



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61431571
Đề cương ôn tập KTCT
C1. Đối tượng, mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của Kinh tế chính trị Mác -Lênin. Trả lời: * đối tượng -
Với tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin có
đốitượng nghiên cứu riêng. Trở lại lịch sử kinh tế chính trị, trước C.Mác, ở mỗi
thời kỳ phát triển, có các hướng xác định tìm đối tượng nghiên cứu của kinh tế
chính trị tương ứng. Chủ nghĩa trọng thương phát hiện đối tượng nghiên cứu
trong lĩnh vực lưu thông; chủ nghĩa trọng nông chuyển đối tượng nghiên cứu
trong các quan hệ kinh tế ở lĩnh vực nông nghiệp; kinh tế chính trị cổ điển xác
định đối tượng nghiên cứu trong nền sản xuất. Mặc dù chưa thật toàn diện, song
những tìm kiếm nêu trên có giá trị lịch sử, phản ánh trình độ phát triển từ thô
sơ đến từng bước mang tính khoa học của lý luận kinh tế chính trị trước C.Mác. -
Kế thừa những thành tựu khoa học kinh tế chính trị của nhân
loại,bằng cách tiếp cận duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen xác định:
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất
và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và phát triển.
Khái quát: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chỉnh trị Mác - Lênin là các
quan hệ xã hội của sản xuất và trao đoi mà các quan hệ này được đặt trong sự
liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc
thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định. Mục đích -
Mục đích nghiên cứu ở cấp độ cao nhất của kinh tế chính trị Mác
- Lênin là nhằm phát hiện ra các quy luật chi phối các quan hệ giữa người với lOMoAR cPSD| 61431571
người trong sản xuất và trao đổi. Từ đó, giúp cho các chủ thể trong xã hội vận
dụng các quy luật ấy, tạo động lực để không ngừng sáng tạo, góp phần thúc đẩy
văn minh và sự phát triển toàn diện của xã hội thông qua việc giải quyết các quan hệ lợi ích.
Mục đích xuyên suốt của Kinh tế chính trị Mác - Lênin không chỉ hướng
đến việc thúc đẩy sự giàu có mà hơn thế, kinh tế chính trị Mác - Lênin còn
hướng tới cung cấp cơ sở khoa học góp phần thúc đấy trình độ văn minh và
phát triền toàn diện của xã hội. Kinh tế chính trị Mác - Lênin không phải là
khoa học về kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. + Quy luật kinh tế:
Quy luật kinh té là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp
đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế trong nền sản xuất xã hội tương
ứng với nhũng trình độ phát triển nhất định của nền sản xuất xã hội ấy.
Tương tự như các quy luật xã hội khác sự tác động và phát huy vai trò
của quy luật kinh tế đối với sản xuất và trao đồi thông qua các hoạt động của
con người trong xã hội với những động cơ lợi ích khác nhau.
Quy luật kinh tế tác động vào các động cơ lợi ích và quan hệ lợi ích của
con người, từ đó mà điều chỉnh hành vi của họ. Khi vận dụng đúng các quy luật
kinh tế, sẽ tạo ra các quan hệ lợi ích kinh khách quan, đúng đắn tạo động lực
thúc đẩy sự sáng tạo của con người trong xã hội. Thông qua dó thúc đầy sự giàu
có và văn minh của xã hội. Ý nghĩa nghiên cứu lOMoAR cPSD| 61431571 -
Kinh tế Chính trị có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Học
tậpmôn Kinh tế Chính trị giúp cho người học hiểu được bản chất của các hiện
tượng và quá trình kinh tế, nắm được các quy luật kinh tế chi phối sự vận động
và phát triển kinh tế; phát triển lý luận kinh tế và vận dụng lý luận đó vào thực
tế, hành động theo quy luật, tránh bệnh chủ quan, giáo điều, duy ý chí. -
Kinh tế Chính trị cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho
sựhình thành đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và các chính sách,
biện pháp kinh tế cụ thể phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan và
điều kiện cụ thể của đất nước ở từng thời kỳ nhất định. -
Học tập Kinh tế Chính trị, nắm được các phạm trù và các quy
luậtkinh tế, là cơ sở cho người học hình thành tư duy kinh tế, không những cần
thiết cho các nhà quản lý vĩ mô mà còn rất cần cho quản lý sản xuất kinh doanh
ở các doanh nghiệp của mọi tầng lớp dân cư, ở tất cả các thành phần kinh tế. -
Nắm vững kiến thức Kinh tế Chính trị, người học có khả năng
hiểubiết một cách sâu sắc các đường lối và chính sách kinh tế cụ thể của Đảng
và Nhà nước ta, tạo niềm tin có cơ sở khoa học vào đường lối, chiến lược, chính sách đó. -
Học tập Kinh tế Chính trị, hiểu được sự thay đổi của phương thức
sảnxuất, các hình thái kinh tế xã hội là tất yếu khách quan, là quy luật của lịch
sử, giúp người học có niềm tin sâu sắc vào con đường xã hội chủ nghĩa mà
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta đã lựa chọn, là phù hợp với quy luật
khách quan, đi với dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
C2 . Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa Trả lời: lOMoAR cPSD| 61431571
Điều kiện thứ nhất: Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các
ngành, nghề khác nhau. Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa
lao động, do đó dẫn đên chuyên môn hóa sản xuất. Do phân công lao động xã
hội nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định.
Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Để thỏa mãn nhu cầu, đòi hòi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải
trao đổi sản phẩm cho nhau.
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng
chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại. C.Mác viết: "Trong công xã Ấn
Độ thời cổ đại, lao động đã có sự phân công xã hội, nhưng các sản phẩm lao
động không trở thành hàng hóa... Chỉ có sản phẩm của nhũng lao động tư nhân
độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng
hóa". Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai.
Điều kiện thứ 2: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà
khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư
liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động.
Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho
những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ
thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu lOMoAR cPSD| 61431571
dùng. Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm cùa người khác
phải thông qua việc mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình
thái hàng hóa. Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói
trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và
sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.
3. Nội dung và biểu hiện của quy luật giá trị. Trả lời: - Nội dung
Theo quy luật giá trị, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao
động xã hội cần thiết nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị của nó phải nhỏ
hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó,
tức là giá cả thị trường của hàng hóa
Trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, tức là phải đảm bảo
bù đắp được chi phí người sản xuất và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
Tác động và biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện
thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Bởi lẽ giá trị là cơ sở của giá cả và
giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị nên giá cả phụ thuộc vào giá trị.
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác
như: cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền. Sự tác động của các nhân
tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoay
quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay
quanh trục giá trị của nó hình là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông
qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng. - Biểu hiện
Trong sản xuất, quy luật giá trị yêu cầu người sản xuất phải đảm bảo sao
cho thời gian lao độngcá biệt để sản xuất ra từng hàng hóa phải phù hợp với
thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra từng hàng hóa đó; và tổng thời lOMoAR cPSD| 61431571
gian lao động cá biệt để sản xuất tổng hàng hóa phải phù hợp với tổng thời gian
lao động xã hội cần thiết của tổng hàng hóa đó.
- Trong lưu thông, trên thị trường việc trao đổi hàng hóa cũng
phảidựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Nói cách khác, phải
dựa theo nguyên tắc ngang giá. Điều đó có nghĩa là thời gian lao động xã
hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa A và hàng hóa B bằng nhau thì chúng
được trao đổi với nhau.
4. Các nhân tố làm tăng quy mô tích luỹ tư bản Trả lời
- Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô của tích lũy
phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành quỹ tích luỹ
và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản. Nếu tỷ lệ đó không đổi thì quy mô tích lũy
phụ thuộc vào những nhân tố làm tăng quy mô khối lượng giá trị thặng dư. Các nhân tố đó là: a)
Nâng cao trình độ bóc lột sức lao động: Nâng cao trình độ bóc
lột bằng cách bớt xén tiền công, như vậy nhà tư bản không những chiếm đoạt
lao động thặng dư mà còn chiếm đoạt cả một phần lao động tất yếu của công
nhân. Nâng cao trình độ bóc lột bằng cách tăng thời gian sử dụng thiết bị,
máy móc trong ngày, bằng cách bắt buộc công nhân tăng cường độ lao động,
kéo dài thời gian lao động để tận dụng thiết bị, máy móc, tiết kiệm tư bản bất
biến, đồng thời chống được hao mòn vô hình. Như vậy, để tăng thêm khối
lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản không tăng thêm thiết bị, máy móc, không
thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng
lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, tận dung
triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ tăng thêm phần nguyên, liệu tương ứng. b)
Nâng cao sức sản xuất của lao động xã hội: Năng suất lao động xã lOMoAR cPSD| 61431571
hội tăng lên sẽ làm cho giá trị hàng hóa rẻ đi, nhờ đó, với một lượng giá trị
thặng dư nhất định sẽ mua được tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều
hơn; phần dành cho tiêu dùng của nhà tư bản cũng có thể giảm để tăng tích lũy
mà vẫn không ảnh hưởng đến tiêu dùng của họ. Năng suất lao động cao thì lao
động sống càng sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, càng chuyển được
nhiều giá trị tư liệu sản xuất vào sản phẩm mới, làm cho giá cũ tái hiện dưới
hình thái có ích mới, được sử dụng làm chức năng tư bản càng nhiều, do đó,
cũng làm tăng quy mô của tư bản tích lũy. c)
Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng: Các tư liệu
lao động như máy móc, thiết bị, nhà xưởng... mặc dù giá trị của chúng đã được
chuyển từng phần vào sản phẩm mới theo mức độ hao mòn vật chất, nhưng
chúng vẫn được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất. Trong quá trình sản
xuất, mặc dù tư liệu lao động tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng
chúng chỉ hao mòn dần. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử
dụng tư liệu lao động, nhà tư bản sử dụng các tư liệu lao động đó mà không
mất thêm chi phí nào khác.
Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt động,
tư liệu lao động vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị. Do đó, nếu không kể
đến phần giá trị của tư liệu lao động chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian,
thì tư liệu lao động phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên. Tư
liệu lao động càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu
dùng càng lớn, do đó sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn, nhà
tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều. d)
Quy mô của tư bản ứng trước: Trong kinh doanh, khi các điều kiện
khác không đổi thì quy mô của tư bản ứng trước lớn hơn sẽ có những yếu tố
sản xuất lớn hơn, hiện đại hơn. Do đó, khối lượng giá trị thặng dư thu được
cũng sẽ lớn hơn, tạo điều kiện tăng quy mô của tích lũy tư bản. lOMoAR cPSD| 61431571
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận Trả lời:
- Các nhân tố ảnh hướng tới tỷ suất lợi nhuận +
Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn và ngược lại. Ví dụ:
Nếu cơ cấu giá trị hàng hoá là 800c + 200v + 200m thì m' = 100%, p’ = 20%.
Nếu cơ cấu giá trị hàng hoá là 800c + 200v + 400m thì m’ = 200%, p’ = 40%.
Do đó tất cả các thủ đoạn nhằm nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư
cũng chính là những thủ đoạn nâng cao tỷ suất lợi nhuận.
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản:
Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư không đổi nếu cấu tạo hữu cơ tư
bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại. Ví dụ:
Nếu cấu tạo hữu cơ tư bản là 70c + 30v + 20m thì p’ = 30%.
Nếu cấu tạo hữu cơ tư bản là 80c + 20v + 20m thì p’ = 20%.
Thông thường, khi cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng thì suất giá trị thặng
dư cũng có thể tăng lên, nhưng không thể tăng đủ bù đắp mức giảm của tỷ suất lợi nhuận.
+ Tốc độ chu chuyển của tư bản: lOMoAR cPSD| 61431571
Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lớn, thì tần suất sản sinh ra giá
trị thặng dư trong năm của tư bản ứng trước càng nhiều lần, giá trị thặng dư
theo đó mà tăng lên làm cho tỷ suất lợi nhuận cũng càng tăng. Ví dụ:
Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 1 vòng: 80c + 20v + 20m thì p’ = 20%.
Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 2 vòng: 80c + 20v + (20 + 20) m thì p’ = 40%.
Vậy, tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với số vòng chu chuyển của tư bản và
tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của tư bản.
+ Tiết kiệm tư bản bất biến:
Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến không đổi, nếu
tư bản bất biến càng nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn. Vì theo công thức
Rõ ràng khi m và v không đổi, nếu c càng nhỏ thì p' càng lớn.
Vì vậy, trong thực tế để nâng cao tỷ suất lợi nhuận, các nhà tư bản đã tìm
mọi cách để tiết kiệm tư bản bất biến như sử dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
nhà kho, phương tiện vận tải với hiệu quảcao nhất: kéo dài ngày lao động, tăng
cường độ lao động, thay thế nguyên liệu đắt tiền bằng nguyên liệu rẻ tiền, giảm
những chi tiêu bảo hiểm lao động, giảm những chi tiêu bảo vệ môi trường sinh
thái, giảm tiêu hao vật tư năng lượng và tận dụng phế liệu, phế phẩm, phế thải
để sản xuất hàng hoá.
6. Đặc điểm xuất khẩu tư bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Trả lời: lOMoAR cPSD| 61431571
Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị
và giá trị thặng dư, còn xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu
tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó.
Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, vì trong những nước tư bản chủ nghĩa
phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản lớn và nảy sinh tình trạng
“thừa tư bản”. Tình trạng thừa này không phải là thừa tuyệt đối, mà là thừa
tương đối, nghĩa là không tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận cao ở trong nước.
Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản và
hạ thấp tỷ suất lợi nhuận; trong khi đó, ở những nước kém phát triển về kinh tế,
nhất là ở các nước thuộc địa, dồi dào nguyên liệu và nhân công giá rẻ nhưng lại
thiếu vốn và kỹ thuật.
Do tập trung trong tay một khối lượng tư bản khổng lồ nên việc xuất khẩu
tư bản ra nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếu của các tổ chức độc quyền.
Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia xuất khẩu tư bản thành xuất
khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp. Xuất khẩu tư bản trực tiếp
là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao. Xuất
khẩu tư bản gián tiếp là cho vay để thu lợi tức.
Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài
chính ra toàn thế giới. Tuy nhiên, việc xuất khẩu tư bản, về khách quan có
những tác động tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu, như thúc đẩy quá
trình chuyển kinh tế tự cung tự cấp thành kinh tế hàng hóa, thúc đẩy sự chuyển
biến từ cơ cấu kinh tế thuần nông thành cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp, mặc
dù cơ cấu này còn què quặt, lệ thuộc vào kinh tế của chính quốc. lOMoAR cPSD| 61431571 7.
Tính tất yếu khách quan phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trả lời: 1)
Kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với tính
quy luật phát triển của khách quan.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở
Việt Nam những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không
mất đi mà còn phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, sự phát triển kinh
tế hàng hóa tất yếu hình thành kinh tế thị trường.Như vậy, sự lựa chọn mô hình
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với xu
thế của thời đại và đặc điểm phát triển của dân tộc. 2)
Do tính ưu việt của kinh tế thị trường trong thúc đẩy phát triển.
Kinh tế thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả mà loài
người đã đạt được so với các mô hình kinh tế phi thị trường, là động lực thúc
đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh và hiệu quả cao. Dưới tác động của các
quy luật thị trường nền kinh tế luôn phát triển theo hướng năng động, kích thích
tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
và hạ giá thành sản phẩm. Xét trên góc độ đó, sự phát triển kinh tế thị trường
không hề mâu thuẫn mà còn là cơ sở vật chất tạo điều kiện thực hiện những mục tiêu XHCN. 3)
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
phùhợp với nguyện vọng của nhân dân mong muốn một xã hội dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Sự tồn tại của kinh tế thị trường ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng
cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội. Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không thể lựa lOMoAR cPSD| 61431571
chọn mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô hình kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới phù hợp với ý chí và nguyện
vọng của đông đảo nhân dân về một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 8.
8. Khái niệm quan hệ lợi ích kinh tế và phương thức thực hiện lợi
ích kinh tế kể tên các quan hệ lợi ích kinh tế. Trả lời:
* Khái niệm quan hệ lợi ích kinh tế
Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người
với con người, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ
phận hợp thành nền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc gia
với các phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong
mối liên hệ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng
tầng và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định.
* Phương thức thực hiện lợi ích kinh tế:
Thứ nhất: thực hiện lợi ích kinh tế theo nguyên tắc thị trường.
Các quan hệ lợi ích, các chủ thể lợi ích kinh tế mặc dù đa dạng, song để
có thể thực hiện được lợi ích của mình, trong bối cảnh kinh tế thị trường phỉa
căn cứ vào các nguyên tắc thị trường. Đay là phương thức phổ biến trong mọi
nền kinh tế thị trường, bao gồm cả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Thứ hai:thực hiện lợi ích kinh tế theo chính sách của nhà nước và vai trò
của các tổ chức xã hội.
Khi thực hiện lợi ích kinh tế, nếu chỉ căn cứ theo nguyên tắc thị trường,
tất yếu sẽ dẫn đến những hạn chế về xã hội. Do đó, để khắc phục những hạn
ché của phưng thức thực hiện theo nguyên tắc thị trường, phương thức thực
hiện lợi ích dựa trên chính sách nà nước. lOMoAR cPSD| 61431571
* tên các quan hệ lợi ích kinh tế.
-Quan hệ lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
-quan hệ lợi ích giữa những người sử dụng lao động.
-Quan hệ lợi ích giữa những người lao động.
-Quan hệ giữa lợi ích cá nhân lợi ích nhóm và lợi ích xã hội.
9. Khái niệm và đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
*Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nề sản xuất xã hội từ dựa trên
lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động
bằng máy móc nhằm tạo ra năng suất lao động. Mức 2: 1.
Biểu hiện mới của tư bản tài chính trên thế giới hiện nay và minh
chứng một số tư bản tài chính đang hoạt động tại việt nam theo lĩnh vực. -
Độc quyên là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong
tay phần lớn việc sản xuất & tiêu thụ một số loại hàng hóa, có khả năng định
ra loại giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao. -
Sự tồn tại cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh nhỏ &
vừa còn có thêm các loại cạnh tranh:
+ một là: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các doanh nghiệp ngoài độc quyền
+ hai là: cạnh tranh giữa các tổ chứ độc quyền với nhau
+ ba là: cạnh tranh nội bộ giữa các tổ chứ độc quyền
*Nguyên nhân hình thành độc quyền -
Một là: sự phát triển của LLSX dưới tác động củ tiến bộ KH-KT
đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ kĩ thuật đòi hỏi các
doanh nghiệp phải ứ dụng những tiến bộ KH-KT mới vào SXKD. -
Hai là: những thành tựu KHKT mới làm xuất hiện những ngành
SX mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải có quy mô lớn; thúc đẩy tang năng
suất LĐ, tang khả năng tích lũy, tích tụ và tập trung SX, thúc đẩy SX phát triển quy mô lớn. lOMoAR cPSD| 61431571 -
Ba là: trong ĐK phát triển KHKT cùng vs sự tác động của các
quy luật KTTT làm biến đổi cơ cấu KT của XH theo hướng TTSX quy mô lớn -
Bốn là: cacnhj tranh gay gắt lm cho các doanh nghiệp vừa & nhỏ
bị phá sản hàng loạt các doanh nghiệp lớn tồn tại được nhưng cũng đã bị suy
yếu. để tiếp tục phát triển họ phải tang cường tích tụ, TTSX, liên kết vs nhau
thành các doanh nghiệp vs quy mô ngày càng lớn hơn. -
Năm là: do cuộc khủng hoảng KT lm phá sản hàng loạt doanh
nghiệp vừa và nhỏ các doanh nghiệp lớn tồn tại họ phải thúc đẩy SX các
doanh nghiệp có quy mô lớn. -
Sáu là: sự phát triển của hệ thống tín dụng trở thành đòn bẩy
mạnh mẽ thúc đẩy tập trung SX nhất là vc hình thành và phát triển của các
công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các tổ chức độc quyền
Lợi nhuận độc quyền:là lợi nhuận thu được cao hơn lợi nhuận bình quân,
do sự thống trị của các tổ chứ độc quyền đem lại
Giá cả độc quyền: là giá cả trong các tổ chức độc quyền áp đặt trong
mua và bán hàng hóa. Gồm chi phí SX cộng vs lợi nhuận độc quyền *tác
động đối vs nền KT: - tác động tích cực -tác động tiêu cực
*Những đặc điểm of độc quyền trong CNTB
* đặc điểm thứ nhất: tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền -
Dưới CNTB tích tụ & tập trung SX cao biểu hiện số lượng các xí
nghiệp lớn chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng nắm giữ các lĩnh vực SX chủ yếu of nền
KT nắm số lượng công nhân lớn và SX phần lớn tổng sản phẩm XH. Sự tích
tụ vàTTSX cao như v đã trực típ dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền. -
Trong quá trình hình thành các tổ chức độc quyền liên kết ngang
(doanh nghiệp cùng 1 ngành), liên kết dọc & liên kết đa ngành. lOMoAR cPSD| 61431571 -
Biểu hiện: làm xuất hiện các công ty xuyên quốc gia, đa QG có
phạm vi ả hưởng đối vs TG
*đặc điểm thứ hai:TB tài chính & hệ thống tài phiệt chi phối sâu sắc nền KT -
Song song vs qt tích tụ và TTSX trong công nghiệp, trong ngân
hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ tập trung dẫn đến hình thành các tổ chức
độc quyền trong ngân hàng. Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và
ngân hàng có quan hệ chặt chẽ vs nhau lm nảy sinh 1 loại hình TB mới, gọi là TB tài chính. V.
L.Leeenin viết: “TB tài chính là KQ of sự hợp nhất TB ngân
hàng of 1 số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, vs TB of những liên minh độc
quyền các nhà công nghiệp” -
sự pt of TB tài chính dần dẫn đến sự hình thành 1 nhóm nhỏ
những nhà TB kếch xù chi phối toàn bộ ĐSKT-CT of toàn XH gọi là tài phiệt
Từ cuối tk XX đến nay TB tài chính có sự thay đổi và những biểu hiện mới là: -
Do sự pt mạnh mẽ của cuộc cm KH & công nghệ hiên đại
Trong nền KT TBCN đã xuất hiện và pt nhiều ngành KT mới, đặc biệt
là các ngành thuộc “phần mềm” như dịch vụ, bảo hiểm ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn. thích ứ vs sự biến đổi, phạm vi liên kết và xâm nhập, liên kết nhiều
ngành dưới 1 tổ hợp đa dạng: công – nông – thương –tín – dịch vụ hay công
nghiệp – quân sự - dịch vụ quốc phòng,…sự liên kết đa dạng tinh vi và phức tạp hơn. -
Cơ chế tham dự của TB tài chính cũng có sự biến đổi cổ phiếu
mệnh giá nhỏ được phát hành rộng rãi khối lượng cổ phiếu tang lên nhiều
tầng lớp dân cư có thể mua đk cổ phiếu và trở thành các cổ đông nhỏ… -
Để thích ứ vs qt quốc tế hóa ĐSKT các tập đoàn TB tài chính đã
tahnhf lập các ngân hàng đa QG và xuyên QG. Sự ra đời các trung tâm tài
chính TG là KQ hoạt đôg của các tập đoàn tài chính quốc tế. lOMoAR cPSD| 61431571
*đặc điểm thứ ba: xuất khẩu tư bản trở thành phổ biến -
là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mđ chiếm đoạt giá trị
thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu TB. Vào cuối tk
XIX đầu tk XX xuất khẩu TB trở thành tất yếu vì:
Một số ít nước pt đã tích lũy đk 1 khối lượng TB lớn và có một số “TB
thừa” tương đối, đông thời nhiều nước lạc hậu về KT bị lôi cuốn vào sự giao
lưu KT TG nhưng lại rất thiếu vốn để pt KT, giá cả ruộng đất tương đối hạ,
tiền lương lại thấp, nguyên liệu rẻ nên tỷ suất lợi nhuận cao rất hấp dẫn đầu tư nước ngoài. -
Xuất khẩu TB dưới 2 hình thức: đầu tư trực típ và đầu tư gián típ -
Về kt: XKTB nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết
cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư của TB tư nhân. -
Về chính trị: “viện trợ” nhằm duy trì và bảo vệ chế độ ctri “thân
cận”đã bị lung lay ở các nước đã nhập khẩu TB … -
Về quân sự: “viện trợ” của nhà nước TB nhằm lôi kéo các nước
phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các
nước XK TB lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình.
Hiện nay xuất khẩu tư bản có những biểu hiện mới cụ thể
Thứ nhất, trước kia luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản
phát triển sang các nước kém phát triển. Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ
phận dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau.
Thứ hai, chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò
của các công ty xuyên quốc gia trong xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc
biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặt khác đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất
khẩu tư bản từ các nước đang phát triển.
Thứ ba, hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan xen giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên. Sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản
với các hợp đồng buôn bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám, ... không ngừng tăng lên. lOMoAR cPSD| 61431571
Thủ tư, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được
gỡ bỏ dần và nguyên tắc cũng có lợi trong đầu tư được để cao.
*đặc điểm thứ tư: sự phân chia TG về KT giữa các TB độc quyền -
qt tích tụ và tập trung tư bản pt, vc xk TB tang lên cả về quy mô
và phạm vi tất yếu dẫn tới sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập
đoàn TB độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế. -
ngày nay sự phân chia thế giới về kinh tế có biểu hiện mới, đó là
xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế ngày càng tang bên cạnh xu
hướng khu vực hóa nền kinh tế.
*đặc điểm thứ năm: sự phân chia thế giới về địa lý giữa các cường quốc TB -
hiện nay sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc
TB vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới -
sang đầu tk XXI chiến tranh lạnh kết thúc, nguy cơ chiến tranh
thế giới bị đẩy lùi nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ chạy đua vũ trang mới,
thực chất là nguy cơ chiến tranh lạnh phục hồi trở lại. Mặt khác sự phân chia
lãnh thổ thế giới lại được thay thế bằng những cuộc chiến tranh thương mại
chiến tranh sắc tộc tôn giáo mà đứng bên trong hoặc núp đằng sau trực típ
hoặc gián típ chính là các cường quốc TB.
*một số tư bản tài chính đang hoạt động tại việt nam
Thị trường chứng khoán ,
……………………………………………………...
…………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………… ………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………… lOMoAR cPSD| 61431571
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………… ………
2. Sự thống nhất và mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích kinh tế.
vấn đề đặt ra trong giải quyết mâu thuẫn quan hệ lợi ích kinh tế là gì? -
Quan hệ lợi ích KT là sự thiết lập những tương tác giữa con
người vs con người, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức KT, giữa
các bộ phận hợp thành nền KT giữa con người vs tổ chức KT giữa QG và
phần còn lại của TG nhằm mt xác lập các lợi ích KT trong mlh vs trình độ
pt của LLSX và kiến trúc thượng tầng tương ứ của 1 gđ pt XH nhất định *sự thống nhất -
do một chủ thể có thể trỏ thành 1 bộ phận cấu thành của chủ thể khác
-> lợi ích của các chủ thể thống nhất vs nhau -
trong nền KTTT sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào đều đk
thực hện thông qua thị trường
-> mt của các chủ thể chỉ đk thực hiện trong mqh và phù hợp vs mục
tiêu của các chủ thể khác *sự mâu thuẫn -
các chủ thể KT có thể hành động theo các phương thức khác nhau
đểđạt đk mt lợi ích của mink -> mâu thuẫn trong các quan hệ lợi ích KT lOMoAR cPSD| 61431571 -
lợi ích KT của các chủ thể có quan hệ trực tiếp trong vc phân phối hiệu quả SX
*vấn đề đặt ra trong giải quyết mâu thuẫn QH lợi ích KT -
mâu thuẫn về lợi ích KT là cội nguồn của các xung đột XH. Do
v, điều hòa mâu thuẫn giauws các lợi ích KT buộc các chủ thể phải quan tâm
và trở thành chứ năng quan trọng của nhà nc nhằm ổn định xã hội, tạo động lực phát triển KTXH -
trong các hình thức lợi ích KT, lợi ích cá nhân là cơ sở là nền
tảng của các lợi ích khác. Các nguyên nhân chủ yếu là, thứ nhất nhu cầu cơ
bản, sống còn trước hết thuộc về các cá nhân quyết định hđ của các cá nhân;
thứ hai là thực hiện lợi ích cá nhân là cơ sở để thực hiện các lợi ích khác vì
cá nhân cấu thành nên tập thể, giai cấp, xh … “dân giàu” thì “nước mạnh”.
Do đó lợi ích cá nhân chính đáng cần đk pháp luật tôn trọng bảo vệ
3. tính tất yếu công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam
Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện
các hđ SXKD, dịch vụ và quản lí KTXH từ sd scws lđ thủ công là chính
chuyển sang sd 1 cách phổ biến sức lđ vs công nghệ, phương tiện, phương
pháp tiên tiến hiện đại; dựa trên sự pt của công nghệ và tiến bộ KH công nghệ
nhằm tạo ra năng suất lđ XH cao.
Những đặc điểm chủ yếu sau
- Công nghiệp hóa hiện đại hóa theo định hướng XHCN thực
hiện mt “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
- Công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn vs pt kinh tế tri thức
- Công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện KTTT định hướng XHCN
- Công nghiệp hóa hiện đại hóa trog bối cảnh toàn cầu hóa KT và
Việt Nam đang tích cực chủ động hội nhập KT quốc tế lOMoAR cPSD| 61431571
Lý do khách quan Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa bao gồm:
Một là: lý luận và thực tiễn cho thấy công nghieeepj hóa là quy luật
phổ biến của sự pt LLSX XH mà mọi quốc gia đều phải trải qua dù ở các
quốc gia pt sớm hay đi sau - Là qt tạo ra
động lực mạnh mẽ cho nền KT là đòn bẩy qt tạo sự pt đột biến trong các lĩnh vực hđ của con người - Bất kì GQ nào
đi lên CNXH đều phải thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là XD cơ sở vật chất kĩ
thuật cho CNXH. Là nền công nghiệp lớn hiện đại có cơ cấu KT hợp lí có
trình độ XH hóa cao dựa trên trình độ KH và công nghệ hiện đại hình thành
1 cách có kế hoạch và thống trị toàn bộ nền KT quốc dân. Xd cơ sở vc kĩ
thuật cho CNXH là 1 tất yếu khách quan là 1 quy luật KT mang tính phổ
biến và đk thực hiện thông qua coog nghiệp hóa hiện đại hóa
Hai là: đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quả độ lên chủ
nghĩa xã hội như Việt Nam, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu thông qua công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một
bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó từng bước nâng dần trình độ văn minh của xã hội.
Như vậy : công nghiệp hóa hiện đại hóa là nhân tố quyết định sự thắng
lợi của con đường đi lên CNXH mà đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. vì v công
nghiệp hóa hiện đại hóa đk đảng và nhà nước ta xác định là nhiệm vụ trung tâm
trong suốt thời kì quá độ lên CNXH. Mức 3