



















Preview text:
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA HỌC PHẦN - PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
1. Nguồn gốc, bản chất của NN 2. Đặc điểm của NN 3. Kiểu NN, hình thức NN 4. NN CHXHCN VN
5. Nguồn gốc, đặc điểm của pháp luật
6. Kiểu pháp luật, hình thức pháp luật 7. Quan hệ pháp luật 8. Thực hiện p háp luật 9. Vi phạm pháp luật
10. Hệ thống quy phạm pháp luật
11. Đặc điểm của hành vi tham nhũng; tác hại ủ c a tham nhũng
VẤN ĐỀ 1: NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA NN
1. Nguồn gốc nhà nước:
- Theo quan điểm thần học: Thượng đế là người sáng tạo ra nhà nước quyền lực của nhà
nước là vĩnh cửu và bất biến.
- Thuyết gia trưởng: Nhà nước là kết quả của sự phát triển của gia đình, quyền lực của
nhà nước như quyền gia trưởng của gia đình.
- Thuyết bạo lực: Nhà nước ra đời là kết quả của việc bạo lực này với thị tộc khác
- Thuyết tâm lý : họ dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy tâm để giải thích của sự ra đời nhà nước
=> Giải thích không đúng về sự ra đời của nhà nước.
* Theo học thuyết Mác –Lênin:
- Nhà nước ra đời khi có sự phân hóa và đấu tranh giai cấp.
- Quyền lực của nhà nước không phải là vĩnh cửu.
- Nhà nước tồn tại và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự phát triển của nó không còn
+ Lần 1: ngành chăn nuôi tách ra khỏi ngành trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập.
+ Lần 2: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và trồng trọt thủ công
nghiệp cũng ra đời và phát triển dẫn đến lần phân công lao động thứ 2 là thủ công nghiệp
tách ra khỏi nông nghiệp.
+ Lần 3: sự ra đời của sản xuất hàng hóa làm cho thương nghiệp phát triển đã dẫn đến
sự phân công lao động xã hội lần thứ 3 đây là lần phân công lao động giữ vai trò quan
trọng và có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự tan dã của chế động cộng sản nguyên thủy. Thời tiền nhà nước
Ba bước phân công lao động
2. Bản chất của nhà nước:
* Nhà nước là sản phẩm của giai cấp xã hội
- Quyền lực về kinh tế: Có vai trò rất quan trọng nó cho phép người nắm giữ kinh tế thuộc mình
phải chịu sự chi phối của họ về mọi mặt .
- Quyền lực về chính trị: Là bạo lực của các tổ chức này đối với giai cấp khác.
- Quyền lực về tư tưởng: Giai cấp thống trị trong xã hội đã lấy tư tưởng của mình thành hệ tư tưởng trong xã hội .
* Bản chất của xã hội :
- Nhà nước còn bảo vệ lợi ích của người dân trong xã hội .
- Nhà nước là một tổ chức duy nhất có quyền lực chính trị một bộ máy chuyên làm cưỡng chế và
chức năng quản lý đặc biệt để duy trì trật tự xã hội.
- Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội .
VẤN ĐỀ 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA NN
VẤN ĐỀ 3: KIỂU NN, HÌNH THỨC NN 1. Kiểu nhà nước
- Khái niệm: là những dấu hiệu cơ bản đặc thù thể hiện bản chất giai cấp, điều kiện phát
triển của NN trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định
=> Dựa vào khái niệm kiểu NN chúng ta có thể nhận thức được một cách cụ thể và logic
về bản chất và ý ý nghĩa xã hội của các NN được xếp vào cùng loại, về những điều kiện
tồn tại và phát triển của NN đó.
Ví dụ: khi xác định một NN đã tồn tại trong một thời điểm lịch sử nhất định thuộc kiểu
NN chủ nô, chúng ta sẽ có ngay những thông tin cơ bản về bản chất và những dấu hiệu đặc trưng của NN đó.
- Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái KTXH: chiếm hữu nô lệ,
phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Phù hợp với bốn hình thức kinh tế
xã hội đã có 4 kiểu NN:
* Kiểu nhà nước chủ nô:
Bản chất của nhà nước chủ nô: Nhà nước chủ nô cũng có hai bản chất tính giai cấp và tính xã hội:
Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô: là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ. Những quan
hệ sản xuất này được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ
tư liệu sản xuất và cả người sản xuất là nô lệ
Cơ sở xã hội của nhà nước chủ nô: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại hai giai cấp
cơ bản là chủ nô và nô lệ. Chủ nô chỉ là một thiểu số dân cư trong xã hội những tất cả:
đất đai, tư liệu sản xuất, nô lệ, tự do cá nhân và toàn quyền thống trị đối với nô lệ. Nô lệ
chiếm số đông trong xã hội nhưng tính mạng, số phận cũng như các hoạt động xã hội
nhưng tính mạng, số phận cũng như các hoạt động xã hội của họ đều do chủ nô quyết định.
– Tính giai cấp: Nhà nước chủ nô là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị mọi mặt của
giai cấp chủ nô đối lưu lệ và các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội, duy trì tình
trạng bất bình đẳng giữa chủ nô với lu lệ với các tầng lớp nhân dân lao động khác.
– Tính xã hội: Các nhà nước chủ nô ở các mức độ khác nhau đã tiến hành những hoạt
động mang tính xã hội như: hoạt động làm thuỷ lợi ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ
phương Đông, xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng, hay hoạt động phát triển
kinh tế thương mại ở Hy Lạp. * Kiểu NN phong kiến :
Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là phương thức sản xuất phong kiến với nét đặc
trưng là chế độ chiếm hữu ruộng đất của vua chúa phong kiến và giai cấp địa chủ. Lực
lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội là giai cấp nông dân.
Xã hội phong kiến có kết cấu xã hội phức tạp, giai cấp thống trị trong xã hội gồm vua,
chúa, quan lại, quý tộc (công, hầu, bá, tử, nam), địa chủ, tăng lữ, cố đạo... Giai cấp bị
thống trị là các tầng lớp nông dân nghèo, những người lao động tự do, tầng lớp tiểu thương và nông nô.
Nhà nước phong kiến cũng có hai bản chất là tính giai cấp và tính xã hội:
+ Tính giai cấp: Bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, phong kiến, là công cụ để
thực hiện và bảo vệ lợi ích, quyền, địa vị thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc phong
kiến trong xã hội trên cả 3 lĩnh vực: KT, CT, TT.
+ Tính xã hội: còn là tổ chức quyền lực chung của xã hội, là đại diện chính thức của
toàn xã hội nên NNPK có nhiệm vụ tổ chức và điều hành các hoạt động chung của xã
hội vì sự tồn tại và lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội (+) tiến hành 1 số hoạt động
nhằm phát triển kinh tế – xã hội.
=> Tính xã hội mờ nhạt, hạn chế, tính giai cấp thể hiện công khai, rõ rệt. * Kiểu NN tư sản : + Tính giai cấp:
Thời kì 1: “NNTB là UB giải quyết công việc chung của gia cấp tư sản”: nhà
nước đối xử với các giai cấp tư sản hoàn toàn như nhau => nhà nước đều là
phương tiện, công cụ giải quyết công việc chung.
Thời kì 2: “……………tập đoàn TB lũng đoạn” => NNTB sẵn sang tước đoạt,
chà đạp quyền lợi nhà tư bản nhỏ và vừa dưới danh nghĩa quốc hữu hóa vì quyền lợi quốc gia. + Tính xã hội:
Đặc điểm chung qua các thời kì:
– Giai đoạn của CNTB tự do cạnh tranh: TS và với là đồng minh chống phong kiến.
+ Cạnh tranh tự do cá thể
+ Chưa có yếu tố độc quyền
– Giai đoạn của CNTB độc quyền lũng đoạn nhà nước hay gđ chủ nghĩa đế quốc: bộ
máy bạo lực đàn áp phong trào đấu tranh.
+ Hình thành tập đoàn tư bản lớn sở hữu tập thể.
+ Xuất hiện sở hữu tư bản nhà nước (Tập đoàn tư bản khống chế, không phải sở hữu toàn dân).
– Giai đoạn của CNTB hiện đại:
+ Yếu tố tư nhân hóa phát triển mạnh.
+ Người lao động có sở hữu tư liệu sản xuất.
* Kiểu NN xã hội chủ nghĩa:
Cơ sở kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà
đặc trưng là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Cơ sở xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa là quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong
xã hội, trong đó nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.
=> Sự khác nhau giữa NN XHCN với các NN còn lại: Các kiểu NN chủ nô, phong kiến,
tư sản đều là những kiểu NN bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất. NN khi đó sẽ là công cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy
trì sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với nhân dân lao động. Còn NN XHCN là kiểu
NN mới có bản chất khác với kiểu NN bóc lột .Nhiệm vụ của NN XHCN là thực hiện
dân chủ XHCN, phát triển và duy trì quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. 2. Hình thức NN
* Khái niệm: là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực NN của giai cấp thống trị bao
gồm hình thức chủ thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị.
* Hình thức chính thể: là cách thức và trình tự thành lập cơ quan cao nhất của quyền
lực nhà nước, xác lập moi quan hệ giữa cơ quan đó với cơ quan cẩp cao khác và với nhân dân.
- Hình thức chính thể thành hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. + Hình thức Quân chủ:
Hình thức quân chủ là chính thể mà trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập
trung toàn bộ hoặc một phần vào tay một cá nhân (vua, quốc vương...) theo
phương thức cha truyền con nối (thế tập).
Chính thể quân chủ bao gồm nhiều dạng với những đặc trưng khác nhau, trong
đó có hai dạng cơ bản là q
uân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.
Quân chủ tuyệt đổi là chính thể mà trong đó nhà vua có quyền lực tối cao
và vô hạn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, không bị
chia sẻ cho ai và cũng không chịu một sự hạn chế nào.
Quân chủ hạn chế là chính thể mà trong đỏ nhà vua chỉ nắm giữ một phần
quyền lực tối cao của nhà nước, bên cạnh vua còn có cơ quan khác để chia sẻ quyền lực với vua. + Chính thể cộng hoà:
Chính thể cộng hòa là chính thể mà trong đó quyền lực cao nhẩt của nhà nước
thuộc về cơ quan (tập thể) đại diện của nhân dân.
Tuỳ theo đối tượng được quyền tham gia vào việc thành lập cơ quan tối cao của
nhà nước, chính thể cộng hoà được chia thành hai dạng khác nhau là cộng hoà
quý tộc và cộng hoà dân chủ
Cộng hoà quý tộc là chỉnh thể mà trong đó quyền bầu cử cơ quan tối cao
của quyền lực nhà nước thuộc về tầng lớp quỷ tộc.
Cộng hoà dân chủ là chính thể mà trong đó quyền bầu cử cơ quan tối cao
của quyền lực nhà nứớc thuộc về các tầng lớp nhân dân...
* Hình thức cấu trúc: là cách thức tổ chửc quyền lực nhà nước theo các đơn vị hành
chính - lãnh thổ và xác lập mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước với nhau.
- Hình thức cấu trúc nhà nước có thể được chia thành hai dạng cơ bản là nhà nước đơn
nhất và nhà nước liên bang, ngoài ra có thể có một dạng cấu trúc nhà nước không cơ
bản là nhà nước liên minh.
+ Nhà nước đơn nhất: là hình thức cấu trúc nhà nước truyền thống và rất phổ biến trên
thế giới, tuy nhiên hình thức cấu trúc này rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... của mỗi nước.
+ Nhà nước liên bang: được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau.
Nhà nước liên bang có thể được hình thành từ việc các nhà nước đơn nhất tự
nguyện liên kết với nhau.
Có thể thông qua con đường xâm chiếm, mua bán lãnh thổ. Chẳng hạn: Liên Xô,
Tiệp Khắc, 13 bang đầu tiên của Mỹ... Bang Floriđa là Mỹ mua của Tây Ban
Nha, bang Louisiana mua của Pháp, bang Alasca mua của Nga...
Có thể từ một nhà nước đơn nhất được liên bang hoá...
* Chế độ chính trị: chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp mà nhà nước sử dụng
để thực hiện quyền lực nhà nước. Có thể chia thành hai dạng cơ bản là chế độ chính
trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
- Dân chủ: là chế độ chỉnh trị mà nhân dân có quyền tham gia vào việc tố chức, hoạt
động của các cơ quan nhà nước, bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.
- Phản dân chủ: là chế độ chính trị mà nhân dân không có quyền tham gia vào việc tổ
chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước, không có quyền bàn bạc, thảo luận và quyết
định những vấn đề quan trọng của đất nước.
=> Tóm lại: hình thức nhà nước trên thế giới vô cùng đa dạng, phức tạp. Cũng như các
yếu tố khác của nhà nước, hình thức nhà nước phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội
của đất nước; tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các lực lượng xã hội; phong tục,
tập quán, đặc điểm tâm lí, truyền thống dân tộc và xu thế của thời đại... VẤN ĐỀ 4: NN CHXHCN VN
* Nhà nước xã hội chủ nghĩa có bản chất và mục đích khác với các kiểu nhà nước đã
tồn tại trước nó, vì vậy nó đòi hỏi phải có một bộ máy tương ứng, phản ánh đúng bản
chất của nhà nước, phù hợp với các quy luật vận động và phát triển khách quan của xã
hội, phù hợp với các điều kiện lịch sử. chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và các yếu tố
truyền thống, đạo đức của mỗi nước trong mỗi giai đoạn cụ thể.
* Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa nói chung cũng như bộ máy của nhà nước ta hiện
nay có những đặc điểm riêng, thể hiện ở những mặt cơ bản sau:
- Thứ nhất, bộ máy quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa phát triển mạnh và không
ngừng được củng cố, hoàn thiện.
- Thứ hai, bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Thứ ba, bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa có đội ngũ cán bộ là những công chức mới.
Đội ngũ cán bộ công chức của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung
* Bộ máy nhà nước hợp thành từ nhiều cơ quan và tổ chức nhà nước từ trung ương
xuống địa phương, có cơ cấu tổ chức phức tạp, phong phú và đa dạng. Mỗi cơ quan, tổ
chức có vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ riêng, nhưng chúng hợp thành một thể
thống nhất, tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, cùng thực hiện các chức
năng chung và nhằm đạt được những mục tiêu thống nhất đặt ra.
* Các cơ quan nhà nước được thành lập theo quy định của pháp luật. Đó là những tổ
chức có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có biến chế xác định với đội ngũ cán bộ được xếp theo
ngạch, bậc căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể được phân công và năng lực, trình độ thực tế của mỗi người.
1. Các loại cơ quan nhà nước xã hội chủ nghĩa
Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của Bộ máy nhà nước, đây là tổ chức (hoặc cá
nhân) mang quyền lực nhà nước được thành lập và có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật với mục đích nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của nhà nước.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để phân loại các cơ quan của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Xét theo hình thức thực hiện ba quyền lập pháp hành pháp, tư pháp thì các cơ
quan nhà nước được chia thành cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan
tư pháp. Tuy nhiên, cách phân chia này cũng chỉ mang tính tương đối và cũng
chỉ có thể sử dụng để xem xét bộ máy nhà nước ở trung ương.
Xét theo trình tự thành lập, các cơ quan nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể được
chia thành các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra (hệ cơ quan thứ nhất, có tính
phát sinh) và các cơ quan không do nhân dân trực tiếp bầu ra (hệ cơ quan thứ hai, có tính phát sinh).
Xét theo tinh chất thẩm quyền, các cơ quan nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể
chia thành các cơ quan có thẩm quyền chung và các cơ quan có thẩm quyền riêng.
Loại cơ quan thứ nhất có quyền xem xét và quyết định bất cứ vấn đề gì để bảo
đảm lợi ích xã hội (gồm Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước,
Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp). Loại cơ quan thứ
hai chỉ có thẩm quyền xem xét và quyết định những vấn để trong một phạm vi
nhất định của đời sống xã hội(gồm các bộ, các sở, phòng.)
Xét theo cấp độ thẩm quyền các cơ quan nhà nước xã hội chủ nghĩa được chia
thành các cơ quan nhà nước ở Trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương.
2. Các cơ quan quyền lực nhà nước
- Các cơ quan quyền lực nhà nước (còn gọi là hệ thống cơ quan đại diện) bao gồm Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dẫn trực
tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thể hiện và thực thi một cách thống nhất quyền lực,
phải chịu trách nhiệm và phải báo cáo trước nhân dân (cử tri) về mọi hoạt động của mình.
- Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
*Chủ tịch nước: Trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa, chủ tịch nước là một trong
những thành tố rất quan trọng và trong hiến pháp thường có hẳn một chế định pháp luật về chủ tịch nước.
3. Các cơ quan quản lý nhà nước
- Các cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước Các cơ quan quản lý nhà nước còn
được gọi là hệ thống cơ quan chấp hành, điều hành hoặc cơ quan hành chính nhà nước.
- Ở nước ta. hệ thống cơ quan quản lý nhà nước gồm có: Chính phủ, các bộ, các cơ quan
ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
- Chính phủ là cơ quan cao nhất trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, là cơ quan có thẩm quyền chung,
=> Các cơ quan nói trên hợp thành một hệ thống cơ quan quản lý thống nhất. Pháp
luật còn xác lập mối quan hệ cụ thể giữa các cơ quan trong hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước, quy định thẩm quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể của mỗi cơ quan
và người đứng đầu cơ quan đó.
4. Các cơ quan quốc phòng và an ninh
- Hệ thống cơ quan quốc phòng và an ninh mặc dù nằm trong hệ thống các cơ quan quản
lý nhà nước nhưng lại có vị trí và vai trò rất quan trọng trong bộ máy nhà nước xã hội
chủ nghĩa. Chúng được tổ chức ra nhằm thực hiện chức năng bảo đảm an ninh quốc gia,
trật tự an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do dân chủ của nhân
dân. bảo vệ những thành quả cách mạng, tính mạng tài sản của nhân dân, tài sản xã hội
chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.
- Ở nước ta hệ thống cơ quan quốc phòng, an ninh gồm có: Hội đồng quốc phòng và an
ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các cơ quan quốc phòng, an ninh địa phương. 5. Các cơ quan xét xử
- Hệ thống các cơ quan xét xử là loại cơ quan có chức năng đặc thù của bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa, được thể hiện ở chỗ chúng trực thuộc cơ quan quyền lực nhà
nước, chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng trong hoạt
động lại độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- Ở nước ta hệ thống cơ quan xét xử gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, các Toà án nhân
dân địa phương, các Toà án quân sự và các toà án khác do luật định. 6.Các cơ quan kiểm sát
- Hệ thống cơ quan kiểm sát của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng có đặc thù
riêng đó là, chúng được tổ chức ra không chỉ để thực hiện quyền công tố mà còn để kiểm
sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Ở nước ta hệ thống cơ quan kiểm sát gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện
kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự.
*Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
1. Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước: Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa.Nội dung của nguyên tắc :
Thứ nhất, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc tổ
chức lập ra bộ máy nhà nước.
Thứ hai, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý các
công việc nhà nước và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước.
Thứ ba, phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát
hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và cá nhân
khác được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việc của nhà nước.
2. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức thông qua đó Đảng cộng sản thực hiện sự lãnh
đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội.
- Ở nước ta, nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là nguyên tắc
hiến định. Điều 4 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam là lực
lượng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo xã hội".
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện sự kết hợp hài hoà giữa sự chỉ đạo tập trung
thống nhất của các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơ quan nhà nước cấp trên, là
cơ sở để phát huy tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân, của tập thể và đề
cao trách nhiệm, ý thức kỷ luật của cán bộ, công chức nhà nước.
4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của các cơ
quan nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật trên cơ sở của pháp luật.
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc phản ánh nhu cầu tự nhiên của bộ máy nhà
nước, đồng thời là đòi hỏi, là yêu cầucẩu từ phía nhân dân đối với bộ máy nhà nước và nhân viên nhà nước.
- Ở nước ta nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định.
5. Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
- Xuất phát từ bản chất của mình các nhà nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nguyên
tắc bình đẳng và đoàn kết giữa cácgiữacác dân tộc cùng sinh sống trên đất nước. Nhà
nước luôn tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát huy mọi khả năng của dân tộc mình
tham gia tích cực vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
- Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc thường được biểu hiện ở những điểm
cơ bản trong lĩnh vực : chính trị ,kinh tế,văn hoá- giáo dục
* Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được thiết lập từ Cách mạng
tháng Tám năm 1945, ngay từ buổi đầu đã thể hiện bản chất của một kiểu nhà nước mới,
một nhà nước có chế độ dân chủ rộng rãi, gắn bỏ chặt chẽ với nhân dân, phục vụ lợi ích
của dân tộc, của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên,
trong tổ chức và hoạt động, bộ máy nhà nước ta còn bộc lộ nhiều khuyết điểm và yếu
kém.Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy
nhà nước ta, để bộ máy đó thực sự trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả.
Việc xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước ta phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản là:
1. Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện
quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp. tham gia tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ nhà nước, kiểm tra, giám
sát hoạt động của cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước.
2. Kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, tỉnh giản, gọn nhẹ, hoạt
động có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước trước nhân dân.
3. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
Công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay bao
gồm những nội dung sau đây:
1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, quyết định và phân bổ ngân
sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của
Nhà nước.Xây dựng một nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững
mạnh, từng bước hiện đại hoá.
2. Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp,
nâng cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan và cán bộ tư pháp.Tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giữ
vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi
mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham
nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị .
VẤN ĐỀ 5: NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT
1.Nguồn gốc của pháp luật
* Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến
sự ra đời của pháp luật. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, những tập quán (và tín
điều tôn giáo) đã là những quy phạm xã hội rất phù hợp để điều chỉnh các mối quan hệ
xã hội lúc đó, bởi vì chúng phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của chế độ
cộng sản nguyên thủy. Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội đã phân chia thành giai
cấp thì những tập quán đó không còn phù hợp nữa, vì tập quán thể hiện ý chí chung của
mọi người trong thị tộc. Trong điều kiện lịch sử mới khi những xung đột về lợi ích giai
cấp diễn ra gay gắt và cuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hòa được, thì cần thiết
phải có một loại quy phạm mới để thiết lập cho xã hội một "trật tự", một loại quy
phạmnhạm thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đó là quy phạm pháp luật.
* Hệ thống pháp luật của các nhà nước được hình thành dần dần từng bước phụ
thuộc vào những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Nhưng nói chung, giai
cấp thống trị đều tìm cách vận dụng các tập quán để phục vụ lợi ích của giai cấp mình,
dần dần thay đổi nội dung của các tập quán và bằng con đường nhà nước nâng chúng
thành các quy ... phạm pháp luật.
Ví dụ: Đạo luật 12 bảng của La-mã chính là kết quả của quá trình chuyển hóa các tập
quán thành các quy phạm pháp luật. Trong tổ chức công xã La-mã cổ đại đã có tập quán
về quyền sở hữu tập thể đối với ruộng đất và nô lệ. Khi tổ chức công xã tan rã (điều này
diễn ra trong thời gian dài) thì nội dung của tập quán trên thay đổi dần dần và cuối cùng,
theo Luật 12 bảng của La-mã, mỗi gia đình La-mã có quyền định đoạt đối với phần đất
của mình, còn nô lệ và súc vật trở thành tài sản riêng của mỗi gia đình giàu có.
* Hệ thống pháp luật của các nhà nước còn được hình thành từ một nguồn khác, đó
là các văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành. Việc chuyển hóa các tập quán để
nâng chúng thành luật chỉ là một bộ phận trong sự hình thành hệ thống pháp luật của
các nhà nước. Những mối quan hệ phức tạp mới phát sinh trong xã hội, đòi hỏi phải có
các quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật của
các nhà nước ra đời. Tuy nhiên, hoạt động này lúc đầu còn đơn giản và phiến diện, nhiều
quyết định của các cơ quan tư pháp, tòa án đã có ý nghĩa như những nguyên tắc chung,
những quy định chung. Hệ thống pháp luật được hình thành dẫn cùng với sự phát triển
của các nhà nước và hoạt động xây dựng pháp luật của các cơ quan trung ương. Nhà
nước đã ban hành ra các văn bản pháp luật nhằm củng cố chế độ tư hữu và quy định đặc
quyền cho giai cấp thống trị.
Ví dụ: Những văn bản pháp luật của nhà nước chủ nô như đạo luật Hammurabi, đạo luật Manu...
=> Như vậy, pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị. Nó khác hoàn toàn với các quy phạm xã hội khác (bao gồm chủ
yếu là các tập quán) thể hiện ý chí của tất cả mọi người. Pháp luật ra đời cùng với nhà
nước, pháp luật là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước ban hành ra pháp luật và đảm bảo cho
pháp luật được thực hiện. Cả hai hiện tượng đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp.
2. Đặc điểm của pháp luật
* Pháp luật có 03 đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản sau đây:
- Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện: Pháp luật do Nhà nước
ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham
gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên
pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã
hội.Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện
pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung
thân …Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá
nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội.
- Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung: Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình
thức xác định, có kết cấu logic rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một
trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến
trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những
khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những
tình huống mà pháp luật đã dự liệu.Pháp luật mang tính bắt buộc chung, các quy định
pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các
tổ chức và cá nhân có liên quan. Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội
(tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả,
việc thực hiện pháp luật
- Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức: Pháp luật luôn được thể hiện dưới
những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được
chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp
luật … Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện để phân biệt giữa pháp luật với
những quy định không phải là pháp luật, đồng thời, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt
chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật.
- Ngoài các đặc điểm cơ bản nói trên, pháp luật còn có những điểm khác nữa như tính
ổn định, tính hệ thống …
VẤN ĐỀ 6: KIỂU PHÁP LUẬT, HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 1. Kiểu pháp luật:
- Là tổng thể những dấu hiệu, đặc thù cơ bản của pháp luật, thể hiện bản chất giai cấp
và và điều kiện tồn tại của pháp luật trong 1 hình thái kinh tế xã hội nhất định.
- Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên các cơ sở kinh tế, chính trị của
một xã hội nhất định, tương ứng với các hình thái kinh tế – xã hội có giai cấp có các
kiểu pháp luật sau đây:
+ Kiểu pháp luật chủ nô
+ Kiểu pháp luật phong kiến
+ Kiểu pháp luật tư sản
+ Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- Trong số các kiểu pháp luật đã và đang tồn tại trong lịch sử xã hội loài người, kiểu
pháp luật xã hội chủ nghĩa đang trên con đường hình thành và phát triển, thể hiện ý chí
của đa số nhân dân lao động trong xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, bình đảng và
đảm bảo giá trị của con người.
2. Các kiểu pháp luật trong lịch sử
* Kiểu pháp luật chủ nô
- Về bản chất: Pháp luật chủ nô là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước chủ nô đặt
ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, chủ yếu thể hiện ý chí và bảo vệ địa vị của giai
cấp chủ nô, là nhân tố điều chỉnh luật chủ nô thể hiện qua tính giai cấp và tính xã hội.
- Tính giai cấp: pháp luật chủ nô là sự thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô và nhằm bảo vệ lợi ích
- Tính xã hội: Pháp luật chủ nô góp phần xác lập trật tự xã hội thông qua việc xác định
các khuôn mẫu ứng xử cho con người, định hình các quy tắc hành vi trong các hoạt động
sinh hoạt, lao động, buôn bán, dịch vụ… Giống như nhà nước chủ nô, tính giai cấp của
nhà nước chủ nô thể hiện công khai và rõ rệt hơn nhiều so với tính xã hội
- Tính giai cấp nổi trội: Pháp luật hợp pháp hóa sự bóc lột không có giới hạn của chủ
nô đối với nô lệ, pháp luật ghi nhận và củng cố, bảo vệ tình trạng phân biệt đẳng cấp
trong xã hội. Pháp luật ghi nhận địa vị thống trị của người gia trưởng đối với các thành viên khác trong gia đình.
- Đặc điểm: Pháp luật chủ nô pháp luật chủ nô tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố và
bảo vệ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, hợp pháp hóa chế độ bóc lột của chủ nô đối với nô lệ.
+ Pháp luật chủ nô quy định một hệ thống hình phạt và cách thi hành hình phạt hết sức dã man, tàn bạo.
+ Pháp luật chủ nô ghi nhận và củng cố tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và trong gia đình.
+ Pháp luật chủ nô có tính tản mạn, thiếu thống nhất.
- Nguồn và hình thức của pháp luật chủ nô: Có thể nói nguồn quan trọng nhất của
pháp luật chủ nô là phong tục tập quán và đạo đức. Pháp luật chủ nô có cả ba hình thức
cơ bản là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trong đó hình thức
tập quán pháp chiếm ưu thế tuyệt đối.
* Kiểu pháp luật phong kiến - Bản chất
+ Pháp luật phong kiến là kiểu pháp luật thứ hai trong lịch sử, ra đời cùng với sự ra đời
của nhà nước phong kiến. Kiểu pháp luật Phong kiến thay thế cho kiểu pháp luật chủ
nô, chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ hơn pháp luật chủ nô. Xét về bản chất của pháp luật
phong kiến do chính các điều kiện kinh tế xã hội phong kiến quy định hay nói cách khác
nó do quan hệ sản xuất mặt bản phong kiến quy định. Vì vậy, về mặt bản chất giai cấp,
pháp luật phong kiến thế hiện ý chí của giai cấp địa chủ, phong kiến, là phương tiện để
bảo vệ trật tự xã hội phong kiến, trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến. Nó ghi nhận
sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp khác nhau trong xã hội, sự lệ thuộc của nông dân
vào giai cấp địa chủ, bảo vệ sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông dân.
+ Về phương diện xã hội pháp luật phong kiến có vai trò xã hội nhất định. Nó là phương
tiện để nhà nước phong kiến thực hiện những công việc chung của xã hội, ghi nhận và
phát triển các quan hệ xã hội của hình thái kinh tế xã hội phong kiến cao hơn, tiến bộ
hơn so với hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ. Đồng thời pháp luật phong kiến là
phương tiện để nhà nước phong kiến thực hiện những công việc chung, những chức
năng xã hội. Trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể pháp luật phong kiến
không chỉ thể hiện ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến mà còn phản ánh ý chí chung của toàn xã hội. - Đặc điểm
+ Pháp luật phong kiến là pháp luật đẳng cấp và đặc quyền.
Pháp luật phong kiến chia giai cấp trong xã hội thành nhiều đẳng cấp khác nhau.
Mỗi đẳng cấp có địa vị xã hội và địa vị pháp lý khác nhau. Pháp luật phong kiến
công khai tuyên bố cho mỗi đẳng cấp có những đặc quyền riêng. Quyền lợi cao
nhất trong xã hội Phong kiến thuộc về vua, vua có toàn quyền, sau vua là các địa
chủ lớn, tăng lữ có rất nhiều quyền (quyền xét xử đối với nông dân, đặt ra luật lệ,
quyền thu thuế, quyền bắt nông dân phải lao dịch cho mình…). Như vậy, một
mình tên địa chủ vừa là nhà làm luật, vừa là quan tòa, là vị chúa tể có toàn quyền ở trang ấp của mình
Tính chất đặc quyền của pháp luật còn thể hiện ở việc quy định các biện pháp
trách nhiệm khác nhau căn cứ vào đẳng cấp, thứ bậc của người phạm tội và người
bị hại trong xã hội. Người thuộc đẳng cấp dưới có hành vi xâm hại đến người
thuộc đẳng cấp trên, đặc biệt là vua chúa thì bị trừng trị rất nặng. Ngược lại, người
thuộc đẳng cấp trên xâm hại người thuộc đẳng cấp dưới bao giờ cũng được hưởng hình phạt nhẹ hơn.
+ Pháp luật phong kiến mang tính dã man, tàn bạo:
Mục đích hình phạt của pháp luật phong kiến chủ yếu nhằm gây đau đớn về thể
xác và tinh thần cho con người, làm nhục, hạ thấp danh dự, nhân phẩm của con
người. Chính vì vậy, các hình phạt được quy định trong pháp luật như: chém đầu,
treo cố, dìm nước, voi giày, tứ mã phanh thấy, ném vạc dầu, thích chữ vào mặt…
được áp dụng rộng khắp ở các nhà nước phong kiến.
Bên cạnh đó pháp luật phong kiến còn cho phép áp dụng trách nhiệm hình sự liên
đới dựa trên hai nguyên tắc:
Thứ nhất, đối với những người có cùng huyết thống, dòng tộc và quan hệ hôn nhân.
Thứ hai, đối với những người có quan hệ hàng xóm, đồng cư với người
phạm tội. Ví dụ: vụ án Lệ Chi viên đã áp dụng hình phạt chu di tam tộc
với 2 dòng họ của Nguyễn Trãi và Thị Lộ ở Triều Lê.
Pháp luật phong kiến hợp pháp hoá tính chất chuyên quyền và tuỳ tiện sử dụng
bạo lực. Ở giai đoạn đầu pháp luật phong kiến cho phép các lãnh chúa phong kiến
có pháp luật của riêng lãnh địa mình. Pháp luật cho pháp sử dụng bạo lực để giải
quyết tranh chấp. Ví dụ những quy định về đấu gươm, đấu súng ở Châu Âu.
Mặt khác, Toà án phong kiến được quyền xét xử bất kỳ vụ việc nào từ những lĩnh
vực thuộc về nhà nước cho đến những việc thuộc về đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…
+ Pháp luật phong kiến liên quan mật thiết tới tôn giáo và đạo đức phong kiến:
Trong xã hội phong kiến có sự liên kết chặt chế giữa nhà nước và các tổ chức tôn
giáo, vì thế trong nhiều trường hợp tổ chức tôn giáo can thiệp vào công việc của
nhà nước và ngược lại nhà nước cũng can thiệp vào các công việc tôn giáo. Điều
này dẫn đến thực trạng nhà nước phong kiến ghi nhận, thể chế hoá nhiều quy
định của lễ, giáo, đạo đức phong kiến thành pháp luật của nhà nước.
Ngoài ra, Hình thức án lệ và văn bản (lệnh, chiếu chỉ) được sử dụng khá rộng rã.
Bộ máy pháp luật phong kiến tiến bộ hơn rất nhiều so với kiểu pháp luật chủ nô.
* Kiểu pháp luật tư sản
- Pháp luật tư sản là hệ thống các quy phạm pháp luật (các quy tắc) có tính chất bắt
buộc chung, do Nhà nước tư sản ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện bằng
sức mạnh cưỡng chế, trực tiếp thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, là
công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu phù hợp với ý chí và
lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản.
- Những điểm tiến bộ của pháp luật tư sản so với pháp luật phong kiến Pháp luật phong
kiến là pháp luật đặc quyền về đẳng cấp còn pháp luật tư sản quy định mọi công dân
bình đẳng trước pháp luật. Với sự ra đời của pháp luật tư sản lần đầu tiên trong lịch sử
Pháp luật của nhân loại, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật được thiết lập.
- Pháp luật tư sản tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
và chịu sự chi phối có tính chất quyết định của các quan hệ đó. Theo Mác, nhà nước,
pháp luật, đạo đức, khoa học, nghệ thuật…thực chất chỉ là các loại hình đặc biệt của nền
sản xuất và vì thế phải tuân thủ quy luật phổ biến của nó. Kết luận này của Mác có ý
nghĩa phương pháp luận rất lớn đối với việc nghiên cứu bản chất của pháp luật tư sản.
Không thể hiểu được bản chất của pháp luật tư sản nếu không nói đến các điều kiện kinh
tế – xã hội hợp thành cơ sở tồn tại của nó.
- Quan hệ sản xuất tư bản là quan hệ sản xuất hàng hóa tồn tại dựa trên chế độ tư hữu
và bóc lột lao động làm thuê. Chính vì vậy, giai cấp tư sản đặc biệt quan tâm đến việc
duy trì và củng cố chế độ tư hữu, cạnh tranh tự do. Điều này không chỉ thể hiện ở việc
giai cấp tư sản biến việc bảo vệ chế độ tư hữu thành một trong những chức năng cơ bản
của nhà nước mà ở việc thể chế hóa nó thành pháp luật
=> Như vậy, pháp luật tư sản thể hiện ý chí của giai cấp tư sản là bằng mọi giá phải duy
trì và củng cố chế độ tư hữu và sự chi phối không hạn chế của nó đối với các yếu tố xã
hội, kinh tế và chính trị.
* Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa
- Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa: là kiểu pháp luật cuối cùng trong lịch sử nhà nước
và pháp luật, hình thành sau cách mạng vô sản và thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản.
- Đặc điểm cơ bản của kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa là:
+ Thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả
cộng đồng dân tộc nói chung.
+ Có mối quan hệ mật thiết với đường lối chủ trương chính sách của Đảng cộng sản;
thừa hưởng những thành quả của pháp luật ra đời trong xã hội tư sản.
+ Không chia thành công pháp và tư pháp.
+ Có hình thức chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật.
+ Xét ở góc độ chung, cũng như các kiểu pháp luật khác, pháp luật xã hội chủ nghĩa vừa
mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Tuy nhiên, do những điều kiện, kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa, hệ tư tưởng trong chủ nghĩa xã hội nên pháp luật xã hội chủ
nghĩa có những đặc thù riêng, điều này làm cho bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa
khác hẳn với bản chất của các kiểu pháp luật trước đó.
- Bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở những đặc điểm cơ bản sau:
+ Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tại cao
+ Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân
+ Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội
3. Hình thức pháp luật: Là cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để nâng ý chí của
giai cấp mình lên thành pháp luật.
- Có ba hình thức pháp luật phổ biến là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm pháp luật.
+ Pháp luật tập quán (tập quán pháp) là những tập quán được Nhà nước thừa nhận và
đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước;
+ Án lệ pháp luật (án lệ pháp, tiền lệ pháp) là hình thức pháp luật hình thành từ hoạt
động xét xử của Toà án. Các bản án mẫu mực sau khi được một Hội đồng Thẩm phán
có thẩm quyền thừa nhận sẽ trở thành khuôn mẫu áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau;
+ Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ
tục, trình tự luật định trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung,
được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản hoặc cần thiết.
VẤN ĐỀ 7: QUAN HỆ PHÁP LUẬT * Khái niệm:
Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật
khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên
quy định của pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ
thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện. * Đặc điểm:
- Quan hệ này được phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật. Trong đó, quy phạm pháp
luật là sự dự liệu tình huống nảy sinh quan hệ pháp luật, xác định được chủ thể tham
gia, quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý.
- Quan hệ mang tính ý chí, đây là ý chí của Nhà nước sau đó mới là ý chí của các bên tham gia vào quan hệ đó.
- Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện quan hệ pháp luật, thậm chí là bảo đảm bằng
các biện pháp cưỡng chế thi hành.
- Khi tham gia quan hệ này, các bên bị ràng buộc bằng quyền chủ thể và nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
- Quan hệ pháp luật còn mang tính cụ về chủ thể tham gia là cá nhân, tổ chức hay cơ
quan nhà nước cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. * Yếu tố cấu thành:
- Các yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật gồm có: Chủ thể của quan hệ pháp luật; Khách
thể của quan hệ pháp luật và Nội dung của quan hệ pháp luật.
1.Chủ thể quan hệ pháp luật
- Chủ thể trong quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức phải có năng pháp luật, năng
lực hành vi phù hợp phù hợp để tham gia vào các quan hệ đó và thực hiện các quyền,
lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ pháp lý theo quy định.
- Trong đó chủ thể là cá nhân và tổ chức khác nhau, cụ thể:
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là cá nhân: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng để
cá nhân đó có quyền và nghĩa vụ dân sự. Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân là
khả năng mà cá nhân đó bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.
+ Chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức: Đối với chủ thể này, năng lực pháp luật dân sự
và năng lực hành vi sẽ xuất hiện đồng thời khi tổ chức đó thành lập theo quy định của
pháp luật và chấm dứt tư cách pháp lý khi bị phá sản, giải thể.
2. Khách thể quan thể quan hệ pháp luật
- Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong muốn đạt được
đó là lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật.
- Khách thể trong quan hệ pháp mà các bên hướng đến có thể là tài sản vật chất, lợi ích
phi vật chất hay hành vi xử sự của con người. Ví dụ:
+ Vàng, trang sức, đá quý, tiền. xe, nhà, đất,… (tài sản vật chất)
+ Khám chữa bệnh, vận chuyển hàng hóa, chăm sóc sắc đẹp, tham gia bầu cử,…(hành vi xử sự)
+ Quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, học hàm học vị,…(Lợi ích phi vật chất)
3. Nội dung quan hệ pháp luật
- Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể quyền và nghĩa vụ pháp của các chủ thể
tham giam trong quan hệ đó. Trong đó:
+ Quyền của chủ thể tham gia: Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua việc thực
hiện các hành vi trong khuôn khổ pháp luật, yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm
chế thực hiện hành vi nhất định.
+ Nghĩa vụ của chủ thể tham gia: Chủ thể tham gia phải xử sự theo quy định của pháp
luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
VẤN ĐỀ 8: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 1. Khái niệm:
- Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp, có mục đích của các chủ thể được
hình thành trong quá trình hiện thực hóa các quy định pháp luật.
- Từ việc hiểu “Thực hiện pháp luật” là gì có thể khái quát được hai thực tế:
Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Thực hiện pháp luật được tiến hành bởi nhiều chủ thể với nhiều cách thức
khác nhau, chủ thể có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
2. Các hình thức thực hiện pháp luật:
Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật kiềm chế
mình để không thực hiện điều pháp luật cấm. Tuân thủ pháp luật mang tính chất bắt buộc.
Hình thức thể hiện: Thường dưới dạng những quy định cấm đoán. Tức
quy phạm không bắt buộc chủ thể không được thực hiện những hành vi nhất định.
Đối tượng thực hiện: Mọi chủ thể.
Bản chất: Tuân thủ pháp luật có tính chất thụ động và thể hiện dưới dạng
hành vi không hành động.
Ví dụ: Pháp luật cấm hành vi mua bán mại dâm, mua bán ma túy, vũ khí....
Thi hành pháp luật: Là việc chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu
cầu. Thi hành pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện.