














Preview text:
Đề cương
I. Nguồn gốc, bản chất của Nhà nước
Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người
được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực nhằm tổ chức và quản lý xã
hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
1. Nguồn gốc của Nhà nước
a. Các điều kiện ra đời và tồn tại của Nhà nước
* Theo quan điểm phi Mác-xít:
+ Thuyết thần học: Dựa trên quan điểm duy tâm, nhà nước là một lực lượng siêu
tự nhiên, do thượng đế tạo ra để duy trì và ổn định trật tự xã hội, quyền lực của
nhà nước là bất biến, tồn tại vĩnh cửu. Do đó, con người có nghĩa vụ phải phục
tùng vô hạn đối với nhà nước như phục tùng thượng đế.
+ Thuyết gia trưởng: Nhà nước có trong mọi xã hội và quyền lực nhà nước cũng
giống như quyền con trưởng của người đứng đầu gia đình.
+ Thuyết kế ước xã hội: Nhà nước là kết quả của kế ước (hợp đồng) xã hội,
được lập ra từ sự thỏa thuận giữa nhân dân trong xã hội với tổ chức được giao
quyền lực gọi là nhà nước để thay mặt họ quản lý xã hội. Quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.
→ Nhận xét: Các học thuyết trên giải thích về nguồn gốc của nhà nước từ nhiều
góc độ khác nhau, nhưng có những hạn chế cơ bản: tách rời nhà nước với điều
kiện thực tế của xã hội; khẳng định sự tồn tại của nhà nước là bất biến; xem xét
vai trò của nhà nước và sự thay thế nhà nước một cách đơn giản, thiếu thực tế.
* Theo học thuyết Mác – Lênin:
+ Nhà nước là một hiện tượng lịch sử, ra đời khi có những điều kiện kinh tế - xã
hội nhất định, gắn với sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội.
+ Chế độ cộng sản nguyên thủy: chưa có nhà nước
- Đặc điểm kinh tế: Chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm
lao động → chế độ công hữu
- Đặc điểm xã hội: Chưa có phân chia giai cấp, lãnh đạo bằng uy tín
+ Ba lần phân công lao động xã hội và kết quả:
- Lần 1: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt → Nghề chăn nuôi phát triển, cần
người chăn thả → giữ lại tù binh làm nô lệ chăn nuôi gia súc → bắt đầu xuất hiện tư hữu
- Lần 2: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp → đẩy nhanh phân hóa
xã hội → mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ tăng lên
- Lần 3: Xuất hiện thương mại độc lập → nhu cầu trao đổi tăng, hình
thành đội ngũ thương nhân → mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt → giai cấp
chủ nô lập ra bộ máy nhà nước để bảo về quyền lợi của mình, điều hòa mâu
thuẫn, kiểm soát xung đột xã hội trong trật tự
⇒ Sau 3 lần phân công lao động xã hội, về kinh tế đã xuất hiện tư hữu, về xã hội
đã phân chia thành các giai cấp đối kháng nhau, mâu thuẫn với nhau ngày càng
gay gắt. Thực trạng này đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ mạnh để điều hòa
mâu thuẫn xã hội → Nhà nước.
b. Sự ra đời của Nhà nước * Ở phương Đông:
+ Nhà nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập cổ đại: hình thành từ hơn 3000 năm trước công nguyên
+ Do nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm
+ Việt Nam: từ sự hình thành phôi thai của Nhà nước cuối thời Hùng Vương -
Văn Lang đến Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương - Âu Lạc năm 208 trước công nguyên * Ở phương Tây:
+ Nhà nước Aten là nhà nước điển hình ra đời từ mâu thuẫn giai cấp
+ Nhà nước Rôma hình thành vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, từ cuộc
đấu tranh bởi những người thường dân chống lại quý tộc thị tộc La Mã
+ Nhà nước Giéc-manh hình thành khoảng giữa thế kỷ V trước công nguyên, từ
việc người Giéc-manh chiếm vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La Mã cổ đại
2. Bản chất của Nhà nước
Bản chất nhà nước gồm tổng hợp những mặt, những mối liên hệ, những thuộc
tính tất nhiên, tương đối ổn định bên trong của nhà nước, quy định sự tồn tại,
phát triển của nhà nước
Bản chất nhà nước bao gồm: * Bản chất giai cấp
+ Quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp chiếm địa vị chủ yếu trong hệ thống sản
xuất xã hội (giai cấp cầm quyền/thống trị)
+ Nhà nước ưu tiên bảo vệ lợi ích của giai cấp đó
(Giai cấp nắm giữ quyền lực nhà nước: Kinh tế: sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu;
Chính trị: loại trừ sự phản kháng của giai cấp khác (giai cấp cầm quyền nắm giữ
những cơ quan bạo lực, hưởng chu cấp nhà nước và thực hiện nhiệm vụ để bảo
về quyền lợi, lợi ích của nhà nước); Tư tưởng: duy trì hệ tư tưởng của giai cấp
mình cho toàn xã hội (sự phục tùng tuyệt đối)) * Bản chất xã hội
+ Nhà nước quản lý xã hội, thực hiện những chức năng vì lợi ích chung của xã hội
+ Nhà nước ban hành chính sách quản lý dựa trên điều kiện thực tế của xã hội
+ Nhà nước thay đổi khi xã hội thay đổi
II. Đặc điểm của Nhà nước
Đặc điểm cơ bản của Nhà nước là các yếu tố để phân biệt nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội.
1. Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt, thực hiện quyền lực thông qua bộ máy cai trị
Nhà nước là tổ chức duy nhất có bộ máy gồm một hệ thống các cơ quan có tổ
chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Bộ máy nhà nước có chức năng,
nhiệm vụ quản lý hoạt động của tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua
các quy định pháp luật trao cho các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước
những quyền và nghĩa vụ nhất định. Quyền lực của nhà nước tác động đến toàn
xã hội, được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế.
2. Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và thực hiện
quản lý dân cư theo lãnh thổ
Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính để tổ chức bộ máy nhà
nước một cách chặt chẽ và thống nhất với sự phân công, phân cấp trong việc
thực hiện các hoạt động quản lý của nhà nước. Việc quản lý dân cư theo đơn vị
lãnh thổ không phụ thuộc và yếu tố huyết thống, chính kiến, giới tính, độ tuổi hay nghề nghiệp.
3. Nhà nước đại diện cho chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao trong đối nội và độc lập trong đối ngoại
của Nhà nước mà không chịu sự áp đặt từ bên ngoài. Nhà nước là tổ chức duy
nhất đại diện cho chủ quyền quốc gia, ban hành các chính sách đối nội và đối
ngoại; thực hiện các biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia.
4. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật
Chỉ duy nhất nhà nước có quyền ban hành pháp luật. Nhà nước xây dựng hệ
thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, đồng thời đảm
bảo cho các quy phạm đó được thực thi. Pháp luật được áp dụng với mọi chủ thể trong xã hội.
5. Nhà nước có quyền đặt ra các loại thuế và thực hiện các chính sách tài chính
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia dùng để chi trả cho các hoạt
động của bộ máy nhà nước, đầu tư cho cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã
hội cũng như để tích lũy. Chỉ có nhà nước mới có quyền quy định và thu các loại
thuế, bởi nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội. Việc quy định các loại
thuế và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách quốc gia là trách nhiệm của nhà nước.
III. Kiểu Nhà nước, hình thức Nhà nước 1. Kiểu Nhà nước
Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù của nhà
nước, thể hiện bản chất của nhà nước và những điều kiện tồn tại và phát triển
của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
* Nhà nước chủ nô:
+ Là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại, xuất hiện trên cơ sở sự tan
rã của chế độ cộng sản nguyên thủy. Về cơ bản, sự ra đời của Nhà nước chủ nô
dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ trong điều kiện xã hội xuất hiện chiếm
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân hóa thành các giai cấp.
+ Nhà nước chủ nô là công cụ bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, dựa trên nền tảng
quan hệ bóc lột trực tiếp của chủ nô đối với người nô lệ. Nhà nước tổ chức thành
bộ máy, do giai cấp chủ nô nắm quyền và thực hiện sự trấn áp đối với nô lệ và
những người lao động khác trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, tư tưởng.
* Nhà nước phong kiến:
+ Là công cụ chuyên chế của giai cấp phong kiến đối với nông dân và các tầng
lớp lao động khác. Nhà nước phong kiến tồn tại dựa trên cơ sở của chế độ sở
hữu phong kiến về ruộng đất và các tư liệu sản xuất như nông cụ, súc vật.
+ Ở các nước có chế độ nô lệ tồn tại một cách điển hình, nhà nước phong kiến ra
đời trên cơ sở sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ. Ở những nước không có chế
độ chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến ra đờitrên cơ sở sự tan rã của chế độ
cộng sản nguyên thủy trong điều kiện chuyển biến dần của chế độ cộng sản
nguyên thủy sang chế độ phong kiến.
+ Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến với đặc
trưng là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất) và sự
bóc lột của giai cấp phong kiến đối với nông dân (thông qua chế độ tô, thuế). Do
đó, quyền lực kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội thuộc về giai cấp địa chủ phong kiến. * Nhà nước tư sản:
+ Bản chất của nhà nước tư sản là công cụ thiết lập và bảo vệ chế độ dân chủ tư
sản. Về mặt pháp lý, mọi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được thực
hiện thông qua cơ quan đại diện hoặc bằng các biện pháp dân chủ trực tiếp. Tuy
nhiên, giai cấp tư sản có lợi thế hơn giai cấp khác về kinh tế nên họ có ưu thế
hơn trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân.
+ Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản về tư
liệu sản xuất. Cơ sở xã hội của nhà nước tư sản: xã hội tư sản gồm 2 giai cấp
chính là tư sản và công nhân, ngoài ra còn có các giai cấp, tầng lớp khác: nông
dân, tiểu thương, tri thức, thợ thủ công,… giai cấp tư sản chỉ chiếm thiểu số
nhưng nắm giữ phần lớn tài sản quốc gia, phần lớn tư liệu sản xuất của xã hội, là
lực lượng nắm giữ quyền lực kinh tế. Công nhân chiếm đa số dân cư nhưng chỉ
nắm giữ phần nhỏ tài sản của xã hội.
* Nhà nước xã hội chủ nghĩa
+ Là kiểu nhà nước mới, có bản chất khác với các kiểu nhà nước trước đó. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân và nhân dân lao động - lực lượng
chiếm đa số trong xã hội làm chủ. Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa là
thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và
thực hiện công bằng xã hội.
+Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là kết quả của cuộc cách mạng do giai cấp vô
sản và nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
⇒ Sự thay thế các kiểu nhà nước là quy luật tất yếu, phù hợp với sự thay thế các
hình thái kinh tế - xã hội
⇒ Nhà nước chủ nghĩa xã hội là “Nhà nước nửa nhà nước”: là nhà nược đại diện
cho đại bộ phận nhân dân, là công cụ để nhân dân lao động, trấn áp các phần tử phản động.
2. Hình thức Nhà nước
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và phương pháp
để thực hiện quyền lực nhà nước.
Các yếu tố cấu thành hình thức nhà nước: Hình thức chính thể, hình thức cấu
trúc nhà nước, chế độ chính trị
* Hình thức chính thể:
+ Là cách thức và trình tự thành lập cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước,
xác lập mối quan hệ giữa cơ quan đó với cơ quan cao cấp khác và với nhân dân
+ Có 2 hình thức chính thể:
- Chính thể quân chủ: là hình thức chính thể mà ở đó quyền lực tối cao
của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà
nước theo nguyên tắc thừa kế, thường giữ chức vụ suốt đời
+ Chính thể quân chủ tuyệt đối: quyền lực tối cao của nhà nước tập trung
toàn bộ trong tay người đứng đầu nhà nước là vua, gồm cả quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Hình thức chính thể này tồn tại chủ yếu ở các nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến.
+ Chính thể quân chủ hạn chế: hình thức mà ở đó quyền lực tối cao của
nhà nước nằm một phần trong tay người đứng đầu nhà nước, bên cạnh đó có cơ
quan khác cùng chia sẻ quyền lực
- Chính thể cộng hòa: là chính thể mà cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất được lập ra bởi nhân dân theo con đường bầu cử, hoạt động theo nhiệm kỳ.
+ Cộng hòa quý tộc: có cơ quan quyền lực cao nhất được lập ra bởi giới
quý tộc; tồn tại trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, ở các thành thị cào cuối chế độ phong kiến
+ Cộng hòa dân chủ: có cơ quan quyền lực cao nhất được lập ra bởi nhân
dân; đã từng tồn tại ngay trong nhà nước chủ nô (cộng hòa dân chỉ chủ nô ở
Athen) và phát triển hơn ở các nhà nước sau này với các hình thức rất đa dạng, phức tạp. * Hình thức cấu trúc
+ Là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước theo các đơn vị hành chính - lãnh
thổ và xác lập mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước với nhau
+ Có 2 hình thức cấu trúc nhà nước
- Nhà nước đơn nhất: là nhà nước có chủ quyền chung, có một hệ thống
pháp luật, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương
- Nhà nước liên bang: là nhà nước do từ hau hay nhiều nước thành viên có
chủ quyền hợp lại. Nhà nước liên bang có 2 hệ thống cơ quan quyền lực và quản
lý: một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước
thành viên. Nhà nước liên bang có chủ quyền chung đồng thời, mỗi nhà nước là
thành viên của liên bang cũng có chủ quyền riêng mình
* Chế độ chính trị: là tổng thể các phương pháp, thủ đoạn mà giai cấp cầm
quyền sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước
+ Chế độ dân chủ: tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước phải tuân theo quy
định của pháp luật, các chủ thể pháp luật bình đẳng với nhau khi tham gia vào
các công việc của nhà nước. Đề cao quyền lực thuộc về số đông nhân dân lao
động, không ngừng mở rộng khả năng tham gia của người dân vào đời sống chính trị đất nước.
+ Chế độ phản dân chủ: thực thi quyền lực nhà nước, quản lý xã hội theo tư
tưởng cực đoan, phản tiến bộ, đi ngược lại các quyền từ do dân chủ của con
người, lạm dụng bạo lực.
IV. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Bản chất và chức năng của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam * Về bản chất
+ Bản chất giai cấp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
thể hiện là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước ta là
sảm phẩm do nhân dân lập ra từ sau thành công của Cách mạng tháng Tám vẫn
được duy trì và phát triển. Nhân dân thường kỳ, theo pháp luật bầu cử, thực hiện
quyền bầu cử phổ thông để lập ra Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Trên
cơ sở đó, hình thành bộ máy nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ
của nhà nước, Nhà nước được nhân dân lập ra, nên cũng do nhân dân làm chủ và
hoạt động vì mục đích bảo vệ địa vị, quyền lợi của nhân dân.
+ Bản chất xã hội: Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề
an sinh xã hội: Việc làm, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe
của nhân dân, giúp đỡ người già cô đơn, trẻ mồ côi,… Nhà nước coi việc giải
quyết các vấn đề an sinh xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong
bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay. * Về chức năng
+ Chức năng đối nội:
- Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế trở thành chức năng đối nội quan
trọng nhất của nhà nước. Thực hiện được chức năng này, nhà nước phải xây
dựng những chính sách và tiến hành các hoạt động phù hợp để phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống của nhân dân.
- Ngoài ra chức năng đối nội còn thể hiện ở những việc như: bảo vệ đất
nước; giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội; xây dựng nền văn hóa
mới; tổ chức và quản lý giáo dục; phát triển y tế, chăm lo cho sức khỏe của nhân
dân; phát triển khoa học và công nghệ; tăng cường khối đoàn kết dân tộc; bảo vệ
môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó thảm họa… Mục đích của chức
năng này là mang lại lợi ích cho đại bộ phận nhân dân lao động trong xã hội.
+ Chức năng đối ngoại:
- Nhà nước thực hiện chính sách hòa bình, hợp tác với tất cả các nước trên cơ
sở tôn trọng độc lập, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các
bên bình đẳng cùng có lợi. Quan hệ hợp tác quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, khoa học công nghệ, an ninh, môi trường,…
2. Bộ máy nhà nước Việt Nam
a. Thực hiện theo nguyên tắc:
+ Pháp chế xã hội chủ nghĩa
+ Đảm bảo chủ quyền nhân dân
+ Quyền lực nhà nước là thống nhất
+ Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng cộng sản VN + Tập trung dân chủ
b. Bộ máy nhà nước chủ nghĩa xã hội VN
* Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) + Quốc hội:
- Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhât của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN. Quốc hội là cơ quan đại biểu
cao nhất của Nhân dân vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra.
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất vì Quốc hội là nơi tập trung
thống nhất những quyền lực được nhân dân cả nước giao phó.
- Quốc hội có các chức năng cơ bản sau: Thực hiện quyền lập hiến, lập
pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (chính sách cơ bản về đối
nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước);
giám sát tối cao đối với những hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước + Hội đồng nhân dân:
- Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa
phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân
địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
- Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Hội đồng nhân dân là 05 năm. * Chủ tịch nước
+ Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa VN về đối nội và đối ngoại. Về đối nội, Chủ tịch nước có quyền công
bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh; thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân cà
giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức các chức vụ cao cấp của nhà nước; công bố quyết định tuyên bố tình
trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp… Về đối ngoại, Chủ tịch nước có quyền
tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; bổ nhiệm, miễn nhiệm
cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ;
đàm phán, ký kết Điều ước quốc tế nhân danh nhà nước; quyết điingh cho nhập
quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch VN…
* Cơ quan quản lý Nhà nước (Cơ quan hành chính Nhà nước)
+ Chính phủ: là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa VN, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
- Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ thống nhất quản lý
các lĩnh vực của đời sống xã hội; bảo đảm hiệu lực bộ máy nhà nước từ trung
ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật;
bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.
- Là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ có trách nhiệm tổ
chức thực hiện Hiến pháp, Luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quyết định của Chủ tịch nước.
- Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ do Quốc hội thành lập,
thực hiện các nhiệm vụ do Quốc hội giao, báo cáo công tác với Quốc hội, chịu
trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao trước Quốc hội.
+ Ủy ban nhân dân: do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành
của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách
nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan
hành chính nhà nước cấp trên.
- Ủy ban nhân dân gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch và các ủy viên, số lượng cụ
thể Phó chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định. Nhiệm kỳ của
ủy ban nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
* Tòa án nhân dân: là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN,
thực hiện quyền tư pháp”
+ Là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN, Tòa án nhân danh
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân
và gai đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc
khác theo quy định của pháp luật.
+ Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
+ Hệ thống tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao, tòa án nhân dân cao
cấp, tòa án nhân dân cấp tỉnh, toàn án nhân dân cấp huyện, tòa án quân sự.
* Viện kiểm sát nhân dân: thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
+ Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội,
được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
+ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm
sát tình hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong hoạt động tư pháp.
+ Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự các cấp.
IV. Nguồn gốc, đặc điểm của pháp luật
1. Nguồn gốc của pháp luật
Pháp luật chỉ xuất hiện khi cơ sở kinh tế, xã hội đã đạt đến trình độ nhất định.
Pháp luật từng bước được hoàn thiện phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và
khả năng nhận thức của con người. Pháp luật được hình thành bằng các con đường sau:
+ Giai cấp thống trị thông qua nhà nước chọn lọc, thừa nhận các quy tắc xử sự
thông thường phổ biến trong xã hội nâng lên thành các quy định pháp luật.
+ Nhà nước thông qua các cơ quan của mình ban hành các quy phạm mới.
+ Nhà nước thừa nhận các cách xử lý đã được đặt ra trong quá trình xử lý các sự
kiện thực tế, thông qua các quyết định áp dụng pháp luật (của tòa án hoặc cơ
quan hành chính) như những quy định chung (pháp luật) để áp dụng cho các
trường hợp tương tự sau đó.
⇒ Khái niệm: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung,
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các
mối quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.
2. Đặc điểm của pháp luật
* Pháp luật có tính quy phạm phổ biến: Các quy định của pháp luật là các
khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi chủ thể trong xã hội.
Bất kỳ ai, ở điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã dự liệu đều xử sự theo cách thức
mà pháp luật đã nêu ra. Dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ thể
trong xã hội biết được làm gì, không được làm gì hoặc làm như thế nào khi ở
vào điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã dự liệu.
* Pháp luật mang tính quyền lực nhà nước: Pháp luật do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện. Việc pháp luật được đảm bảo thực thi
trong đời sống xã hội chính là việc đảm bảo cho quyền lực nhà nước được tác
động đến mọi thành viên của xã hội. Pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện đối
với mọi chủ thể trong xã hội, bất kỳ chủ thể nào khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh
quy phạm đã dự liệu đều phải thực hiện theo đúng yêu cầu của pháp luật, nếu
không, hành vi của chủ thể bị coi là vi phạm pháp luật.
* Pháp luật có tính hệ thống: Pháp luật là một hệ thống gồm tổng thể các quy
phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất và chặt chẽ với nhau, được
phân định thành cá chế định pháp luật và được thể hiện trong ác hình thức pháp luật.
* Pháp luật có tính xác định về hình thức: Pháp luật thường được thể hiện
trong những hình thức nhất định, có thể là tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn
bản quy phạm pháp luật. Trong đó, các văn bản quy phạm pháp luậy có những
hình thức cụ thể như Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định,…
VI. Kiểu pháp luật, hình thức pháp luật 1. Kiểu pháp luật
Kiểu pháp luật là tổng thể những dấu hiệu, đặc thù cơ bản của pháp luật thể
hiện bản chất giai cấp và điều kiện tồn tại của pháp luật trong một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
Theo quan điểm của Học thuyết Mác-Leenin, tương ứng với các hình thái kinh
tế - xã hội, trong lịch sử có 4 kiểu pháp luật:
* Kiểu pháp luật chủ nô: là kiểu pháp luật ra đời sớm nhất trong lịch sử, cùng
với sự ra đời của nhà nước chủ nô. Được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu về
tư liệu sản xuất và mâu thuẫn đối kháng gay gắt giữa chủ nô với nô lệ.
+ Pháp luật chủ nô được hình bằng con đường thừa nhận các phong tục, tập
quán, quy tắc đạo đức và tín điều tôn giáo trong xã hội. + Đặc trưng:
- Tạo cơ sở pháp lý cho việc củng cố và bảo vệ quan hệ sản xuất chiếm hữu nô
lệ, hợp pháp hóa sự bóc lột của chủ nô đối với nô lệ
- Quy định một hệ thống hình phạt và phương thức thi hành hình phạt hết sức dã man
- Ghi nhận tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và gia đình.
- Có tính tản mạn, thiếu thống nhất
* Kiểu pháp luật phong kiến: được xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân
của địa chủ, quý tộc, phong kiến về tư liệu sản xuất mà chủ yếu là ruộng đất với
cơ sở xã hội là mâu thuẫn giữa quý tộc phong kiến với nông dân. + Đặc trưng:
- Xác lập và bảo vệ trật tự đẳng cấp, đồng thời bảo bệ những đặc quyền của các
đẳng cấp trên trong xã hội
- Dung túng cho việc tùy tiện sử dụng bạo lực của những kẻ nắm quyền trong xã hội
- Quy định hệ thống hình phạt và cách thức thi hành hình phạt một cách dã man, hà khắc
- Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tôn giáo, phong tục, đạo đức phong kiến và
không có tính thống nhất
* Kiểu pháp luật tư sản: được xây dựng trên cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa, với cơ sở xã hội dựa trên quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. + Đặc trưng:
- Ghi nhận và bảo vệ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa
- Mang tính dân chủ, thừa nhận về mặt pháp lý quyền tự do, bình đẳng của công dân
- Bảo vệ sự thống trị về chính trị và tư tưởng của giai cấp tư sản trong xã hội
- Hệ thống pháp luật đầy đủ, kỹ thuật lập pháp cao
* Kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa: được xây dựng trên cơ sở kinh tế là quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cơ sở xã hội là sự liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. + Đặc trưng:
- Thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng lãnh đạo
- Đang ngày một hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh xã hội
- Phản ánh các chuẩn mực đạo đức xã hội đồng thời góp phần củng cố, bảo vệ các chuẩn mực đó 2. Hình thức pháp luật
Hình thức pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, là cách thức mà
nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành pháp luật
Pháp luật có 3 hình thức cơ bản:
* Tập quán pháp: là quy tắc xử sự đã tồn tại trong xã hội dưới dạng phong tục
tập quán, đạo đức, các tín điều tôn giáo nhưng phù hợp với ý chí của nhà nước
nên được nhà nước thừa nhận thành pháp luật
* Tiền lệ pháp hay án lệ: là những bản án, quyết định của chủ thể có thẩm
quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được nhà nước thừa nhận làm khuôn
mẫu để giải quyết các vụ việc khác tương tự. Tiền lệ pháp hay án lệ là kết quả từ
hoạt động của cơ quan xét xử và cơ quan nhà nước khác
* Văn bản quy phạm pháp luật: là văn bản do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân
có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy
định, trong đó có các quy phạm được nhà nước bảo đảm thực hiện hay các quy
phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục đích của nhà nước. Đây
là hình thức pháp luật quan trọng nhất vì đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, minh
bạch, dễ thống nhất, được đề cập thường xuyên theo sự thay đổi của đời sống xã hội VII. Quan hệ pháp luật
1. Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là những quan hệ nảy sinh trong xã hội được pháp luật điều chỉnh.
Đặc điểm của quan hệ pháp luật: là những căn cứ, dấu hiệu phân biệt quan hệ
pháp luật với các quan hệ xã hội khác
* Quan hệ pháp luật mang tính ý chí: Lựa chọn các quan hệ xã hội để điều
chỉnh, và cách thức điều chỉnh quan hệ xã hội đó như thế nào là phụ thuộc vào ý
chí của nhà nước (cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Mặt khác,
quan hệ pháp luật được hình thành, thay đổi, chấm dút còn phụ thuộc vào ý chí các bên tham gia.
* Quan hệ pháp luật xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các quy phạm pháp
luật: Quy phạm pháp luật là một trong những điều kiện làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quan hệ pháp luật. Pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phổ
biến, cơ bản, có ảnh hưởng rộng đến đời sống xã hội nên trong đời sống xã hội
vẫn tồn tại nhiều quan hệ xã hội không chịu tác động của quy phạm pháp luật
mà thực hiện theo các quy tắc xã hội khác như đạo đức, tôn giáo, quy chế của tổ chức, đoàn thể,…
* Nội dung của quan hệ pháp luật biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp
lý cụ thể của cá bên tham gia quan hệ: Quan hệ pháp luật được hình thành bởi
ít nhất 2 chủ thể, quan hệ giữa các chủ thể nhằm đạt được những lợi ích nhất
định, vì vậy, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm đảm bảo
cho các quan hệ pháp luật diễn ra đúng theo ý chí của Nhà nước.
2. Cấu thành của quan hệ pháp luật
a. Chủ thể quan hệ pháp luật: là các cá nhân và tổ chức tham gia quan hệ pháp
luật với những quyền và nghĩa vụ pháp lý xác định. Để trở thành chủ thể của
quan hệ pháp luật, cá nhân và tổ chức phải có năng lực chủ thể. Năng lực chủ
thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật.
* Năng lực pháp luật: là khả năng của chủ thể được hưởng quyền và thực hiện
nghĩa vụ pháp lý khi tham gia quan hệ pháp luật. Mỗi chủ thể khi tham gia các
quan hệ pháp luật khác nhau sẽ có khả năng hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ
khác nhau do pháp luật quy định. Năng lực pháp luật là yếu tố mang tính chất
thụ động, phụ thuộc vào ý chí của nhà nước – thể hiện qua các quy định của pháp luật.
* Năng lực hành vi pháp luật: là khả năng mà các chủ thể bằng hành vi của
mình xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật cụ thể.
Năng lực hành vi pháp luật mang tính chủ động. Các chủ thể của quan hệ pháp
luật tự bản thân mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quy
định. Khi một chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, chủ thể được tự mình tham
gia quan hệ pháp luật để hưởn quyền hoặc làm nghĩa vụ trong quan hệ đó.
* Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật:
+ Cá nhân: bao gồm công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch
- Công dân là cá nhân mang quốc tịch của một nước và mang các quyền, nghĩa
vụ pháp lý theo quy định pháp luật nước đó. Công dân là chủ thể phổ biến của quan hệ pháp luật.
- Người nước ngoài là cá nhân sinh sông tại một quốc gia nhưng lại mang quốc tịch của quốc gia khác.
- Người không quốc tịch là cá nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia
nào. Người không quốc tịch là thực trạng pháp lý của một cá nhân có thể do
nhiều nguyên nhân: cá nhân xin thôi quốc tịch nước này để gia nhập quốc tịch
nước khác, trong thời gian chờ gia nhập quốc tịch nước mới, họ là người không
quốc tịch; cá nhân được sinh ra do sự xung đột pháp luật quốc tịch giữa các quốc gia;…
+ Tổ chức: phải có đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ pháp luật
- Được thành lập theo quy định của pháp luật
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
b. Khách thể của quan hệ pháp luật: là những lợi ích mà các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật hướng tới khi tham gia quan hệ đó. Khách thể của quan hệ
pháp luật rất đa dạng, có thể là những lợi ích vật chất (tiền, nhà, đất đai, phương
tiện vận chuyển, tư liệu sản xuất,…) hoặc lợi ích phi vật chất thỏa mãn các nhu
cầu về tinh thần (quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, uy tín, danh tiếng,…) hoặc
thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch vụ của một chủ thể (chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vận chuyển,…)
c. Nội dung của quan hệ pháp luật: bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
* Quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức mà
pháp luật cho phép. Bao gồm: chủ thể có thể tự thực hiện những hành vi nhất
định, bằng hành vi của mình, chủ thể tự tiến hành cách xử sự mà pháp luật cho
phép; có thể yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ của quan hệ phải thực hiện những hành
động cụ thể đảm bảo quyền của mình trong quan hệ, yêu cầu chủ thể phía bên
kia chấm dứt việc thực hiện hành vi trái pháp luật xâm hại tới quyền và lợi ích
chính đáng của mình; có thể yêu cầu nhà nước can thiệp để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp khi quyền và lợi ích đó bị xâm hại.
* Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là các xử sự mà chủ thể của quan hệ pháp luật
bắt buộc phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia trong
quan hệ. Bao gồm: nghĩa vụ phải thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất
định; nghĩa vụ không được thực hiện một hoặc một số hoạt động nhất định; phải
chịu trách nhiệm khi không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với phía bên kia.
VIII. Thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) thực tế hợp
pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.
1. Đặc điểm của thực hiện pháp luật
+ Thực hiện pháp luật là hành vi xác định hay xử sự thực tế của con người. Pháp
luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh
suy nghĩ hay tư tưởng của họ. Hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể được
thể hiện dưới dạng hành động (những lời nói, cử chỉ, động tác nhất định) hoặc
không hành động (không thực hiện những cử chỉ, động tác, lời nói nhất định mà pháp luật cấm)
+ Thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu của pháp luật
+ Thực hiện pháp luật phải là xử sự của các chủ thể có khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi, có năng lực hành vi pháp luật
+ Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân, tổ chức trong xã
hội. Thực hiện pháp luật trước hết là nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong xã
hội để đảm bảo một trật tự xã hội cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của mọi thành viên trong xã hội
2. Các hình thức thực hiện pháp luật
+ Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp
luật kiềm chế, không tiến hành những hành vi mà pháp luật cấm
+ Thi hành pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp
luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng các hành động tích cực
+ Sử dụng (vận dụng) pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật. Vì đây
là hình thức thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép nên chủ thể có thể thực
hiện hoặc không thực hiện quyền của mình
+ Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước thông
qua các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền, tổ chức cho các
chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc ra các quyết định
làm phát sinh, thau đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. IX. Vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
+ Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người. Những gì còn nằm trong
ý nghĩ, tư tưởng của con người mà chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể làm
biến đổi thế giới khách quan, không có khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ
xã hội nên không thể coi là vi phạm pháp luật được
+ Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật. Vi phạm pháp luật là xử sự trái
với các yêu cầu của pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới các
hình thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, chủ thể không thực
hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện
+ Vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý.
Một hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không có năng lực trách
nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật
+ Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi là vi
phạm pháp luật khi chủ thể điều khiển được hành vi của mình và nhận thức
được hậu quả của hành vi đó. Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có
lỗi của chủ thể thì mới bị coi là vi phạm pháp luật
2. Cấu thành của vi phạm pháp luật: được hiểu là những yếu tố hợp thành một
vi phạm pháp luật cụ thể. Bao gồm 4 yếu tố:
+ Mặt khách quan: là những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan
của vi phạm pháp luật. Nó bao gồm các yếu tố: hành vi trái pháp luật gây hậu
quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy
hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm
+ Mặt chủ quan: là thái độ hay trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể khi thực
hiện hành vi trái pháp luật, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích vi phạm pháp luật.
Lỗi là thái độ hay trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật và
đối với hậu quả của hành vi đó. Lỗi được thể hiện dưới 2 hình thức: lỗi cố ý
hoặc lỗi vô ý. Động cơ vi phạm pháp luậy là động lực tâm lý bên trong thúc đẩy
chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật. Mục đích vi phạm pháp luật là kết quả
trong ý thức chủ quan mà chủ thể đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật.
+ Chủ thể: là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý và đã thực hiện
hành vi trái pháp luật, có lỗi.
+ Khách thể: là quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại.
3. Các loại vi phạm pháp luật
+ Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): là loại vi phạm pháp luật có tính nguy
hiểm cho xã hội cao nhất
+ Vi phạm hành chính: là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo
quy định của pháp luậy phải bị xử phạt vi phạm hành chính
+ Vi phạm dân sự: là hành vi trái pháp luật và có lỗi của chủ thể có năng lực
trách nhiệm dân sự xâm hại tới các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản
+ Vi phạm kỷ luật: là hành vi có lỗi của chủ thể trái với các quy chế, quy tắc xác
lập trật tự trong nội bộ cơ quan, tổ chức, tức là không thực hiện đúng kỷ luật lao
động, học tập, công tác hoặc phục vụ được đề ra trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó
IX. Hệ thống quy phạm pháp luật
1. Khái niệm, đặc điểm của quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận
và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo định hướng và nhằm
đạt được những mục đích nhất định.
Đặc điểm: Mang đầy đủ các đặc tính của pháp luật
+ Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung
+ Quy phạm pháp luật mang tính quyền lực nhà nước (tính bắt buộc chung)
+ Quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong đời sống
2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật
Thông thường quy phạm pháp luật gồm 3 bộ phận cấu thành là: giả định, quy định và chế tài.
+ Giả định: là bộ phận nêu lên (dự liệu) điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong
đời sống và khi chủ thể ở vào điều kiện, hoàn cảnh đó sẽ phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật.
- Giả định giản đơn: chỉ nêu một hoàn cảnh, điều kiện
- Giả định phức tạp: nêu lên nhiều điều kiện, hoàn cảnh khác nhau
+ Quy định: là bộ phận nêu lên cách xử sự mà các chủ thể khi ở vào điều kiện,
hoàn cảnh quy phạm pháp luậy đã giả định được phép hoặc bắt buộc phải thực
hiện. Phần quy định của quy phạm pháp luật chính là mệnh lệnh của nhà nước,
trực tiếp thể hiện ý chí của nhà nước, thường được nêu ở các dạng: có thể, có
quyền, cấm, được, không được, phải, có nghĩa vụ,…
- Quy định bắt buộc: nêu ra 1 cách xử sự để chủ thể phải tuân theo mà không có sự lựa chọn nào khác
- Quy định tùy nghi: nêu ra 1 số cách xử sự để chủ thể lựa chọn
+ Chế tài: là bộ phận của quy phạm pháp luật dự kiến về những biện pháp được
áp dụng đối với chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh quy phạm pháp luật đã
giả định mà không thực hiện đúng quy định của quy phạm pháp luật
- Chế tài cố định: nêu chính xác biện pháp tác động sẽ áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật
- Chế tài không cố định: chỉ nêu lên mức cao nhất và mức thấp nhất của biện pháp tác động
XI. Đặc điểm của hành vi tham nhũng, tác hại của tham nhũng
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó vì vụ lợi.
1. Đặc điểm của hành vi tham nhũng
+ Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn
+ Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao
+ Mục đích của hành vi tham nhũng là vì vụ lợi
2. Tác hại của tham nhũng + Tác hại về chính trị
- Nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước bị các cán bộ, công chức, viên chức
lợi dụng phục vụ cho các mục đích cá nhân đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sự phát triển chung của đất nước
- Làm ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế, làm giảm lòng tin
của các nhà tài trợ khi mà nguồn viện trợ cho các dự án cũng như sự ủng hộ của
các quốc gia cho nước ta bị thất thoát
- Ảnh hưởng xấu đến những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về mọi
mặt kinh tế, chính trị, xã hội + Tác hại về kinh tế
- Làm thất thoát những khoản tiền lớn trong xây dựng do phải chi phí cho việc
đấu thầu, cấp vốn, thanh tra, kiểm toán và hàng loạt các chi phí tiêu cực khác
- Gây tổn thất lớn cho nguồn thu của ngân sách nhà nước thông qua thuế
- Hành vi tham ô tài sản làm cho một số lượng lớn tài sản công trở thành tài sản
của một số cán bộ, công chức, viên chức
- Gây ảnh hưởn đến môi trường kinh doanh, làm giảm năng lực cạnh trnah của
các doanh nghiệp, làm chậm tốc độ tăng trường của nền kinh tế
- Gây thiệt hại đến tài sản của người dân, gây mất thời gian, làm đình trệ các
hoạt động sản xuất, kinh doanh + Tác hại về xã hội:
- Làm ảnh hưởng đến các giá trị, các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, làm
xuống cấp đạo đức của một bộ phận các bộ, đảng viên
- Làm xáo trộn trật tự xã hội