân vận động, phát triển và chuyển hóa
của mọi sựvật
-Trong phép biện chứng duy vật, phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt củavận động, nó chỉ
khái quát xu hướng chung của vận động là vận động đi lêncủa sự vật, hiện tượng mới trong quá
trình thay thế sự vật, hiện tượng cũ
Tính chất của sự phát triển 202
Ý nghĩa phương pháp luận:202
Vận dụng nguyên lý của sự phát triển trong hoạt động học tập:
Học và luyện tập để nhằm mục đích có thêm các hiểu biết, để thông qua đó sẽ có các
kỹ năng, để chúng ta sẽ có thể gặt hái được tri thức cho bản thân. Học hay còn gọi là
học tập, học hành, học hỏi cũng được hiểu chính là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ
sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và
học tập cũng có thể liên quan đến việc tổng hợp các thông tin khác nhau. Học và rèn
luyện là nhằm để có thể trang bị các kỹ năng và tri thức: kết quả học tập, siêng năng
học tập. Làm theo gương tốt: học tập lẫn nhau, học tập kinh nghiệm. Hay theo các nhà
tâm lý thì ta hiểu học tập là một sự thay đổi tương đối lâu dài về hành vi, là kết quả
của các trãi nghiệm. Học tập còn là để có thể hiểu sâu, hiểu rộng hơn vấn đề, lĩnh vựcmà ta muốn
biết từ đó sẽ giúp ta trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, làm tăng sự sáng tạovà trí tuệ, để thông qua
đó chúng ta áp dụng được vào đời sống và xã hội.Việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong
học tập có vai trò quan trọng và nócũng mang ý nghĩa rất to lớn trong đời sống, đặc biệt là với
các đối tượng sinh viên đểtừ đó sẽ có thể phát triển và hoàn thiện bản thân.
Câu 3: Quy luật lượng, chất
-KN chất : 238
-KN lượng: 240
MQH biện chứng giữa lượng và chất:
1. Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
-Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn,
mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
- Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã
đủ làm thay đổi về chất của sự vật
- Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy. Do đó, bước nhảy là phạm trù triết
học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra.
- Bước nhảy là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng là sự
gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy, có thể nói phát triển là sự “đứt
đoạn” trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút. Bước nhảy không chấm dứt sự vận
động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của sự vật. Trong sự vật mới, lượng mới lại
biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới.
2. Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng
Quy luật lượng-chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về
chất mà còn có chiều ngược lại. Chiều ngược lại có nghĩa là: khi chất mới đã ra đời, nó lại tạo ra
một lượng mới phù hợp với nó, để có một sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định
này được biểu diễn ở quy mô, ở mức độ và nhịp điệu phát triển mới của lượng.
Tóm lại, quy luật lượng-chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật vàhiện tượng. Trước hết,
lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểmnút, điểm giới hạn của sự thống nhất giữa
chất và lượng sẽ dẫn đến bước nhảyvề chất. Chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa
chất và lượng. Quátrình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi,
pháttriển.
-Bước nhảy dần dần: là quá trình thay đổi về chất được diễn ra trong một thờigian dài. VD: Qúa
trình cách mạng đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạchậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một
thời kỳ lâu dài qua nhiều bước nhảy dầndần.Vì là một quá trình phức tạp, trong đó có cả sự tuần
tự lẫn những bước nhảydiễn ra ở từng bộ phận của sự vật ấy.
-Bước nhảy toàn bộ: làm thay đổi căn bản về chất của sự vật ở tất cả các mặt các bộ phận các yếu
tố cấu thành nên sự vật·Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi một số yếu tố 1 số bộ phận
của sự vật của chất. VD: như trong hiện thực, các sự vật có thuộc tính đa dạng, phong phú nên
muốn thực hiện bước nhảy toàn bộ phải thông qua những bước nhảy cục bộ. Sự quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta đang diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ, tức
là chúng ta đang thực hiệnnhững bước nhảy cục bộ ở lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực
xã hộivà lĩnh vực tinh thần xã hội để đi đến bước nhảy toàn bộ - xây dựng thành côngchủ nghĩa
xã hội trên đất nước ta.
Y nghĩa phương pháp luân/244
vận dụng của nhà nước ta
Khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta đã nóng vội xây dựng quan hệ
sản xuất một thành phần, dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần
kinh tế khác bị coi là một bộ phận đối lập với kinh tế XHCN, vì vậy nằm trong diện phải cải tạo
xóa bỏ, làm như vậy chúng ta đã đẩy quan hệ SX đi quá xa so với trình độ phát triển của lượng
lực sản xuất. Tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là lực lượng sản xuất thấp kém, với một bên là quan
hệ sản xuất đã được xã hội hóa giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của LLSX. Hay nói cách
khác, LLSX của chúng ta còn quá thấp kém,chưa tích lũy đủ về lượng (tính chấtvà trình độ) đã
vội thay đổi chất (Quan hệ sản xuất) làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoàng kinh tế -
xã hội. Nhờ có nhận thức đúng đắn, đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát
triển kinh tế thị trường; quyết định chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị
trường định hướng XHCN; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, kiên trì lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham
gia. Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực và hiệu quả hơn. Mở
rộng, phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng tốt vai trò làm chủ về kinh tế
của nhân dân. Vai trò lãnh đạo cũng như nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng rõ nét, theo đó đã xác định tiếp
tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng, tăng cường
lãnh đạo và kiểm tra về phát triển kinh tế
Câu 4: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ( Quy luật mâu thuẫn)
-KN mâu thuẫn: là một phạm trù dùng để chỉ sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt
đối lập trong cùng 1 SVHT(Sự vật hiên tượng).
-KN mặt đối lập : là 1 phạm trù dùng đẻ chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng
vận động trái ngược nhau và làm nên chỉnh thể 1 SVHT.
2 mặt đối lập phải thõa mãn đầy đủ 2 điều kiện sau mới tạo thành mâu thuẫn:
+Có xu hướng vận động trái ngược nhau
+Làm nên chỉnh thể 1 SVHT
2 mặt đối lập như vậy gọi là 2 mặt đối lập biện chứng, chúng liên hệ với nhau hình thành nên
mâu thuẫn biện chứng.
* Tính chất chung của mâu thuẫn
-Vì mâu thuẫn cũng là mối liên hệ nhưng không phải bất kì các mối liên hệ nào mà chỉ là mối
liên hệ giữa các mặt đối lập => Mâu thuẫn có đầy đủ các tính chất chung của mối liên hệ
+tính khách quan: mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại độc lập, không phụ
thuộc vào ý thức của con người; nói cách khác, mâu thuẫn là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện
tượng.
+Tính phổ biến mọi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy đều
tồn tại mẫu thuẫn. Chỉ có sự khác nhau giữa mâu thuẫn đã phát hiện ra và mâu thuẫn chưa phát
hiện ra
+ tính đa dạng: mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực khác nhau, qua từng giai đoạn phát
triển, mâu thuẫn có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát triển của sự vật.
Đó là mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu thuẫn bên trong và bên ngoài…
c. Nội dung quy luật Sự thống nhất của các mặt đối lập
- Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng và được thể
hiện ở
+ Thứ nhất, các mặt đối lập cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại,
không có mặt này thì không có mặt kia.
+ Thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu tranh giữa cái
mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn.
+ Thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng, đồng nhất do trong các mặt đối lập còn tồn
tại những yếu tố giống nhau.-Ví dụ: Trong mỗi con người, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết rõ
ràng là các mặt đối lập. Nhưng chúng phải nương tựa nhau, không tách rời nhau. Nếu có hoạt
độngăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không thể sống được. Như vậy, hoạt động
ăn và hoạt động bài tiết thống nhất với nhau ở khía cạnh này.
- Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo
hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng.
-Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, có điều kiện, nghĩa là
sự thống nhất đó chỉ tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật, hiện tượng.
Sự đấu tranh có tính tuyệt đối, nghĩa là đấu tranh phá vỡ sự ổn định tương đối của
chúng dẫn đến sự chuyển hóa về chất của chúng
-Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập phát triển làm mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc
và khi đến một mức độ nhất định, trong điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải
quyết, sự vật, hiện tượng chuyển hóa.
-Sự vật, hiện tượng mới ra đời tự nó lại có mặt đối lập mới, có mâu thuẫn mới, có quá
trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
ý nghĩa phương pháp luận: 250
Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào quá trình học tập của bản thân:
Học là một quá trình phát triển tri thức, tư duy và áp dụng chúng vào trong đời sống
thực tế. Vậy nên quá trình học cũng tồn tại sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập để tạo nên những cái mới, những kiến thức nhằm phát triển năng lực mỗi cá nhân.
Và trong sự nghiệp học tập của mình, em đã vận dụng quy luật này như sau:
Thừa nhận và tôn trọng mâu thuẫn.
- Mâu thuẫn là những thuộc tính vốn có của sự vật, chúng ta cần phải luôn luôn tìm hiểu
để phát hiện mâu thuẫn, từ đó nắm bắt bản chất và khuynh hướng phát triển của các mặt đối lập.
- Đối với em, tôn trọng mâu thuẫn trong học tập chính là phải tìm hiểu đầy đủ các thông
tin cần thiết để phục vụ cho quá trình học của mình. Chẳng hạn để chuẩn bị trở thành
một sinh viên năm nhất, em đã tìm hiểu đầy đủ chương trình học của mình, xác định
định hướng và mục tiêu của bản thân để chọn ra những môn học phù hợp, vạch ra kế
hoạch học tập, rèn luyện cho bốn năm đại học của mình và thực hiện kế hoạch đó để
đạt được đích đến mà bản thân đề ra.
Không né tránh mâu thuẫn mà phải đối diện, khắc phục nó.
- Khi gặp bất cứ vấn đề nào, sợ hãi và lẩn trốn sẽ không giúp được gì cho chúng ta, vậy
nên ta không thể tránh né mâu thuẫn mà phải xem xét, phân tích cụ thể nó để tìm ra
phương án giải quyết. Từ đó ta mới có thể có thêm kinh nghiệm để phát triển bản thân.
- Trong việc học cũng vậy, khi gặp một bài toán khó hoặc những bài tập không thể giải
được, em thường nỗ lực tìm tòi trên các trang mạng, các diễn đàn học tập hoặc trực
tiếp hỏi giảng viên, anh chị, bạn bè cách làm. Việc không từ bỏ trước khó khăn giúp
em có thể nâng cao vốn kiến thức, biết được mình nên làm gì nếu gặp lại dạng bài đó
và hình thành thói quen tìm tòi, học hỏi cho bản thân.
Phải liên tục tìm tòi, đổi mới, sáng tạo trong tri thức.
- Mâu thuẫn là nguyên nhân làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời, sự tồn tại của mâu
thuẫn khiến chúng ta nhận thức được rằng kiến thức không bao giờ là đủ. Khi ta giải
quyết được một vấn đề cũ thì sẽ tiếp tục gặp được rất nhiều vấn đề mới khác nên bắt
buộc chúng ta phải luôn đổi mới, sáng tạo.
- Là một sinh viên trong xã hội hiện đại, em nhận thức được kho tàng kiến thức không
chỉ nằm trong những bài giảng của thầy cô, trong giáo trình mình học mà còn liên
quan đến rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Vậy nên em không cho phép mình ngủ
quên trên một vài kiến thức nhất định nào mà thay vào đó em phải đi tìm tòi, học hỏi
thêm những điều mới. Sau khi học xong trên lớp, em phải xem lại bài hôm đó và tìm
thêm những bài tập có liên quan để tiếp thu thêm những điều không được dạy.
- Ngoài ra, việc thường xuyên đọc sách cũng khiến em mở mang đầu óc và nâng cao
tính sáng tạo của mình hơn.
- Bên cạnh việc học lý thuyết, em cũng nỗ lực trau dồi thêm kỹ năng mềm cho bản thân
để thích ứng kịp với xã hội đang ngày càng phát triển và hội nhập.
Phải tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống.
- Kiến thức luôn rất đa dạng và phong phú nên ta buộc ta phải dần bài trừ những cái cũ,
không còn phù hợp và tiếp thu cái mới. Thế nhưng, quá trình này không thể diễn ra
nóng vội và bảo thủ. Chúng ta không thể vội vã tiếp thu những điều mới mà không
chọn lọc cũng như không thể cứ khư khư làm theo những quy tắc cũ, lỗi thời. Quy luật
mâu thuẫn cho chúng ta nhận thức rằng phải dựa trên những cái cũ, duy trì những điều
tốt của cái cũ để phát triển ra những cái mới và làm việc một cách có trình tự, hệ thống.
- Để có thể bước chân được vào đại học là một quá trình em phải học tập tích lũy kiến
thức từ bậc tiểu học đến hết bậc trung học cơ sở, lấy cơ sở kiến thức của lớp trước để
tiếp thu những kiến thức mới của lớp sau.
Câu 5: Quy luật phủ định của phủ định
Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
Sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật, hiện tượng
khác; thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thế tồn tại khác của cùng một sự vật trong quá trình
vận động, phát triển của nó. Sự thay thế đó gọi là sự phủ định.
Phủ định siêu hình: để hiểu phủ định biện chứng trước hết cần phủ định siêu hình là gì. Phủ định
siêu hình là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo,
không tạo cho cái mới ra đời, lực lượng phủ định là ởbên ngoài sự vật.Phủ định biện chứng là
phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu quan trọng
trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ.
Phủ định biện chứng có các đặc trưng cơ bản sau: tính khách quan và tính kế thừa.
Đặc điểm của phủ định biện chứng:
+ Có tính kế thừa: có sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới, không phủ định sạch trơn hoàn toàn cái
cũ, mà kế thừa có lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp
Nội dung quy luật:
Thứ nhất, phủ định của phủ định là khái niệm nói lên rằng sự vận động, phát triển của sự vật
thông qua hai lần phủ định biện chứng, dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng
cao hơn.
Thứ hai, phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình. Sau những lần
phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đó sẽ ra đời sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống với sự
vật ban đầu (xuất phát) song không phải giống nguyênnhư cũ, dường như lặp lại cái cũ nhưng
cao hơn.
Thứ ba, sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là
điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường xoáy ốc của sự phát triển. Mỗi
đường mới của đường xoáy ốc thể hiển một trình độ cao hơn của sự phát triển. Sự nối tiếp nhau
của các vòng xoáy ốc thể hiển tính vô tận của sự phát triển
Thứ tư, phủ định của phủ định, ngoài hai đặc trưng như ở phủ định biện chứng còn có thêm đặc
trưng – có tính chu kỳ.
Thứ năm, trong hiện thực, một chu kỳ phát triển của sự vật có thể bao gồm nhiều lần phủ định
biện chứng
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định/256
3.Vận dụng thực tiễn vào nhận thức của sinh viên trong học tập.
Học phải đi đôi với hành, học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì
hành không trôi chảy. Đối với sinh viên còn đang ngồi trên giảng đường đại học,nhận
thức, hiểu cụ thể chính là quá trình tiếp thu kiến thức đã được tích lũy, là tìm hiểu khám
phá những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, vũ trụ.Còn vận dụng vai
trò của thực tiễn đối với nhận thức ở đây chính là “hành”, tức là làm, là thực hành, là ứng
dụng kiến thức, lý thuyết cho thực tiễn và đời sống. Trước khi vận dụng, phải vững lý
thuyết. Giỏi lý thuyết nhưng vẫn chưa đủ. Nếu Không ứng dụng được vào cuộc sống thì
những gì chúng ta học được chẳng phải là vô ích sao?
Không phải tự nhiên mà một chiếc máy bay có thể bay được. Đó là kết quả của hàng
vạn cuộc thí nghiệm, nghiên cứu của các nhà khoa học suốt nhiều thế kỷ, thành công có,
thất bại có. Nhưng nếu không thử thì đã không có phương tiện hiện đại nhanh bậc nhất như
bây giờ. Muốn đi được trên chặng đường ấy, ta phải trả giá bằng cả mồ hôi và nước mắt,
có khi bằng cả máu. Đôi khi qua thực hành mà kiểm định lại kiến thức đã học bằng thực
nghiệm mà người ra tìm ra lỗ hổng của những giả thiết tưởng chúng là đúng. Để vận dụng
tốt thực tiễn vào nhân thức sinh viên trước hết phải là những người chủ động trong đón
nhận tri thức và vận hành nó bằng chính bàn tay và trí óc của mình. Nguồn kiến thức là vô
hạn, và cách tiếp nhận nó cũng muôn hình vạn trạng.Học từ sách vở, học từ thầy cô và còn
học từ bạn bè, ông bà, cha mẹ,... Muốn nhận thức tốt phải thực hiện đầy đủ 4 nguyên tắc:
nghe, nói, đọc, viết, nghĩa là phải huy động bốn giác quan, bốn bộ phận cơ thể để học, học
và học. Thứ hai, sinh viên nhất thiết phải bổ trợ thêm kiến thức xã hội để phục vụ cho thực
tiễn cuộc sống
Câu 6: Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Đặc trung thự tiễn:267
KN Thực tien: Là toàn bộ hoạt động vật chất bên ngoài có mục đích, có tính tự giác của con
người (khác với các hoạt động chỉ dựa vảo bản năng, thụ động của động vật) nhằm cải biến tự
nhiên và xã hội theo hướng khách quan hơn.
-Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định (mang tính
lịch sử - xã hội).=> Thực tiễn là hoạt động vật chất ngoại trừ hoạt động tinh thần mà con người
cảm nhận được, quan sát được
Nhận thức là gì?:Là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy
nghĩ, kinh nghiệm và giác quan của mỗi người bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú ý,
trí nhớ, sự đánh giá, ước lượng, sự lí luận, tính toán, giải quyết vấn đề và đưa ra quyết địnhcộng
thêm sự lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ. Là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ranhững tri thức về thế
giới khách quan.
Vai trò thực tiễn:271
Câu 7: llsx-tlsx
Lực lượng sản xuất :là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức
sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổỉ các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo
nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
-Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực
sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội. Người lao động là chủ thể sáng tạo,
đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận
và đặc biệt của sản xuất.
-Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất,
bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động
Trong TLSX bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.
- Đối tượng lao động: Là những vật nhằm súc tác bằng các công cụ laođộng trong quá trình sản
xuất vật chất.
- Tư liệu lao động: là phần của giới tự nhiên tham gia vào quá trình sảnxuất vật chất. Gồm công
cụ lao động và phương tiện lao động.
* Phương tiện lao động: là những vật hỗ trợ con người vận chuyển, bảoquản trong quá trình
sản xuất vật chất.
* Công cụ lao động: là những vật đóng vai trò “trung gian” "truyền dẫn”sức của người lao
động vào những vật chất khác trong quá trình sản xuấtvật chất.
• Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch
sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. Sự tác động của quan hệ sản
xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất
thì nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu
khoa học và công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình, hăng hái sản
xuất, lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định
• Đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triểncủa công cụ lao động là
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của conngười, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế
trong lịch sử. Suy đếncùng, những thành tựu công cụ lao động là do trí tuệ, sự sáng tạo của
conngười. Vì vậy, nếu muốn phát huy nhân tố con người (NGƯỜI LAOĐỘNG), cần tập trung
phát triển về thể lực và trí lực.=> Người lao động giữ vai trò quyết định và công cụ lao động giữ
vai tròcách mạng .Trong bất cứ một xã hội nào để có thể tạo ra của cải, vật chấtkhông chỉ có yếu
tố người lao động mà còn phải kết hợp thêm cả tư liệusản xuất nữa. Bởi lẽ nếu không có các
công cụ lao động phục vụ cho quá trình lao động thì con người sẽ không thể tác động được lên
đối tượng laođộng để tạo ra của cải vật chất. Lênin viết: “ Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
nhân loại là công nhân, là người lao động”
Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức –
quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phốikết quả của quá trình sản xuất đó. Những
quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ
sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
- QHSX do con người tạo ra, song nó được hình thành một cáchkhách quan không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người.
- QHSX mang tính ổn định tương đối trong bản chất XH và tính phongphú đa dạng trong hình
thức biếu hiện.
- QHSX gồm ba mặt và vai trò của chúng:
+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Là quan hệ xuất phát, cơbản, trung tâm của quan hệ
sản xuất giữ vị trí quyết định, quy định cácquan hệ khác(việc quản lý quá trình sản xuất và phân
phối sản phẩm).
+ Quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất: Là tác động trực tiếp vàosản xuất, làm phát triển và
kìm hãm quá trình sản xuất.
+ Quan hệ trong phân phối sản phẩm: Là kích thích trực tiếp vào lợi íchcủa người lao động, là
chất “ chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ làmnăng động nên sản xuất xã hội. Hoặc ngược lại,
có thể làm trì trệ, kìmhãm quá trình sản xuất.
Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất: 299
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất.299
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sảnxuất301
* Sự chuyển hoá thành mâu thuẫn của LLSX & QHSX
• Mối quan hệ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là
mối quan hệ thống nhất giữa hai mặt đối lập.=> Sự vận động của mâu thuẫn giữa LLSX và
QHSX là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và được giải quyết bằng sự thống nhất mới, quá
trình này lặp đi lặp lại, tạo ra quá trình vận động và phát triển của PTSX.LLSX thường phát triển
nhanh trong khi QHSX thường có xuhướng tương đối ổn định, khi LLSX đã phát triển tới một
trình độnhất định mà QHSX không còn phù hợp với nó nữa thì tạo thànhchướng ngại cho sự phát
triển của nó, lúc đó sẽ nảy sinh mâu thuẫngiữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển
tất yếu đó dẫnđến việc xoá bk QHSX cũ và thay thế bằng một QHSX mới phù hợpvới tính chất
trình độ của LLSX. Việc xoá bk QHSX cũ thay nó bằngmột QHSX mới cũng có nghĩa thay đổi
luôn PTSX lỗi thời và cho rađời của PTSX mới
Ý nghĩa trong đời sống xã hội/Y nghĩa phương pháp luận: 304
Tại sao nói thời đại ngày nay khoa học đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ?
Nếu trước đây C.Mác đã từng chỉ ra rằng tất cả công cụ lao động (như máy móc,
đường sắt, điện báo, máy sợi con rọc di động,v.v..) đều là sản phẩm lao động của con
người, do “bàn tay con người tạo ra” nên đều là “sức mạnh vật hoá của tri thức... và
C.Mác “coi khoa học trước hết như cái đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, như một lực
lượng cách mạng” thì đến trình độ phát triển của nền sản xuất hiện nay, tri thức khoa
học đã trở thành LLSX trực tiếp. Có thể nhận biết được đặc điểm này của LLSX mới
qua những biểu hiện thực tế của nó. Thí dụ: số lượng nhân lực khoa học tham gia trực
tiếp vào quá trình sản xuất được gọi là “công nhân cổ trắng” chiếm tỷ lệ ngày càng cao,
vượt trội hơn hẳn “công nhân cổ xanh” (là số công nhân chủ yếu sử dụng sức lực cơ
bắp và thực hiện một số thao tác máy móc trong khi lao động). Những “công nhân cổ
trắng” đó còn có tên gọi thực chất hơn là công nhân tri thức. Thông qua họ,cùng với
những công cụ sản xuất hiện đại (vật hóa của tri thức), tri thức khoa học đã trực tiếp đi
vào dòng sản xuất. Khoa học phát triển đã tác động tới tất cả các yếu tố trong lực
lượng sản xuất trước hết khoa học phát triển tác động trực tiếp tới con người giúp con
người nhận thức sâu sắc hơn về thế giới giúp con người ứng dụng khoa học để sáng
tạo ra các tư liệu sản xuất đặc biệt giúp con người sáng tạo ra các vật liệu mới. Máy
móc giờ đây có thể thay thế con người, tự động hóa,trí tuệ hóa, tiết kiệm rất nhiều sức
người, từ đó con người có thể tập trung hơn vào sự phát triển toàn diện của bản thân:
đức – trí – thể - mĩ. Và từ đó, xã hội phát triển toàn diện, hoàn thiện
Câu 8: Mối quan hệ biến chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
-Khái niệm: Cơ sở hạ tầng:
Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: “Cở sở hạ tầng là toàn bộ những quan
hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định”. CSHT ở đây là một phạm trù
triết học, cần phân biệt với thuật ngữ cơ sở hạ tầng trong ngành xây dựng (điện,đường, trường,
trạm)
Về mặt kết cấu cơ sở hạ tầng gồm có: quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản xuất tàn dư
của thế hệ trước đó, những quan hệ sản xuất là nền móng của xã hội sau. Trong đó quan hệ sản
xuất thống trị giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ đạo quyết định tính chất của một cơ sở hạ tầng
nhất định. Tuy nhiên, hai kiểu quan hệ sản xuất còn lại cũng có vai trò nhất định
Nếu xét trong nội bộ phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực
lượng sản xuất. Còn nếu xét trong tổng thể các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất hợp thành
cơ sở kinh tế của xã hội đó. Đây là cơ sở hiện thực để con người dựng nên kiến trúc thượng tầng
tương ứng
Kiến trúc thượng tầng: Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, “Kiến trúc
thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội, những tiết chế tương ứng, và những
quan hệ nội tại của chúng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định”.
Về mặt kết cấu KTTT gồm: những quan điểm, tư tưởng của xã hội (về chính trị, pháp quyền,
đạo đức, tôn giáo,…) và những thiết chế xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội và
những đoàn thể xã hội khác)
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng,
nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qualại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng.
Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Có những yếu tố như
chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn
giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó
Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đâylà hai mặt của đời sống
xã hội và được hình thành một cách khách quan, gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội cụ
thể. Không như các quan niệm duy tâm giải thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng
những nguyên nhân thuộc về ý thức, tư tưởng hay thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền,
trong Lời tựa tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã khẳng định: “không
thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi
là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệvà hình thái đó,
mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt
vật chất”
Thứ nhất vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúcthượng tầng thể hiện qua:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầngtương ứng với nó. Tính chất
của kiến trúc thượng tầng là do tính chất củacơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp,
giai cấp nào thống trịvề kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống
tinhthần của xã hội. Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết địnhcác mâu thuẫn trong
lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấpvề chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối
kháng trong đời sống kinh tế.Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp
quyền,triết học, tôn giáo,… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạtầng, do cơ sở hạ
tầng quyết địnhKhi cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thayđổi theo. Quá
trình thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổitừ hình thái kinh tế – xã hội này sang
hình thái kinh tế – xã hội khác,mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế – xã hội.
Sựthay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn rarất phức tạp. Trong
đó, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thayđổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở
hạ tầng như chính trị, phápluật.
Thứ hai tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạtầng:
+ Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đếncơ sở hạ tầng. Tuy
nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, cócách thức tác động khác nhau.
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ratheo hai chiều. Nếu kiến
trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quyluật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy kinh tế pháttriển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm
hãmphát triển xã hội.
+ Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triểnkinh tế, nhưng không
làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quancủa xã hội
Y nghĩa trong đời sông
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng là cơ sở khoa
học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
- Kinh tế và chính trị tác động biện chứng, trong đó kinh tế tác động chính trị, chính trị tác động
trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh tế. Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng là vai trò hoạt
động tự giác tích cực của các giai cấp, đảng phái vì lợi ích kinh tế sống còn của mình. Sự tác
động của kiến thức thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối,
chính sách của đảng, nhà nước. Chính vì vậy Lenin viết: “Chính trị là biểu hiện của sự tập trung
kinh tế… Chính trị không thể không chiếm vị trí hạng đầu so với kinh tế”.
- Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và
chính trị đều là sai lầm. Bởi+ Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi
vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương,
pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ. + Còn nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc
phủ định vai trò củakinh tế sẽ dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai
đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
- Có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm
đến nhận thức và vận dụng quy luật này. Điều đó thể hiện ở chỗ: trong thời kỳ đổi mới đất nước,
ĐCS Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổimới kinh tế là
trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức,
bước đi thích hợp; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới - ổn định – phát triển, giữ vững định
hướng XHCN.
Câu 9: Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử
Cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chú nghĩa duy vật lịch sử,dùng để chỉ xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sảnxuất đặc trưng cho xã hội đó
phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sảnxuất và với một kiến trúc thượng tầng
tương ứng được xây dựng lên trên nhữngquan hệ sản xuất ấy.
Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên Sự vận động phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội tuân theo các quy luậtkhách quan, tức là tuân theo tính tất
yếu, theo những xu hướng nhất định, nghĩa làsự phát triển của xã hội chỉ có thể diễn ra như thế
này chứ không thể như thế khác.Chính sự liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên
hình thái kinh tế -xã hội tạo thành các quy luật khách quan chỉ phối sự vận động, phát triển của
cáchình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Trong các quy luậtkhách quan ấy thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực
lượng sảnxuất đóng vai trò quan trọng nhất. Nó vừa phản ánh tính liên tục lẫn tính gián
đoạntrong sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.Nguồn gốc sâu xa của sự vận
động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội đóchính là lực lượng sản xuất. Vì lực lượng
sản xuất mang tính khách quan (tùythuộc vào năng lực thực tiễn của con người và trình độ của
lực lượng sản xuất đãđược tạo ra bởi các thế hệ trước) nên quan hệ sản xuất cũng mang tính
khách quan(quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất). Khi lực lượng
sảnxuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất mới được ra đời, tạothành cơ
sở hạ tầng mới và tương ứng là một kiến trúc thượng tầng mới. Từ đó,mọi mặt của đời sống xã
hội phát triển và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Khôngphải ngẫu nhiên, C. Mác đã khẳng định
vai trò quyết định của lực lượng sản xuấtđối với đời sống xã hội, của các quan hệ kinh tế đối với
các quan hệ tinh thần:“Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực sản xuất. Do
có đượcnhững lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình,và do
thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay dổitất cả những quan
hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội cólãnh chúa, cái cối xay chạy hơi
nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp".Ngoài các quy luật khách quan trên thì các yếu tố
khác, như điều kiện tự nhiên,điều kiện dân số, văn hóa, giáo dục, y tế, pháp luật và các bộ phận
khác nhau củakiến trúc thượng tầng... cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Chính do sự tác
độngcủa những yếu tố đó đã tạo nên một bức tranh hết sức đa dạng, phức tạp trong sựvận động,
phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tạo nên sự phát triển khôngđồng đều nhau giữa các
quốc gia. Nghĩa là, ở cùng một thời điểm có thể tồn tạinhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
trên thế giới. Nhưng vì có mối quan hệgiữa các quốc gia với nhau, cùng với tính năng động, sáng
tạo của nhân tố conngười, mà quốc gia này có thể kể thừa những giá trị của các quốc gia khác đã
đạtđược trước đó, cho nên trong quá trình vận động, phát triển của mình, có quốc giacó thể bỏ
qua một hoặc một số hình thái kinh tế - xã hội. Như vậy, sự phát triển của các hình thái kinh tế -
xã hội là một quá trình lịch sử -tự nhiên bao gồm cả sự phát triển tuần tự và không tuần tự các
hình thái kinh tế -xã hội. Điều đó tùy thuộc vào từng điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi một quốc
gia.Vì vậy, việc vận dụng quan điểm lịch sử - tự nhiên phải gắn liền với quan điểmlịch sử - cụ
thể
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
1. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩaViệt Nam bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội đượchiểu như sau:Chỉ dưới ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội mới là conđường duy nhất đúng đắn để mang lại tự do, hạnh phúc cho dân
tộc ViệtNam.
2. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaTrong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khái quátlý luận: “Nền kinh tế thị trưởng định hướng xã hội
chủ nghĩa Việt Nam lànền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế
thịtrường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từnggiai đoạn phát triển
của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại vàhội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân
giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
3. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước.Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật chochủ nghĩa xã hội. Con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cầvà có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có
những bướcnhảy vọt.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn có ý nghĩa chống lại nguy cơ tụt hậu
vềkinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới. Đảng ta nhấn mạnh rằng,“đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn
với xây dựng nông thôn mới; phát triểnkinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ
của các ngành, lĩnhvực; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinhtế;

Preview text:

Chương 2 : c13 Cặp phạm trù cái riêng -cái chung.(208)/57
C14 cặp phạm trù nguyên nhân, kết quả 216/59
Câu 15 tất yếu -ngẫu nhiên 219/61
Cau16 nội dung-hình thức222//63
Bản chất -hiện tượng225/65
Khả năng -hiện thực228/66
Câu 1: Mối quan hệ biện chứng giữa v/c và ý thức
1.KN vật chất: Theo Lênin vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, đc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Phân tích định nghĩa vat chat: 128
Ý nghĩa phương pháp luận vật chất:132
2.KN ý thức: Là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ óc con
người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Phân tích định nghĩa:
- Phản ánh tính năng động sáng tạo: ý thực là sự phản ánh, nhưng không phải
đơn thuần phản ánh y nguyên sự vật mà có sự chọn lọc theo mục đích, yêu cầu của
con người, có thể dự báo những khía cạnh mới, thuộc tính mới.
Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó.
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra
những ảo tưởng, huyền ảo.
- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất
kỳ trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc.
- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính
xã hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện
tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.
Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến khi nào con người còn tồn tại.
Nguồn gốc của ý thức: Thứ nhất, nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan và con người
được nhận định là các yếu tố tự nhiên là sự bắt nguồn và cũng là nguồn gốc tự
nhiên của ý thức. Sự hình thành ý thức từ con người đối với thế giới khách quan
là do có sự tác động của thế giới khách quan tới bộ óc của con người tạo ra khả
năng về sự hình thành ý này. Như vậy, có thể nhận định một điều rằng sự phản
ánh về thế giới khách quan từ con người được xem là ý thức.
Mà trong đó, phản ảnh được hiểu là sự sự tái tạo về đặc điểm dạng vật chất này
bởi dạng vật chất khác khi tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh sinh
học, phản ánh tâm lý, phản ánh vật lý hóa học, phản ánh năng động sáng tạo
được hiểu là hình thức của những sự phản ánh và phản ánh là một thuộc tính từ
tất cả các dạng vật chất.
Một hình thức thấp nhất và đặc trưng cho vật chất vô sinh là phản ánh về hóa
học vật lý. Những biến đổi về lý, hóa, cơ khi có sự tác động lẫn nhau bởi các
dạng vật chất vô sinh được nhận định là phản ánh về hóa học vật lý. Hình thức
được phản ánh chỉ mang tính thụ động của vật nhận tác động chứ phản ánh chưa định hướng lựa chọn.
Phản ánh tâm lý được nhận định là sự phản ánh cho động vật đặc trưng đã được
phát triển đến trình độ mà có hệ thần kinh trung ương, phản ánh này thể hiện
dưới cơ chế phản xạ có điều kiện lên những tác động môi trường sống.
Hình thức để phản ánh năng động và sáng tạo bởi con người đó chính là phản ánh ý thức.
Hình thức được phản ánh cao hơn và đặc trưng giới tự nhiên hữu sinh đó là phản
ánh sinh học. Quá trình phát triển giới tự nhiên hữu sinh, được thể hiện qua tính
kích thích, phản xạ và tính cảm ứng.
Thứ hai, nguồn gốc xã hội của ý thức bao gồm các nhân tố cơ bản nhất như lao
động và ngôn ngữ, nó trực tiếp tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức.
Một quá trình con người sử dụng về công cụ tác động với giới tự nhiên để thay
đổi giới tự nhiên phù hợp nhu cầu con người được nhận định là lao động. Còn
cái vỏ của vật chất từ ý thức, hình thức vật chất nhân tạo có vai trò trong thể
hiện, lưu trữ nội dung ý thức thì chính là ngôn ngữ. Bản chất của ý thức?
Ý thức, nói một cách đơn giản nhất, là sự gửi gắm hay nhận thức về sự tồn tại
bên trong và bên ngoài. Bất chấp hàng thiên niên kỷ phân tích, định nghĩa, giải
thích và tranh luận của các triết gia và nhà khoa học, ý thức vẫn còn là điều khó
hiểu và gây tranh cãi, là “khía cạnh quen thuộc nhất và [cũng] bí ẩn nhất trong
cuộc sống của chúng ta”. Có lẽ khái niệm duy nhất được đồng ý rộng rãi về chủ
đề này là trực giác rằng ý thức tồn tại.
Các ý kiến khác nhau về những gì chính xác cần được nghiên cứu và giải thích
là ý thức. Đôi khi, nó đồng nghĩa với tâm trí, và những lúc khác, một khía cạnh
của tâm trí. Trong quá khứ, đó là “cuộc sống bên trong” của một người, thế giới
của nội tâm, của suy nghĩ, trí tưởng tượng và hành động riêng tư. Ngày nay, nó
thường bao gồm bất kỳ loại nhận thức, kinh nghiệm, cảm giác hoặc nhận thức nào.
Nó có thể là nhận thức, nhận thức về nhận thức, hoặc nhận thức về bản thân liên
tục thay đổi hoặc không. Có thể có các cấp độ hoặc trật tự ý thức khác nhau,
hoặc các loại ý thức khác nhau, hoặc chỉ một loại với các tính năng khác nhau.
Các câu hỏi khác bao gồm liệu chỉ con người có ý thức, tất cả các loài động vật,
hay thậm chí toàn bộ vũ trụ. Phạm vi nghiên cứu, quan niệm và suy đoán khác
nhau làm dấy lên nghi ngờ về việc liệu có đúng câu hỏi được đặt ra hay không
Đối với bản chất của ý thức đã được nhận định bằng nhiều ý kiến và quan điểm
khác nhau, và chưa có nhận định chung về bản chất của ý thức
Theo triết học duy tâm quan niệm: ” Ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại
duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra
vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất”.
Theo các nhà triết học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý
thức là sự phản ánh sự vật đó. Chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ sở lý
luận phản ánh: “về bản chất, coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan
vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan”.
Do đó, để hiểu về bản chất của ý thức cần dựa trên các yếu tố sau:
– Thứ nhất, vât chất và ý thức được chúng ta thừa nhận nhưng giữa chúng có sự
khác nhau mang tính đối lập. Trong đó, vật chất là cái được phản ánh, còn ý
thức là sự phản ánh, là cái phản ánh. Ý thức là hiện thực chủ quan, là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan. Trong khi đó, vật chất tồn tại khách quan, ở
ngoài và độc lập với ý thức.
+Thứ hai, những hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan đó chính là ý thứ.
+ Thứ ba ý thức là một hiện tượng xã hội.
Y nghĩa phương pháp luận của ý thức :
1.Xuất phát từ quan hệ khách hàng thế giới trong nhận thức và thực hiện hoạt động
Do ý thức là phản ánh thế giới của khách hàng vào trong bộ phận, nên trong
nhận thức và hoạt động thực hiện, chúng ta phải bắt đầu từ khách hàng thế giới
(Tức là, ta phải nghiên cứu đối tượng, tìm kiếm từ bên ngoài các vật chất đối
tượng, bộ phận phục vụ nhu cầu tìm kiếm tri thức và cải tạo các vật chất đó)
- Ta cần phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí.
(Tức là chống lại việc sử dụng quan điểm, suy nghĩ thiếu cơ sở của mình để
đóng vai trò cho các vật chất)
- Cần xóa bỏ quan hệ thống, sử dụng mong muốn chủ quản của cá nhân mình để
áp dụng thành chỉ tiêu cho quan, tổ chức, dù với động cơ trong sáng
2.Tự giác phát huy tính, chủ động của con người:
- Do ý thức là phản ánh năng lượng, sáng tạo ra thế giới khách quan, chúng ta
cần phát huy hết sức tự giác, chủ động của con người trong nhận thức và hoạt động
thực thi. Cần quyết định chống lại tư duy giáo dục, cứng nhắc, lý thuyết suông,…
về sự vật, hiện tượng.
- Ta cần phát huy hết trí tuệ, sự nhạy bén của con người trong học tập, lao
động. Luôn luôn lực lượng bài trừ diệt trừ động, ỷ lại, quân chủ nghĩa
Đối với phương pháp luận trong kinh tế học, các nhà kinh tế có thể chấp nhận
những phương pháp luận trong ngành tự nhiên, nhưng thực tiễn xã hội là một hệ thống mở.
Đó có thể là có nhiều biến số can thiệp, hoặc không nhất thiết phải kiểm soát mọi
yếu tố như trong phòng thí nghiệm
Về chủ nghĩa thực chứng, lý thuyết phải nhất quán với nhau và thể hiện được sự
logic của nội dung. Ví dụ một số phát biểu về phương pháp luận “Không gì có thể
được chứng minh là luôn luôn đúng”:
Chúng ta không bao giờ chắc chắn được rằng mô hình của mình là hoàn
chỉnh hoặc đã thiết lập quan hệ nhân quả.
Chúng ta tiến bộ nhờ chứng minh vấn đề là sai bằng cách lặp lại các thử
nghiệm và loại bỏ những vướng mắc không có tác dụng
3.Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức: Vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua
lại lẫn nhau. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau
Vật chất có vai trò quyết định ý thức174
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất 178
Ý nghĩa phương pháp luận mối quan hệ/ 180
Liên hệ bản thân với mối quan hệ vật chất và ý thức
Thứ nhất: Bản thân phải xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến cuộc sống hàng
ngày, vì vật chấtquyết định ý thức nên con người cần phải ý thức được những vật chất của cuộc
sống còn thiếu thốn để có hànhđộng phù hợp với thực tế khách quan.
Thứ hai: Phải phát huy tính năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động hàng ngày. Kết cấu của ý
thức thì tri thứclà quan trọng nhất nên mỗi chúng ta cần chú trọng phát triển tri thức của bảnthân.
Thứ ba: Cần phải tiếp thu có chọn lọc kiến thức mới và không chủ quan trong mọi tình huống.
Thứ tư: Khi giải thích một hiện tượng cần phải xét có yếu tố vật chất lẫn tinh thần, cả yếu tố
khách quan và điều kiện khách quan
Vận dụng đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắc bệnh chủ
quanduy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và
cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế .
Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu, yếu kém về lý luận, do tâm
lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp. Văn kiện Đại Hội
toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuấtphát từ thực tế, tôn
trọng và hành động theo qui luật khách quan". Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng, phải thừa
nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các qui luật tự nhiên và xã hội, không được
xuất phát từ ý muốn chủ quan. Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức
đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật kháchquan. Tiếp tục đổi mới tư duy lý
luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là
xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ .Trong bỗi dưỡng,
phát huy nhân tố con người, phải chú trọng nâng cao đời sống vật chất, đồng thời phải chú ý
nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần. Đảng ta chủ trương “phát triển kinh tế là trung tâm”, “làm
cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh
thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. “Kết hợp chặt chẽ giữa tăng
trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân”, không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ, văn hóa,
khoa học-kỹ thuật, khơi dậy lòng yêu nước, phát huy đầy đủ tính năng động, ý chí sáng tạo của
con người trong việc nhận thức, cải tạo và phát triển xã hội.Hiện nay, trong tình hình đổi mới của
cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả
lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng,tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học
công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức
mà cách mạng nước ta trãi qua
Câu 2: Hai nguyên lí của phép biện chứng duy vật
biện chứng được chia thành 2 loại:
-Biện chứng khách quan: Là biện chứng của thế giới vật chất, tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người.
-Biện chứng chủ quan:Biện chứng của sự thống nhất giữa logic biện chứng, phép biện chứng và
lý luận nhận thức, là tư duy biện chứng và biện chứng của quá trình phản ánh hiện thực khách
quan vào bộ óc của con người.Bởi vậy, biện chứng chủ quan một mặt phản ánh thế giới khách
quan, mặt khác phản ánh những quy luật của tư duy biện chứng
Khái niệm phép biện chứng duy vật: Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát
biện chứng của thế giới thành các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học”
Đặc điểm và vai trò của PBCDV:
-Đặc điểm: Là sự sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng;
giữa lý luận nhận thức và lôgíc biện chứng; được chứng minh bằng sự phát triển của khoa học tự nhiên trước đó.
-Vai trò:Là phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn để giải thích quá trình phát triển của
sự vật và nghiên cứu khoa học.
2 nguyên lý phép biện chứng duy vật
1. Khái nệm Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 189
T/c của mối liên hệ : 193
=>Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát toàn cảnh thế giới trong những mối liên
hệ chẵng chịt giữa các sự vật, hiện tượng. Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới, luôn
luôn tồn tại trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng
nào tồn tại cô lập, riêng lẻ, không liên hệ với nhau
Ý nghĩa phương pháp luận 195
Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam:
+ Đảng ta đưa ra những đổi mới trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, xã
hội, văn hóa, tư tưởng…) chứ không ở một lĩnh vực nào. Như Đại hội VII của Đảng nêu kinh
nghiệm bước đầu đổi mới “Một là phải giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới, hai
là đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi hình thức và cách làm phùhợp”.
Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội. Trên
từng lĩnh vực nội dung đổi mới bao gồm nhiều mặt đổi mới cơ chế, chính sách tổ chức, cán bộ,
phong cách và lề lối làm việc.
+ Đổi mới toàn diện trên tất cả lĩnh vực, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm như xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường để tạo ra động lực nhằm phát huy, kiến trúc nền kinh tế trong
nhân dân, khai thác vốn đầu tư và trình độ cũng như vốn của nước ngoài, nâng cao tay nghề, tiếp
thu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đã gia nhập
WTO, tạo ra rất nhiều thuận lợi cho kinh tế VN ngày càng đi lên hội nhập toàn cầu hóa kinh tế
thế giới. Đó là sự vận dụng hết sức sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào sự nghiệp cách mạng
VN đặc biệt là vận dụng nguyên lý của mối liên hệ phổ biến
2.Nguyên lý về sự phát triển Khái niệm196
-Những quan niệm khách nhau về sự phát triển:
Quan điểm siêu hình: phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa mặt ổn định
* Phát triển chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần hoàn,lặp đi, lặp lại mà
không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự vật,hiện tượng mới
* Những người theo quan điểm siêu hình coi tất cả chất của sự vật không có sự thay đổi gì trong
quá trình tồn tại của chúng. Sự vật ra đời với những chấtnhư thế nào thì toàn bộ quá trình tồn tại
của nó vẫn được giữ nguyên, hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng
chỉ diễn ra trong một vòng khép kín
* Sự phát triển là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước quanh co, thăng trầm,
phức tạpQuan điểm biện chứng: đối lập với quan điểm siêu hình
* Phát triển là sự vận động đi lên, là quá trình tiến lên thông qua bước nhảy; sựvật, hiện tượng cũ
mất đi, sự vật, hiện tượng mới ra đời thay thế không phảilúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo
đường thẳng, mà rất quanh co, phứctạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời
* Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sựthay đổi về chất, là
quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc, có kế thừa, có sựdường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn
Quan điểm biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trongbản thân sự vật, đó là
do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định. Nói cáchkhác, đó là quá trình giải quyết liên tục mâu
thuẫn trong bản thân sự vật, do đó cũng là quá trình tự thân vận động, phát triển và chuyển hóa của mọi sựvật
-Trong phép biện chứng duy vật, phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt củavận động, nó chỉ
khái quát xu hướng chung của vận động là vận động đi lêncủa sự vật, hiện tượng mới trong quá
trình thay thế sự vật, hiện tượng cũ
Tính chất của sự phát triển 202
Ý nghĩa phương pháp luận:202
Vận dụng nguyên lý của sự phát triển trong hoạt động học tập:
Học và luyện tập để nhằm mục đích có thêm các hiểu biết, để thông qua đó sẽ có các
kỹ năng, để chúng ta sẽ có thể gặt hái được tri thức cho bản thân. Học hay còn gọi là
học tập, học hành, học hỏi cũng được hiểu chính là quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ
sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức hoặc sở thích và
học tập cũng có thể liên quan đến việc tổng hợp các thông tin khác nhau. Học và rèn
luyện là nhằm để có thể trang bị các kỹ năng và tri thức: kết quả học tập, siêng năng
học tập. Làm theo gương tốt: học tập lẫn nhau, học tập kinh nghiệm. Hay theo các nhà
tâm lý thì ta hiểu học tập là một sự thay đổi tương đối lâu dài về hành vi, là kết quả
của các trãi nghiệm. Học tập còn là để có thể hiểu sâu, hiểu rộng hơn vấn đề, lĩnh vựcmà ta muốn
biết từ đó sẽ giúp ta trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, làm tăng sự sáng tạovà trí tuệ, để thông qua
đó chúng ta áp dụng được vào đời sống và xã hội.Việc vận dụng nguyên lý về sự phát triển trong
học tập có vai trò quan trọng và nócũng mang ý nghĩa rất to lớn trong đời sống, đặc biệt là với
các đối tượng sinh viên đểtừ đó sẽ có thể phát triển và hoàn thiện bản thân.
Câu 3: Quy luật lượng, chất -KN chất : 238 -KN lượng: 240
MQH biện chứng giữa lượng và chất:
1. Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
-Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khoảng giới hạn,
mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
- Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã
đủ làm thay đổi về chất của sự vật
- Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy. Do đó, bước nhảy là phạm trù triết
học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra.
- Bước nhảy là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng là sự
gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy, có thể nói phát triển là sự “đứt
đoạn” trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút. Bước nhảy không chấm dứt sự vận
động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của sự vật. Trong sự vật mới, lượng mới lại
biến đổi đến điểm nút mới lại xảy ra bước nhảy mới.
2. Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng
Quy luật lượng-chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về
chất mà còn có chiều ngược lại. Chiều ngược lại có nghĩa là: khi chất mới đã ra đời, nó lại tạo ra
một lượng mới phù hợp với nó, để có một sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định
này được biểu diễn ở quy mô, ở mức độ và nhịp điệu phát triển mới của lượng.
Tóm lại, quy luật lượng-chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật vàhiện tượng. Trước hết,
lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểmnút, điểm giới hạn của sự thống nhất giữa
chất và lượng sẽ dẫn đến bước nhảyvề chất. Chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa
chất và lượng. Quátrình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi, pháttriển.
-Bước nhảy dần dần: là quá trình thay đổi về chất được diễn ra trong một thờigian dài. VD: Qúa
trình cách mạng đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạchậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một
thời kỳ lâu dài qua nhiều bước nhảy dầndần.Vì là một quá trình phức tạp, trong đó có cả sự tuần
tự lẫn những bước nhảydiễn ra ở từng bộ phận của sự vật ấy.
-Bước nhảy toàn bộ: làm thay đổi căn bản về chất của sự vật ở tất cả các mặt các bộ phận các yếu
tố cấu thành nên sự vật·Bước nhảy cục bộ: là bước nhảy làm thay đổi một số yếu tố 1 số bộ phận
của sự vật của chất. VD: như trong hiện thực, các sự vật có thuộc tính đa dạng, phong phú nên
muốn thực hiện bước nhảy toàn bộ phải thông qua những bước nhảy cục bộ. Sự quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta đang diễn ra từng bước nhảy cục bộ để thực hiện bước nhảy toàn bộ, tức
là chúng ta đang thực hiệnnhững bước nhảy cục bộ ở lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực
xã hộivà lĩnh vực tinh thần xã hội để đi đến bước nhảy toàn bộ - xây dựng thành côngchủ nghĩa
xã hội trên đất nước ta.
Y nghĩa phương pháp luân/244
vận dụng của nhà nước ta
Khi đất nước được thống nhất, cả nước đi lên CNXH, chúng ta đã nóng vội xây dựng quan hệ
sản xuất một thành phần, dựa trên cơ sở công hữu XHCN về tư liệu sản xuất, mọi thành phần
kinh tế khác bị coi là một bộ phận đối lập với kinh tế XHCN, vì vậy nằm trong diện phải cải tạo
xóa bỏ, làm như vậy chúng ta đã đẩy quan hệ SX đi quá xa so với trình độ phát triển của lượng
lực sản xuất. Tạo ra mâu thuẫn giữa một bên là lực lượng sản xuất thấp kém, với một bên là quan
hệ sản xuất đã được xã hội hóa giả tạo, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của LLSX. Hay nói cách
khác, LLSX của chúng ta còn quá thấp kém,chưa tích lũy đủ về lượng (tính chấtvà trình độ) đã
vội thay đổi chất (Quan hệ sản xuất) làm cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoàng kinh tế -
xã hội. Nhờ có nhận thức đúng đắn, đổi mới tư duy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát
triển kinh tế thị trường; quyết định chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị
trường định hướng XHCN; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, kiên trì lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cực tham
gia. Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực và hiệu quả hơn. Mở
rộng, phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngày càng tốt vai trò làm chủ về kinh tế
của nhân dân. Vai trò lãnh đạo cũng như nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng rõ nét, theo đó đã xác định tiếp
tục đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng, tăng cường
lãnh đạo và kiểm tra về phát triển kinh tế
Câu 4: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ( Quy luật mâu thuẫn)
-KN mâu thuẫn: là một phạm trù dùng để chỉ sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt
đối lập trong cùng 1 SVHT(Sự vật hiên tượng).
-KN mặt đối lập : là 1 phạm trù dùng đẻ chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng
vận động trái ngược nhau và làm nên chỉnh thể 1 SVHT.
2 mặt đối lập phải thõa mãn đầy đủ 2 điều kiện sau mới tạo thành mâu thuẫn:
+Có xu hướng vận động trái ngược nhau
+Làm nên chỉnh thể 1 SVHT
2 mặt đối lập như vậy gọi là 2 mặt đối lập biện chứng, chúng liên hệ với nhau hình thành nên mâu thuẫn biện chứng.
* Tính chất chung của mâu thuẫn
-Vì mâu thuẫn cũng là mối liên hệ nhưng không phải bất kì các mối liên hệ nào mà chỉ là mối
liên hệ giữa các mặt đối lập => Mâu thuẫn có đầy đủ các tính chất chung của mối liên hệ
+tính khách quan: mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại độc lập, không phụ
thuộc vào ý thức của con người; nói cách khác, mâu thuẫn là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng.
+Tính phổ biến mọi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy đều
tồn tại mẫu thuẫn. Chỉ có sự khác nhau giữa mâu thuẫn đã phát hiện ra và mâu thuẫn chưa phát hiện ra
+ tính đa dạng: mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực khác nhau, qua từng giai đoạn phát
triển, mâu thuẫn có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đối với sự vận động, phát triển của sự vật.
Đó là mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu thuẫn bên trong và bên ngoài…
c. Nội dung quy luật Sự thống nhất của các mặt đối lập
- Thống nhất giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ giữa chúng và được thể hiện ở
+ Thứ nhất, các mặt đối lập cần đến nhau, nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại,
không có mặt này thì không có mặt kia.
+ Thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau thể hiện sự đấu tranh giữa cái
mới đang hình thành với cái cũ chưa mất hẳn.
+ Thứ ba, giữa các mặt đối lập có sự tương đồng, đồng nhất do trong các mặt đối lập còn tồn
tại những yếu tố giống nhau.-Ví dụ: Trong mỗi con người, hoạt động ăn và hoạt động bài tiết rõ
ràng là các mặt đối lập. Nhưng chúng phải nương tựa nhau, không tách rời nhau. Nếu có hoạt
độngăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không thể sống được. Như vậy, hoạt động
ăn và hoạt động bài tiết thống nhất với nhau ở khía cạnh này.
- Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại theo
hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng.
-Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có tính tạm thời, tương đối, có điều kiện, nghĩa là
sự thống nhất đó chỉ tồn tại trong trạng thái đứng im tương đối của sự vật, hiện tượng.
Sự đấu tranh có tính tuyệt đối, nghĩa là đấu tranh phá vỡ sự ổn định tương đối của
chúng dẫn đến sự chuyển hóa về chất của chúng
-Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập phát triển làm mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc
và khi đến một mức độ nhất định, trong điều kiện nhất định thì mâu thuẫn được giải
quyết, sự vật, hiện tượng chuyển hóa.
-Sự vật, hiện tượng mới ra đời tự nó lại có mặt đối lập mới, có mâu thuẫn mới, có quá
trình thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
ý nghĩa phương pháp luận: 250
Vận dụng quy luật mâu thuẫn vào quá trình học tập của bản thân:
Học là một quá trình phát triển tri thức, tư duy và áp dụng chúng vào trong đời sống
thực tế. Vậy nên quá trình học cũng tồn tại sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối
lập để tạo nên những cái mới, những kiến thức nhằm phát triển năng lực mỗi cá nhân.
Và trong sự nghiệp học tập của mình, em đã vận dụng quy luật này như sau:
Thừa nhận và tôn trọng mâu thuẫn.
- Mâu thuẫn là những thuộc tính vốn có của sự vật, chúng ta cần phải luôn luôn tìm hiểu
để phát hiện mâu thuẫn, từ đó nắm bắt bản chất và khuynh hướng phát triển của các mặt đối lập.
- Đối với em, tôn trọng mâu thuẫn trong học tập chính là phải tìm hiểu đầy đủ các thông
tin cần thiết để phục vụ cho quá trình học của mình. Chẳng hạn để chuẩn bị trở thành
một sinh viên năm nhất, em đã tìm hiểu đầy đủ chương trình học của mình, xác định
định hướng và mục tiêu của bản thân để chọn ra những môn học phù hợp, vạch ra kế
hoạch học tập, rèn luyện cho bốn năm đại học của mình và thực hiện kế hoạch đó để
đạt được đích đến mà bản thân đề ra.
Không né tránh mâu thuẫn mà phải đối diện, khắc phục nó.
- Khi gặp bất cứ vấn đề nào, sợ hãi và lẩn trốn sẽ không giúp được gì cho chúng ta, vậy
nên ta không thể tránh né mâu thuẫn mà phải xem xét, phân tích cụ thể nó để tìm ra
phương án giải quyết. Từ đó ta mới có thể có thêm kinh nghiệm để phát triển bản thân.
- Trong việc học cũng vậy, khi gặp một bài toán khó hoặc những bài tập không thể giải
được, em thường nỗ lực tìm tòi trên các trang mạng, các diễn đàn học tập hoặc trực
tiếp hỏi giảng viên, anh chị, bạn bè cách làm. Việc không từ bỏ trước khó khăn giúp
em có thể nâng cao vốn kiến thức, biết được mình nên làm gì nếu gặp lại dạng bài đó
và hình thành thói quen tìm tòi, học hỏi cho bản thân.
Phải liên tục tìm tòi, đổi mới, sáng tạo trong tri thức.
- Mâu thuẫn là nguyên nhân làm cho cái cũ mất đi và cái mới ra đời, sự tồn tại của mâu
thuẫn khiến chúng ta nhận thức được rằng kiến thức không bao giờ là đủ. Khi ta giải
quyết được một vấn đề cũ thì sẽ tiếp tục gặp được rất nhiều vấn đề mới khác nên bắt
buộc chúng ta phải luôn đổi mới, sáng tạo.
- Là một sinh viên trong xã hội hiện đại, em nhận thức được kho tàng kiến thức không
chỉ nằm trong những bài giảng của thầy cô, trong giáo trình mình học mà còn liên
quan đến rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Vậy nên em không cho phép mình ngủ
quên trên một vài kiến thức nhất định nào mà thay vào đó em phải đi tìm tòi, học hỏi
thêm những điều mới. Sau khi học xong trên lớp, em phải xem lại bài hôm đó và tìm
thêm những bài tập có liên quan để tiếp thu thêm những điều không được dạy.
- Ngoài ra, việc thường xuyên đọc sách cũng khiến em mở mang đầu óc và nâng cao
tính sáng tạo của mình hơn.
- Bên cạnh việc học lý thuyết, em cũng nỗ lực trau dồi thêm kỹ năng mềm cho bản thân
để thích ứng kịp với xã hội đang ngày càng phát triển và hội nhập.
Phải tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống.
- Kiến thức luôn rất đa dạng và phong phú nên ta buộc ta phải dần bài trừ những cái cũ,
không còn phù hợp và tiếp thu cái mới. Thế nhưng, quá trình này không thể diễn ra
nóng vội và bảo thủ. Chúng ta không thể vội vã tiếp thu những điều mới mà không
chọn lọc cũng như không thể cứ khư khư làm theo những quy tắc cũ, lỗi thời. Quy luật
mâu thuẫn cho chúng ta nhận thức rằng phải dựa trên những cái cũ, duy trì những điều
tốt của cái cũ để phát triển ra những cái mới và làm việc một cách có trình tự, hệ thống.
- Để có thể bước chân được vào đại học là một quá trình em phải học tập tích lũy kiến
thức từ bậc tiểu học đến hết bậc trung học cơ sở, lấy cơ sở kiến thức của lớp trước để
tiếp thu những kiến thức mới của lớp sau.
Câu 5: Quy luật phủ định của phủ định
Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng
Sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật, hiện tượng
khác; thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thế tồn tại khác của cùng một sự vật trong quá trình
vận động, phát triển của nó. Sự thay thế đó gọi là sự phủ định.
Phủ định siêu hình: để hiểu phủ định biện chứng trước hết cần phủ định siêu hình là gì. Phủ định
siêu hình là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo,
không tạo cho cái mới ra đời, lực lượng phủ định là ởbên ngoài sự vật.Phủ định biện chứng là
phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là mắt khâu quan trọng
trong quá trình dẫn tới sự ra đời sự vật mới, tiến bộ hơn sự vật cũ.
Phủ định biện chứng có các đặc trưng cơ bản sau: tính khách quan và tính kế thừa.
Đặc điểm của phủ định biện chứng:
+ Có tính kế thừa: có sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới, không phủ định sạch trơn hoàn toàn cái
cũ, mà kế thừa có lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp Nội dung quy luật:
Thứ nhất, phủ định của phủ định là khái niệm nói lên rằng sự vận động, phát triển của sự vật
thông qua hai lần phủ định biện chứng, dường như quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng cao hơn.
Thứ hai, phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình. Sau những lần
phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đó sẽ ra đời sự vật mới mang nhiều đặc trưng giống với sự
vật ban đầu (xuất phát) song không phải giống nguyênnhư cũ, dường như lặp lại cái cũ nhưng cao hơn.
Thứ ba, sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại là
điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường xoáy ốc của sự phát triển. Mỗi
đường mới của đường xoáy ốc thể hiển một trình độ cao hơn của sự phát triển. Sự nối tiếp nhau
của các vòng xoáy ốc thể hiển tính vô tận của sự phát triển
Thứ tư, phủ định của phủ định, ngoài hai đặc trưng như ở phủ định biện chứng còn có thêm đặc
trưng – có tính chu kỳ.
Thứ năm, trong hiện thực, một chu kỳ phát triển của sự vật có thể bao gồm nhiều lần phủ định biện chứng
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật phủ định của phủ định/256
3.Vận dụng thực tiễn vào nhận thức của sinh viên trong học tập.
Học phải đi đôi với hành, học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì
hành không trôi chảy. Đối với sinh viên còn đang ngồi trên giảng đường đại học,nhận
thức, hiểu cụ thể chính là quá trình tiếp thu kiến thức đã được tích lũy, là tìm hiểu khám
phá những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, vũ trụ.Còn vận dụng vai
trò của thực tiễn đối với nhận thức ở đây chính là “hành”, tức là làm, là thực hành, là ứng
dụng kiến thức, lý thuyết cho thực tiễn và đời sống. Trước khi vận dụng, phải vững lý
thuyết. Giỏi lý thuyết nhưng vẫn chưa đủ. Nếu Không ứng dụng được vào cuộc sống thì
những gì chúng ta học được chẳng phải là vô ích sao?
Không phải tự nhiên mà một chiếc máy bay có thể bay được. Đó là kết quả của hàng
vạn cuộc thí nghiệm, nghiên cứu của các nhà khoa học suốt nhiều thế kỷ, thành công có,
thất bại có. Nhưng nếu không thử thì đã không có phương tiện hiện đại nhanh bậc nhất như
bây giờ. Muốn đi được trên chặng đường ấy, ta phải trả giá bằng cả mồ hôi và nước mắt,
có khi bằng cả máu. Đôi khi qua thực hành mà kiểm định lại kiến thức đã học bằng thực
nghiệm mà người ra tìm ra lỗ hổng của những giả thiết tưởng chúng là đúng. Để vận dụng
tốt thực tiễn vào nhân thức sinh viên trước hết phải là những người chủ động trong đón
nhận tri thức và vận hành nó bằng chính bàn tay và trí óc của mình. Nguồn kiến thức là vô
hạn, và cách tiếp nhận nó cũng muôn hình vạn trạng.Học từ sách vở, học từ thầy cô và còn
học từ bạn bè, ông bà, cha mẹ,... Muốn nhận thức tốt phải thực hiện đầy đủ 4 nguyên tắc:
nghe, nói, đọc, viết, nghĩa là phải huy động bốn giác quan, bốn bộ phận cơ thể để học, học
và học. Thứ hai, sinh viên nhất thiết phải bổ trợ thêm kiến thức xã hội để phục vụ cho thực tiễn cuộc sống
Câu 6: Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Đặc trung thự tiễn:267
KN Thực tien: Là toàn bộ hoạt động vật chất bên ngoài có mục đích, có tính tự giác của con
người (khác với các hoạt động chỉ dựa vảo bản năng, thụ động của động vật) nhằm cải biến tự
nhiên và xã hội theo hướng khách quan hơn.
-Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch sử nhất định (mang tính
lịch sử - xã hội).=> Thực tiễn là hoạt động vật chất ngoại trừ hoạt động tinh thần mà con người
cảm nhận được, quan sát được
Nhận thức là gì?:Là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy
nghĩ, kinh nghiệm và giác quan của mỗi người bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú ý,
trí nhớ, sự đánh giá, ước lượng, sự lí luận, tính toán, giải quyết vấn đề và đưa ra quyết địnhcộng
thêm sự lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ. Là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ranhững tri thức về thế giới khách quan. Vai trò thực tiễn:271 Câu 7: llsx-tlsx
Lực lượng sản xuất :là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức
sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổỉ các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo
nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
-Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực
sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội. Người lao động là chủ thể sáng tạo,
đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận
và đặc biệt của sản xuất.
-Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất,
bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động
Trong TLSX bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.
- Đối tượng lao động: Là những vật nhằm súc tác bằng các công cụ laođộng trong quá trình sản xuất vật chất.
- Tư liệu lao động: là phần của giới tự nhiên tham gia vào quá trình sảnxuất vật chất. Gồm công
cụ lao động và phương tiện lao động.
* Phương tiện lao động: là những vật hỗ trợ con người vận chuyển, bảoquản trong quá trình sản xuất vật chất.
* Công cụ lao động: là những vật đóng vai trò “trung gian” "truyền dẫn”sức của người lao
động vào những vật chất khác trong quá trình sản xuấtvật chất.
• Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch
sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. Sự tác động của quan hệ sản
xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất
thì nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu
khoa học và công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình, hăng hái sản
xuất, lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất.
Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định
• Đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triểncủa công cụ lao động là
thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của conngười, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế
trong lịch sử. Suy đếncùng, những thành tựu công cụ lao động là do trí tuệ, sự sáng tạo của
conngười. Vì vậy, nếu muốn phát huy nhân tố con người (NGƯỜI LAOĐỘNG), cần tập trung
phát triển về thể lực và trí lực.=> Người lao động giữ vai trò quyết định và công cụ lao động giữ
vai tròcách mạng .Trong bất cứ một xã hội nào để có thể tạo ra của cải, vật chấtkhông chỉ có yếu
tố người lao động mà còn phải kết hợp thêm cả tư liệusản xuất nữa. Bởi lẽ nếu không có các
công cụ lao động phục vụ cho quá trình lao động thì con người sẽ không thể tác động được lên
đối tượng laođộng để tạo ra của cải vật chất. Lênin viết: “ Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn
nhân loại❖là công nhân, là người lao động”
Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức –
quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phốikết quả của quá trình sản xuất đó. Những
quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ
sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
- QHSX do con người tạo ra, song nó được hình thành một cáchkhách quan không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người.
- QHSX mang tính ổn định tương đối trong bản chất XH và tính phongphú đa dạng trong hình thức biếu hiện.
- QHSX gồm ba mặt và vai trò của chúng:
+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Là quan hệ xuất phát, cơbản, trung tâm của quan hệ
sản xuất giữ vị trí quyết định, quy định cácquan hệ khác(việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm).
+ Quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất: Là tác động trực tiếp vàosản xuất, làm phát triển và
kìm hãm quá trình sản xuất.
+ Quan hệ trong phân phối sản phẩm: Là kích thích trực tiếp vào lợi íchcủa người lao động, là
chất “ chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ làmnăng động nên sản xuất xã hội. Hoặc ngược lại,
có thể làm trì trệ, kìmhãm quá trình sản xuất.
Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: 299
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất.299
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sảnxuất301
* Sự chuyển hoá thành mâu thuẫn của LLSX & QHSX
• Mối quan hệ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là
mối quan hệ thống nhất giữa hai mặt đối lập.=> Sự vận động của mâu thuẫn giữa LLSX và
QHSX là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và được giải quyết bằng sự thống nhất mới, quá
trình này lặp đi lặp lại, tạo ra quá trình vận động và phát triển của PTSX.LLSX thường phát triển
nhanh trong khi QHSX thường có xuhướng tương đối ổn định, khi LLSX đã phát triển tới một
trình độnhất định mà QHSX không còn phù hợp với nó nữa thì tạo thànhchướng ngại cho sự phát
triển của nó, lúc đó sẽ nảy sinh mâu thuẫngiữa hai mặt của phương thức sản xuất. Sự phát triển
tất yếu đó dẫnđến việc xoá bk QHSX cũ và thay thế bằng một QHSX mới phù hợpvới tính chất
trình độ của LLSX. Việc xoá bk QHSX cũ thay nó bằngmột QHSX mới cũng có nghĩa thay đổi
luôn PTSX lỗi thời và cho rađời của PTSX mới
Ý nghĩa trong đời sống xã hội/Y nghĩa phương pháp luận: 304
Tại sao nói thời đại ngày nay khoa học đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp ?
Nếu trước đây C.Mác đã từng chỉ ra rằng tất cả công cụ lao động (như máy móc,
đường sắt, điện báo, máy sợi con rọc di động,v.v..) đều là sản phẩm lao động của con
người, do “bàn tay con người tạo ra” nên đều là “sức mạnh vật hoá của tri thức... và
C.Mác “coi khoa học trước hết như cái đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, như một lực
lượng cách mạng” thì đến trình độ phát triển của nền sản xuất hiện nay, tri thức khoa
học đã trở thành LLSX trực tiếp. Có thể nhận biết được đặc điểm này của LLSX mới
qua những biểu hiện thực tế của nó. Thí dụ: số lượng nhân lực khoa học tham gia trực
tiếp vào quá trình sản xuất được gọi là “công nhân cổ trắng” chiếm tỷ lệ ngày càng cao,
vượt trội hơn hẳn “công nhân cổ xanh” (là số công nhân chủ yếu sử dụng sức lực cơ
bắp và thực hiện một số thao tác máy móc trong khi lao động). Những “công nhân cổ
trắng” đó còn có tên gọi thực chất hơn là công nhân tri thức. Thông qua họ,cùng với
những công cụ sản xuất hiện đại (vật hóa của tri thức), tri thức khoa học đã trực tiếp đi
vào dòng sản xuất. Khoa học phát triển đã tác động tới tất cả các yếu tố trong lực
lượng sản xuất trước hết khoa học phát triển tác động trực tiếp tới con người giúp con
người nhận thức sâu sắc hơn về thế giới giúp con người ứng dụng khoa học để sáng
tạo ra các tư liệu sản xuất đặc biệt giúp con người sáng tạo ra các vật liệu mới. Máy
móc giờ đây có thể thay thế con người, tự động hóa,trí tuệ hóa, tiết kiệm rất nhiều sức
người, từ đó con người có thể tập trung hơn vào sự phát triển toàn diện của bản thân:
đức – trí – thể - mĩ. Và từ đó, xã hội phát triển toàn diện, hoàn thiện
Câu 8: Mối quan hệ biến chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
-Khái niệm: Cơ sở hạ tầng:
Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: “Cở sở hạ tầng là toàn bộ những quan
hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định”. CSHT ở đây là một phạm trù
triết học, cần phân biệt với thuật ngữ cơ sở hạ tầng trong ngành xây dựng (điện,đường, trường, trạm)
Về mặt kết cấu cơ sở hạ tầng gồm có: quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản xuất tàn dư
của thế hệ trước đó, những quan hệ sản xuất là nền móng của xã hội sau. Trong đó quan hệ sản
xuất thống trị giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ đạo quyết định tính chất của một cơ sở hạ tầng
nhất định. Tuy nhiên, hai kiểu quan hệ sản xuất còn lại cũng có vai trò nhất định
Nếu xét trong nội bộ phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực
lượng sản xuất. Còn nếu xét trong tổng thể các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất hợp thành
cơ sở kinh tế của xã hội đó. Đây là cơ sở hiện thực để con người dựng nên kiến trúc thượng tầng tương ứng
Kiến trúc thượng tầng: Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, “Kiến trúc
thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội, những tiết chế tương ứng, và những
quan hệ nội tại của chúng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định”.
Về mặt kết cấu KTTT gồm: những quan điểm, tư tưởng của xã hội (về chính trị, pháp quyền,
đạo đức, tôn giáo,…) và những thiết chế xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội và
những đoàn thể xã hội khác)
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng,
nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qualại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng.
Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng. Có những yếu tố như
chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn
giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó
Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đâylà hai mặt của đời sống
xã hội và được hình thành một cách khách quan, gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội cụ
thể. Không như các quan niệm duy tâm giải thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng
những nguyên nhân thuộc về ý thức, tư tưởng hay thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền,
trong Lời tựa tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã khẳng định: “không
thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi
là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệvà hình thái đó,
mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”
Thứ nhất vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúcthượng tầng thể hiện qua:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầngtương ứng với nó. Tính chất
của kiến trúc thượng tầng là do tính chất củacơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp,
giai cấp nào thống trịvề kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống
tinhthần của xã hội. Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết địnhcác mâu thuẫn trong
lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấpvề chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối
kháng trong đời sống kinh tế.Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp
quyền,triết học, tôn giáo,… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạtầng, do cơ sở hạ
tầng quyết địnhKhi cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thayđổi theo. Quá
trình thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổitừ hình thái kinh tế – xã hội này sang
hình thái kinh tế – xã hội khác,mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế – xã hội.
Sựthay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn rarất phức tạp. Trong
đó, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thayđổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở
hạ tầng như chính trị, phápluật.
Thứ hai tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạtầng:
+ Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đếncơ sở hạ tầng. Tuy
nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, cócách thức tác động khác nhau.
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ratheo hai chiều. Nếu kiến
trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quyluật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy kinh tế pháttriển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãmphát triển xã hội.
+ Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triểnkinh tế, nhưng không
làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quancủa xã hội Y nghĩa trong đời sông
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng là cơ sở khoa
học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
- Kinh tế và chính trị tác động biện chứng, trong đó kinh tế tác động chính trị, chính trị tác động
trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh tế. Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng là vai trò hoạt
động tự giác tích cực của các giai cấp, đảng phái vì lợi ích kinh tế sống còn của mình. Sự tác
động của kiến thức thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối,
chính sách của đảng, nhà nước. Chính vì vậy Lenin viết: “Chính trị là biểu hiện của sự tập trung
kinh tế… Chính trị không thể không chiếm vị trí hạng đầu so với kinh tế”.
- Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và
chính trị đều là sai lầm. Bởi+ Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi
vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương,
pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ. + Còn nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc
phủ định vai trò củakinh tế sẽ dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai
đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
- Có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất quan tâm
đến nhận thức và vận dụng quy luật này. Điều đó thể hiện ở chỗ: trong thời kỳ đổi mới đất nước,
ĐCS Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổimới kinh tế là
trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng bước thận trọng vững chắc bằng những hình thức,
bước đi thích hợp; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới - ổn định – phát triển, giữ vững định hướng XHCN.
Câu 9: Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử
Cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chú nghĩa duy vật lịch sử,dùng để chỉ xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sảnxuất đặc trưng cho xã hội đó
phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sảnxuất và với một kiến trúc thượng tầng
tương ứng được xây dựng lên trên nhữngquan hệ sản xuất ấy.
Sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tựnhiên Sự vận động phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội tuân theo các quy luậtkhách quan, tức là tuân theo tính tất
yếu, theo những xu hướng nhất định, nghĩa làsự phát triển của xã hội chỉ có thể diễn ra như thế
này chứ không thể như thế khác.Chính sự liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên
hình thái kinh tế -xã hội tạo thành các quy luật khách quan chỉ phối sự vận động, phát triển của
cáchình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.
Trong các quy luậtkhách quan ấy thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực
lượng sảnxuất đóng vai trò quan trọng nhất. Nó vừa phản ánh tính liên tục lẫn tính gián
đoạntrong sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội.Nguồn gốc sâu xa của sự vận
động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội đóchính là lực lượng sản xuất. Vì lực lượng
sản xuất mang tính khách quan (tùythuộc vào năng lực thực tiễn của con người và trình độ của
lực lượng sản xuất đãđược tạo ra bởi các thế hệ trước) nên quan hệ sản xuất cũng mang tính
khách quan(quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất). Khi lực lượng
sảnxuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất mới được ra đời, tạothành cơ
sở hạ tầng mới và tương ứng là một kiến trúc thượng tầng mới. Từ đó,mọi mặt của đời sống xã
hội phát triển và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Khôngphải ngẫu nhiên, C. Mác đã khẳng định
vai trò quyết định của lực lượng sản xuấtđối với đời sống xã hội, của các quan hệ kinh tế đối với
các quan hệ tinh thần:“Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực sản xuất. Do
có đượcnhững lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình,và do
thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay dổitất cả những quan
hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội cólãnh chúa, cái cối xay chạy hơi
nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp".Ngoài các quy luật khách quan trên thì các yếu tố
khác, như điều kiện tự nhiên,điều kiện dân số, văn hóa, giáo dục, y tế, pháp luật và các bộ phận
khác nhau củakiến trúc thượng tầng... cũng đóng vai trò hết sức quan trọng. Chính do sự tác
độngcủa những yếu tố đó đã tạo nên một bức tranh hết sức đa dạng, phức tạp trong sựvận động,
phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tạo nên sự phát triển khôngđồng đều nhau giữa các
quốc gia. Nghĩa là, ở cùng một thời điểm có thể tồn tạinhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
trên thế giới. Nhưng vì có mối quan hệgiữa các quốc gia với nhau, cùng với tính năng động, sáng
tạo của nhân tố conngười, mà quốc gia này có thể kể thừa những giá trị của các quốc gia khác đã
đạtđược trước đó, cho nên trong quá trình vận động, phát triển của mình, có quốc giacó thể bỏ
qua một hoặc một số hình thái kinh tế - xã hội. Như vậy, sự phát triển của các hình thái kinh tế -
xã hội là một quá trình lịch sử -tự nhiên bao gồm cả sự phát triển tuần tự và không tuần tự các
hình thái kinh tế -xã hội. Điều đó tùy thuộc vào từng điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi một quốc
gia.Vì vậy, việc vận dụng quan điểm lịch sử - tự nhiên phải gắn liền với quan điểmlịch sử - cụ thể
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩaViệt Nam bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội đượchiểu như sau:Chỉ dưới ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội mới là conđường duy nhất đúng đắn để mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc ViệtNam.
2. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaTrong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khái quátlý luận: “Nền kinh tế thị trưởng định hướng xã hội
chủ nghĩa Việt Nam lànền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế
thịtrường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từnggiai đoạn phát triển
của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại vàhội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân
giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
3. Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước.Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật chochủ nghĩa xã hội. Con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cầvà có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có
những bướcnhảy vọt.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn có ý nghĩa chống lại nguy cơ tụt hậu
vềkinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới. Đảng ta nhấn mạnh rằng,“đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn
với xây dựng nông thôn mới; phát triểnkinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ
của các ngành, lĩnhvực; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinhtế;