1. Bản chất nhà nước
Bản chất của nhà nước tổng thể những phương diện, mối liên hệ, những thuộc tính tất
nhiên bên trong nhà nước, quy định sự tồn tại, phát triển của nhà nước.
Bản chất của nhà nước được thể hiện tính giai cấp tính hội.
Tính giai cấp của Nhà nước
Tính giai cấp của nhà nước được thể hiện: Nhà nước do một giai cấp trong hội tổ chức ra
nắm giữ quyền lực gọi giai cấp cầm quyền. Quyền lực của Nhà nước được sử dụng
với mục đích trước hết bảo vệ lợi ích vị thế của giai cấp đó.
- Về kinh tế: Nhà nước giai cấp cầm quyền sở hữu những liệu sản xuất bản của
hội, như đất đai, hầm mỏ, nhà máy, công nghiệp,
- Về chính trị: Nhà nước sử dụng các biện pháp (kể cả bạo lực cưỡng chế) để củng cố,
tăng quyền lực ưu thế của giai cấp nắm quyền lực nhà nước.
- Về tưởng: giai cấp cầm quyền sử dụng bộ máy nhà nước để truyền hệ tưởng
phù hợp với lợi ích giai cấp mình.
Tính giai cấp của Nhà nước thuộc tính bản, nội trội của Nhà nước. vậy, Nhà nước
mang bản chất của giai cấp thống trị hội. Không Nhà nước phi giai cấp hoặc Nhà nước
mang bản chất của nhiều giai cấp.
Tuy nhiên tuy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, sự tương quan lực lượng giữa các giai cấp
trong hội mức độ biểu hiện tính giai cấp mỗi nhà nước khác nhau.
Tính hội của nhà nước
Xét về nguồn gốc, nhà nước sinh ra không phải chỉ nhu cầu thống trị giai cấp trước hết
bởi nhu cầu quản hội, nhà nước cũng tồn tại phát triển dựa trên những điều kiện
thực tế của hội.
Nhà nước cũng không thể tồn tại nếu chỉ bảo vệ lợi ích của duy nhất giai cấp cầm quyền
không quan tâm đến việc bảo vệ lợi ích của các giai tầng hội khác trong hội. Nhà nước
thực hiện các nhiệm vụ chung để bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, văn hóa, hội, duy trì
trật tự hội, giải quyết các vẫn đề phát sinh trong nội bộ đất nước liên quan đến các quốc
gia, các tổ chức quốc tế khác.
Tính hội của nhà nước cũng biểu hiện khác nhau mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào điều
kiện hoàn cảnh thực tế. Theo quy luật chung, cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống
hội, tính cách của hội, tính hội của Nhà nước ngày càng mở rộng; nhiều vấn đề đòi
hỏi phải sự phối hợp của nhiều nhà nước như: vấn đề việc làm, lao động, bảo vệ môi
trường, đấu tranh phòng, chống tội phạm,
2. Vị trí, đặc điểm nhà nước
Vị trí của nhà nước: trung tâm của kiến trúc thượng tầng.
Đặc điểm của nhà nước: yếu tố để phân biệt nhà nước với các tổ chức khác trong hội.
Mặc mỗi kiểu nhà nước đều những bản chất riêng, nhưng các nhà nước đều những
đặc điểm bản sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt, thực hiện quyền lực thông qua bộ
máy cai trị. Nhà nước tổ chức duy nhất bộ máy gồm hệ thống các quan tổ chức
chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Bộ máy nhà nước chức năng, nhiệm vụ quản
hoạt động của tất cả các lĩnh vực của đời sống hội. Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ
của mình, nhà nước thông qua các quy định pháp luật trao cho các quan nhà nước, nhân
viên nhà nước những quyền nghĩa vụ nhất định. Quyền lực của nhà nước tác động đến
toàn hội, được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế.
Khi điều kiện hội thay đổi, các quy định về quyền lực của bộ máy nhà nước cũng được
điều chỉnh, tuy nhiên, quyền lực của Nhà nước luôn được củng cố phát triển.
Thứ hai, Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính thực hiện quản
dân theo lãnh thổ. Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để tổ
chức bộ máy nhà nước một cách chặt chẽ thống nhất với sự phân công, phân cấp trong
việc thực hiện các hoạt động quản nhà nước. Việc quản dân thao các đơn vị hành
chính không phụ thuộc vào yếu tố huyết thống, chính kiến, giới tính, độ tuổi hay nghề nghiệp.
Thứ ba, Nhà nước đại diện cho chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia quyền tối cao
trong đối nội độc lập trong đối ngoại của nhà nước không chịu sự áp đặt từ bên ngoài.
Với cách đại diện chính thức của toàn hội, nhà nước tổ chức duy nhất đại diện cho
chủ quyền quốc gia, ban hành các chính sách đối nội đối ngoại; thực hiện các biện pháp
bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Thứ tư, Nhà nước quản hội bằng pháp luật. Pháp luật được xác định phương tiện
quan trọng nhất để tổ chức quản hội. Trong hội nhà nước, chỉ duy nhất nhà
nước quyền ban hành pháp luật. Nhà nước xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật điều
chỉnh các mối quan hệ hội, đồng thời đảm bào cho các quy phạm đó được thực thi. Pháp
luật được áp dụng đối với mọi chủ thể trong hội.
Thứ năm, Nhà nước quyền đặt ra các loại thuế thực hiện các chính sách tài chính.
Thuế nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia dùng để chi trả cho các hoạt động của bộ
máy nhà nước, đầu sở hạ tầng giải quyết các vấn đề hội cũng như để tích lũy. Việc
quy định về các loại thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia trách nhiệm của
nhà nước. Chỉ nhà nước mới quyền quy định thu các loại thuế, bởi nhà nước là đại
diện chính thức của toàn hội.
3. Bộ máy nhà nước Cộng Hòa hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước CHXHCNVN hiện nay được tổ chức hoạt động theo hiến pháp 2013
các luật về tổ chức các quan (Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức
chính quyền địa phương) gồm các quan bản: quan quyền lực nhà nước, Chủ tịch
nước, quan quản nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm soát nhân dân, các thiết chế
hiến định độc lập.
quan quyền lực Nhà nước:
- Quốc hội:
+ Vị trí pháp lí: “Quốc hội quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN” (Hiến pháp 2013). Quốc hội
quan đại biểu cao nhất của Nhân dân Quốc hội quan duy nhất do cử tri cả
nước bầu ra. Quốc hội quan quyền lực nhà nước cao nhất Quốc hội nơi tập
trung thống nhất những quyền lực được nhân dân cả nước giao phó.
+ Chức năng: Thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước (như: chính sách bản về đối nội đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế -
hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc bản về tổ chức hoạt
động của bộ máy nhà nước); giám sát tối cao đối với hoạt động của các quan trong
bộ máy nhà nước. Chức năng cụ thể của Quốc hội được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể được quy định tại Hiến pháp 2013.
+ Tổ chức, hoạt động: nhiệm mỗi khóa quốc hội 5 năm. cấu tổ chức của
Quốc hội bao gồm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân
tộc, cac Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội kỳ hợp
Quốc hội.
- Hội đồng nhân dân:
+ “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri địa phương
bầu ra, quan quyền lực nhà nước địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
quyền làm chủ Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương quan
nhà nước cấp trên” ( Luật tổ chức địa phương)
+ Hội đồng nhân dân được tổ chức các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa
hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân n 5 năm. Việc rút
ngắn hay kéo dài nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề
nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chủ tịch nước:
- Vị trí pháp lí: “Chủ tịch nước người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước
CHXHCNVN về đối nội đối ngoại”
- Chức năng: thay mặt nước CHXHCNVN về đối nội đối ngoại
+ Đối nội: Chủ tịch nước quyền công bố Hiến Pháp, Luật, Pháp lệnh; thống lĩnh
các lực lượng trang nhân dân giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng an
ninh; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức vụ cao cấp của nhà nước; công bố
quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp…
+ Đối ngoại, Chủ tịch nước quyền tiếp nhận địa sứ đặc mệnh toàn quyền của
nước ngoài; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hổi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của VN;
phong hàm, cấp đại sứ; đàm phán, kết Điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; quyết
định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam
Chức năng của Chủ tịch nước được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ quyền hạn, được
quy định Điều 88 Hiến pháp 2013.
- Chức danh chủ tịch nước do Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị quốc hội bầu trong số
các địa biểu Quốc hội. Sau khi được bầu, Chủ tịch nước phải tuyên thệ trung thành với
Tổ quốc, Nhân dân Hiến pháp. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm của Quốc
hội. Chủ tịch nước chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội.
quan quản Nhà nước:
Chính phủ:
- Vị trí pháp lí: “Chính phủ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
CHXHCN VN, thực hiện quyền hành pháp, quan chấp hành của Quốc hội”
- Chức năng:
+ quan hành chính nhà nước cao nhất, chính phủ thống nhất quản các lĩnh
vực của đời sống hội: đảm bảo hiệu lực bộ máy nhà nước từ trung ương đến sở;
đảm bảo việc tôn trọng chấp hành Hiến pháp pháp luật; đảm bảo ổn định nâng
cao đời sống vật chất văn hóa của nhân dân.
+ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ trách nhiệm tổ chức thực
hiện Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước
+ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ do Quốc hội thành lập, thực hiện
các nhiệm vụ do Quốc hội giao, báo cáo công tác với Quốc hội, chịu trách nhiệm về kết quả
thực hiện nhiệm vụ được giao trước Quốc hội.
- Tổ chức, hoạt động: Chính phủ những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Hiến
pháp 2013. Chính phủ do Quốc hội lập ra nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Chính phủ gồm Thủ
tướng chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng Thủ tướng quan
ngang bộ.
Ủy ban nhân dân:
- Vị trí pháp lí: “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, quan chấp
hành của hội đồng nhân dân, quan hành chính nhà nước địa phương, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp quan hành chính
Nhà nước cấp trên”
- Tổ chức hoạt động: Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch các Ủy viên, số
lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định. Nhiệm kỳ
của Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp”
Tòa án nhân dân:
- Vị trí pháp lí: “Tòa án nhân dân quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN VN, thực
hiện quyền pháp”
- Chức năng:
+ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, Tòa án nhân danh nước Cộng
hòa hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, n sự, hôn nhân gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính giải quyết các việc khác theo quy
định của pháp luật.
+ quan thực hiện quyền pháp, Tòa án nhân dân nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, nhân.
- Tổ chức hoạt động: hệ thống Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao, tòa án
nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện, tòa án quân sự.
Viện kiểm sát nhân dân:
- Vị trí pháp lí: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
pháp”
- Chức năng:
+ Thực hiện quyền công tố hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện
ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong suốt quá
trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
+ Kiểm soát hoạt động pháp hoạt động của VKSND để kiểm tra tính hợp pháp
của các hành vi, quyết định của quan, tổ chức, nhân trong hoạt động pháp.
- Tổ chức, hoạt động: hệ thống viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự các cấp.
: Hội đồng bầu cử quốc gia Kiểm toán nhà nước được Các thiết chế hiến định độc lập
thiết lập để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước.
- Hội đồng bầu cử quốc gia: “Hội đồng bầu cử quốc gia quan do Quốc hội thành
lập, nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu QH; chỉ đạo hướng dẫn công tác bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp”
- Kiểm toán nhà nước: “Kiểm toán nhà nước quan do QH thành lập, hoạt động độc
lập chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lí, sử dụng tài chính, tài
sản công”.
4. Đặc điểm, vai trò của Pháp Luật
Đặc điểm của pháp luật: 4 đặc điểm
- Tính quy phạm phổ biến: các quy định của PL luôn các khuôn mẫu, chuẩn mực để
hướng dẫn cách xử sự cho mọi chủ thể của hội. Bất kỳ ai, vào điều kiện, hoàn
cảnh PL đã dự liệu đều phải xử sự thao cách thức PL đã nêu ra. Dựa trên sở các
quy định của PL, các chủ thể trong XH biết đc làm gì, không được làm hoặc làm như
thế nào khi vào điều kiện, hoàn cảnh PL đã dự liệu. PL luôn tiêu chuẩn, khuôn mẫu
để đánh giá hành vi của con người hợp pháp hay bất hợp pháp.
- Tính quyền lực nhà nước (tính cưỡng chế):
+ PL do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận đảm bảo thực hiện. Thông qua nhà
nước, giai cấp thống trị thể hiện hợp pháp hóa ý chí của mình một cách chính thống
trên thực tế. Việc PL được đảm bảo thực hiện trong đời sống XH chính việc đảm bảo
cho quyền lực nhà nước được tác động đến mọi thành viên của XH.
+ PL giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể trong XH, bất kỳ chủ thể nào
khi vào điều kiện, hoàn cảnh quy phạm đã dự liệu đều phải thực hiện theo đúng yêu
cầu của PL, nếu không hành vi của chủ thể bị coi vi phạm PL.
- Tính hệ thống
+ PL 1 hệ thống gồm tổng thể các quy phạm PL mối liên hệ nội tại thống nhất
chặt chẽ với nhau, được phân định thành các chế định PL, ngành luật được thể
hiện trong các hình thức PL.
+ VN hiện nay, PL chủ yếu đc thể hiện trong 1 hệ thống văn bản quy phạm PL do
Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục hình thức nhất định. Hệ thống văn
bản quy phạm PL gồm nhiều loại văn bản khác nhau theo thứ bậc hiệu lực pháp lí, văn
bản hiệu lực pháp thấp hơn phải phù hợp với văn bản hiệu lực PL cao hơn; quy
phạm PL do quan cấp dưới ban hành phải phù hợp với quy phạm PL do quan cấp
trên ban hành đều phải phù hợp với quy định của hiến pháp.
+ Nội dung các quy định trong các văn bản quy phạm PL các quy phạm PL phải
nhất quán, phù hợp, không mâu thuẫn, không chồng chéo với nhau.
- Tính xác định về hình thức: PL thường được thể hiện trong những hình thức nhất
định, thể tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm PL. Trong đó các
văn bản quy phạm PL lại những hình thức cụ thể như Hiến pháp, luật, nghị định,
nghị quyết, Mỗi loại văn bản do những quan thẩm quyền ban hành theo những
trình tự, thủ tục nhất định được quy định chặt chẽ trong luật.
Vai trò của PL:
- Pháp luật sở cho việc thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước.
Thông qua PL, các quan nhà nước được xác định về tên gọi, trình tự thành lập,
cấu tổ chức. Đồng thời, PL cũng xác định luôn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng quan, xác định mối quan hệ giữa các quan nhà nước với nhau, xác định mối
quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của các quan nhà nước.
- Pháp luật góp phần tổ chức, quản hội. Thông qua hệ thống PL, nhà nước c
định chế độ kinh tế, các chính sách phát triển hội, điều tiết các nguồn lực hội
Mặt khác, pháp luật thể chế hóa các đường lối, chủ trương phát triển KT XH, xây
dựng hành lang pháp phù hợp nhằm đảm bảo sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối
với đời sống kinh tế - hội.
- Pháp luật góp phần tạo dụng những quan hệ mới. Không chỉ điều chỉnh những quan
hệ hội phổ biến thể cần xuất hiện trong tương lai. Để thực hiện được vai trò
này, hoạt động của quan nghiên cứu, soạn thảo, ban hành pháp luật phải đảm bảo
tính khoa học, dự báo được chính xác, lâu dài xu hướng phát triển của hội.
- Pháp luật sở cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị, hợp tác
quốc tế. Thông qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế, quy định trình tự, thủ tục
kết, phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế; quy định trình tự, thủ tục thiết lập quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác …, pháp luật sở pháp cần thiết cho việc
thiết lập thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế. Quá trình nội luật hóa các quy định của
luật pháp quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành lang pháp
an toàn cho các quan hệ hợp tác phát triển, thu hút hoạt động hợp tác đầu
các nhà đầu của quốc gia khác vào thị trường để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất
nước.
5. Hình thức Pháp luật
- Hình thức của PL cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, cách thức nhà nước
sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành PL.
- Tập quán pháp: tập quán pháp các quy tắc xử sự đã tồn tại trong hội dưới dạng
phong tục, tập quán, đao đức, tín điều tôn giáo nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước
nên được nhà nước thừa nhận thành pháp luật.
- Tiền lệ pháp:
+ Tiền lệ pháp hay án lệ những bản án, quyết định của chủ thể thẩm quyền khi
giải quyết các vụ việc cụ thể, được nhà nước thừa nhận làm khuôn mẫu để giải quyết
các vụ việc khác tương tự.
+ Tiền lệ pháp hay án lệ kết quả từ hoạt động của quan xét xử hay quan nhà
nước khác. dụ, bản án do Tòa án nhân dân tối cao đưa ra khi giải quyết 1 vụ án tranh
chấp đất đai đã được Nhà nước thừa nhận làm mẫu để các tòa án khác phải tuân theo
khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai xảy ra sau đó với nội dung tương tự.
- Văn bản quy phạm PL:
+ văn bản do quan nhà nước hoặc nhân thẩm quyền ban hành theo trình
tự, thủ tục hình thức do pháp luật quy định, trong đo các quy phạm được nhà nước
đảm bảo thực hiện hay các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ hội theo mục
đích của nhà nước.
+ Đây hình thức pháp luật quan trọng nhất đảm bảo tính chính xác, ràng,
minh bạch, dễ thống nhất, được cập nhật thường xuyên theo sự thay đổi của đời sống
hội.
6. Quan hệ Pháp luật
- QHPL quan hệ hội được QPPL điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ
hội các quyền nghĩa vụ pháp được nhà nước đảm bảo thực hiện.
Đặc điểm
- Mang tính ý chí: lựa chọn các QHXH để điều chỉnh, cách thức điều chỉnh quan hệ
đó như thế nào phụ thuộc vào ý chí của nhà nước (cơ quan ban hành văn bản QPPL).
Mặt khác, QHPL được hình thành, thay đổi, chấm dứt còn phụ thuộc vào ý chí các bên
tham gia.
- QHPL xuất hiện tồn tại trên sở các QPPL. Mối quan hệ XH nếu không được điều
chỉnh bởi pháp luật thì chỉ quan hệ hội đơn thuần không thể trở thành quan hệ
PL. vậy quy phạm PL một trong những điều kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm
dứt quan hệ PL.
- Nôi dung của QHPL biểu hiện thành quyền nghĩa vụ pháp cụ thể của các bên
tham gia quan hệ.
+ QHPL được hình thành bởi ít nhất 2 chủ thể (gọi các bên của quan hệ pháp
luật), quan hệ giữa các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất định, vậy, pháp
luật quy định quyền nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo cho các quan hệ pháp luật
diễn đúng theo ý chí của Nhà nước.
+ Quyền nghĩa vụ của các bên cũng thể do các bên thỏa thuận trong khuôn
khổ pháp luật (ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao động) hoặc được
xác định bởi nhà nước (như trong QHPL hình sự, hành chính)
+ Quyền nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bởi nhà nước với nhiều hình thức,
tính chất khác nhau: những biện pháp bảo đảm mang tính bắt buộc, cưỡng chế,
nhưng cũng những biện pháp bảo đảm mang tính cho phép, tùy nghi.
Cấu thành của quan hệ PL
a) Chủ thể: Chủ thể của QHPL các nhân tổ chức tham gia QHPL với những
quyền nghĩa vụ pháp đc xác định. Điều kiện để trở thành chủ thể của QHPL:
- Năng lực pháp luật: khả năng của chủ thể được hưởng quyền thực hiện nghĩa vụ
pháp khi tham gia quan hệ PL. Mỗi chủ thể khi tham gia các QHPL khác nhau sẽ
khả năng hưởng quyền thực hiện nghĩa vụ khác nhau do pháp luật quy định.
+ Năng lực pháp luật yếu tố mang tính chất thụ động, phụ thuộc vào ý chí của
nhà nước thể hiện qua các quy định của PL
- Năng lực hành vi pháp luật: khả năng các chủ thể bằng hành vi của mình xác
lập thực hiện quyền nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật cụ thể.
+ Năng lực hành vi pháp luật mang tính chủ động. Theo đó, các chủ thể của QHPL
tự bản thân mình thực hiện các quyền nghĩa vụ đã được PL quy định. Khi 1 chủ thể
năng lực hành vi pháp luật, chủ thể được tự mình tham gia QHPL để hưởng quyền
hoặc làm nghĩa vụ trong quan hệ đó.
- Một nhân chỉ đầy đủ năng lực hành vi pháp luật khi đạt đến một độ tuổi nhất
định, khả năng nhận thức làm chủ hành vi của mình. Một tổ chức, ngay từ khi
được thành lập hoặc được cấp giấy phép hoạt động, năng lực pháp luật năng lực
hành vi pháp luật cảu pháp nhân đã xuất hiện
- Các loại chủ thể:
+ nhân
Công dân nhân mang quốc tịch của 1 nước các quyền, nghĩa vụ pháp theo quy
định của PL nước đó. Công dân chủ thể phổ biến của QHPL
Người nước ngoài nhân sinh sống tại 1 quốc gia nhưng lại mang quốc tịch của 1 quốc
gia khác.
Người không quốc tịch nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.
+ Tổ chức
Tổ chức phải đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia QHPL
Trong các tổ chức, nhóm tổ chức pháp nhân khi thỏa mãn các điều kiện được quy định
tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là: (1) Được thành lập theo quy định của PL; (2)
cấu tổ chức chặt chẽ; (3) tài sản độc lập với nhân, pháp nhân khác tự chịu trách
nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh mình tham gia QHPL 1 cách độc lập. Pháp nhân
gồm: pháp nhân thương mại pháp nhận phi thương mại.
b) Khách thể
- Khách thể của QHPL những lợi ích các chủ thể tham gia QHPL hướng tới khi
tham gia quan hệ đó
- Khách thể của QHPL rất đa dạng, thể những lợi ích VC (tiền, nhà, đất đai,
phương tiện vận chuyển, TLSX, …) hoặc lợi ích phi VC thỏa mãn các nhu cầu về
tinh thần (quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, uy tín, danh tiếng, …)
c) Nội dung
- Quyền chủ thể: Khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức PL cho phép.
+ Chủ thể thể tự thực hiện những hành vi nhất đinh (tự xử sự), bằng hành vi
của mình, chủ thể tự tiến hành cách xử sự pháp luật cho phép.
+ thể yêu cầu chủ thể nghĩa vụ của quan hệ phải thực hiện những hành động
cụ thể để đảm bảo quyền của mình trong quan hệ, yêu cầu chủ thể phía bên kia chấm
dứt việc thực hiện hành vi trái PL xâm hại tới quyền lợi ích chính đáng của mình
+ thể yêu cầu nhà nước can thiệp để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp khi
quyền lợi ích đó bị xâm hại.
- Nghĩa vụ pháp chủ thể các xử sự các chủ thể của quan hệ pháp luật bắt buộc
phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia.
+ Nghĩa cụ pháp của chủ thể bao gồm: nghĩa vụ phải thực hiện một hoặc một số
hoạt động nhất định; nghĩa vụ không được thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất
định; chịu trách nhiệm khi không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với phía bên
kia.
Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL
- Một QHPL cụ thể sẽ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi quy phạm PL, chủ thể
đủ năng lực chủ thể sự kiện pháp lý. Trong đó: QPPL sở pháp lí, chủ thể
yếu tố trực tiếp thực hiện quyền nghĩa vụ trong QHPL, sự kiện pháp chính thức
làm QHXH chịu sự tác động trong thực tế.
- Sự kiện pháp sự kiện, sự việc thực tế xảy ra trong cs được PL gắn với việc làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL
- Sự kiện PL gồm hành vi pháp sự biến pháp lý.
- Hành vi pháp lý: xử sự của con người sự kiểm soát điều khiển của trí được
PL gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL.
- Sự biến pháp lý: kết quả của 1 hiện tượng, sự việc hoặc hành vi xảy ra trong tự nhiên
nhưng được PL gắn với việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL. VD: sóng
thần, động đất xảy ra gây chết người, thiệt hại về tài sản thể làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt nhiều QHPL như: phát sinh QHPL bảo hiểm, QHPL về thừa kế tài sản; chấm
dứt QHPL về quyền sở hữu tài sản.
7. Vi phạm pháp luật: dấu hiệu các loại vi phạm pháp luật
- Vi phạm PL hành vi trái PL, lỗi, do chủ thể năng lực trách nhiệm pháp thực
hiện, xâm hại các quan hệ hội được PL bảo vệ.
Dấu hiệu
- Vi phạm PL hành vi xác định của con người. Những còn nằm trong ý nghĩ,
tưởng của con người chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể biến đổi thế giới
khách quan, không khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ hội nên không thể gọi
vi phạm PL được.
- Vi phạm PL hành vi trái PL: Vi phạm PL xử sự trái với các yêu cầu của PL. Hành
vi vi phạm PL được thể hiện dưới các hình thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị PL
cấm, chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ PL bắt buộc phải thực hiện.
- Vi phạm Pl hành vi của chủ thể năng lực trách nhiệm pháp . 1 hành vi tính
chất trái pháp luật nhưng chủ thể không năng lực trách nhiệm PL thì không bị coi
vi phạm PL.
- Vi phạm PL hành vi lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi vi phạm PL khi
chủ thể điều khiển được hành vi của mình nhận thức được hậu quả của hành vi đó.
Như vậy, chỉ những hành vi trái PL lỗi của chủ thể thì mới bị coi vi phạm
PL.
Các loại vi phạm pháp luật
- Vi phạm luật hình sự: tội phạm loại vi phạm PL tính nguy hiểm cho XH cao
nhất.
- Vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính hành vi lối do nhân, tổ chức thực
hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản nhà nước không phải tội phạm
theo quy định của PL phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
- Vi phạm dân sự: hành vi trái PL, lỗi của chủ thể năng lực trách nhiệm dân sự
xâm hại tới các quan hệ tài sản các quan hệ nhân thân phi tài sản.
- Vi phạm kỷ luật: hành vi lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác lập trật
tự trong nội bộ quan, tổ chức, tức không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập,
công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ quan, tổ chức đó.
8. Trách nhiệm pháp lý: căn cứ áp dụng các loại trách nhiệm pháp
Căn cứ: căn cứ pháp các căn cứ thực tế
- Căn cứ pháp : tổng thể các quy định của PL hiện hành được các chủ thể sử dụng
làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí. Căn cứ pháp bao gồm:
+ Quy định của PL hiện hành về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cách thức tiến hành
truy cứu trách nhiệm pháp lý.
+ Các quy định của PL hiện hành xác định các yếu tố về hành vi vi phạm, các biện
pháp chế tài dự kiến áp dụng, điều kiện để áp dụng chế tài.
+ Các quy định của pháp luật liên quan đến thời hiệu để truy cứu trách nhiệm pháp
lí.
- Căn cứ thực tế cửa việc truy cứu trách nhiệm PL việc trên thực tế xác định được
hành vị vi phạm PL thông qua các yếu tố cấu thành của vi phạm PL đó. Căn cứ thực tế
bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể chủ thể của vi phạm PL.
Các loại trách nhiệm PL: tương ứng với các loại vi phạm PL các loại trách nhiệm pháp
tương ứng
- Trách nhiệm hình sự loại trách nhiệm pháp do Tòa án áp dụng đối với chủ thể
hành vi phạm tội.
Đây loại trách nhiệm pháp nghiêm khác nhất do Tòa Án áp dụng đối với chủ
thể thực hiện hành vi phạm tội. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm
hình sự chỉ áp dụng đối với nhân pháp nhân thương mại hành vi phạm tội.
tội phạm những hành vi nguy hiểm nhất nên trách nhiệm hình sự được coi loại
trách nhiệm pháp nghiêm khắc nhất
- Trách nhiệm pháp hành chính: loại trách nhiệm pháp do quan Nhà nước
thẩm quyền hoặc chủ thể được Nhà nước trao quyền áo dụng đối với các chủ thể
hành vi vi phạm pháp luật hành chính.
Khác với trách nhiệm hình sự, chủ thể vi phạm PL hành chính nhân, tổ chức.
Ngoài ra, việc truy cứu trách nhiệm hành chính được trao cho nhiều quan khác
nhau, trong đó chủ yếu quan quản hành chính Nhà nước. Bên cạnh đó còn
các quan khác như thẩm phán tòa án nhân dân, chấp hành viên quan thi hành án
dân sự cũng thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hành chính.
- Trách nhiệm kỷ luật: loại trách nhiệm pháp do thủ trưởng quan áp dụng đối
với cán bộ, công chức, người lao động trong đơn vị hành vi vi phạm quy định về kỷ
luật lao động, học tập, công tác hoặc vi phạm pháp luật đã bị tòa án tuyên tội hoặc
bị quan thẩm quyền kết luận bằng văn bản về hành vi vi phạm pháp luật.
Chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật những người đứng đầu các quan, đơn vị.
Tuy nhiên, những người này chỉ thẩm quyền áp dụng trách nhiệm kỷ luật đối với các
chủ thể thuộc quyền quản của tổ chức họ người lãnh đạo.
Trách nhiệm kỷ luật thể đi kèm với các loại trách nhiệm pháp khác nếu chủ
thể đồng thời thực hiện các hành vi vi phạm PL khác nữa.
- Trách nhiệm dân sự: loại trách nhiệm pháp do Tòa án hoặc quan Nhà nước
thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm PL dân sự.
Khác với quan hệ PL hình sự quan hệ PL hành chính luôn một bên chủ thể
Nhà nước, trong quan hệ pháp luật dân sự, rất nhiều trường hợp Nhà nước không tham gia
với cách một bên chủ thể chủ thể chủ yếu của quan hệ này những tổ chức, các
nhân năng lực hành vi dân sự. Chính vậy, khi vi phạm pháp luật dân sự, quan
Nhà nước thẩm quyền chỉ đóng vai trò đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các biện pháp
cưỡng chế giữa các bên chủ thể của quan hệ dân sự với nhau.
- Một hành vi vi phạm PL thể bị áp dụng đồng thời nhiều loại trách nhiệm pháp
khác nhau.
9. Khái niệm, đặc điểm của quy phạm Pháp luật
- Quy phạm PL các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận đảm
bảo thực hiện để điều chỉnh quan hệ hội theo định hướng nhằm đạt được những
mục đích nhất định.
: tổng thể các QPPL tạo thành hệ thống PL, QPPL yếu tố, thành phần bản Đặc điểm
của hệ thống PL do vậy, mang đầy đủ các đặc tính của PL
- Quy tắc xử sự chung: quy phạm Pl trước hết 1 loại quy phạm XH, nên mang đầy
đủ các đặc tính của quy phạm như: quy tắc xử sự, khuôn mẫu, tiêu chuẩn để đánh
giá hành vi của con người, được sử dụng nhiều lần trong đời sống hội quy phạm
PL được sử dụng lặp đi lặp lại cho tới khi không còn hiệu lực tác động nữa.
- Mang tính quyền lực nhà nước: QPPL hình thành bằng con đường nhà nước, thông
qua các quan nhà nước, quy phạm PL được ban hành hoặc được thừa nhận. Mỗi
QPPL di nhà nước ban hành đảm bảo thực hiện thông qua hệ thống các quan nhà
nước thẩm quyền. Nhà nước sử dụng nhiều hình thức để tạo điều kiện hoặc buộc các
chủ thể phải thực hiện các QPPL: tuyên truyền, thuyết phục hoặc cưỡng chế. Đây
điểm khác biệt đặc thù giữa quy phạm PL các quy phạm hội khác.
- Được thực hiện nhiều lần trong đời sống: các quy phạm Pl dự liệu các tình huống phổ
biến, thể xảy ra trong đời sống. Mặc hội thường xuyên thay đổi, đa dạng phức
tạp nhưng QPPL được áp dụng chung, nhiều lần đối với các nhân, tổ chức, bất cứ
khi nào, khi vào tình huống được dự liệu như trong quy phạm PL thì chủ thể đều phải
thực hiện theo quy định của PL.
10. Cấu trúc của quy phạm pháp luật
Nội dung của QPPL cho các chủ thể hội biết được: (1) Trong TH, hoàn cảnh nào thì các
chủ thể XH phải tuân thủ các quy tắc nhà nước đặt ra; (2) Khi vào điều kiện, hoàn cảnh
nhà nước đã dự liệu, các chủ thể phải hành xử như thế nào; (3) các biện pháp nhà
nước dự kiến tác động để đảm bảo thực hiện quy phạm pháp luật gì. Các câu trả lời cho c
vấn đề đó tạo thành các thành phần của quy phạm PL.
- Giả định: bộ phận nêu lên (dự liệu) điều kiện, hoàn cảnh thể xảy ra trong đời
sống khi chủ thể vào điều kiện, hoàn cảnh đó sẽ phải chịu sự tác động của quy
phạm PL.
+ Nội dung phần giả định nêu lên phạm vi tác động của quy phạm pháp luật, trả lời
cho câu hỏi: Ai? Khi nào? Trong những điều kiện, hoàn cảnh?
- Quy định: bộ phận nêu lên cách xử sự các chủ thể khi điều kiện, hoàn cảnh quy
phạm pháp luật đã giả định được phép hoặc buộc phải thực hiện. Phần quy định của
quy phạm pháp luật chính mệnh lệnh của nhà nước, trực tiếp thể hiện ý chí của nhà
nước. Thường được nêu lên dạng: thể, quyền, cấm được, không được, phải,
nghĩa vụ
+ Bộ phận quy định của QPPL trả lời cho câu hỏi: Được làm gì? Không được làm
gì? Phải làm gì? Làm như thế nào?
+ Bộ phận quy định của quy phạm PL thể hiện dưới dạng: cấm đoán, bắt buộc, tùy
nghi hoặc trao quyền:
Quy định bắt buộc quy định xác định hành vi chủ thể buộc phải thực hiện.
Quy định cấm đoán quy định xác định hành vi chủ thể không được thực hiện.
Quy định tùy nghi quy định đó xác định hành vi chủ thể được thực hiện.
- Chế tài: bộ phận của quy phạm pháp luật dự kiến về những biện pháp được áp dụng
đối với chủ thể khi vào điều kiện, hoàn cảnh quy phạm PL đã giả định không thực
hiện đúng quy định của QPPL. Những biện pháp này thể hiện sự răn đe, lên án của nhà
nước đối với chủ thể không thực hiện đúng quy định của PL.
+ Bộ phận chế tài của QPPL trả lời cho câu hỏi: chủ thể khi vào điều kiện, hoàn
cảnh QPPL đã giả định nếu không thực hiện đúng quy định của quy phạm PL sẽ phải
gánh chịu hậu quả như thế nào?
+ Trong hệ thống chế tài PL hiên 4 hình thức chế tài, bao gồm: chế tài hành
chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự chế tài kỉ luật. Mỗi loại chế tài này được nhà
nước quy định để áp dụng đối với các loại vi phạm PL khác nhau, trong những điều
kiện, hoàn cảnh không giống nhau.
- Trong một số trường hợp, QPPL thể “ẩn đi” phần quy định hoặc dẫn chiếu đến phần
chế tài trong một số QPPL khác. Trật tự các bộ phận của QPPL cũng thể thay đổi.
11. Khái niệm, đặc điểm của hành vi tham nhũng
- Tham nhũng hành vi của người chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền
hạn đó vụ lợi”
Đặc điểm:
- Một chủ thể tham nhũng người chức vụ, quyền hạn: Người chức vụ quyền
hạn người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình
thức khác, hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ,
công vụ nhất định quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó
bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức
b) quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong quan,
đơn vị thuộc quân đội nhân dân; quan, hạ quan nghiệp vụ, quan, hạ quan
chuyên môn thuật, công nhân công an trong quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
d) Người giữa chức danh, chức vụ quản trong doanh nghiệp, tổ chức
e) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
- Hai là, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình
hoặc cho một người khác. Đây yếu tố bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người
chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể hành vi
tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người chức vụ, quyền hạn đã lợi đụng
chức vụ, quyền hạn đó đều được coi hành vi tham nhũng.
- Ba là: mục đích của hành vi tham nhũng vụ lợi.
Hành vi tham nhũng hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng vụ lợi. Vụ lợi
đây được hiểu lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng người chức
vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Thiếu yếu tố
vụ lợi thì hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ của cán bộ công chức không
bị coi “tham nhũng” nói chung hay tội phạm về tham nhũng nói riêng.
PLVN hiện nay quy định việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi tham
nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chất mọi người thực hiện hành
vi tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý. Tuy nhiên, tuy nhiên lợi ích vật
chất hiện nay trong chế thị trường thể hiện rất nhiều dạng khác nhau, nếu chỉ n cứ vào
những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích kẻ tham nhũng đạt được thì
sẽ không đủ. Thêm nữa, các lợi ích vật chất phi vật chất đan xen rất khó phân biệt.
12. Tác hại của tham nhũng
Tác hại về chính trị
- Nhiều chính sách của Đảng Nhà nước bị các cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng
phục vụ cho các mục đích nhân đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
chung đất nước.
- Tham nhũng cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Tham
nhũng làm giảm lòng tin của các nhà tài trợ khi nguồn viện trợ cho các dự án cũng
như sự ủng hộ của các quốc gia cho nước ta bị thất thoát.
- Tham nhũng ảnh hưởng xấu đến những chính sách đúng đắn của Đảng Nhà nước về
mọi mặt kinh tế, chính trị, hội.
Tác hại về kinh tế
- Tham nhũng làm thất thoát những khoản tiền lớn trong xây dựng bản do phải chi phí
cho việc đấu thầu, cấp vốn, thanh tra, kiểm tra hàng loạt các chi phí tiêu cực khác.
- Tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế.
- Tham nhũng, nhất hành vi tham ô tài sản làm cho một số lượng lớn tài sản công
trở thành tài sản của một số cán bộ, công chức, viên chức.
- Tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh, làm giảm đáng kể năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
- Hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên
chức còn gây thiệt hại đến tài sản của người dân do họ phải đưa hối lộ khi liên quan
đến các thủ tục hành chính. Mặt khác thủ tục hành chính bị kéo dài đã gây mất thời
gian, tiền của của người dân, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tác hại về hội
- Tham nhũng làm ảnh hưởng đến các giá trị, các chuẩn mực đạo đức pháp luật, làm
xuống cấp đạo đức của 1 bộ phận cán bộ, đảng viên. Tham nhũng đã làm cho một bộ
phận cán bộ, đảng viên coi thường các giá trị đạo đức chuẩn mực của pháp luật,
sách nhiễu, gây khó khăn để đòi hối lộ.
- Tham nhũng làm xáo trộn trật tự hội. Khi cán bộ, viên chức Nhà nước thực thi công
vụ hành vi tham nhũng, nhân hối lộ sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống
hội, gây bất bình trong nhân dân.

Preview text:

1. Bản chất nhà nước
Bản chất của nhà nước là tổng thể những phương diện, mối liên hệ, những thuộc tính tất
nhiên bên trong nhà nước, quy định sự tồn tại, phát triển của nhà nước.
Bản chất của nhà nước được thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội.
Tính giai cấp của Nhà nước
Tính giai cấp của nhà nước được thể hiện: Nhà nước do một giai cấp trong xã hội tổ chức ra
và nắm giữ quyền lực – gọi là giai cấp cầm quyền. Quyền lực của Nhà nước được sử dụng
với mục đích trước hết là bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó.
Sự thống trị của giai cấp cầm quyền thể hiện ở các phương diện cơ bản: -
Về kinh tế: Nhà nước – giai cấp cầm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất cơ bản của
xã hội, như đất đai, hầm mỏ, nhà máy, công nghiệp, … -
Về chính trị: Nhà nước sử dụng các biện pháp (kể cả bạo lực và cưỡng chế) để củng cố,
tăng quyền lực và ưu thế của giai cấp nắm quyền lực nhà nước. -
Về tư tưởng: giai cấp cầm quyền sử dụng bộ máy nhà nước để truyền bá hệ tư tưởng
phù hợp với lợi ích giai cấp mình.
Tính giai cấp của Nhà nước là thuộc tính cơ bản, nội trội của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước
mang bản chất của giai cấp thống trị Xã hội. Không có Nhà nước phi giai cấp hoặc Nhà nước
mang bản chất của nhiều giai cấp.
Tuy nhiên tuy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, sự tương quan lực lượng giữa các giai cấp
trong xã hội mà mức độ biểu hiện tính giai cấp ở mỗi nhà nước là khác nhau.
Tính xã hội của nhà nước
Xét về nguồn gốc, nhà nước sinh ra không phải chỉ vì nhu cầu thống trị giai cấp mà trước hết
là bởi nhu cầu quản lí xã hội, nhà nước cũng tồn tại và phát triển dựa trên những điều kiện thực tế của xã hội.
Nhà nước cũng không thể tồn tại nếu chỉ bảo vệ lợi ích của duy nhất giai cấp cầm quyền mà
không quan tâm đến việc bảo vệ lợi ích của các giai tầng xã hội khác trong xã hội. Nhà nước
thực hiện các nhiệm vụ chung để bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, duy trì
trật tự xã hội, giải quyết các vẫn đề phát sinh trong nội bộ đất nước và liên quan đến các quốc
gia, các tổ chức quốc tế khác.
Tính xã hội của nhà nước cũng biểu hiện khác nhau ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào điều
kiện hoàn cảnh thực tế. Theo quy luật chung, cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã
hội, tính cách của xã hội, tính xã hội của Nhà nước ngày càng mở rộng; có nhiều vấn đề đòi
hỏi phải có sự phối hợp của nhiều nhà nước như: vấn đề việc làm, lao động, bảo vệ môi
trường, đấu tranh phòng, chống tội phạm, …
2. Vị trí, đặc điểm nhà nước
Vị trí của nhà nước: trung tâm của kiến trúc thượng tầng.
Đặc điểm của nhà nước: là yếu tố để phân biệt nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội.
Mặc dù mỗi kiểu nhà nước đều có những bản chất riêng, nhưng các nhà nước đều có những
đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt, thực hiện quyền lực thông qua bộ
máy cai trị. Nhà nước là tổ chức duy nhất có bộ máy gồm hệ thống các cơ quan có tổ chức
chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Bộ máy nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quản lí
hoạt động của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ
của mình, nhà nước – thông qua các quy định pháp luật trao cho các cơ quan nhà nước, nhân
viên nhà nước những quyền và nghĩa vụ nhất định. Quyền lực của nhà nước tác động đến
toàn xã hội, được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế.
Khi điều kiện xã hội thay đổi, các quy định về quyền lực của bộ máy nhà nước cũng được
điều chỉnh, tuy nhiên, quyền lực của Nhà nước luôn được củng cố và phát triển.
Thứ hai, Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và thực hiện quản
lý dân cư theo lãnh thổ. Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để tổ
chức bộ máy nhà nước một cách chặt chẽ và thống nhất với sự phân công, phân cấp trong
việc thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước. Việc quản lí dân cư thao các đơn vị hành
chính không phụ thuộc vào yếu tố huyết thống, chính kiến, giới tính, độ tuổi hay nghề nghiệp.
Thứ ba, Nhà nước đại diện cho chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao
trong đối nội và độc lập trong đối ngoại của nhà nước mà không chịu sự áp đặt từ bên ngoài.
Với tư cách là đại diện chính thức của toàn xã hội, nhà nước là tổ chức duy nhất đại diện cho
chủ quyền quốc gia, ban hành các chính sách đối nội và đối ngoại; thực hiện các biện pháp
bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Thứ tư, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Pháp luật được xác định là phương tiện
quan trọng nhất để tổ chức và quản lý xã hội. Trong xã hội có nhà nước, chỉ duy nhất nhà
nước có quyền ban hành pháp luật. Nhà nước xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật điều
chỉnh các mối quan hệ xã hội, đồng thời đảm bào cho các quy phạm đó được thực thi. Pháp
luật được áp dụng đối với mọi chủ thể trong xã hội.
Thứ năm, Nhà nước có quyền đặt ra các loại thuế và thực hiện các chính sách tài chính.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia dùng để chi trả cho các hoạt động của bộ
máy nhà nước, đầu tư cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội cũng như để tích lũy. Việc
quy định về các loại thuế và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia là trách nhiệm của
nhà nước. Chỉ có nhà nước mới có quyền quy định và thu các loại thuế, bởi nhà nước là đại
diện chính thức của toàn xã hội.
3. Bộ máy nhà nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước CHXHCNVN hiện nay được tổ chức và hoạt động theo hiến pháp 2013 và
các luật về tổ chức các cơ quan (Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức
chính quyền địa phương) gồm các cơ quan cơ bản: Cơ quan quyền lực nhà nước, Chủ tịch
nước, Cơ quan quản lí nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm soát nhân dân, và các thiết chế hiến định độc lập.
Cơ quan quyền lực Nhà nước: - Quốc hội:
+ Vị trí pháp lí: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN” (Hiến pháp 2013). Quốc hội là
cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả
nước bầu ra. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất vì Quốc hội là nơi tập
trung thống nhất những quyền lực được nhân dân cả nước giao phó.
+ Chức năng: Thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước (như: chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã
hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước); giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước. Chức năng cụ thể của Quốc hội được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ,
quyền hạn cụ thể được quy định tại Hiến pháp 2013.
+ Tổ chức, hoạt động: nhiệm kì mỗi khóa quốc hội là 5 năm. Cơ cấu tổ chức của
Quốc hội bao gồm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân
tộc, cac Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội và kỳ hợp Quốc hội. - Hội đồng nhân dân:
+ “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương
bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan
nhà nước cấp trên” ( Luật tổ chức địa phương)
+ Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 5 năm. Việc rút
ngắn hay kéo dài nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân do Quốc hội quyết định theo đề
nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chủ tịch nước: -
Vị trí pháp lí: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước
CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại” -
Chức năng: thay mặt nước CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại
+ Đối nội: Chủ tịch nước có quyền công bố Hiến Pháp, Luật, Pháp lệnh; thống lĩnh
các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an
ninh; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức cá chức vụ cao cấp của nhà nước; công bố
quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp…
+ Đối ngoại, Chủ tịch nước có quyền tiếp nhận địa sứ đặc mệnh toàn quyền của
nước ngoài; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hổi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của VN;
phong hàm, cấp đại sứ; đàm phán, kí kết Điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; quyết
định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam …
Chức năng của Chủ tịch nước được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ và quyền hạn, được
quy định ở Điều 88 Hiến pháp 2013. -
Chức danh chủ tịch nước do Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị quốc hội bầu trong số
các địa biểu Quốc hội. Sau khi được bầu, Chủ tịch nước phải tuyên thệ trung thành với
Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kì của Quốc
hội. Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Cơ quan quản lí Nhà nước: Chính phủ: -
Vị trí pháp lí: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
CHXHCN VN, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” - Chức năng:
+ Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chính phủ thống nhất quản lý các lĩnh
vực của đời sống xã hội: đảm bảo hiệu lực bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở;
đảm bảo việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; đảm bảo ổn định và nâng
cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
+ Là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ có trách nhiệm tổ chức thực
hiện Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội, Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước
+ Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ do Quốc hội thành lập, thực hiện
các nhiệm vụ do Quốc hội giao, báo cáo công tác với Quốc hội, chịu trách nhiệm về kết quả
thực hiện nhiệm vụ được giao trước Quốc hội. -
Tổ chức, hoạt động: Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Hiến
pháp 2013. Chính phủ do Quốc hội lập ra và có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Chính phủ gồm Thủ
tướng chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ tướng cơ quan ngang bộ. Ủy ban nhân dân: -
Vị trí pháp lí: “Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp
hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên” -
Tổ chức hoạt động: Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên, số
lượng cụ thể Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định. Nhiệm kỳ
của Ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp” Tòa án nhân dân: -
Vị trí pháp lí: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN VN, thực hiện quyền tư pháp” - Chức năng:
+ Là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, Tòa án nhân danh nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.
+ Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. -
Tổ chức hoạt động: hệ thống Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao, tòa án
nhân dân cấp cao, tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện, tòa án quân sự.
Viện kiểm sát nhân dân: -
Vị trí pháp lí: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” - Chức năng:
+ Thực hiện quyền công tố là hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng
hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện
ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá
trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
+ Kiểm soát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm tra tính hợp pháp
của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. -
Tổ chức, hoạt động: hệ thống viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự các cấp.
Các thiết chế hiến định độc lập: Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước được
thiết lập để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước. -
Hội đồng bầu cử quốc gia: “Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành
lập, có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu QH; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp” -
Kiểm toán nhà nước: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan do QH thành lập, hoạt động độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lí, sử dụng tài chính, tài sản công”.
4. Đặc điểm, vai trò của Pháp Luật
Đặc điểm của pháp luật: 4 đặc điểm -
Tính quy phạm phổ biến: các quy định của PL luôn là các khuôn mẫu, chuẩn mực để
hướng dẫn cách xử sự cho mọi chủ thể của xã hội. Bất kỳ ai, ở vào điều kiện, hoàn
cảnh PL đã dự liệu đều phải xử sự thao cách thức mà PL đã nêu ra. Dựa trên cơ sở các
quy định của PL, các chủ thể trong XH biết đc làm gì, không được làm gì hoặc làm như
thế nào khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh PL đã dự liệu. PL luôn là tiêu chuẩn, khuôn mẫu
để đánh giá hành vi của con người là hợp pháp hay bất hợp pháp. -
Tính quyền lực nhà nước (tính cưỡng chế):
+ PL do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Thông qua nhà
nước, giai cấp thống trị thể hiện và hợp pháp hóa ý chí của mình một cách chính thống
trên thực tế. Việc PL được đảm bảo thực hiện trong đời sống XH chính là việc đảm bảo
cho quyền lực nhà nước được tác động đến mọi thành viên của XH.
+ PL có giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi chủ thể trong XH, bất kỳ chủ thể nào
khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh quy phạm đã dự liệu đều phải thực hiện theo đúng yêu
cầu của PL, nếu không hành vi của chủ thể bị coi là vi phạm PL. - Tính hệ thống
+ PL là 1 hệ thống gồm tổng thể các quy phạm PL có mối liên hệ nội tại thống nhất
và chặt chẽ với nhau, được phân định thành các chế định PL, ngành luật và được thể
hiện trong các hình thức PL.
+ Ở VN hiện nay, PL chủ yếu đc thể hiện trong 1 hệ thống văn bản quy phạm PL do
Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Hệ thống văn
bản quy phạm PL gồm nhiều loại văn bản khác nhau theo thứ bậc hiệu lực pháp lí, văn
bản có hiệu lực pháp lí thấp hơn phải phù hợp với văn bản có hiệu lực PL cao hơn; quy
phạm PL do cơ quan cấp dưới ban hành phải phù hợp với quy phạm PL do cơ quan cấp
trên ban hành và đều phải phù hợp với quy định của hiến pháp.
+ Nội dung các quy định trong các văn bản quy phạm PL và các quy phạm PL phải
nhất quán, phù hợp, không mâu thuẫn, không chồng chéo với nhau. -
Tính xác định về hình thức: PL thường được thể hiện trong những hình thức nhất
định, có thể là tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm PL. Trong đó các
văn bản quy phạm PL lại có những hình thức cụ thể như Hiến pháp, luật, nghị định,
nghị quyết, … Mỗi loại văn bản do những cơ quan có thẩm quyền ban hành theo những
trình tự, thủ tục nhất định được quy định chặt chẽ trong luật. Vai trò của PL: -
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước.
Thông qua PL, các cơ quan nhà nước được xác định về tên gọi, trình tự thành lập, cơ
cấu tổ chức. Đồng thời, PL cũng xác định luôn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
từng cơ quan, xác định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, xác định mối
quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của các cơ quan nhà nước. -
Pháp luật góp phần tổ chức, quản lí xã hội. Thông qua hệ thống PL, nhà nước xác
định rõ chế độ kinh tế, các chính sách phát triển xã hội, điều tiết các nguồn lực xã hội
… Mặt khác, pháp luật thể chế hóa các đường lối, chủ trương phát triển KT – XH, xây
dựng hành lang pháp lí phù hợp nhằm đảm bảo sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối
với đời sống kinh tế - xã hội. -
Pháp luật góp phần tạo dụng những quan hệ mới. Không chỉ điều chỉnh những quan
hệ xã hội phổ biến có thể và cần xuất hiện trong tương lai. Để thực hiện được vai trò
này, hoạt động của cơ quan nghiên cứu, soạn thảo, ban hành pháp luật phải đảm bảo
tính khoa học, dự báo được chính xác, lâu dài xu hướng phát triển của xã hội. -
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị, hợp tác
quốc tế. Thông qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế, quy định trình tự, thủ tục ký
kết, phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế; quy định trình tự, thủ tục thiết lập quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác …, pháp luật là cơ sở pháp lý cần thiết cho việc
thiết lập và thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế. Quá trình nội luật hóa các quy định của
luật pháp quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành lang pháp
lý an toàn cho các quan hệ hợp tác và phát triển, thu hút hoạt động hợp tác đầu tư tù
các nhà đầu tư của quốc gia khác vào thị trường để thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước. 5. Hình thức Pháp luật -
Hình thức của PL là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, là cách thức mà nhà nước
sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành PL. -
Tập quán pháp: tập quán pháp là các quy tắc xử sự đã tồn tại trong xã hội dưới dạng
phong tục, tập quán, đao đức, tín điều tôn giáo nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước
nên được nhà nước thừa nhận thành pháp luật. - Tiền lệ pháp:
+ Tiền lệ pháp hay án lệ là những bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền khi
giải quyết các vụ việc cụ thể, được nhà nước thừa nhận làm khuôn mẫu để giải quyết
các vụ việc khác tương tự.
+ Tiền lệ pháp hay án lệ là kết quả từ hoạt động của cơ quan xét xử hay cơ quan nhà
nước khác. Ví dụ, bản án do Tòa án nhân dân tối cao đưa ra khi giải quyết 1 vụ án tranh
chấp đất đai đã được Nhà nước thừa nhận làm mẫu để các tòa án khác phải tuân theo
khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai xảy ra sau đó với nội dung tương tự. - Văn bản quy phạm PL:
+ Là văn bản do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình
tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định, trong đo các quy phạm được nhà nước
đảm bảo thực hiện hay các quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước.
+ Đây là hình thức pháp luật quan trọng nhất vì đảm bảo tính chính xác, rõ ràng,
minh bạch, dễ thống nhất, được cập nhật thường xuyên theo sự thay đổi của đời sống xã hội. 6. Quan hệ Pháp luật -
QHPL là quan hệ xã hội được QPPL điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ xã
hội có các quyền và nghĩa vụ pháp lí được nhà nước đảm bảo thực hiện. Đặc điểm -
Mang tính ý chí: lựa chọn các QHXH để điều chỉnh, và cách thức điều chỉnh quan hệ
đó như thế nào là phụ thuộc vào ý chí của nhà nước (cơ quan ban hành văn bản QPPL).
Mặt khác, QHPL được hình thành, thay đổi, chấm dứt còn phụ thuộc vào ý chí các bên tham gia. -
QHPL xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các QPPL. Mối quan hệ XH nếu không được điều
chỉnh bởi pháp luật thì chỉ là quan hệ xã hội đơn thuần mà không thể trở thành quan hệ
PL. Vì vậy quy phạm PL là một trong những điều kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL. -
Nôi dung của QHPL biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên tham gia quan hệ.
+ QHPL được hình thành bởi ít nhất 2 chủ thể (gọi là các bên của quan hệ pháp
luật), quan hệ giữa các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất định, vì vậy, pháp
luật quy định quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo cho các quan hệ pháp luật
diễn đúng theo ý chí của Nhà nước.
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên cũng có thể do các bên thỏa thuận trong khuôn
khổ pháp luật (ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao động) hoặc được
xác định bởi nhà nước (như trong QHPL hình sự, hành chính)
+ Quyền và nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bởi nhà nước với nhiều hình thức,
tính chất khác nhau: có những biện pháp bảo đảm mang tính bắt buộc, cưỡng chế,
nhưng cũng có những biện pháp bảo đảm mang tính cho phép, tùy nghi.
Cấu thành của quan hệ PL
a) Chủ thể: Chủ thể của QHPL là các cá nhân và tổ chức tham gia QHPL với những
quyền và nghĩa vụ pháp lý đc xác định. Điều kiện để trở thành chủ thể của QHPL: -
Năng lực pháp luật: là khả năng của chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ
pháp lý khi tham gia quan hệ PL. Mỗi chủ thể khi tham gia các QHPL khác nhau sẽ có
khả năng hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ khác nhau do pháp luật quy định.
+ Năng lực pháp luật là yếu tố mang tính chất thụ động, phụ thuộc vào ý chí của
nhà nước – thể hiện qua các quy định của PL -
Năng lực hành vi pháp luật: là khả năng mà các chủ thể bằng hành vi của mình xác
lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật cụ thể.
+ Năng lực hành vi pháp luật mang tính chủ động. Theo đó, các chủ thể của QHPL
tự bản thân mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được PL quy định. Khi 1 chủ thể
có năng lực hành vi pháp luật, chủ thể được tự mình tham gia QHPL để hưởng quyền
hoặc làm nghĩa vụ trong quan hệ đó. -
Một cá nhân chỉ có đầy đủ năng lực hành vi pháp luật khi đạt đến một độ tuổi nhất
định, có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình. Một tổ chức, ngay từ khi
được thành lập hoặc được cấp giấy phép hoạt động, năng lực pháp luật và năng lực
hành vi pháp luật cảu pháp nhân đã xuất hiện - Các loại chủ thể: + Cá nhân
Công dân là cá nhân mang quốc tịch của 1 nước và có các quyền, nghĩa vụ pháp lý theo quy
định của PL nước đó. Công dân là chủ thể phổ biến của QHPL
Người nước ngoài là cá nhân sinh sống tại 1 quốc gia nhưng lại mang quốc tịch của 1 quốc gia khác.
Người không quốc tịch là cá nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào. + Tổ chức
Tổ chức phải có đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia QHPL
Trong các tổ chức, có nhóm tổ chức là pháp nhân khi thỏa mãn các điều kiện được quy định
tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là: (1) Được thành lập theo quy định của PL; (2) có
cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách
nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh mình tham gia QHPL 1 cách độc lập. Pháp nhân
gồm: pháp nhân thương mại và pháp nhận phi thương mại. b) Khách thể -
Khách thể của QHPL là những lợi ích mà các chủ thể tham gia QHPL hướng tới khi tham gia quan hệ đó -
Khách thể của QHPL rất đa dạng, có thể là những lợi ích VC (tiền, nhà, đất đai,
phương tiện vận chuyển, TLSX, …) hoặc là lợi ích phi VC thỏa mãn các nhu cầu về
tinh thần (quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, uy tín, danh tiếng, …) c) Nội dung -
Quyền chủ thể: Khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức mà PL cho phép.
+ Chủ thể có thể tự thực hiện những hành vi nhất đinh (tự xử sự), bằng hành vi
của mình, chủ thể tự tiến hành cách xử sự mà pháp luật cho phép.
+ Có thể yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ của quan hệ phải thực hiện những hành động
cụ thể để đảm bảo quyền của mình trong quan hệ, yêu cầu chủ thể phía bên kia chấm
dứt việc thực hiện hành vi trái PL xâm hại tới quyền và lợi ích chính đáng của mình
+ Có thể yêu cầu nhà nước can thiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi
quyền và lợi ích đó bị xâm hại. -
Nghĩa vụ pháp lý chủ thể là các xử sự mà các chủ thể của quan hệ pháp luật bắt buộc
phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia.
+ Nghĩa cụ pháp lí của chủ thể bao gồm: nghĩa vụ phải thực hiện một hoặc một số
hoạt động nhất định; nghĩa vụ không được thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất
định; chịu trách nhiệm khi không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với phía bên kia.
Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ PL -
Một QHPL cụ thể sẽ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt khi có quy phạm PL, chủ thể có
đủ năng lực chủ thể và có sự kiện pháp lý. Trong đó: QPPL là cơ sở pháp lí, chủ thể là
yếu tố trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ trong QHPL, sự kiện pháp lý chính thức
làm QHXH chịu sự tác động trong thực tế. -
Sự kiện pháp lý là sự kiện, sự việc thực tế xảy ra trong cs được PL gắn với việc làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL -
Sự kiện PL gồm hành vi pháp lý và sự biến pháp lý. -
Hành vi pháp lý: là xử sự của con người có sự kiểm soát và điều khiển của lý trí được
PL gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL. -
Sự biến pháp lý: là kết quả của 1 hiện tượng, sự việc hoặc hành vi xảy ra trong tự nhiên
nhưng được PL gắn với việc là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt QHPL. VD: sóng
thần, động đất xảy ra gây chết người, thiệt hại về tài sản có thể làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt nhiều QHPL như: phát sinh QHPL bảo hiểm, QHPL về thừa kế tài sản; chấm
dứt QHPL về quyền sở hữu tài sản.
7. Vi phạm pháp luật: dấu hiệu và các loại vi phạm pháp luật -
Vi phạm PL là hành vi trái PL, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực
hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được PL bảo vệ. Dấu hiệu -
Vi phạm PL là hành vi xác định của con người. Những gì còn nằm trong ý nghĩ, tư
tưởng của con người mà chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể là biến đổi thế giới
khách quan, không có khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nên không thể gọi là vi phạm PL được. -
Vi phạm PL là hành vi trái PL: Vi phạm PL là xử sự trái với các yêu cầu của PL. Hành
vi vi phạm PL được thể hiện dưới các hình thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị PL
cấm, chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà PL bắt buộc phải thực hiện. -
Vi phạm Pl là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí. 1 hành vi có tính
chất trái pháp luật nhưng chủ thể không có năng lực trách nhiệm PL thì không bị coi là vi phạm PL. -
Vi phạm PL là hành vi có lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm PL khi
chủ thể điều khiển được hành vi của mình và nhận thức được hậu quả của hành vi đó.
Như vậy, chỉ có những hành vi trái PL mà có lỗi của chủ thể thì mới bị coi là vi phạm PL.
Các loại vi phạm pháp luật -
Vi phạm luật hình sự: tội phạm là loại vi phạm PL có tính nguy hiểm cho XH cao nhất. -
Vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính là hành vi có lối do cá nhân, tổ chức thực
hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm
và theo quy định của PL phải bị xử phạt vi phạm hành chính. -
Vi phạm dân sự: là hành vi trái PL, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự
xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản. -
Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác lập trật
tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập,
công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó.
8. Trách nhiệm pháp lý: căn cứ áp dụng và các loại trách nhiệm pháp lý
Căn cứ: căn cứ pháp lý và các căn cứ thực tế -
Căn cứ pháp lý: là tổng thể các quy định của PL hiện hành được các chủ thể sử dụng
làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí. Căn cứ pháp lý bao gồm:
+ Quy định của PL hiện hành về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cách thức tiến hành
truy cứu trách nhiệm pháp lý.
+ Các quy định của PL hiện hành xác định các yếu tố về hành vi vi phạm, các biện
pháp chế tài dự kiến áp dụng, điều kiện để áp dụng chế tài.
+ Các quy định của pháp luật liên quan đến thời hiệu để truy cứu trách nhiệm pháp lí. -
Căn cứ thực tế cửa việc truy cứu trách nhiệm PL là việc trên thực tế có xác định được
hành vị vi phạm PL thông qua các yếu tố cấu thành của vi phạm PL đó. Căn cứ thực tế
bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể và chủ thể của vi phạm PL.
Các loại trách nhiệm PL: tương ứng với các loại vi phạm PL là các loại trách nhiệm pháp lí tương ứng -
Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối với chủ thể có hành vi phạm tội.
Đây là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khác nhất do Tòa Án áp dụng đối với chủ
thể thực hiện hành vi phạm tội. Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm
hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội. Vì
tội phạm là những hành vi nguy hiểm nhất nên trách nhiệm hình sự được coi là loại
trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất -
Trách nhiệm pháp lý hành chính: là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền hoặc chủ thể được Nhà nước trao quyền áo dụng đối với các chủ thể có
hành vi vi phạm pháp luật hành chính.
Khác với trách nhiệm hình sự, chủ thể vi phạm PL hành chính là cá nhân, tổ chức.
Ngoài ra, việc truy cứu trách nhiệm hành chính được trao cho nhiều cơ quan khác
nhau, trong đó chủ yếu là cơ quan quản lý hành chính Nhà nước. Bên cạnh đó còn có
các cơ quan khác như thẩm phán tòa án nhân dân, chấp hành viên cơ quan thi hành án
dân sự … cũng có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hành chính. -
Trách nhiệm kỷ luật: là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng cơ quan áp dụng đối
với cán bộ, công chức, người lao động trong đơn vị có hành vi vi phạm quy định về kỷ
luật lao động, học tập, công tác hoặc vi phạm pháp luật đã bị tòa án tuyên là có tội hoặc
bị cơ quan có thẩm quyền kết luận bằng văn bản về hành vi vi phạm pháp luật.
Chủ thể áp dụng trách nhiệm kỷ luật là những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.
Tuy nhiên, những người này chỉ có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm kỷ luật đối với các
chủ thể thuộc quyền quản lý của tổ chức mà họ là người lãnh đạo.
Trách nhiệm kỷ luật có thể đi kèm với các loại trách nhiệm pháp lý khác nếu chủ
thể đồng thời thực hiện các hành vi vi phạm PL khác nữa. -
Trách nhiệm dân sự: là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm PL dân sự.
Khác với quan hệ PL hình sự và quan hệ PL hành chính luôn có một bên chủ thể là
Nhà nước, trong quan hệ pháp luật dân sự, rất nhiều trường hợp Nhà nước không tham gia
với tư cách là một bên chủ thể mà chủ thể chủ yếu của quan hệ này là những tổ chức, các
nhân có năng lực hành vi dân sự. Chính vì vậy, khi có vi phạm pháp luật dân sự, cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền chỉ đóng vai trò đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các biện pháp
cưỡng chế giữa các bên chủ thể của quan hệ dân sự với nhau. -
Một hành vi vi phạm PL có thể bị áp dụng đồng thời nhiều loại trách nhiệm pháp lí khác nhau.
9. Khái niệm, đặc điểm của quy phạm Pháp luật -
Quy phạm PL là các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm
bảo thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định. : tổng thể các QPPL Đặc điểm
tạo thành hệ thống PL, QPPL là yếu tố, thành phần cơ bản
của hệ thống PL do vậy, nó mang đầy đủ các đặc tính của PL -
Quy tắc xử sự chung: quy phạm Pl trước hết là 1 loại quy phạm XH, nên nó mang đầy
đủ các đặc tính của quy phạm như: là quy tắc xử sự, là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để đánh
giá hành vi của con người, được sử dụng nhiều lần trong đời sống xã hội … quy phạm
PL được sử dụng lặp đi lặp lại cho tới khi không còn hiệu lực tác động nữa. -
Mang tính quyền lực nhà nước: QPPL hình thành bằng con đường nhà nước, thông
qua các cơ quan nhà nước, quy phạm PL được ban hành hoặc được thừa nhận. Mỗi
QPPL di nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện thông qua hệ thống các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Nhà nước sử dụng nhiều hình thức để tạo điều kiện hoặc buộc các
chủ thể phải thực hiện các QPPL: tuyên truyền, thuyết phục hoặc cưỡng chế. Đây là
điểm khác biệt đặc thù giữa quy phạm PL và các quy phạm xã hội khác. -
Được thực hiện nhiều lần trong đời sống: các quy phạm Pl dự liệu các tình huống phổ
biến, có thể xảy ra trong đời sống. Mặc dù xã hội thường xuyên thay đổi, đa dạng phức
tạp nhưng QPPL được áp dụng chung, nhiều lần đối với các cá nhân, tổ chức, bất cứ
khi nào, khi ở vào tình huống được dự liệu như trong quy phạm PL thì chủ thể đều phải
thực hiện theo quy định của PL.
10. Cấu trúc của quy phạm pháp luật
Nội dung của QPPL cho các chủ thể xã hội biết được: (1) Trong TH, hoàn cảnh nào thì các
chủ thể XH phải tuân thủ các quy tắc mà nhà nước đặt ra; (2) Khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh
mà nhà nước đã dự liệu, các chủ thể phải hành xử như thế nào; (3) các biện pháp mà nhà
nước dự kiến tác động để đảm bảo thực hiện quy phạm pháp luật là gì. Các câu trả lời cho các
vấn đề đó tạo thành các thành phần của quy phạm PL. -
Giả định: là bộ phận nêu lên (dự liệu) điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong đời
sống và khi chủ thể ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó sẽ phải chịu sự tác động của quy phạm PL.
+ Nội dung phần giả định nêu lên phạm vi tác động của quy phạm pháp luật, trả lời
cho câu hỏi: Ai? Khi nào? Trong những điều kiện, hoàn cảnh? -
Quy định: là bộ phận nêu lên cách xử sự mà các chủ thể khi ở điều kiện, hoàn cảnh quy
phạm pháp luật đã giả định được phép hoặc buộc phải thực hiện. Phần quy định của
quy phạm pháp luật chính là mệnh lệnh của nhà nước, trực tiếp thể hiện ý chí của nhà
nước. Thường được nêu lên ở dạng: có thể, có quyền, cấm được, không được, phải, có nghĩa vụ …
+ Bộ phận quy định của QPPL trả lời cho câu hỏi: Được làm gì? Không được làm
gì? Phải làm gì? Làm như thế nào?
+ Bộ phận quy định của quy phạm PL thể hiện dưới dạng: cấm đoán, bắt buộc, tùy nghi hoặc trao quyền:
Quy định bắt buộc là quy định xác định hành vi chủ thể buộc phải thực hiện.
Quy định cấm đoán là quy định xác định hành vi mà chủ thể không được thực hiện.
Quy định tùy nghi là quy định mà ở đó xác định hành vi chủ thể được thực hiện. -
Chế tài: là bộ phận của quy phạm pháp luật dự kiến về những biện pháp được áp dụng
đối với chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh quy phạm PL đã giả định mà không thực
hiện đúng quy định của QPPL. Những biện pháp này thể hiện sự răn đe, lên án của nhà
nước đối với chủ thể không thực hiện đúng quy định của PL.
+ Bộ phận chế tài của QPPL trả lời cho câu hỏi: chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn
cảnh QPPL đã giả định nếu không thực hiện đúng quy định của quy phạm PL sẽ phải
gánh chịu hậu quả như thế nào?
+ Trong hệ thống chế tài PL hiên có 4 hình thức chế tài, bao gồm: chế tài hành
chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự và chế tài kỉ luật. Mỗi loại chế tài này được nhà
nước quy định để áp dụng đối với các loại vi phạm PL khác nhau, trong những điều
kiện, hoàn cảnh không giống nhau. -
Trong một số trường hợp, QPPL có thể “ẩn đi” phần quy định hoặc dẫn chiếu đến phần
chế tài trong một số QPPL khác. Trật tự các bộ phận của QPPL cũng có thể thay đổi.
11. Khái niệm, đặc điểm của hành vi tham nhũng -
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” Đặc điểm: -
Một là chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn: Người có chức vụ quyền
hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình
thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ,
công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức
b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan,
đơn vị thuộc quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên môn kĩ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
d) Người giữa chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức
e) Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. -
Hai là, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
Khi thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình
hoặc cho một người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người
có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi
tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi đụng
chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. -
Ba là: mục đích của hành vi tham nhũng là vì vụ lợi.
Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Vụ lợi ở
đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng mà người có chức
vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Thiếu yếu tố
vụ lợi thì hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, làm trái công vụ của cán bộ công chức không
bị coi là “tham nhũng” nói chung hay tội phạm về tham nhũng nói riêng.
PLVN hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham
nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chất mà mọi người thực hiện hành
vi tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý. Tuy nhiên, tuy nhiên lợi ích vật
chất hiện nay trong cơ chế thị trường thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau, nếu chỉ căn cứ vào
những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì
sẽ là không đủ. Thêm nữa, các lợi ích vật chất và phi vật chất đan xen rất khó phân biệt.
12. Tác hại của tham nhũng Tác hại về chính trị -
Nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước bị các cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng
phục vụ cho các mục đích cá nhân đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển chung đất nước. -
Tham nhũng cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Tham
nhũng làm giảm lòng tin của các nhà tài trợ khi mà nguồn viện trợ cho các dự án cũng
như sự ủng hộ của các quốc gia cho nước ta bị thất thoát. -
Tham nhũng ảnh hưởng xấu đến những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về
mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Tác hại về kinh tế -
Tham nhũng làm thất thoát những khoản tiền lớn trong xây dựng cơ bản do phải chi phí
cho việc đấu thầu, cấp vốn, thanh tra, kiểm tra và hàng loạt các chi phí tiêu cực khác. -
Tham nhũng gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế. -
Tham nhũng, nhất là hành vi tham ô tài sản dã làm cho một số lượng lớn tài sản công
trở thành tài sản tư của một số cán bộ, công chức, viên chức. -
Tham nhũng gây ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh, làm giảm đáng kể năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. -
Hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên
chức còn gây thiệt hại đến tài sản của người dân do họ phải đưa hối lộ khi liên quan
đến các thủ tục hành chính. Mặt khác thủ tục hành chính bị kéo dài đã gây mất thời
gian, tiền của của người dân, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tác hại về xã hội -
Tham nhũng làm ảnh hưởng đến các giá trị, các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, làm
xuống cấp đạo đức của 1 bộ phận cán bộ, đảng viên. Tham nhũng đã làm cho một bộ
phận cán bộ, đảng viên coi thường các giá trị đạo đức và chuẩn mực của pháp luật,
sách nhiễu, gây khó khăn … để đòi hối lộ. -
Tham nhũng làm xáo trộn trật tự xã hội. Khi cán bộ, viên chức Nhà nước thực thi công
vụ có hành vi tham nhũng, nhân hối lộ sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống
xã hội, gây bất bình trong nhân dân.