1
NỘI DUNG ÔN TẬP
LỊCH SỬ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VIỆT NAM
Câu 1: Hoàn cảnh ra đời tưởng bản của Nho giáo. Ý nghĩa đối với việc cải
cách bộ máy hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay.
1. Hoàn cảnh ra đời:
Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN, trong bối cảnh Nhà Chu suy yếu
hội Trung Quốc rơi vào cảnh phân tranh chư hầu, đạo đức lễ nghĩa truyền thống bị xói
mòn, dẫn đến nhu cầu cấp thiết về một hệ thống giá trị giúp khôi phục trật tự hội. Khổng
Tử (551–479 TCN) nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông) đã hệ thống hóa tưởng nhân nghĩa
lễ trí tín, đồng thời phát triển các thuyết Chính danh Đức trị nhằm cải thiện tình
trạng bạo loạn bất công. Dưới triều Hán (202 TCN–220 SCN), Nho giáo được ng lên
thành học thuyết chính thống, làm nền tảng cho hệ thống quan chức khoa cử suốt hai
thiên niên kỷ. tưởng Nho giáo sau đó lan truyền sâu rộng đến Hàn Quốc, Nhật Bản
Việt Nam, trở thành một trong các trụ cột văn hóa hội Đông Á. Trong giai đoạn Đông
Chu, đặc biệt thời Xuân Thu (770–476 TCN), quyền lực trung ương của Nhà Chu dần suy
yếu, các chư hầu t chủ thường xuyên giao tranh lẫn nhau). hội lúc này thiếu vắng
một hệ thống luân thống nhất, trật tự lễ nghĩa truyền thống bị đảo lộn, tạo tiền đề cho
hơn một trăm trường phái tưởng cùng tranh luận trong thời kỳ “Bách gia tranh minh”.
Trước tình trạng suy đồi đạo đức hỗn loạn chính trị, các bậc trí giả tìm cách phục hưng
các giá trị đạo đức c điển nhằm khôi phục hòa hợp ổn định hội.
Người tạo n hệ thống Nho giáo Khổng T (551–479 TCN), sinh tại Khâu ,
nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông), vào thời “vương đạo suy vi” khi trật tự l nghĩa của Nhà
Chu đã bị băng hoại. Ông từng đảm nhận các chức quan nhỏ, sưu tầm chỉnh lễ nhạc
của thời Tây Chu, sau đó t năm 497 TCN cùng các đệ tử lưu hành khắp chư hầu để giảng
dạy kêu gọi cải cách hội dựa trên đạo đức lễ nghĩa. Khổng Tử soạn thảo biên tập
nhiều kinh điển, như Luận ngữ Xuân Thu, để m chuẩn mực giảng dạy về nhân cách
quan hệ hội. Sau khi Khổng Tử qua đời, các học trò những người kế thừa tiếp tục mở
rộng ởng Nho giáo, đặc biệt trong giai đoạn Chiến Quốc (475–221 TCN), hình thành
thêm các hệ phái như Mạnh Tử, Tuân Tử. Đến triều Hán, nhất dưới thời Hán Vũ Đế (141–
87 TCN), Nho giáo chính thức trở thành học thuyết quốc gia, được đưa vào giáo dục quan
lại tổ chức khoa cử. Từ Trung Quốc, Nho giáo truyền sang n Quốc, Nhật Bản
Việt Nam, góp phần hình thành hệ giá trị đạo đức và cấu quan chế cho các quốc gia
Đông Á.
2
Nho giáo du nhập Việt Nam từ đầu Công nguyên khi Thái thú Giao Chỉ Nhiếp
(137–226) cùng c văn nhân Hán dạy chữ Hán kinh điển Nho học cho giới trí thức bản
xứ. Đến thời Lý–Trần (thế kỷ XI–XIV), tuy Phật giáo chiếm ưu thế v tín ngưỡng, Nho giáo
vẫn được triều đình dùng làm nền tảng tổ chức hành chính thông qua các trường Quốc Tử
Giám chế độ giáo a văn hiến. Thời Lê Thánh Tông (1460–1497), Nho giáo lên đến
đỉnh cao khi ông mở 12 kỳ thi lớn, tu bổ Văn Miếu–Quốc Tử Giám và đặt Nho học làm giáo
dục chính thức của triều đình, đánh dấu thời thịnh” của đạo Nho Đại Việt. Đến cuối thế
kỷ XVIII, cuộc cải cách Tây Sơn bỏ k thi Hành Cống đưa chữ Nôm o khoa cử, rồi
dưới ách đô hộ thực dân Pháp, khoa cử Nho học chính thức chấm dứt vào năm 1915, Nho
giáo không còn vị thế chính thống trong quản nhà nước. Ngày nay, mặc không còn là
học thuyết chính thức, Nho giáo vẫn để lại di sản n 1.900 m trong n hóa gia đình, lễ
nghĩa, giáo dục đang được c nhà nghiên cứu cùng cộng đồng phục hồi, gìn gi như
một phần giá trị truyền thống Việt Nam.
2. ởng cơ bản
Ngũ thường: năm đạo luôn phải gi gìn, gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đây
thước đo đạo đức giúp nhân tự rèn luyện y dựng hội hài hòa.
Nhân: lòng nhân ái, u thương con người, nền tảng đạo đức quan trọng nhất.
Nghĩa: lẽ phải, công bằng, biết nh động điều đúng đắn chứ không lợi.
Lễ: phép tắc, quy chuẩn ứng xử, giúp duy trì trật tự tôn ti trong hội.
Trí: trí tuệ, sự hiểu biết khả năng phân định đúng sai, tốt xấu.
Tín: sự tin cậy, giữ lời hứa lòng trung thành trong quan h hội.
Tam cương gồm: vua tôi, cha con, chồng vợ. Ba mối quan hệ này tạo n cấu
trúc hội theo thứ bậc trách nhiệm. Người trên có trách nhiệm che chở, người dưới phải
tôn kính phục tùng. ởng này đề cao sự n định, phục vụ cho một hội trật tự, kỷ
cương.
Thuyết Chính danh n bản của hội ổn định: Chính danh tưởng yêu cầu
mọi người phải hành x đúng với vị trí, vai trò của mình. Ví dụ: vua phải phẩm chất của
vua, cha phải làm tròn đạo làm cha. Nếu “danh không chính”, “ngôn không thuận”, hội
sẽ loạn lạc. tưởng này khuyến khích s tu ỡng thực thi trách nhiệm theo đúng danh
phận, giúp duy trì n định trong bộ máy t chức đời sống hàng ngày.
Thuyết Đức trị: Khổng Tử đề cao đạo đức của người cầm quyền. Theo ông, người
lãnh đạo phải ng đức hạnh để cảm hóa dân, dẫn dắt bằng gương mẫu chứ không chỉ dùng
3
luật pháp cưỡng chế. Đức trị tạo nên lòng tin, sự tự giác đồng thuận trong hội khác
với pháp trị vốn dễ gây sợ hãi chống đối.
Quân tử Tiểu nhân: Nho giáo lấy hình tượng quân tử” làm tưởng đạo đức.
Quân tử người sống tưởng, trung thực, trách nhiệm với hội. Ngược lại, “tiểu
nhân” kẻ sống vị kỷ, gian dối, vụ lợi. Nho giáo không chỉ đề cao quân tử còn lấy việc
tránh xa tiểu nhân làm thước đo tu dưỡng đạo đức.
Trung dung: Trung dung là sống điều độ, biết điều chỉnh nh vi để giữ cân bằng,
tránh thái quá hay bất cập. Người thực hành trung dung không cực đoan, biết tùy thời ứng
biến gi sự ổn định từ trong m đến ngoài hội. Trung dung không phải thỏa hiệp,
biểu hiện của sự điềm đạm, trí tuệ chín chắn trong ứng xử.
3. Ý nghĩa của Nho giáo với cải cách bộ máy hành chính
Nho giáo, với trọng tâm đạo đức nhân tinh thần phục vụ cộng đồng, vẫn còn
giữ nhiều giá trị thiết thực trong việc cải cách b máy hành chính xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức hiện nay. Trước hết, tưởng chính danh” giúp xác định vai trò, trách
nhiệm của từng vị trí trong bộ máy nhà nước, thúc đẩy việc tuyển chọn, bổ nhiệm đúng
người, đúng việc, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính. Tiếp theo, học
thuyết “đức trị” của Nho giáo nhấn mạnh đạo đức người lãnh đạo điều này rất cần thiết để
chống lại nh trạng tham nhũng, quan liêu, nhấn mạnh vai trò nêu gương xây dựng niềm
tin với nhân dân. Bên cạnh đó, tinh thần “trung dung” đề cao “nghĩa”, “tín” khuyến khích
cán bộ công chức hành xử một cách cân bằng, trách nhiệm, giữ lời hứa, tôn trọng pháp
luật lợi ích công cộng. Đặc biệt, hình người quân tử luôn tu dưỡng đạo đức, dân,
nước hình mẫu tưởng để xây dựng một đội n công chức liêm chính, tận tụy, hiệu
quả. Tuy nhiên, việc tiếp thu Nho giáo cần chọn lọc, không áp dụng máy móc những
tưởng lỗi thời như tuyệt đối hóa thứ bậc hay trọng nam khinh nữ. Trong bối cảnh hiện đại,
tinh thần của Nho giáo nên được kết hợp với nguyên tắc pháp quyền, dân chủ minh bạch
để phù hợp với u cầu cải cách hành chính phát triển đất ớc bền vững.
4. Ý nghĩa của Nho giáo trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh xây dựng Nhà ớc pháp quyền nền hành chính hiện đại, Nho
giáo vẫn giữ giá trị nhất định trong việc hình thành phẩm chất đạo đức thái độ làm việc
của đội ngũ cán bộ, công chức. Trước hết, tư tưởng "Đức trị" đề cao vai t đạo đức người
cầm quyền giúp hình thành đội ngũ cán bộ tâm, có tầm, hành xử mẫu mực, lấy trách
nhiệm sự tận tụy phục v nhân n m trọng. Th hai, nguyên "Chính danh" nhấn
4
mạnh việc mỗi người cần làm tròn bổn phận theo đúng chức danh vị t được giao phù
hợp với u cầu chuyên nghiệp hóa, minh bạch và liêm chính trong đội ngũ nh chính hiện
đại. tưởng "Ngũ thường" (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) nền tảng quan trọng để y dựng
văn hóa công vụ, đề cao lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, ứng xử đạo giữ chữ tín
với dân. Cuối cùng, khái niệm "Quân tử" trong Nho giáo người biết tu dưỡng, liêm chính
phụng sự hội nh mẫu tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện đại hướng tới.
Câu 2: tưởng bản thuyết Chính danh của Khổng Tử. Ý nghĩa của thuyết Chính
danh đối với việc đào tạo, tuyển chọn cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay.
1. ởng cơ bản thuyết Chính danh của Khổng Tử
Vào thời Khổng Tử, hội Trung Hoa đang trải qua thời kỳ loạn lạc khủng hoảng
sâu sắc về đạo đức, chính trị. Chế độ phong kiến nhà Chu suy yếu, trật tự hội b đảo lộn.
Các c hầu tranh giành quyền lực, đạo không còn được tôn trọng, người không sống
đúng với vai trò, địa v của mình, dẫn đến mất ổn định hỗn loạn trong quản ứng xử
hội. Chính trong bối cảnh đó, Khổng Tử đưa ra học thuyết "Chính danh" như một
phương thuốc để phục hồi trật tự hội. Ông cho rằng muốn hội ổn định phát triển thì
phải đặt lại đúng vị trí, chức năng của mỗi người trong hệ thống hội, từ vua, quan cho
đến dân thường. Đây là cách để khôi phục luân lý, đạo đức hiệu quả cai trị.
Học thuyết y vừa lời phê phán tình trạng hỗn loạn thời bấy giờ, vừa tưởng
về một hội trật tự, i mỗi người sống hành xử đúng với vai trò của mình. Học thuyết
"Chính danh" một trong những tưởng cốt lõi của Khổng Tử, đóng vai trò quan trọng
trong việc thiết lập trật tự hội đạo đức. Theo Khổng Tử, "chính danh" nghĩa mỗi
người phải hành xử phù hợp với vai trò danh phận của mình trong hội. Ông nhấn
mạnh: "Danh bất chính, ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, sự bất thành", tức nếu tên gọi
không đúng thì lời nói sẽ không thuận, lời nói không thuận thì công việc cũng khó thành
công. Khổng T cho rằng, trong một hội lý tưởng, vua phải ra vua, tôi phải ra tôi, cha
phải ra cha, con phải ra con. Điều này nghĩa mỗi người cần thực hiện đúng vai trò
trách nhiệm gắn liền với danh phận của mình. Khi danh thực hài hòa, hội vận hành ổn
định; ngược lại, nếu danh xưng không phản ánh đúng thực tế, hội sẽ rối loạn. Học thuyết
"Chính danh" không chỉ một nguyên tắc đạo đức còn nền tảng cho quản nhà
nước tổ chức hội. yêu cầu sự phù hợp giữa chức danh năng lực thực tế, đảm
bảo rằng mỗi cá nhân trong hội đều thực hiện đúng vai trò của mình, từ đó duy trì trật tự
ổn định hội.
5
2. Ý nghĩa của thuyết Chính danh đối với việc đào tạo, tuyển chọn cán bộ, công chức
Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang thúc đẩy quá trình cải cách hành chính,
xây dựng nền công v chuyên nghiệp, hiện đại liêm chính, học thuyết Chính danh của
Khổng Tử vẫn giữ nguyên giá trị mang ý nghĩa u sắc đối với ng tác đào tạo, tuyển
chọn cán bộ, công chức. Theo Khổng Tử, “Chính danh nghĩa mọi s vật, hiện tượng,
mọi con người trong hội phải hành xử phù hợp với vị trí, chức danh của nh, làm đúng
trách nhiệm, giữ đúng phẩm chất, không để danh và thực đi lệch nhau. Quan điểm này đặt
nền móng cho duy quản tổ chức bộ máy nhà nước trên sở chuẩn mực, kỷ cương
sự phân định ràng chức năng, nhiệm vụ của từng v trí.
Trong tuyển chọn cán bộ, công chức, học thuyết Chính danh yêu cầu phải có sự phù
hợp giữa chức danh năng lực thực tế của người đảm nhận. Mỗi cán bộ, công chức được
tuyển dụng hay bổ nhiệm cần được đánh giá toàn diện không ch về trình độ chuyên môn,
còn v phẩm chất đạo đức, khả năng thực thi công vụ và tinh thần trách nhiệm. Việc này
đòi hỏi quá trình tuyển chọn phải khách quan, minh bạch, công bằng, tránh tình trạng “bổ
nhiệm đúng quy trình nhưng sai con người”. Điều này không những giúp chọn đúng người
cho đúng việc, còn góp phần tạo dựng niềm tin trong nhân dân về một nền hành chính
trong sạch, hiệu quả.
Về công tác đào tạo, Chính danh nhấn mạnh đến việc người n bộ phải biết giữ
đúng phẩm hạnh hành xử phù hợp với vai trò, nhiệm vụ của mình. Điều đó nghĩa
không chỉ đào tạo về kỹ năng, chuyên môn, n phải c trọng rèn luyện bản lĩnh chính
trị, đạo đức công vụ ý thức phục vụ nhân n. Người cán bộ cần thấm nhuần tinh thần
“danh chính ngôn thuận”, nghĩa phải luôn giữ được sự ngay thẳng, minh bạch trong hành
động, đúng với danh vị mình đảm nhận, từ đó mới thể làm ơng cho người khác
góp phần giữ vững kỷ cương của bộ máy nhà nước.
Bên cạnh đó, học thuyết Chính danh cũng giúp định nh n hóa công vụ, trong đó
mọi người đều hành xử đúng vai, đúng trách nhiệm, không vượt quyền, không tránh,
không đùn đẩy. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người trong bộ máy đều phải vận hành trong
khuôn khổ được xác lập ràng, từ đó tạo nên sự vận hành đồng bộ, hiệu quả, hạn chế xung
đột, sai lệch chức năng nâng cao hiệu qu hoạt động chung của bộ máy nhà ớc.
Trong điều kiện đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, thách thức đối với đội ngũ
cán bộ, công chức ngày càng lớn. Việc vận dụng học thuyết Chính danh một cách linh hoạt
6
sẽ giúp Việt Nam xây dựng được một nền hành chính minh bạch, công bằng, chuyên nghiệp,
trong đó con người thực sự trung tâm động lực của sự phát triển. Đây chính điều
kiện tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa nâng cao chất lượng
phục vụ nhân n.
Câu 3: Tư tưởng về Giáo dục của Nho giáo
Nho giáo xem giáo dục không chỉ truyền dạy kiến thức trước hết quá trình
hình thành nhân cách “quân tử”, khôi phục lễ nghĩa ổn định trật tự hội. Mục đích giáo
dục của Nho gia đào tạo con người “toàn đức” thông qua việc rèn luyện Ngũ thường,
đồng thời phát huy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục. Phương pháp giáo dục theo Nho giáo
kết hợp giữa học nh, thầy làm gương, trò học qua quan t tự tu ỡng. Giáo dục
trong Nho giáo ưu tiên đào tạo đạo đức trước, sau đó mới đến văn hóa, kiến thức, với niềm
tin rằng chỉ con người “đức” mới sử dụng tri thức đúng đắn phát huy lợi ích cho
hội.
Nho giáo xác định mục tiêu đầu tiên của giáo dục là hình thành nhân cách tưởng,
tức con người phải “nhân” lòng nhân ái công bằng làm gốc cho mọi hành vi.
Song song với đó, giáo dục còn nhằm bồi dưỡng “quân tử” nhân tài đủ đức, đủ tài để đảm
nhận trách nhiệm hội, điều hòa mâu thuẫn các tầng lớp khôi phục l nghĩa trong bối
cảnh loạn lạc.
Khổng Tử ch trương “dạy người không phân biệt giai cấp, không phân biệt giàu
nghèo”, đ cao nguyên tắc “vô ngại học” để khuyến khích mọi nhân đều hội tiếp
cận giáo dục. Quan điểm này mở rộng đối tượng học, không chỉ dành riêng cho tầng lớp quý
tộc còn cho cả thường dân, góp phần tạo động lực học tập tiến bộ trong hội.
Nho giáo nhấn mạnh “học nh gắn kết”: học phải đi đôi với thực hành đạo đức
để chuyển hóa tri thức thành nh vi đúng đắn. Bên cạnh việc giảng giải lời nói, người thầy
còn dạy trò qua ơng mẫu trong cử chỉ, hành vi, bởi “giáo điều dạy mà không nói”
học trò quan t thầy để t kinh nghiệm.
Theo Khổng Tử, giáo dục bắt đầu với việc hoàn thiện đạo đức (“đạo làm người”), sau
đó mới đến n học lịch sử nghệ thuật, đảm bảo học trò nền tảng nhân cách vững
chắc trước khi mở rộng kiến thức. Việc coi trọng nhân cách tưởng trước kiến thức tri thức
giúp ngăn ngừa việc lạm dụng hiểu biết chuyên môn mục đích cá nhân, từ đó duy trì lợi
ích cộng đồng.
7
Khổng Tử coi giáo dục như quá trình không ngừng tu thân”: mỗi người phải tự học
qua sách vở t tu qua tự phê nh, rèn luyện bản thân liên tục. tưởng này khuyến
khích thái độ chủ động, tự giác của học trò, giúp họ trở thành những ng dân kỷ luật
trách nhiệm với hội. Giáo dục theo Nho giáo không chỉ đào tạo cá nhân còn đóng vai
trò then chốt trong việc phục hồi l nghĩa đạo đức công cộng, từ đó xây dựng một hội
ổn định, hài hòa.
Câu 4: Tư tưởng cơ bản của trường phái Triết học Pháp gia. Ý nghĩa đối với việc xây
dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam.
1. ởng cơ bản của trường phái Triết học Pháp gia
Pháp gia chủ trương coi “pháp” (luật lệ) là công cụ chủ yếu để duy trì trật tự hội
tăng cường quyền lực của nhà nước. Họ cho rằng con người vốn ích kỷ khó kiểm
soát, thế không thể trông chờ vào luân hay đạo đức nhân mà phải dựa vào hệ thống
quy định ràng, chặt ch bất biến để răn đe mọi hành vi sai phạm. Pháp được ban hành
thi hành công minh, không phân biệt địa vị, nhằm tạo ra sự nghiêm túc ổn định, giúp
điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với hội một cách hiệu quả.
Bên cạnh pháp”, Pháp gia còn nhấn mạnh đến thực” (thực lực, tài nguyên) “thừa”
(thừa tướng, nhân sự). Họ cho rằng nhà nước phải thâu tóm mọi nguồn lực, từ ruộng đất, lao
động đến tài chính, nhằm phục vụ cho mục tiêu củng cố chính quyền. Việc bổ nhiệm quan
lại phải dựa trên năng lực kết quả thực tế, không dùng quan hệ huyết thống hay nh thân.
Nhờ vậy, những người quản lý thực sự ưu sẽ được trọng dụng, góp phần làm cho bộ máy
nhà nước vận hành trơn tru và hiệu quả.
Pháp gia c chế độ tập quyền tập trung, đặt tất cả quyền lực cao nhất o tay quân
chủ. Nhà vua phải giữ thái độ nghiêm khắc, không chia sẻ quyền hành với quý tộc hay giới
sản, để tránh tình trạng phân tán lực lượng chính trị. Mọi chính sách, chiến lược quốc gia
đều được quyết định tập trung, từ an ninh nội địa đến đối ngoại, đảm bảo lập trường kiên
định khả năng phản ng nhanh trước mọi biến động.
Những biện pháp mạnh tay như hình phạt nặng, khen thưởng rõ ràng vừa phương
tiện tạo động lực vừa công cụ răn đe. Hình phạt nghiêm khắc nhằm làm ơng cho kẻ
khác, trong khi khen thưởng công khai giúp kích thích lòng trung thành tinh thần phấn
đấu của quan lại, binh nh. Chính nhờ sự kết hợp khéo léo giữa kỷ luật khắt khe cơ chế
thưởng phạt minh bạch, Pháp gia đã tạo nên một hệ thống quản nhà nước mang nh thực
dụng cao đầy quyền uy.
8
2. Ý nghĩa đối với việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam
Xây dựng Nhà ớc Pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam quá trình không
ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động
của bộ y nhà nước trên nền tảng luật pháp. Điều này giúp tạo lập môi trường pháp ổn
định, minh bạch, đảm bảo mọi hành vi của quan công quyền và người dân đều phải tuân
thủ quy định chung. Nhờ vậy, quyền lực nhà nước sở pháp vững chắc để kiểm soát
điều chỉnh, tránh tình trạng lạm quyền, nh chính y tiện, góp phần củng cố lòng tin
của nhân dân vào sự công bằng hiệu lực của pháp luật.
Việc xác định vị trí trung tâm của Hiến pháp và luật trong hệ thống pháp luật nước
ta cũng mang lại bước chuyển căn bản cho Nhà ớc Pháp quyền. Mỗi chủ trương, quyết
sách quan trọng đều phải dựa trên nguyên tắc pháp quyền, được thẩm định, ban nh và tổ
chức thực hiện theo thủ tục chặt chẽ, công khai, dân chủ. Nhờ đó, tính dự o khả năng
áp dụng pháp luật o thực tiễn đời sống hội được tăng cường, giảm thiểu mâu thuẫn,
khiếu kiện do bất cập hoặc hồ trong quy phạm.
Bên cạnh hoàn thiện cơ chế y dựng, ban hành thi hành pháp luật, Nhà ớc
Pháp quyền XHCN còn đặc biệt chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân. chế
giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân n, Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể chính trị
hội được tăng cường; việc lấy ý kiến cộng đồng, tham vấn hội khi soạn thảo luật, nghị
định đã trở thành yếu tố không thể thiếu. Nhờ vậy, pháp luật không chỉ kết tinh của ý chí
tập thể, còn phản ánh thực tiễn, nhu cầu nguyện vọng chính đáng của người dân.
khía cạnh tổ chức bộ máy cán bộ, xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN đòi
hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong tuyển chọn, đào tạo b trí cán bộ pháp luật. Các cấp,
ngành phải hình thành đội ngũ chuyên môn về pháp chế, giỏi chuyên môn, hiểu sâu về
chính trị, am hiểu kinh tế hội, đồng thời đạo đức nghề nghiệp vững vàng. S chuyên
trách hóa công tác pháp chế bảo đảm cho việc tham mưu, soát, kiểm soát tính hợp hiến,
hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật diễn ra hiệu quả, nhanh chóng kịp thời.
Cuối cùng, Nhà ớc Pháp quyền XHCN thúc đẩy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực
pháp luật, học hỏi kinh nghiệm xây dựng N nước pháp quyền nhiều nước tiến bộ, đồng
thời đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của luật pháp quốc tế. Việc kết, thực thi
các hiệp định, cam kết quốc tế không chỉ nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam, mà còn giúp
chúng ta hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân
một cách toàn diện bền vững.
9
Câu 5: Những nội dung bản của Đạo Phật
Phật giáo đưa ra tư tưởng ngã”, “vô thường”
ngã: Tất cả s vật, hiện tượng cũng như chính bản thân ta không có thực. Thế
giới (nhất thế giới hữu hình - con người) do sự hợp lại của các yếu tố vật chất (Sắc)
tinh thần (Danh ). Đó 5 yếu tố (ngũ uẩn ): Sắc (vật chất ), Th (cảm giác), Tưởng (ấn
tượng ), Hành (Tư duy nói chung ), Thức thức ). Nhưng Danh Sắc chỉ t hội trong
thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy không cái tôi” (vô ngã - natman).
thường: Bản chất sự tồn tại của thế giới một dòng biến chuyển không ngừng
(vô thường). Không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không ai tạo ra thế giới
cũng không vĩnh hằng. Sự biến hiện của thế giới theo chu trình: sinh - trụ - dị - diệt
theo luật nhân quả.
Phật giáo tiếp thu tưởng luân hồi nghiệp của Upanisa bộ phận kinh Veda của
đạo la môn phần nói về tri thức. Theo Phật giáo, sự vật mất đi chỗ y để sinh ra
chỗ khác. Quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả. Theo quan niệm
của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức Bốn chân thiêng liêng
tuyệt diệu (Tứ diệu đế). Đó là:
+ Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời bể khổ. Cái kh ấy không ngoài 8 nỗi khổ:
Sinh, lão, bệnh, tử, th biệt ly (yêu phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải gần), sở
cầu bất đắc (muốn không được), th ngũ uẩn (khổ sự tồn tại của thân xác).
+ Tập đế (Nhân đế): Mọi nỗi khổ đều nguyên nhân. Phật giáo đưa ra “Thập
nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của sự khổ. Đó là: minh, hành, thức, danh
sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
+ Diệt đế: Phật giáo khẳng định có th tiêu diệt nỗi khổ chấm dứt luân hồi.
Diệt đế đưa ra các quả cho sự chấm dứt khổ đau
+ Đạo đế: Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất tiêu diệt minh (sự
tăm tối, không sáng suốt), gồm 8 con đường (Bát chánh đạo). Đó là: Chánh kiến :
nhìn thấy hiểu biết điều đúng; Chánh duy: nghĩ điều đúng đắn; Chánh ngữ: giữ
lời nói chân chính.; Chánh nghiệp : Nghiệp hai loại là nghiệp chính nghiệp.
nghiệp phải sửa, chánh nghiệp phải giữ. Nghiệp thân nghiệp (do hành động
gây ra), khẩu nghiệp (do lời nói gây ra), ý nghiệp (do suy ng gây ra).; Chánh mệnh:
làm việc đúng để duy trì mạng sống.; Chánh tinh tiến: chí cầu tiến phát triển
10
bản thân bằng con đường đúng đắn; Chánh niệm: biết hiểu những nh đang
làm; Chánh định: gi tâm định tĩnh. Theo Bát chánh đạo, con người thể diệt trừ
minh, giải thoát, nhập vào cõi niết bàn - Nirvana. Niết Bàn trạng thái yên tĩnh,
sáng suốt. Như vậy Phật giáo có tưởng biện chứng, mang tính duy tâm chủ quan.
Bát chánh đạo còn gọi Tam học: Tuệ (chính kiến, chính duy, chính ngữ), Giới
(chính nghiệp, chính mệnh), Định (chính tinh tiến, chính niệm, chính định)
Đặc điểm của Phật giáo không đề cập vị thần sáng tạo thế giới con người. Đây
nét độc đáo trong thế giới quan Phật giáo. Về nhân sinh quan, Phật giáo đề cao vai trò của
con người trong cuộc sốnh hiện thực.
Giáo luật của Phật giáo: Kinh luật tạng trình bày những phép tắc, giới luật. Về bản,
đạo Phật hai giới luật quan trọng ngũ giới thập thiện, quy định những điều
những người theo đạo phải tuân theo
Ngũ giới : Giới sát (không sát sinh). Giới đạo (không trộm cắp). Giới m
(không dâm). Giới vọng ngữ (không được nói điều sai). Giới tửu sắc (không
nghiện ngập).
Thập thiện : Về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không dâm. Về khẩu:
không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không thêu dệt. Về ý: Không
tham lam, không giận dữ, không kiến.
Ngoài những quy định trên, người tu nh còn phải thực hiện một số điều cấm khác.
Các vị từ Đại đức trở lên phải theo giới luật nghiêm hơn:
+ Hàng Tỳ kheo : nam 250 giới, kheo n 348 giới.
+ Hàng Sa di: phải thực hiện 10 giới: không sát sinh, không trộm cắp, không
dâm dục, không nói điều sai, không uống rượu, không trang điểm, không nằm
giường nệm, không xem ca t, không giữ vàng bạc, không ăn quá giờ quy định).
Tổ chức của đạo Phật: Tổ chức Phật giáo không chặt chẽ. Phật giáo không giáo
quyền, không thống nhất cách tu nh, nhiều tông phái sơn môn.
Người theo đạo Phật được chia làm hai loại:
+ Người tu nh: phải thoát ly gia đình các sinh hoạt hội, đi tu chùa
theo quy định. Nam tu gọi Tăng, nữ tu sĩ gọi Ni.
11
+ Người tu tại gia: thờ Phật, lễ Phật tại nhà tuân theo Ngũ giới và Thập
thiện.
Về hệ thống chức sắc các nhà tu hành:
+ Đối với Tăng: Hòa thượng : có 40 năm tu, 60 năm tuổi đời từ Thượng tọa
được tấn phong lên. Thượng tọa: 30 năm tu, 50 năm tuổi đời từ Đại đức được
tấn phong n. Đại đức: là hàng Tỳ kheo, được thọ giới sau khi xuất gia khoảng 10
năm trở lên. Sa di: được thọ giới từ Tiểu lên. Tiểu: người xuất gia tu hành.
+ Đối với Ni: Gồm Ni trưởng, Ni sư, Ni cô, Sadini, Tiểu cũng phải thọ giới
tấn phong như bên Tăng.
Phật giáo gồm hai phái Đại thừa, Tiểu thừa. Từ hai phái đó mỗi phái lại chia thành
nhiều tông nên hay gọi “tông phái”.
+ Đại thừa (c xe lớn ): phái này cho rằng con người thể giác ngộ bằng tự
lực bằng tha lực tức bằng sự dẫn dắt của người khác, đặc biệt của các vị Bồ t.
Do đó phải tự giác giác tha, tự độ độ tha tức mình đã giác ngộ thì phải giác ngộ
người khác. Việt Nam phái Đại thừa còn gọi Bắc tông.
+ Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): Mỗi người phải lo tu thân, giác ngộ chỉ bằng t lực.
Việt Nam phái Tiểu thừa còn gọi Nam tông.
Toàn b nội dung của Phật giáo được thể hiện ba cuốn kinh điển lớn là: Kinh tạng:
Bộ sách ghi lại những lời của Thích ca Mâu ni khi ông còn sống; Luật tạng: Bộ sách ghi lại
những quy tắc, luật lệ khi gia nhập cộng đồng phật giáo; Luận tạng: b sách do những
nhà tưởng Phật giáo đời sau biên soạn, chứa những lời bàn luận
Câu 6: Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sự thống trị khai thác thuộc địa của thực n Pháp:
Về chính trị, thực dân Pháp thi nh chính ch cai tr trực tiếp Đông Dương.
Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố
mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ
thống trị khác nhau. Thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn giai cấp
địa chủ m công cụ tay sai để áp bức về chính tr bóc lột kinh tế. Nhân n ta mất nước
trở thành lệ, bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống cùng khổ cực.
12
Về kinh tế, thực n Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ
nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lấy Việt Nam là
trọng điểm. bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập c đồn điền cao su,
phê, chè...) ngành khai m (chủ yếu than, sẳt, thiếc, vàng...) đ thu lợi nhuận nhiều
nhanh. bản Pháp y dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển c
sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương. Ngân hàng Đông Dương của Pháp
độc quyền tài chính, đặt ra ng trăm thứ thuế, n ác nhất thuế thân; thi nh rộng i
chính sách cho vay nặng i. Kết quả nền kinh tế ớc ta sự phát triển mức độ nào đó
theo hướng bản chủ nghĩa nhưng nền kinh tế thuộc địa, mất n đối, phụ thuộc vào
Pháp.
Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách dịch văn hoá; xoá bỏ hệ thống
giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhà tù, trại giam
nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động tín, các t nạn cờ bạc, rượu chè, hạn
chế xuất bản sách báo, gây m tự ti dân tộc. Kết quả hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ,
bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài.
Sự thay đối tính chất xã hội cấu giai cấp hội Việt Nam:
Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất hội Việt Nam đã thay đổi. Việt
Nam từ hội phong kiến trở thành hội thuộc địa, nửa phong kiến. Giai cấp địa chủ, đa
số địa ch nhỏ vừa tinh thần yêu nước, căm ghét, vừa tinh thần dân tộc chống
Pháp, số đại địa chù, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp đối tượng của cách mạng. Giai
cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột, cuộc sống cực
khổ nên rất tích cực chống đế quốc phong kiến. Tầng lớp tiểu sản gồm người buôn bán
nhỏ, viên chức, t thức, học sinh, sinh viên... phát triển khá nhanh. Họ nhạy cảm trước thời
cuộc, đời sống rất bấp nh nên hăng hái đấu tranh là lực lượng quan trọng của cách
mạng. Giai cấp sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp. Một bộ phận tư sản mại bản quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai của
chúng. Bộ phận sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị sản nước ngoài chèn ép nên
tinh thần dân tộc, dân chủ, thể đi với cách mạng. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời
trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực n Pháp (1897 - 1914) phát triển
khá nhanh. Năm 1914 khoảng 10 vạn, đến năm 1929 tăng lên 22 vạn. Giai cấp công nhân
Việt Nam tuy số lượng ít, ra đời muộn so với công nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc
điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính
kỷ luật tính chất quốc tế.
13
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp sản dân tộc, vừa lớn lên đã tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin, rất kiên quyết cách mạng đã nhanh chóng trở thành lực ợng
chính trị độc lập. Công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông n, bị bần cùng hoá nên
quan hệ gần gũi với nông dân, rất thuận lợi cho liên minh ng nông. Trong các giai cấp
Việt Nam lúc đó "Chỉ giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn
gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực n. Với luận cách mạng tiên phong kinh
nghiệm của phong trào sản quốc tế, giai cấp công nhân ta tỏ ra người lãnh đạo xứng
đáng nhất đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”'.
Trong hội Việt Nam nối lên hai u thuẫn bản. u thuẫn bản thứ nhất
đồng thời mâu thuẫn chủ yếu mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân
Pháp. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số nông dân với địa chủ
phong kiến. Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết. Độc
lập dân tộc người cày có ruộng hai yêu cầu bản của hội Việt Nam nhưng độc lập
dân tộc yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc
Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và sản:
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: Tiêu biểu nhất phong trào
cần Vương do vua Hàm Nghi phát động. Phong trào cần ơng diễn ra t m 1885 đến
năm 1896 với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa trang. Nổi bật nhất cuộc khởi nghĩa
Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885 - 1896); cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm
Bành Đinh Công Tráng tổ chức (1885 - 1886); cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn
Thiện Thuật đứng đầu (1885 - 1892). Kéo dài quyết liệt nhất phong trào nông dân Yên
Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 1913) v.v... Các cuộc khởi nghĩa trang đó
tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm ợc của dân tộc ta
làm cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề, không ổn định thống trị hàng chục năm trời.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của phong trào u nước theo khuynh hướng phong
kiến do thiếu đường lối đúng đắn. Giai cấp phong kiến đã không đủ sức lãnh đạo phong trào
yêu nước Việt Nam đi đến thành công.
Phong trào yêu ớc theo khuynh hướng dẫn ch sản: Đầu thế kỷ XX chịu
ảnh ởng các cuộc cách mạng sản bên ngoài, phong trào yêu ớc Việt Nam diễn ra sôi
nổi theo hai khuynh hướng chính:
14
Khuynh hướng bạo động trang do Phan Bội Châu lãnh đạo. Ông tổ chức phong
trào Đông Du (1906 1908) chủ trương nhờ Nhật Bản giúp đỡ. Phong trào du học diễn ra
gần hai năm, Pháp - Nhật Bản thoả hiệp trục xuất Phan Bội Châu du học sinh Việt Nam.
Phong trào Đông Du thất bại. Sau khi cách mạng Tân Hợi Trung Quốc (1911) thắng lợi,
Phan Bội Châu về Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục Hội, chủ trương trang
chống Pháp trong nước, khôi phục độc lập dân tộc.
Khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh (1782 - 1926) tổ chức.
Những năm 1906 - 1908, ông chủ trương cải ch dân chủ nâng cao n trí, c tinh thần,
cải thiện đời sống nhân dân bằng con đường bất bạo động, công khai khai hoá cải cách,
chấn hưng văn hóa, công nghệ, chống mê tín dị đoan. Các phong trào khác như phong trào
dạy học theo lối mới Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Nội (1907); phong trào biểu tình
chống thuế Trung Kỳ (1908); phong trào đấu tranh của Đảng Lập Hiến (1923), Đảng
Thanh Niên (1926). Mạnh mẽ nhất phong trào của Việt Nam quốc dân Đảng (1929-
1930). Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ sản phản ánh tinh thần dân
tộc của một bộ phận trí thức, sản Việt Nam nhưng tất cả đều thất bại. Nguyên nhân thất
bại chính do thiếu đường lối đúng đắn. Địa vị kinh tế, chính trị non yếu của giai cấp
sản Việt Nam đã không đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX, đầu thế k XX, cách mạng Việt Nam đang thời kỳ khủng
hoàng, bế tắc về đường lối cứu ớc giai cấp lãnh đạo. ch mạng Việt Nam như
“trong đêm tối không đường ra”.
Nguyễn Ái Quốc đến với ch nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị thành lập Đảng
phong trào yêu nước theo khuynh hướng sản:
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Trước khi ra đi,
Người đã tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê hương gia đình; được học
tập, vốn kiến thức văn hoá, sớm cảm thông với nỗi khổ nhục của người n mất nước;
hiểu nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước, Người quyết định sang phương
Tây m đường cứu ớc. Người qua Pháp, đến nhiều nước châu Phi sống Mỹ (1912 -
1913), sống Anh (1914 - 1917); kiên trì chịu đựng gian khổ và sớm tình cảm thương
yêu giai cấp của những người lao động nghèo khổ.
Tháng 7/1917, Người từ Anh trở về Pháp. Cùng với những người u nước Việt Nam,
Người tham gia các hoạt động chính trị- hội, văn hoá Pháp ủng hộ nước Nga viết.
15
Từ sau ngày 17/7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản thảo lần thứ nhất Luận ơng
về vấn đề n tộc vấn đề thuộc địa” trên báo L’Humanite hoàn toàn tin theo Lênin, tin
theo Quốc tế Cộng sản. Cuối tháng 12/1920, tại Đại hội XVIII của Đảng xã hội Pháp họp
thành phố Tua (Pháp), Người bỏ phiếu n thành Quốc tế Cộng sản tham gia thành lập
Đảng Cộng sản Pháp. Đây là ớc chuyển về chất trong lập trường chính trị của Nguyễn Ái
Quốc.
Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, ra báo Người cùng khổ (Le
Paria) tham gia viết o t cáo tội ác của thực dân Pháp Đông Dương
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên m việc Ban Phương Đông của
Quốc tế Cộng sản. Người đã tham gia các Hội nghị Quốc tế nông dân, Quốc tế Thanh niên
dự các khoá bồi dưỡng ngắn hạn của Quốc tế Cộng sản.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc phái viên Ban thư Viễn Đông trở về hoạt
động Quảng Châu, Trung Quốc. Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên, ra báo Thanh Niên, mở nhiều lớp trực tiếp giảng bài, huấn luyện con đường
cách mạng, phương pháp truyền chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cách mạng giải
phóng dân tộc.
Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại c lớp huấn luyện được Bộ Tuyên truyền của
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản thành tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927).
Đường cách mệnh chỉ kinh nghiệm của các cuộc cách mạng Mỹ năm 1776, ch
mạng Pháp năm 1789, cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 kết luận: Chỉ Cách
mạng Tháng Mười Nga cách mạng triệt đệ nhất. Cách mạng Việt Nam cần phải đi theo
con đường cách mạng vô sản mới thành công.
Bây gi chủ nghĩa nhiều nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mệnh nhất. Cách mạng sự nghiệp của quần chúng, trong đó công
nông là "gốc cách mệnh". Cách mạng muốn thắng lợi phải đảng ch mệnh. Đảng
vững ch mệnh mới thành công. Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới.
Đường cách mệnh đã ch những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về
tưởng chính trị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Sự ra đời c t chức cộng sản:
Trước năm 1925, phong trào công nhân Việt Nam diễn ra hoàn toàn tự phát. Sự ra
đời hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, báo Thanh Niên m cho chủ
16
nghĩa Mác - Lênin khuynh hướng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng sản
ngày càng chiếm ưu thế Việt Nam.
Tiêu biểu nhất vào đầu tháng 8/1925, hơn 1.000 công nhân Ba Son, Sài Gòn do Công
hội đỏ tổ chức bãi công thắng lợi. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương "Vô sản
hoá", đưa hội viên của mình o làm việc tại các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền trong nước để
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đường lối cách mạng, tổ chức nh đạo giai cấp công
nhân đấu tranh.
Tháng 3/1929, tại nhà số 5D, phố Hàm Long ( Nội) Chi bộ cộng sản đầu tiên đã
thành lập. Ngày 17/6/1929 tại nhà số 312 Khâm Thiên, Nội, Đại biểu các tổ chức cộng
sản miền Bắc họp Đại hội, quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, ra Tuyên
ngôn, Điều lệ phát hành báo a liềm của Đảng.
Ngày 28/7/1929, tại 15 phố Hàng Nón, Đại hội thành lập Tổng Công hội đó, thông
qua Chương trình, Điều lệ, bầu ra Ban chấp hành lâm thời do Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu,
ra Báo Lao động và tạp chí Gông hội đỏ.
Tháng 8/1929, An Nam Cộng sản Đảng ra đời, thông qua đường lối chính trị, Điều lệ
Đảng lập Ban lãnh đạo của Đảng.
Tháng 9/1929, một số hội viên tiên tiến của Tân Việt ra Tuyên đạt thông báo thành
lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Những năm 1929 - 1930 c ớc hàng chục cuộc bãi công lớn của công nhân.
Phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu cao, thuế nặng, chống cướp ruộng đất
phong trào i khoá của học sinh, bãi thị của tiểu thương tạo thành làn ng đấu tranh cách
mạng dân tộc, n chủ ng cao khắp c nước.
Câu 7: Những con đường truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
1. Con đường tiếp nhận chủ nghĩa c Lênin
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc nước ngoài: Từ năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi
tìm đường cứu nước. Trong quá trình hoạt động tại Pháp c nước châu Âu, Người tiếp
cận chịu ảnh hưởng sâu sắc từ ởng Mác nin. Việc tham gia Đảng hội Pháp
Quốc tế Cộng sản đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức rằng con đường giải phóng dân tộc
Việt Nam phải gắn liền với cách mạng sản.
Sự ra đời của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925): Tại Quảng Châu (Trung
Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm đào tạo cán
17
bộ cách mạng truyền chủ nghĩa Mác Lênin về Việt Nam. Đây tổ chức tiền thân,
làm cầu nối chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đào tạo cán bộ tại nước ngoài: Nhiều thanh niên yêu nước được lựa chọn gửi đi học
tại các trường ch mạng Trung Quốc, Liên Xô, nơi h được đào tạo lý luận c Lênin,
kỹ năng tổ chức, tuyên truyền, hoạt động bí mật… Sau khi về nước, họ tiếp tục phát triển
phong trào truyền ởng cách mạng.
2. Phương tiện truyền chủ nghĩa Mác Lênin
Báo chí xuất bản: Báo Thanh Niên tờ báo đầu tiên truyền tưởng Mác
Lênin bằng tiếng Việt, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Tác phẩm ường Kách Mệnh" được
xuất bản như một cẩm nang luận cách mạng, trình y dễ hiểu về ởng Mác Lênin,
vai t của giai cấp công nhân, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngoài ra, còn
các truyền đơn, sách nhỏ được in mật phân phát rộng rãi trong ớc.
Tổ chức huấn luyện truyền miệng: Các lớp huấn luyện chính tr do Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên tổ chức môi trường phổ biến chủ nghĩa Mác Lênin cho nhiều
cán bộ trẻ. Bên cạnh đó, hoạt động truyền miệng, diễn thuyết, sinh hoạt chi bộ mật cũng
phương tiện hiệu qu trong giai đoạn đầu.
Mạng lưới liên lạc quốc tế nội địa: Sử dụng mạng lưới thủy thủ, công nhân hải
cảng để vận chuyển tài liệu từ nước ngoài o trong nước. Thiết lập đường dây liên lạc giữa
các cơ sở cách mạng trong ngoài nước, đảm bảo tài liệu và tưởng được truyền bá liên
tục, không gián đoạn.
3. Các nhân vật tiêu biểu trong q trình truyền
Nhân vật Vai trò chính
Nguyễn Ái
Quốc
Người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác nin vào Việt Nam, sáng lập Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức huấn luyện, xuất bản báo chí, tác phẩm
luận.
Trần Phú
Tổng thư đầu tiên của Đảng, đóng góp vào việc hệ thống hóa phổ biến
tưởng Mác Lênin tại Việt Nam.
Hồng
Phong
Tổ chức các lớp huấn luyện, xây dựng hệ thống sở Đảng trong ngoài
nước.
18
Huy
Tập
Viết nhiều bài luận, tham gia biên soạn i liệu tuyên truyền chủ nghĩa Mác
Lênin.
Phạm Văn
Đồng
Tham gia phong trào từ rất sớm, giữ vai trò quan trọng trong công tác tuyên
truyền vận động.
Việc truyền chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam kết quả của một quá trình
chủ động, hệ thống, kết hợp giữa hoạt động luận, đào tạo, báo chí tổ chức. Nguyễn
Ái Quốc gi vai trò trung m, với sự hỗ trợ của nhiều đồng chí ưu khác. Nhờ đó,
tưởng c Lênin đã bén rễ trở thành nền tảng ởng, kim chỉ nam cho cách mạng
Việt Nam.
Câu 8: Những nội dung tiếp thu được trong việc truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Việt Nam trước năm 1930. Vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Việt Nam ngày
nay.
1. Những nội dung tiếp thu được trong việc truyền CN Mác - Lênin vào Việt Nam
trước năm 1930
Thế giới quan phương pháp luận Mác–Lênin
Duy vật biện chứng: Các khái niệm bản v mâu thuẫn, phát triển, liên hệ biện
chứng đã được Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu truyền đạt qua “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc thuộc địa” của Lênin năm 1920, làm nền tảng duy cho
cách mạng Việt Nam
Duy vật lịch sử: Việc vận dụng học thuyết duy vật lịch sử giúp phân tích các điều
kiện kinh tế hội Đông Dương, chỉ ra nh chất thực n nửa phong kiến vai trò lịch
sử của giai cấp ng nhân
thuyết giai cấp đấu tranh giai cấp
Khái niệm giai cấp công nhân: Truyền luận về giai cấp công nhân như một giai
cấp sứ mệnh lịch sử, bước đầu được công nhân Việt Nam tiếp nhận thông qua phong trào
công nhân Sài Gòn Chợ Lớn Nội t những năm 1920
Đấu tranh giai cấp: Lên án chủ nghĩa bản địa chủ, khẳng định chỉ khi đoàn kết
t chức đấu tranh, công nhân mới thể giành được quyền lợi, từ đó phát triển phong
trào bãi công biểu tình mang tính chính trị sâu sắc hơn
Gắn kết ch mạng dân tộc với cách mạng sản
19
Tính quốc tế của cách mạng sản: Qua Cách mạng Tháng Mười Nga (1917),
Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cách mạng Việt Nam bộ phận của cách mạng sản thế giới,
phải liên kết với Quốc tế Cộng sản để giành độc lập dân tộc giải phóng giai cấp
Đường lối dân tộc dân chủ sản”: H Chí Minh khái quát mục tiêu “tư sản dân
quyền ch mạng thổ địa cách mạng để đi tới cộng sản”, tức kết hợp đấu tranh dân tộc
với đấu tranh giai cấp sản
Nguyên tắc tổ chức Đảng và dân chủ tập trung
thuyết Đảng tiên phong: Tiếp thu quan điểm của Lênin về Đảng Cộng sản như
“người chỉ đường”, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác–Lênin làm
cốt lõi, mọi cán bộ đều phải hiểu tuân thủ nguyên tắc này
Dân ch tập trung: Các nguyên tắc nh đạo tập trung, kỷ luật đảng, hướng dẫn
quần chúng đã được phổ biến trong c lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên tại Quảng Châu (1925–1927)
Mục tiêu nhà nước sản con đường xây dựng hội ch nghĩa
Nhà nước vô sản: Tiếp thu hình chính quyền Viết, khái quát vai trò của nhà
nước công nhân trong giai đoạn chuyển tiếp từ phong kiến-thực dân sang xã hội chủ nghĩa
hội chủ nghĩa và cộng sản ch nghĩa: Nhấn mạnh khái niệm “vô sản hóa”, quyền
sở hữu công cộng, kế hoạch hóa kinh tế bình đẳng hội như những bước đầu của xây
dựng chế độ hội chủ nghĩa Việt Nam
2. Vai trò của CN Mác - Lênin hiện nay
Chủ nghĩa Mác-Lênin tiếp tục cung cấp khung thuyết phân tích mâu thuẫn hội
dưới góc độ giai cấp, đặc biệt mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất,
giúp giải thích nguyên nhân sâu xa của bất ổn kinh tế xã hội định ớng giải pháp
chuyển đổi hội. Phương pháp luận duy vật biện chứng cho phép nhìn nhận hội lịch
sử là quá trình vận động, biến đổi không ngừng, từ đó nhấn mạnh vai trò của thực tiễn cách
mạng cải cách trong việc thúc đẩy tiến trình lịch sử.
một số nước như Trung Quốc Việt Nam, Đảng Cộng sản vẫn dùng tư ởng
Mác-Lênin làm sở xây dựng đường lối chính trị, củng c sự lãnh đạo tập trung kỷ luật
tổ chức. Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, “chủ nghĩa thị trường Lênin” được đề cao, kết
hợp quyền lực tập trung của Đảng với chế thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
đồng thời thắt chặt kiểm soát chính trị. Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn kim chỉ
20
nam cho các quyết ch phát triển kinh tế hội cải cách thể chế, được cập nhật qua
các nghị quyết Đại hội Đảng để thích ứng với tình hình mới.
Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh vai trò của nhà ớc trong việc hoạch định điều
tiết nền kinh tế, đảm bảo an sinh hội giảm chênh lệch giàu nghèo. Các quốc gia xã hội
chủ nghĩa kế thừa hình này đều xây dựng mạng lưới an sinh (y tế, giáo dục, nhà ) rộng
khắp, đảm bảo mọi công dân hội tiếp cận dịch v cơ bản. Trong bối cảnh toàn cầu hóa,
việc điều chỉnh cơ chế thị trường với kế hoạch định ớng nhà nước giúp duy trì ổn định
hội, thúc đẩy phát triển bền vững giảm c động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Câu 9: Quá trình truyền đạo Phật Việt Nam.
Phật giáo truyền o Việt Nam khá sớm, ý kiến cho rằng ngay từ đầu TK III
trc.CN. Đầu công nguyên khi miền Nam Trung Quốc chưa biết đến Phật giáo, Việt Nam đã
trung tâm Phật giáo Luy Lâu(nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh).
Thời kỳ đầu, Phật giáo được truyền vào Việt Nam thông qua các nhà Ấn Độ,
tuy nhiên trong lịch s Phật giáoViệt Nam thì từ thế kỷ thứ VI cho đến thế kỷ X vẫn được
xem giai đoạn truyền giáo của đạo Phật, song giai đoạn y các nhà truyền giáo của Ấn
Độ bắt đầugiảm dần các nhà truyền giáo của Trung Quốc bắt đầu ng lên, dẫn theo đó
bắt đầu c phái thiền của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam.
Từ thế kỷ X, nước ta ớc vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ sau một ngàn m Bắc
thuộc. Việc này đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một ớc mới. Dưới hai triều
đại Đinh - , tuy không tuyên bố Phật giáo Quốc đạo nhưng đã công nhận Phật giáo
tôn giáo chính của cả ớc. Các triều Vua Đinh - Lê nhiều chính sách nâng đỡ đạo Phật.
Đặc biệt Vua Đại Hành Vua Đinh Tiên Hoàng đã trọng dụng phong thưởng cho
nhiều nhà công giúp Vua lo việc triều chính. hai triều Đinh- không chỉ trọng
dụng các tăng còn h trợ cho Phật giáo phát triển.Vua Đại Hành Đinh Tiên
Hoàng đã cho xây dựng nhiều chùa tháp vùng Hoa Lư, biến nơi đây không ch một
trung tâm kinh tế - chính trị - hội còn một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước.
Tuy nhiên, đến triều nhà thì mới được xem triều đại Phật giáo đầu tiên Việt
Nam Công Uẩn - Thái Tổ (người sáng lập triều Lý) xuất thân từ chốn thiền
môn nên ông hết lòng ủng hộ cho Phật giáo. Sau lễ đăng quang, Lý Thái Tổ ra sắc chỉ ban
phẩm phục cho hàng ng sĩ. Năm 1010, sau khi dời đô về Thăng Long, ông cho xây dựng
một số chùa lớn Thăng cho tu bổ lại các chùa bị hỏng. ới triều đãcó rất nhiều
nhà nổi tiếng về việc tu hành những đóng góp cho đất nước.

Preview text:

NỘI DUNG ÔN TẬP
LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VÀ VIỆT NAM
Câu 1: Hoàn cảnh ra đời và tư tưởng cơ bản của Nho giáo. Ý nghĩa đối với việc cải
cách bộ máy hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay. 1. Hoàn cảnh ra đời:
Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN, trong bối cảnh Nhà Chu suy yếu và xã
hội Trung Quốc rơi vào cảnh phân tranh chư hầu, đạo đức – lễ nghĩa truyền thống bị xói
mòn, dẫn đến nhu cầu cấp thiết về một hệ thống giá trị giúp khôi phục trật tự xã hội. Khổng
Tử (551–479 TCN) ở nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông) đã hệ thống hóa tư tưởng nhân – nghĩa
– lễ – trí – tín, đồng thời phát triển các thuyết Chính danh và Đức trị nhằm cải thiện tình
trạng bạo loạn và bất công. Dưới triều Hán (202 TCN–220 SCN), Nho giáo được nâng lên
thành học thuyết chính thống, làm nền tảng cho hệ thống quan chức và khoa cử suốt hai
thiên niên kỷ. Tư tưởng Nho giáo sau đó lan truyền sâu rộng đến Hàn Quốc, Nhật Bản và
Việt Nam, trở thành một trong các trụ cột văn hóa – xã hội Đông Á. Trong giai đoạn Đông
Chu, đặc biệt là thời Xuân Thu (770–476 TCN), quyền lực trung ương của Nhà Chu dần suy
yếu, các chư hầu tự chủ và thường xuyên giao tranh lẫn nhau). Xã hội lúc này thiếu vắng
một hệ thống luân lý thống nhất, trật tự – lễ nghĩa truyền thống bị đảo lộn, tạo tiền đề cho
hơn một trăm trường phái tư tưởng cùng tranh luận trong thời kỳ “Bách gia tranh minh”.
Trước tình trạng suy đồi đạo đức và hỗn loạn chính trị, các bậc trí giả tìm cách phục hưng
các giá trị đạo đức cổ điển nhằm khôi phục hòa hợp và ổn định xã hội.
Người tạo nên hệ thống Nho giáo là Khổng Tử (551–479 TCN), sinh tại Khâu Lũ,
nước Lỗ (nay thuộc Sơn Đông), vào thời “vương đạo suy vi” khi trật tự lễ nghĩa của Nhà
Chu đã bị băng hoại. Ông từng đảm nhận các chức quan nhỏ, sưu tầm và chỉnh lý lễ nhạc
của thời Tây Chu, sau đó từ năm 497 TCN cùng các đệ tử lưu hành khắp chư hầu để giảng
dạy và kêu gọi cải cách xã hội dựa trên đạo đức và lễ nghĩa. Khổng Tử soạn thảo và biên tập
nhiều kinh điển, như Luận ngữ và Xuân Thu, để làm chuẩn mực giảng dạy về nhân cách và
quan hệ xã hội. Sau khi Khổng Tử qua đời, các học trò và những người kế thừa tiếp tục mở
rộng tư tưởng Nho giáo, đặc biệt trong giai đoạn Chiến Quốc (475–221 TCN), hình thành
thêm các hệ phái như Mạnh Tử, Tuân Tử. Đến triều Hán, nhất là dưới thời Hán Vũ Đế (141–
87 TCN), Nho giáo chính thức trở thành học thuyết quốc gia, được đưa vào giáo dục quan
lại và tổ chức khoa cử. Từ Trung Quốc, Nho giáo truyền bá sang Hàn Quốc, Nhật Bản và
Việt Nam, góp phần hình thành hệ giá trị đạo đức và cơ cấu quan chế cho các quốc gia Đông Á. 1
Nho giáo du nhập Việt Nam từ đầu Công nguyên khi Thái thú Giao Chỉ Sĩ Nhiếp
(137–226) cùng các văn nhân Hán dạy chữ Hán và kinh điển Nho học cho giới trí thức bản
xứ. Đến thời Lý–Trần (thế kỷ XI–XIV), tuy Phật giáo chiếm ưu thế về tín ngưỡng, Nho giáo
vẫn được triều đình dùng làm nền tảng tổ chức hành chính thông qua các trường Quốc Tử
Giám và chế độ giáo hóa văn hiến. Thời Lê Thánh Tông (1460–1497), Nho giáo lên đến
đỉnh cao khi ông mở 12 kỳ thi lớn, tu bổ Văn Miếu–Quốc Tử Giám và đặt Nho học làm giáo
dục chính thức của triều đình, đánh dấu “thời thịnh” của đạo Nho ở Đại Việt. Đến cuối thế
kỷ XVIII, cuộc cải cách Tây Sơn bỏ kỳ thi Hành Cống và đưa chữ Nôm vào khoa cử, rồi
dưới ách đô hộ thực dân Pháp, khoa cử Nho học chính thức chấm dứt vào năm 1915, Nho
giáo không còn vị thế chính thống trong quản lý nhà nước. Ngày nay, mặc dù không còn là
học thuyết chính thức, Nho giáo vẫn để lại di sản hơn 1.900 năm trong văn hóa gia đình, lễ
nghĩa, giáo dục và đang được các nhà nghiên cứu cùng cộng đồng phục hồi, gìn giữ như
một phần giá trị truyền thống Việt Nam. 2. Tư tưởng cơ bản
Ngũ thường: là năm đạo lý luôn phải giữ gìn, gồm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đây là
thước đo đạo đức giúp cá nhân tự rèn luyện và xây dựng xã hội hài hòa.
Nhân: lòng nhân ái, yêu thương con người, là nền tảng đạo đức quan trọng nhất.
Nghĩa: lẽ phải, công bằng, biết hành động vì điều đúng đắn chứ không vì tư lợi.
Lễ: phép tắc, quy chuẩn ứng xử, giúp duy trì trật tự và tôn ti trong xã hội.
Trí: trí tuệ, sự hiểu biết và khả năng phân định đúng – sai, tốt – xấu.
Tín: sự tin cậy, giữ lời hứa và lòng trung thành trong quan hệ xã hội.
Tam cương gồm: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ. Ba mối quan hệ này tạo nên cấu
trúc xã hội theo thứ bậc và trách nhiệm. Người trên có trách nhiệm che chở, người dưới phải
tôn kính và phục tùng. Tư tưởng này đề cao sự ổn định, phục vụ cho một xã hội trật tự, kỷ cương.
Thuyết Chính danh – Căn bản của xã hội ổn định: Chính danh là tư tưởng yêu cầu
mọi người phải hành xử đúng với vị trí, vai trò của mình. Ví dụ: vua phải có phẩm chất của
vua, cha phải làm tròn đạo làm cha. Nếu “danh không chính”, “ngôn không thuận”, xã hội
sẽ loạn lạc. Tư tưởng này khuyến khích sự tu dưỡng và thực thi trách nhiệm theo đúng danh
phận, giúp duy trì ổn định trong bộ máy tổ chức và đời sống hàng ngày.
Thuyết Đức trị: Khổng Tử đề cao đạo đức của người cầm quyền. Theo ông, người
lãnh đạo phải dùng đức hạnh để cảm hóa dân, dẫn dắt bằng gương mẫu chứ không chỉ dùng 2
luật pháp cưỡng chế. Đức trị tạo nên lòng tin, sự tự giác và đồng thuận trong xã hội – khác
với pháp trị vốn dễ gây sợ hãi và chống đối.
Quân tử và Tiểu nhân: Nho giáo lấy hình tượng “quân tử” làm lý tưởng đạo đức.
Quân tử là người sống có lý tưởng, trung thực, có trách nhiệm với xã hội. Ngược lại, “tiểu
nhân” là kẻ sống vị kỷ, gian dối, vụ lợi. Nho giáo không chỉ đề cao quân tử mà còn lấy việc
tránh xa tiểu nhân làm thước đo tu dưỡng đạo đức.
Trung dung: Trung dung là sống điều độ, biết điều chỉnh hành vi để giữ cân bằng,
tránh thái quá hay bất cập. Người thực hành trung dung không cực đoan, biết tùy thời ứng
biến và giữ sự ổn định từ trong tâm đến ngoài xã hội. Trung dung không phải là thỏa hiệp,
mà là biểu hiện của sự điềm đạm, trí tuệ và chín chắn trong ứng xử.
3. Ý nghĩa của Nho giáo với cải cách bộ máy hành chính
Nho giáo, với trọng tâm là đạo đức cá nhân và tinh thần phục vụ cộng đồng, vẫn còn
giữ nhiều giá trị thiết thực trong việc cải cách bộ máy hành chính và xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức hiện nay. Trước hết, tư tưởng “chính danh” giúp xác định rõ vai trò, trách
nhiệm của từng vị trí trong bộ máy nhà nước, thúc đẩy việc tuyển chọn, bổ nhiệm đúng
người, đúng việc, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính. Tiếp theo, học
thuyết “đức trị” của Nho giáo nhấn mạnh đạo đức người lãnh đạo – điều này rất cần thiết để
chống lại tình trạng tham nhũng, quan liêu, nhấn mạnh vai trò nêu gương và xây dựng niềm
tin với nhân dân. Bên cạnh đó, tinh thần “trung dung” và đề cao “nghĩa”, “tín” khuyến khích
cán bộ công chức hành xử một cách cân bằng, có trách nhiệm, giữ lời hứa, tôn trọng pháp
luật và lợi ích công cộng. Đặc biệt, mô hình người quân tử – luôn tu dưỡng đạo đức, vì dân,
vì nước – là hình mẫu lý tưởng để xây dựng một đội ngũ công chức liêm chính, tận tụy, hiệu
quả. Tuy nhiên, việc tiếp thu Nho giáo cần có chọn lọc, không áp dụng máy móc những tư
tưởng lỗi thời như tuyệt đối hóa thứ bậc hay trọng nam khinh nữ. Trong bối cảnh hiện đại,
tinh thần của Nho giáo nên được kết hợp với nguyên tắc pháp quyền, dân chủ và minh bạch
để phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và phát triển đất nước bền vững.
4. Ý nghĩa của Nho giáo trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay
Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền hành chính hiện đại, Nho
giáo vẫn giữ giá trị nhất định trong việc hình thành phẩm chất đạo đức và thái độ làm việc
của đội ngũ cán bộ, công chức. Trước hết, tư tưởng "Đức trị" đề cao vai trò đạo đức người
cầm quyền giúp hình thành đội ngũ cán bộ có tâm, có tầm, hành xử mẫu mực, lấy trách
nhiệm và sự tận tụy phục vụ nhân dân làm trọng. Thứ hai, nguyên lý "Chính danh" nhấn 3
mạnh việc mỗi người cần làm tròn bổn phận theo đúng chức danh và vị trí được giao – phù
hợp với yêu cầu chuyên nghiệp hóa, minh bạch và liêm chính trong đội ngũ hành chính hiện
đại. Tư tưởng "Ngũ thường" (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) là nền tảng quan trọng để xây dựng
văn hóa công vụ, đề cao lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, ứng xử có đạo lý và giữ chữ tín
với dân. Cuối cùng, khái niệm "Quân tử" trong Nho giáo – người biết tu dưỡng, liêm chính
và phụng sự xã hội – là hình mẫu lý tưởng cho đội ngũ cán bộ, công chức hiện đại hướng tới.
Câu 2: Tư tưởng cơ bản thuyết Chính danh của Khổng Tử. Ý nghĩa của thuyết Chính
danh đối với việc đào tạo, tuyển chọn cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay.
1. Tư tưởng cơ bản thuyết Chính danh của Khổng Tử
Vào thời Khổng Tử, xã hội Trung Hoa đang trải qua thời kỳ loạn lạc và khủng hoảng
sâu sắc về đạo đức, chính trị. Chế độ phong kiến nhà Chu suy yếu, trật tự xã hội bị đảo lộn.
Các chư hầu tranh giành quyền lực, đạo lý cũ không còn được tôn trọng, người không sống
đúng với vai trò, địa vị của mình, dẫn đến mất ổn định và hỗn loạn trong quản lý và ứng xử
xã hội. Chính trong bối cảnh đó, Khổng Tử đưa ra học thuyết "Chính danh" như một
phương thuốc để phục hồi trật tự xã hội. Ông cho rằng muốn xã hội ổn định và phát triển thì
phải đặt lại đúng vị trí, chức năng của mỗi người trong hệ thống xã hội, từ vua, quan cho
đến dân thường. Đây là cách để khôi phục luân lý, đạo đức và hiệu quả cai trị.
Học thuyết này vừa là lời phê phán tình trạng hỗn loạn thời bấy giờ, vừa là lý tưởng
về một xã hội trật tự, nơi mỗi người sống và hành xử đúng với vai trò của mình. Học thuyết
"Chính danh" là một trong những tư tưởng cốt lõi của Khổng Tử, đóng vai trò quan trọng
trong việc thiết lập trật tự xã hội và đạo đức. Theo Khổng Tử, "chính danh" nghĩa là mỗi
người phải hành xử phù hợp với vai trò và danh phận của mình trong xã hội. Ông nhấn
mạnh: "Danh bất chính, ngôn bất thuận; ngôn bất thuận, sự bất thành", tức là nếu tên gọi
không đúng thì lời nói sẽ không thuận, mà lời nói không thuận thì công việc cũng khó thành
công. Khổng Tử cho rằng, trong một xã hội lý tưởng, vua phải ra vua, tôi phải ra tôi, cha
phải ra cha, con phải ra con. Điều này có nghĩa là mỗi người cần thực hiện đúng vai trò và
trách nhiệm gắn liền với danh phận của mình. Khi danh và thực hài hòa, xã hội vận hành ổn
định; ngược lại, nếu danh xưng không phản ánh đúng thực tế, xã hội sẽ rối loạn. Học thuyết
"Chính danh" không chỉ là một nguyên tắc đạo đức mà còn là nền tảng cho quản lý nhà
nước và tổ chức xã hội. Nó yêu cầu sự phù hợp giữa chức danh và năng lực thực tế, đảm
bảo rằng mỗi cá nhân trong xã hội đều thực hiện đúng vai trò của mình, từ đó duy trì trật tự và ổn định xã hội. 4
2. Ý nghĩa của thuyết Chính danh đối với việc đào tạo, tuyển chọn cán bộ, công chức ở Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang thúc đẩy quá trình cải cách hành chính,
xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại và liêm chính, học thuyết Chính danh của
Khổng Tử vẫn giữ nguyên giá trị và mang ý nghĩa sâu sắc đối với công tác đào tạo, tuyển
chọn cán bộ, công chức. Theo Khổng Tử, “Chính danh” nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng,
mọi con người trong xã hội phải hành xử phù hợp với vị trí, chức danh của mình, làm đúng
trách nhiệm, giữ đúng phẩm chất, không để danh và thực đi lệch nhau. Quan điểm này đặt
nền móng cho tư duy quản lý và tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở chuẩn mực, kỷ cương
và sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng vị trí.
Trong tuyển chọn cán bộ, công chức, học thuyết Chính danh yêu cầu phải có sự phù
hợp giữa chức danh và năng lực thực tế của người đảm nhận. Mỗi cán bộ, công chức được
tuyển dụng hay bổ nhiệm cần được đánh giá toàn diện không chỉ về trình độ chuyên môn,
mà còn về phẩm chất đạo đức, khả năng thực thi công vụ và tinh thần trách nhiệm. Việc này
đòi hỏi quá trình tuyển chọn phải khách quan, minh bạch, công bằng, tránh tình trạng “bổ
nhiệm đúng quy trình nhưng sai con người”. Điều này không những giúp chọn đúng người
cho đúng việc, mà còn góp phần tạo dựng niềm tin trong nhân dân về một nền hành chính trong sạch, hiệu quả.
Về công tác đào tạo, Chính danh nhấn mạnh đến việc người cán bộ phải biết giữ
đúng phẩm hạnh và hành xử phù hợp với vai trò, nhiệm vụ của mình. Điều đó có nghĩa là
không chỉ đào tạo về kỹ năng, chuyên môn, mà còn phải chú trọng rèn luyện bản lĩnh chính
trị, đạo đức công vụ và ý thức phục vụ nhân dân. Người cán bộ cần thấm nhuần tinh thần
“danh chính ngôn thuận”, nghĩa là phải luôn giữ được sự ngay thẳng, minh bạch trong hành
động, đúng với danh vị mà mình đảm nhận, từ đó mới có thể làm gương cho người khác và
góp phần giữ vững kỷ cương của bộ máy nhà nước.
Bên cạnh đó, học thuyết Chính danh cũng giúp định hình văn hóa công vụ, trong đó
mọi người đều hành xử đúng vai, đúng trách nhiệm, không vượt quyền, không né tránh,
không đùn đẩy. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người trong bộ máy đều phải vận hành trong
khuôn khổ được xác lập rõ ràng, từ đó tạo nên sự vận hành đồng bộ, hiệu quả, hạn chế xung
đột, sai lệch chức năng và nâng cao hiệu quả hoạt động chung của bộ máy nhà nước.
Trong điều kiện đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, thách thức đối với đội ngũ
cán bộ, công chức ngày càng lớn. Việc vận dụng học thuyết Chính danh một cách linh hoạt 5
sẽ giúp Việt Nam xây dựng được một nền hành chính minh bạch, công bằng, chuyên nghiệp,
trong đó con người thực sự là trung tâm và là động lực của sự phát triển. Đây chính là điều
kiện tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Câu 3: Tư tưởng về Giáo dục của Nho giáo
Nho giáo xem giáo dục không chỉ là truyền dạy kiến thức mà trước hết là quá trình
hình thành nhân cách “quân tử”, khôi phục lễ nghĩa và ổn định trật tự xã hội. Mục đích giáo
dục của Nho gia là đào tạo con người “toàn đức” thông qua việc rèn luyện Ngũ thường,
đồng thời phát huy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục. Phương pháp giáo dục theo Nho giáo
kết hợp giữa học và hành, thầy làm gương, trò học qua quan sát và tự tu dưỡng. Giáo dục
trong Nho giáo ưu tiên đào tạo đạo đức trước, sau đó mới đến văn hóa, kiến thức, với niềm
tin rằng chỉ có con người có “đức” mới sử dụng tri thức đúng đắn và phát huy lợi ích cho xã hội.
Nho giáo xác định mục tiêu đầu tiên của giáo dục là hình thành nhân cách lý tưởng,
tức là con người phải “nhân” – có lòng nhân ái và công bằng – làm gốc cho mọi hành vi.
Song song với đó, giáo dục còn nhằm bồi dưỡng “quân tử” – nhân tài đủ đức, đủ tài để đảm
nhận trách nhiệm xã hội, điều hòa mâu thuẫn các tầng lớp và khôi phục lễ nghĩa trong bối cảnh loạn lạc.
Khổng Tử chủ trương “dạy người không phân biệt giai cấp, không phân biệt giàu
nghèo”, đề cao nguyên tắc “vô ngại học” để khuyến khích mọi cá nhân đều có cơ hội tiếp
cận giáo dục. Quan điểm này mở rộng đối tượng học, không chỉ dành riêng cho tầng lớp quý
tộc mà còn cho cả thường dân, góp phần tạo động lực học tập và tiến bộ trong xã hội.
Nho giáo nhấn mạnh “học và hành gắn kết”: học phải đi đôi với thực hành đạo đức
để chuyển hóa tri thức thành hành vi đúng đắn. Bên cạnh việc giảng giải lời nói, người thầy
còn dạy trò qua gương mẫu trong cử chỉ, hành vi, bởi “giáo có điều dạy mà không nói” –
học trò quan sát thầy để rút kinh nghiệm.
Theo Khổng Tử, giáo dục bắt đầu với việc hoàn thiện đạo đức (“đạo làm người”), sau
đó mới đến văn học – lịch sử và nghệ thuật, đảm bảo học trò có nền tảng nhân cách vững
chắc trước khi mở rộng kiến thức. Việc coi trọng nhân cách lý tưởng trước kiến thức tri thức
giúp ngăn ngừa việc lạm dụng hiểu biết chuyên môn vì mục đích cá nhân, từ đó duy trì lợi ích cộng đồng. 6
Khổng Tử coi giáo dục như quá trình “không ngừng tu thân”: mỗi người phải tự học
qua sách vở và tự tu qua tự phê bình, rèn luyện bản thân liên tục. Tư tưởng này khuyến
khích thái độ chủ động, tự giác của học trò, giúp họ trở thành những công dân có kỷ luật và
trách nhiệm với xã hội. Giáo dục theo Nho giáo không chỉ đào tạo cá nhân mà còn đóng vai
trò then chốt trong việc phục hồi lễ nghĩa và đạo đức công cộng, từ đó xây dựng một xã hội ổn định, hài hòa.
Câu 4: Tư tưởng cơ bản của trường phái Triết học Pháp gia. Ý nghĩa đối với việc xây
dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
1. Tư tưởng cơ bản của trường phái Triết học Pháp gia
Pháp gia chủ trương coi “pháp” (luật lệ) là công cụ chủ yếu để duy trì trật tự xã hội
và tăng cường quyền lực của nhà nước. Họ cho rằng con người vốn dĩ ích kỷ và khó kiểm
soát, vì thế không thể trông chờ vào luân lý hay đạo đức cá nhân mà phải dựa vào hệ thống
quy định rõ ràng, chặt chẽ và bất biến để răn đe mọi hành vi sai phạm. Pháp được ban hành
và thi hành công minh, không phân biệt địa vị, nhằm tạo ra sự nghiêm túc và ổn định, giúp
điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội một cách hiệu quả.
Bên cạnh “pháp”, Pháp gia còn nhấn mạnh đến “thực” (thực lực, tài nguyên) và “thừa”
(thừa tướng, nhân sự). Họ cho rằng nhà nước phải thâu tóm mọi nguồn lực, từ ruộng đất, lao
động đến tài chính, nhằm phục vụ cho mục tiêu củng cố chính quyền. Việc bổ nhiệm quan
lại phải dựa trên năng lực và kết quả thực tế, không dùng quan hệ huyết thống hay tình thân.
Nhờ vậy, những người quản lý thực sự ưu tú sẽ được trọng dụng, góp phần làm cho bộ máy
nhà nước vận hành trơn tru và hiệu quả.
Pháp gia cổ vũ chế độ tập quyền tập trung, đặt tất cả quyền lực cao nhất vào tay quân
chủ. Nhà vua phải giữ thái độ nghiêm khắc, không chia sẻ quyền hành với quý tộc hay giới
tư sản, để tránh tình trạng phân tán lực lượng chính trị. Mọi chính sách, chiến lược quốc gia
đều được quyết định tập trung, từ an ninh nội địa đến đối ngoại, đảm bảo lập trường kiên
định và khả năng phản ứng nhanh trước mọi biến động.
Những biện pháp mạnh tay như hình phạt nặng, khen thưởng rõ ràng vừa là phương
tiện tạo động lực vừa là công cụ răn đe. Hình phạt nghiêm khắc nhằm làm gương cho kẻ
khác, trong khi khen thưởng công khai giúp kích thích lòng trung thành và tinh thần phấn
đấu của quan lại, binh lính. Chính nhờ sự kết hợp khéo léo giữa kỷ luật khắt khe và cơ chế
thưởng phạt minh bạch, Pháp gia đã tạo nên một hệ thống quản lý nhà nước mang tính thực
dụng cao và đầy quyền uy. 7
2. Ý nghĩa đối với việc xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quá trình không
ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động
của bộ máy nhà nước trên nền tảng luật pháp. Điều này giúp tạo lập môi trường pháp lý ổn
định, minh bạch, đảm bảo mọi hành vi của cơ quan công quyền và người dân đều phải tuân
thủ quy định chung. Nhờ vậy, quyền lực nhà nước có cơ sở pháp lý vững chắc để kiểm soát
và điều chỉnh, tránh tình trạng lạm quyền, hành chính tùy tiện, góp phần củng cố lòng tin
của nhân dân vào sự công bằng và hiệu lực của pháp luật.
Việc xác định rõ vị trí trung tâm của Hiến pháp và luật trong hệ thống pháp luật nước
ta cũng mang lại bước chuyển căn bản cho Nhà nước Pháp quyền. Mỗi chủ trương, quyết
sách quan trọng đều phải dựa trên nguyên tắc pháp quyền, được thẩm định, ban hành và tổ
chức thực hiện theo thủ tục chặt chẽ, công khai, dân chủ. Nhờ đó, tính dự báo và khả năng
áp dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội được tăng cường, giảm thiểu mâu thuẫn,
khiếu kiện do bất cập hoặc mơ hồ trong quy phạm.
Bên cạnh hoàn thiện cơ chế xây dựng, ban hành và thi hành pháp luật, Nhà nước
Pháp quyền XHCN còn đặc biệt chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cơ chế
giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã
hội được tăng cường; việc lấy ý kiến cộng đồng, tham vấn xã hội khi soạn thảo luật, nghị
định đã trở thành yếu tố không thể thiếu. Nhờ vậy, pháp luật không chỉ là kết tinh của ý chí
tập thể, mà còn phản ánh thực tiễn, nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của người dân.
Ở khía cạnh tổ chức bộ máy và cán bộ, xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN đòi
hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong tuyển chọn, đào tạo và bố trí cán bộ pháp luật. Các cấp,
ngành phải hình thành đội ngũ chuyên môn về pháp chế, giỏi chuyên môn, hiểu sâu về
chính trị, am hiểu kinh tế – xã hội, đồng thời có đạo đức nghề nghiệp vững vàng. Sự chuyên
trách hóa công tác pháp chế bảo đảm cho việc tham mưu, rà soát, kiểm soát tính hợp hiến,
hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật diễn ra hiệu quả, nhanh chóng và kịp thời.
Cuối cùng, Nhà nước Pháp quyền XHCN thúc đẩy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực
pháp luật, học hỏi kinh nghiệm xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nhiều nước tiến bộ, đồng
thời đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của luật pháp quốc tế. Việc ký kết, thực thi
các hiệp định, cam kết quốc tế không chỉ nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam, mà còn giúp
chúng ta hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân
một cách toàn diện và bền vững. 8
Câu 5: Những nội dung cơ bản của Đạo Phật
Phật giáo đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô thường”
Vô ngã: Tất cả sự vật, hiện tượng cũng như chính bản thân ta là không có thực. Thế
giới (nhất là thế giới hữu hình - con người) là do sự hợp lại của các yếu tố vật chất (Sắc) và
tinh thần (Danh ). Đó là 5 yếu tố (ngũ uẩn ): Sắc (vật chất ), Thụ (cảm giác), Tưởng (ấn
tượng ), Hành (Tư duy nói chung ), Thức (ý thức ). Nhưng Danh và Sắc chỉ tụ hội trong
thời gian ngắn rồi chuyển sang trạng thái khác, do vậy “ không có cái tôi” (vô ngã - natman).
Vô thường: Bản chất sự tồn tại của thế giới là một dòng biến chuyển không ngừng
(vô thường). Không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, do vậy không có ai tạo ra thế giới và
cũng không có gì vĩnh hằng. Sự biến hiện của thế giới theo chu trình: sinh - trụ - dị - diệt theo luật nhân quả.
Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp của Upanisa là bộ phận kinh Veda của
đạo Bà la môn phần nói về tri thức. Theo Phật giáo, sự vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở
chỗ khác. Quá trình thác sinh luân hồi đó do nghiệp chi phối theo nhân quả. Theo quan niệm
của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức Bốn chân lý thiêng liêng
tuyệt diệu (Tứ diệu đế). Đó là:
+ Khổ đế: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ. Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ:
Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải ở gần), sở
cầu bất đắc (muốn mà không được), thủ ngũ uẩn (khổ vì có sự tồn tại của thân xác).
+ Tập đế (Nhân đế): Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân. Phật giáo đưa ra “Thập
nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của sự khổ. Đó là: vô minh, hành, thức, danh
sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
+ Diệt đế: Phật giáo khẳng định có thể tiêu diệt nỗi khổ và chấm dứt luân hồi.
Diệt đế là đưa ra các quả cho sự chấm dứt khổ đau
+ Đạo đế: Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự
tăm tối, không sáng suốt), gồm 8 con đường (Bát chánh đạo). Đó là: Chánh kiến :
nhìn thấy và hiểu biết điều đúng; Chánh tư duy: nghĩ điều đúng đắn; Chánh ngữ: giữ
lời nói chân chính.; Chánh nghiệp : Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp.
Tà nghiệp phải sửa, chánh nghiệp phải giữ. Nghiệp có thân nghiệp (do hành động
gây ra), khẩu nghiệp (do lời nói gây ra), ý nghiệp (do suy nghĩ gây ra).; Chánh mệnh:
làm việc đúng để duy trì mạng sống.; Chánh tinh tiến: có chí cầu tiến và phát triển 9
bản thân bằng con đường đúng đắn; Chánh niệm: biết và hiểu rõ những gì mình đang
làm; Chánh định: giữ tâm định tĩnh. Theo Bát chánh đạo, con người có thể diệt trừ vô
minh, giải thoát, nhập vào cõi niết bàn - Nirvana. Niết Bàn là trạng thái yên tĩnh,
sáng suốt. Như vậy Phật giáo có tư tưởng biện chứng, mang tính duy tâm chủ quan.
Bát chánh đạo còn gọi là Tam học: Tuệ (chính kiến, chính tư duy, chính ngữ), Giới
(chính nghiệp, chính mệnh), Định (chính tinh tiến, chính niệm, chính định)
Đặc điểm của Phật giáo là không đề cập vị thần sáng tạo thế giới và con người. Đây
là nét độc đáo trong thế giới quan Phật giáo. Về nhân sinh quan, Phật giáo đề cao vai trò của
con người trong cuộc sốnh hiện thực.
Giáo luật của Phật giáo: Kinh luật tạng trình bày những phép tắc, giới luật. Về cơ bản,
đạo Phật có hai giới luật quan trọng là ngũ giới và thập thiện, quy định những điều mà
những người theo đạo phải tuân theo
Ngũ giới : Giới sát (không sát sinh). Giới đạo (không trộm cắp). Giới dâm
(không tà dâm). Giới vọng ngữ (không được nói điều sai). Giới tửu sắc (không nghiện ngập).
Thập thiện : Về thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Về khẩu:
không nói dối, không nói hai chiều, không ác khẩu, không thêu dệt. Về ý: Không
tham lam, không giận dữ, không tà kiến.
Ngoài những quy định trên, người tu hành còn phải thực hiện một số điều cấm khác.
Các vị sư từ Đại đức trở lên phải theo giới luật nghiêm hơn:
+ Hàng Tỳ kheo : nam 250 giới, Tì kheo nữ 348 giới.
+ Hàng Sa di: phải thực hiện 10 giới: không sát sinh, không trộm cắp, không
dâm dục, không nói điều sai, không uống rượu, không trang điểm, không nằm
giường nệm, không xem ca hát, không giữ vàng bạc, không ăn quá giờ quy định).
Tổ chức của đạo Phật: Tổ chức Phật giáo không chặt chẽ. Phật giáo không có giáo
quyền, không thống nhất cách tu hành, có nhiều tông phái và sơn môn.
Người theo đạo Phật được chia làm hai loại:
+ Người tu hành: phải thoát ly gia đình và các sinh hoạt xã hội, đi tu ở chùa
theo quy định. Nam tu sĩ gọi là Tăng, nữ tu sĩ gọi là Ni. 10
+ Người tu tại gia: thờ Phật, lễ Phật tại nhà và tuân theo Ngũ giới và Thập thiện.
Về hệ thống chức sắc và các nhà tu hành:
+ Đối với Tăng: Hòa thượng : có 40 năm tu, 60 năm tuổi đời và từ Thượng tọa
được tấn phong lên. Thượng tọa: có 30 năm tu, 50 năm tuổi đời và từ Đại đức được
tấn phong lên. Đại đức: là hàng Tỳ kheo, được thọ giới sau khi xuất gia khoảng 10
năm trở lên. Sa di: được thọ giới từ Tiểu lên. Tiểu: người xuất gia tu hành.
+ Đối với Ni: Gồm có Ni trưởng, Ni sư, Ni cô, Sadini, Tiểu cũng phải thọ giới
và tấn phong như bên Tăng.
Phật giáo gồm hai phái là Đại thừa, Tiểu thừa. Từ hai phái đó mỗi phái lại chia thành
nhiều tông nên hay gọi là “tông phái”.
+ Đại thừa (cỗ xe lớn ): phái này cho rằng con người có thể giác ngộ bằng tự
lực và bằng tha lực tức bằng sự dẫn dắt của người khác, đặc biệt là của các vị Bồ Tát.
Do đó phải “tự giác giác tha, tự độ độ tha” tức mình đã giác ngộ thì phải giác ngộ
người khác. Ở Việt Nam phái Đại thừa còn gọi là Bắc tông.
+ Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): Mỗi người phải lo tu thân, giác ngộ chỉ bằng tự lực.
Ở Việt Nam phái Tiểu thừa còn gọi là Nam tông.
Toàn bộ nội dung của Phật giáo được thể hiện ở ba cuốn kinh điển lớn là: Kinh tạng:
Bộ sách ghi lại những lời của Thích ca Mâu ni khi ông còn sống; Luật tạng: Bộ sách ghi lại
những quy tắc, luật lệ khi gia nhập cộng đồng phật giáo; Luận tạng: là bộ sách do những
nhà tư tưởng Phật giáo đời sau biên soạn, chứa những lời bàn luận
Câu 6: Bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sự thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp:
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị trực tiếp ở Đông Dương.
Chúng dùng bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù thủ tiêu mọi quyền dân chủ, đàn áp, khủng bố
mọi sự chống đối; dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ
thống trị khác nhau. Thực dân Pháp duy trì triều đình phong kiến nhà Nguyễn và giai cấp
địa chủ làm công cụ tay sai để áp bức về chính trị và bóc lột kinh tế. Nhân dân ta mất nước
trở thành nô lệ, bị đàn áp, bóc lột, cuộc sống vô cùng khổ cực. 11
Về kinh tế, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ
nhất (1897 - 1914); khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919- 1929), trong đó lấy Việt Nam là
trọng điểm. Tư bản Pháp bỏ vốn nhiều nhất vào nông nghiệp (lập các đồn điền cao su, cà
phê, chè...) và ngành khai mỏ (chủ yếu là than, sẳt, thiếc, vàng...) để thu lợi nhuận nhiều và
nhanh. Tư bản Pháp xây dựng ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, phát triển các
cơ sở công nghiệp chế biến; độc quyền ngoại thương. Ngân hàng Đông Dương của Pháp
độc quyền tài chính, đặt ra hàng trăm thứ thuế, tàn ác nhất là thuế thân; thi hành rộng rãi
chính sách cho vay nặng lãi. Kết quả là nền kinh tế nước ta có sự phát triển mức độ nào đó
theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng là nền kinh tế thuộc địa, mất cân đối, phụ thuộc vào Pháp.
Về văn hoá, thực dân Pháp thực hiện chính sách nô dịch văn hoá; xoá bỏ hệ thống
giáo dục phong kiến, thay bằng chế độ giáo dục thực dân hạn chế. Pháp mở nhà tù, trại giam
nhiều hơn trường học; khuyến khích các hoạt động mê tín, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hạn
chế xuất bản sách báo, gây tâm lý tự ti dân tộc. Kết quả là hơn 90% nhân dân ta bị mù chữ,
bị bưng bít mọi thông tin tiến bộ từ bên ngoài.
Sự thay đối tính chất xã hội và cơ cấu giai cấp xã hội Việt Nam:
Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi. Việt
Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Giai cấp địa chủ, đa
số là địa chủ nhỏ và vừa có tinh thần yêu nước, căm ghét, vừa có tinh thần dân tộc chống
Pháp, số đại địa chù, tay sai, chỗ dựa của thực dân Pháp là đối tượng của cách mạng. Giai
cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị đế quốc, địa chủ, phong kiến bóc lột, cuộc sống cực
khổ nên rất tích cực chống đế quốc và phong kiến. Tầng lớp tiểu tư sản gồm người buôn bán
nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên... phát triển khá nhanh. Họ nhạy cảm trước thời
cuộc, đời sống rất bấp bênh nên hăng hái đấu tranh và là lực lượng quan trọng của cách
mạng. Giai cấp tư sản Việt Nam ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp. Một bộ phận tư sản mại bản có quyền lợi gắn với Pháp, trở thành tay sai của
chúng. Bộ phận tư sản còn lại, thế lực kinh tế nhỏ bé, bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có
tinh thần dân tộc, dân chủ, có thể đi với cách mạng. Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời
trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 - 1914) và phát triển
khá nhanh. Năm 1914 khoảng 10 vạn, đến năm 1929 tăng lên 22 vạn. Giai cấp công nhân
Việt Nam tuy số lượng ít, ra đời muộn so với công nhân nhiều nước nhưng mang đầy đủ đặc
điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế là có tính chất tiên tiến, triệt để cách mạng, tính
kỷ luật và tính chất quốc tế. 12
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa lớn lên đã tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin, rất kiên quyết cách mạng và đã nhanh chóng trở thành lực lượng
chính trị độc lập. Công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nông dân, bị bần cùng hoá nên có
quan hệ gần gũi với nông dân, rất thuận lợi cho liên minh công nông. Trong các giai cấp ở
Việt Nam lúc đó "Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn
gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân. Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh
nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân ta tỏ ra là người lãnh đạo xứng
đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam”'.
Trong xã hội Việt Nam nối lên hai mâu thuẫn cơ bản. Mâu thuẫn cơ bản thứ nhất
đồng thời là mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân
Pháp. Mâu thuẫn cơ bản thứ hai giữa nhân dân Việt Nam, đa số là nông dân với địa chủ
phong kiến. Hai mâu thuẫn này gắn bó, tác động lẫn nhau đòi hỏi đồng thời giải quyết. Độc
lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu cơ bản của xã hội Việt Nam nhưng độc lập
dân tộc là yêu cầu cơ bản, chủ yếu nhất vì phản ánh nguyện vọng bức thiết của cả dân tộc
Việt Nam ở đầu thế kỷ XX.
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản:
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến: Tiêu biểu nhất là phong trào
cần Vương do vua Hàm Nghi phát động. Phong trào cần Vương diễn ra từ năm 1885 đến
năm 1896 với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa vũ trang. Nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa
Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885 - 1896); cuộc khởi nghĩa Ba Đình do Phạm
Bành và Đinh Công Tráng tổ chức (1885 - 1886); cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn
Thiện Thuật đứng đầu (1885 - 1892). Kéo dài và quyết liệt nhất là phong trào nông dân Yên
Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1884 — 1913) v.v... Các cuộc khởi nghĩa vũ trang đó
tiếp tục khẳng định tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta và
làm cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề, không ổn định thống trị hàng chục năm trời.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong
kiến do thiếu đường lối đúng đắn. Giai cấp phong kiến đã không đủ sức lãnh đạo phong trào
yêu nước Việt Nam đi đến thành công.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dẫn chủ tư sản: Đầu thế kỷ XX chịu
ảnh hưởng các cuộc cách mạng tư sản bên ngoài, phong trào yêu nước Việt Nam diễn ra sôi
nổi theo hai khuynh hướng chính: 13
Khuynh hướng bạo động vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo. Ông tổ chức phong
trào Đông Du (1906 — 1908) chủ trương nhờ Nhật Bản giúp đỡ. Phong trào du học diễn ra
gần hai năm, Pháp - Nhật Bản thoả hiệp trục xuất Phan Bội Châu và du học sinh Việt Nam.
Phong trào Đông Du thất bại. Sau khi cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) thắng lợi,
Phan Bội Châu về Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục Hội, chủ trương vũ trang
chống Pháp ở trong nước, khôi phục độc lập dân tộc.
Khuynh hướng cải cách dân chủ do Phan Châu Trinh (1782 - 1926) tổ chức.
Những năm 1906 - 1908, ông chủ trương cải cách dân chủ nâng cao dân trí, cổ vũ tinh thần,
cải thiện đời sống nhân dân bằng con đường bất bạo động, công khai khai hoá cải cách,
chấn hưng văn hóa, công nghệ, chống mê tín dị đoan. Các phong trào khác như phong trào
dạy học theo lối mới ở Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, Hà Nội (1907); phong trào biểu tình
chống thuế ở Trung Kỳ (1908); phong trào đấu tranh của Đảng Lập Hiến (1923), Đảng
Thanh Niên (1926). Mạnh mẽ nhất là phong trào của Việt Nam quốc dân Đảng (1929-
1930). Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản phản ánh tinh thần dân
tộc của một bộ phận trí thức, tư sản Việt Nam nhưng tất cả đều thất bại. Nguyên nhân thất
bại chính là do thiếu đường lối đúng đắn. Địa vị kinh tế, chính trị non yếu của giai cấp tư
sản Việt Nam đã không đủ sức lãnh đạo cách mạng.
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ khủng
hoàng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo. Cách mạng Việt Nam ví như
“trong đêm tối không có đường ra”.
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị thành lập Đảng và
phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản:
Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Trước khi ra đi,
Người đã tiếp thu những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê hương và gia đình; được học
tập, có vốn kiến thức văn hoá, sớm cảm thông với nỗi khổ nhục của người dân mất nước;
hiểu rõ nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước, Người quyết định sang phương
Tây tìm đường cứu nước. Người qua Pháp, đến nhiều nước châu Phi và sống ở Mỹ (1912 -
1913), sống ở Anh (1914 - 1917); kiên trì chịu đựng gian khổ và sớm có tình cảm thương
yêu giai cấp của những người lao động nghèo khổ.
Tháng 7/1917, Người từ Anh trở về Pháp. Cùng với những người yêu nước Việt Nam,
Người tham gia các hoạt động chính trị- xã hội, văn hoá Pháp và ủng hộ nước Nga Xô viết. 14
Từ sau ngày 17/7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” trên báo L’Humanite và hoàn toàn tin theo Lênin, tin
theo Quốc tế Cộng sản. Cuối tháng 12/1920, tại Đại hội XVIII của Đảng xã hội Pháp họp ở
thành phố Tua (Pháp), Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập
Đảng Cộng sản Pháp. Đây là bước chuyển về chất trong lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc.
Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, ra báo Người cùng khổ (Le
Paria) và tham gia viết báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô và làm việc ở Ban Phương Đông của
Quốc tế Cộng sản. Người đã tham gia các Hội nghị Quốc tế nông dân, Quốc tế Thanh niên
và dự các khoá bồi dưỡng ngắn hạn của Quốc tế Cộng sản.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc là phái viên Ban thư ký Viễn Đông trở về hoạt
động ở Quảng Châu, Trung Quốc. Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên, ra báo Thanh Niên, mở nhiều lớp và trực tiếp giảng bài, huấn luyện con đường
cách mạng, phương pháp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng giải phóng dân tộc.
Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được Bộ Tuyên truyền của
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản thành tác phẩm “Đường kách mệnh” (1927).
Đường cách mệnh chỉ rõ kinh nghiệm của các cuộc cách mạng Mỹ năm 1776, cách
mạng Pháp năm 1789, cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và kết luận: Chỉ có Cách
mạng Tháng Mười Nga là cách mạng triệt đệ nhất. Cách mạng Việt Nam cần phải đi theo
con đường cách mạng vô sản mới thành công.
Bây giờ chủ nghĩa nhiều nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mệnh nhất. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, trong đó công
nông là "gốc cách mệnh". Cách mạng muốn thắng lợi phải có đảng cách mệnh. Đảng có
vững cách mệnh mới thành công. Cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới.
Đường cách mệnh đã chỉ rõ những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, chuẩn bị về
tư tưởng chính trị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Sự ra đời các tổ chức cộng sản:
Trước năm 1925, phong trào công nhân Việt Nam diễn ra hoàn toàn tự phát. Sự ra
đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, báo Thanh Niên làm cho chủ 15
nghĩa Mác - Lênin và khuynh hướng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
ngày càng chiếm ưu thế ở Việt Nam.
Tiêu biểu nhất vào đầu tháng 8/1925, hơn 1.000 công nhân Ba Son, Sài Gòn do Công
hội đỏ tổ chức bãi công thắng lợi. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chủ trương "Vô sản
hoá", đưa hội viên của mình vào làm việc tại các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền trong nước để
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng, tổ chức lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh.
Tháng 3/1929, tại nhà số 5D, phố Hàm Long (Hà Nội) Chi bộ cộng sản đầu tiên đã
thành lập. Ngày 17/6/1929 tại nhà số 312 Khâm Thiên, Hà Nội, Đại biểu các tổ chức cộng
sản ở miền Bắc họp Đại hội, quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, ra Tuyên
ngôn, Điều lệ và phát hành báo Búa liềm của Đảng.
Ngày 28/7/1929, tại 15 phố Hàng Nón, Đại hội thành lập Tổng Công hội đó, thông
qua Chương trình, Điều lệ, bầu ra Ban chấp hành lâm thời do Nguyễn Đức Cảnh đứng đầu,
ra Báo Lao động và tạp chí Gông hội đỏ.
Tháng 8/1929, An Nam Cộng sản Đảng ra đời, thông qua đường lối chính trị, Điều lệ
Đảng và lập Ban lãnh đạo của Đảng.
Tháng 9/1929, một số hội viên tiên tiến của Tân Việt ra Tuyên đạt thông báo thành
lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Những năm 1929 - 1930 cả nước có hàng chục cuộc bãi công lớn của công nhân.
Phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu cao, thuế nặng, chống cướp ruộng đất và
phong trào bãi khoá của học sinh, bãi thị của tiểu thương tạo thành làn sóng đấu tranh cách
mạng dân tộc, dân chủ dâng cao khắp cả nước.
Câu 7: Những con đường truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam
1. Con đường tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài: Từ năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi
tìm đường cứu nước. Trong quá trình hoạt động tại Pháp và các nước châu Âu, Người tiếp
cận và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Mác – Lênin. Việc tham gia Đảng Xã hội Pháp
và Quốc tế Cộng sản đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận thức rằng con đường giải phóng dân tộc
Việt Nam phải gắn liền với cách mạng vô sản.
Sự ra đời của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925): Tại Quảng Châu (Trung
Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhằm đào tạo cán 16
bộ cách mạng và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam. Đây là tổ chức tiền thân,
làm cầu nối chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đào tạo cán bộ tại nước ngoài: Nhiều thanh niên yêu nước được lựa chọn gửi đi học
tại các trường cách mạng ở Trung Quốc, Liên Xô, nơi họ được đào tạo lý luận Mác – Lênin,
kỹ năng tổ chức, tuyên truyền, hoạt động bí mật… Sau khi về nước, họ tiếp tục phát triển
phong trào và truyền bá tư tưởng cách mạng.
2. Phương tiện truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin
Báo chí và xuất bản: Báo Thanh Niên là tờ báo đầu tiên truyền bá tư tưởng Mác –
Lênin bằng tiếng Việt, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Tác phẩm "Đường Kách Mệnh" được
xuất bản như một cẩm nang lý luận cách mạng, trình bày dễ hiểu về tư tưởng Mác – Lênin,
vai trò của giai cấp công nhân, và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngoài ra, còn có
các truyền đơn, sách nhỏ được in bí mật và phân phát rộng rãi trong nước.
Tổ chức huấn luyện và truyền miệng: Các lớp huấn luyện chính trị do Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên tổ chức là môi trường phổ biến chủ nghĩa Mác – Lênin cho nhiều
cán bộ trẻ. Bên cạnh đó, hoạt động truyền miệng, diễn thuyết, sinh hoạt chi bộ bí mật cũng
là phương tiện hiệu quả trong giai đoạn đầu.
Mạng lưới liên lạc quốc tế và nội địa: Sử dụng mạng lưới thủy thủ, công nhân hải
cảng để vận chuyển tài liệu từ nước ngoài vào trong nước. Thiết lập đường dây liên lạc giữa
các cơ sở cách mạng trong và ngoài nước, đảm bảo tài liệu và tư tưởng được truyền bá liên tục, không gián đoạn.
3. Các nhân vật tiêu biểu trong quá trình truyền bá Nhân vật Vai trò chính
Người đầu tiên đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, sáng lập Hội Việt
Nguyễn Ái Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức huấn luyện, xuất bản báo chí, tác phẩm lý Quốc luận.
Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, đóng góp vào việc hệ thống hóa và phổ biến tư Trần Phú
tưởng Mác – Lênin tại Việt Nam. Lê Hồng
Tổ chức các lớp huấn luyện, xây dựng hệ thống cơ sở Đảng ở trong và ngoài Phong nước. 17 Hà Huy
Viết nhiều bài lý luận, tham gia biên soạn tài liệu tuyên truyền chủ nghĩa Mác Tập – Lênin.
Phạm Văn Tham gia phong trào từ rất sớm, giữ vai trò quan trọng trong công tác tuyên Đồng truyền và vận động.
Việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là kết quả của một quá trình
chủ động, có hệ thống, kết hợp giữa hoạt động lý luận, đào tạo, báo chí và tổ chức. Nguyễn
Ái Quốc giữ vai trò trung tâm, với sự hỗ trợ của nhiều đồng chí ưu tú khác. Nhờ đó, tư
tưởng Mác – Lênin đã bén rễ và trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam.
Câu 8: Những nội dung tiếp thu được trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào
Việt Nam trước năm 1930. Vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Việt Nam ngày nay.
1. Những nội dung tiếp thu được trong việc truyền bá CN Mác - Lênin vào Việt Nam trước năm 1930
Thế giới quan và phương pháp luận Mác–Lênin
Duy vật biện chứng: Các khái niệm cơ bản về mâu thuẫn, phát triển, và liên hệ biện
chứng đã được Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu và truyền đạt qua “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin năm 1920, làm nền tảng tư duy cho cách mạng Việt Nam
Duy vật lịch sử: Việc vận dụng học thuyết duy vật lịch sử giúp phân tích các điều
kiện kinh tế – xã hội Đông Dương, chỉ ra tính chất thực dân nửa phong kiến và vai trò lịch
sử của giai cấp công nhân
Lý thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp
Khái niệm giai cấp công nhân: Truyền bá lý luận về giai cấp công nhân như một giai
cấp có sứ mệnh lịch sử, bước đầu được công nhân Việt Nam tiếp nhận thông qua phong trào
công nhân ở Sài Gòn – Chợ Lớn và Hà Nội từ những năm 1920
Đấu tranh giai cấp: Lên án chủ nghĩa tư bản và địa chủ, khẳng định chỉ khi đoàn kết
và tổ chức đấu tranh, công nhân mới có thể giành được quyền lợi, từ đó phát triển phong
trào bãi công và biểu tình mang tính chính trị sâu sắc hơn
Gắn kết cách mạng dân tộc với cách mạng vô sản 18
Tính quốc tế của cách mạng vô sản: Qua Cách mạng Tháng Mười Nga (1917),
Nguyễn Ái Quốc nhận thấy cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,
phải liên kết với Quốc tế Cộng sản để giành độc lập dân tộc và giải phóng giai cấp
Đường lối “dân tộc – dân chủ – vô sản”: Hồ Chí Minh khái quát mục tiêu “tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới cộng sản”, tức kết hợp đấu tranh dân tộc
với đấu tranh giai cấp vô sản
Nguyên tắc tổ chức Đảng và dân chủ tập trung
Lý thuyết Đảng tiên phong: Tiếp thu quan điểm của Lênin về Đảng Cộng sản như
“người chỉ đường”, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác–Lênin làm
cốt lõi, mọi cán bộ đều phải hiểu rõ và tuân thủ nguyên tắc này
Dân chủ tập trung: Các nguyên tắc lãnh đạo tập trung, kỷ luật đảng, và hướng dẫn
quần chúng đã được phổ biến trong các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên tại Quảng Châu (1925–1927)
Mục tiêu nhà nước vô sản và con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa
Nhà nước vô sản: Tiếp thu mô hình chính quyền Xô Viết, khái quát vai trò của nhà
nước công nhân trong giai đoạn chuyển tiếp từ phong kiến-thực dân sang xã hội chủ nghĩa
Xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa: Nhấn mạnh khái niệm “vô sản hóa”, quyền
sở hữu công cộng, kế hoạch hóa kinh tế và bình đẳng xã hội như những bước đầu của xây
dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
2. Vai trò của CN Mác - Lênin hiện nay
Chủ nghĩa Mác-Lênin tiếp tục cung cấp khung lý thuyết phân tích mâu thuẫn xã hội
dưới góc độ giai cấp, đặc biệt là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,
giúp giải thích nguyên nhân sâu xa của bất ổn kinh tế – xã hội và định hướng giải pháp
chuyển đổi xã hội. Phương pháp luận duy vật biện chứng cho phép nhìn nhận xã hội và lịch
sử là quá trình vận động, biến đổi không ngừng, từ đó nhấn mạnh vai trò của thực tiễn cách
mạng và cải cách trong việc thúc đẩy tiến trình lịch sử.
Ở một số nước như Trung Quốc và Việt Nam, Đảng Cộng sản vẫn dùng tư tưởng
Mác-Lênin làm cơ sở xây dựng đường lối chính trị, củng cố sự lãnh đạo tập trung và kỷ luật
tổ chức. Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, “chủ nghĩa thị trường Lênin” được đề cao, kết
hợp quyền lực tập trung của Đảng với cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
đồng thời thắt chặt kiểm soát chính trị. Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin vẫn là kim chỉ 19
nam cho các quyết sách phát triển kinh tế – xã hội và cải cách thể chế, được cập nhật qua
các nghị quyết Đại hội Đảng để thích ứng với tình hình mới.
Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc hoạch định và điều
tiết nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và giảm chênh lệch giàu nghèo. Các quốc gia xã hội
chủ nghĩa kế thừa mô hình này đều xây dựng mạng lưới an sinh (y tế, giáo dục, nhà ở) rộng
khắp, đảm bảo mọi công dân có cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản. Trong bối cảnh toàn cầu hóa,
việc điều chỉnh cơ chế thị trường với kế hoạch định hướng nhà nước giúp duy trì ổn định xã
hội, thúc đẩy phát triển bền vững và giảm tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Câu 9: Quá trình truyền bá đạo Phật ở Việt Nam.
Phật giáo truyền vào Việt Nam khá sớm, có ý kiến cho rằng ngay từ đầu TK III
trc.CN. Đầu công nguyên khi miền Nam Trung Quốc chưa biết đến Phật giáo, Việt Nam đã
có trung tâm Phật giáo Luy Lâu(nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh).
Thời kỳ đầu, Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam thông qua các nhà sư Ấn Độ,
tuy nhiên trong lịch sử Phật giáoViệt Nam thì từ thế kỷ thứ VI cho đến thế kỷ X vẫn được
xem là giai đoạn truyền giáo của đạo Phật, song giai đoạn này các nhà truyền giáo của Ấn
Độ bắt đầugiảm dần và các nhà truyền giáo của Trung Quốc bắt đầu tăng lên, dẫn theo đó
bắt đầu có các phái thiền của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam.
Từ thế kỷ X, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ sau một ngàn năm Bắc
thuộc. Việc này đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một bước mới. Dưới hai triều
đại Đinh - Lê, tuy không tuyên bố Phật giáo là Quốc đạo nhưng đã công nhận Phật giáo là
tôn giáo chính của cả nước. Các triều Vua Đinh - Lê có nhiều chính sách nâng đỡ đạo Phật.
Đặc biệt Vua Lê Đại Hành và Vua Đinh Tiên Hoàng đã trọng dụng và phong thưởng cho
nhiều nhà sư có công giúp Vua lo việc triều chính. Ở hai triều Đinh- Lê không chỉ trọng
dụng các tăng sĩ mà còn hỗ trợ cho Phật giáo phát triển.Vua Lê Đại Hành và Đinh Tiên
Hoàng đã cho xây dựng nhiều chùa tháp ở vùng Hoa Lư, biến nơi đây không chỉ là một
trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội mà còn là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước.
Tuy nhiên, đến triều nhà Lý thì mới được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt
Nam vì Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ (người sáng lập triều Lý) xuất thân từ chốn thiền
môn nên ông hết lòng ủng hộ cho Phật giáo. Sau lễ đăng quang, Lý Thái Tổ ra sắc chỉ ban
phẩm phục cho hàng tăng sĩ. Năm 1010, sau khi dời đô về Thăng Long, ông cho xây dựng
một số chùa lớn ở Thăng và cho tu bổ lại các chùa bị hư hỏng. Dưới triều Lý đãcó rất nhiều
nhà sư nổi tiếng về việc tu hành và có những đóng góp cho đất nước. 20