



















Preview text:
Chương 1: Những kiến thức cơ bản về nhà nước
1. Khái niệm: Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm
một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức
và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực
lượng cầm quyền trong xã hội.
2. Bản chất của Nhà nước
Bản chất của Nhà nước là những yếu tố đặc trưng cốt lõi Nhà nước được thể hiện ở hai khía cạnh: • Tính giai cấp Tại sao:
+ Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp.
+ Nhà nước ra đời nhằm bảo vệ và duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị. Biểu hiện:
+ Quyền lực nhà nước luôn thuộc về một giai cấp nhất định trong xã hội: giai cấp
thống trị, giai cấp cầm quyền
+ Nhà nước luôn ưu tiên quyền lợi trước hết cho giai cấp cầm quyền.
Nhà nước là công cụ giai cấp thống trị xã hội trên cả 3 phương diện:
+ Kinh tế: sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu
+ Chính trị: loại trừ sự phản kháng của giai cấp khác
+ Tư tưởng: áp đặt, duy trì hệ tư tưởng của giai cấp mình lên toàn xã hội • Tính xã hội Tại sao:
+ Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp. Sự tồn tại của giai cấp này là tiền
đề cho sự tồn tại của giai cấp khác và ngược lại.
+ Nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu quản lí, ổn định trật tự xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển. Biểu hiện:
+ Nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn quan tâm tới lợi ích của cộng đồng.
+ Nhà nước phải giải quyết các công việc chung mang tính xã hội như: xây dựng
các công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các dịch bệnh,...
+ Nhà nước thay đổi khi xã hội thay đổi.
3. Vị trí của Nhà nước trong xã hội có giai cấp
Nhà nước và xã hội có giai cấp là hai hiện tượng có quan hệ qua lại với nhau; giữa
chúng vừa có sự thống nhất lại vừa có sự khác biệt. Trong mối quan hệ qua lại giữa
chúng, xã hội giữ vai trò quyết định, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nhà
nước. Những biến đổi trong sự vận động và phát triển của xã hội sớm hay muộn
cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước. Ngược lại nhà nước cũng có
sự tác động mạnh mẽ tới sự phát triển mọi mặt của xã hội: định hướng, điều chỉnh, kìm hãm…
Nhà nước là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, nó là sản phẩm của một
chế độ kinh tế - xã hội nhất định. Sự phát triển của hạ tầng cơ sở quyết định sự
phát triển của nhà nước. Các điều kiện và yếu tố như đối sánh giai cấp mức độ gay
gắt của những mâu thuẫn xã hội, các đảng phái chính trị, các trào lưu chính trị
pháp lý... đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước. Đồng thời, nhà nước
luôn tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, đến những điều kiện và quá trình phát
triển của sản xuất xã hội cũng như đến các hiện tượng xã hội khác.
Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của mình, ngoài nhà
nước ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác nữa
trong đó đáng chú ý nhất là các đảng phái chính trị. So với các tổ chức chính trị xã
hội đó, nhà nước có một vai trò đặc biệt, nó nằm ở vị trí trung tâm giữa các tổ chức
chính trị xã hội, bởi vì chỉ nhà nước mới có các cơ quan đặc biệt cùng với các
phương tiện vật chất kèm theo như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tu... cho nên nó
có thể tác động một cách mạnh mẽ và toàn diện đến đời sống xã hội.
=> Kết luận: Trong XH có giai cấp, NN có vị trí đặc biệt vì NN có cơ sở kinh tế -
XH rộng lớn nhất, có quyền lực NN và có sức mạnh bạo lực
4. Đặc điểm của NN (dấu hiệu của NN) Nhà nước Tổ chức, đoàn thể XH
Có quyền lực công cộng đặc biệt
Có quyền lực trong phạm cộng đồng nhỏ.
Quản lý dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ
Không có quyền quản lý dân cư và lãnh thổ Có chủ quyền quốc gia Không có Ban hành PL Không có quyền
Quy định và thực hiện thu các loại thuế Không có quyền
Đặc điểm của Nhà nước là: (5 đặc điểm)
• Nhà nước có lãnh thổ và thực hiện sự quản lý dân cư theo đơn vị theo đơn vị hành chính lãnh thổ:
+ Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực, thực hiện sự quản lý dân cư theo
lãnh thổ quốc gia và trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
+ Nhà nước tổ chức dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào
huyết thống, nghề nghiệp, giới tính.
• Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt:
+ Quyền lực công đặc biệt là quyền lực do giai cấp thống trị thiết lập, phản ánh ý
chí, nguyện vọng của giai cấp đó, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
+ Duy trì đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị.
Nhà nước có chủ quyền quốc gia:
+ Chủ quyền quốc gia của nhà nước là quyền tối cao của nhà nước trong hoạt động
đối nội và độc lập trong hoạt động đối ngoại. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao thể hiện ở:
* Quyền lực nhà nước phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ
* Quyền lực nhà nước áp dụng đối với mọi đối tượng
• Nhà nước ban hành pháp luật để quản lí mọi mặt của đời sống xã hội.
• Nhà nước quy định và thu các loại thuế
+ Đảm bảo điều kiện vật chất cho bộ máy nhà nước.
+ Giải quyết các công việc chung của xã hội trong đối nội và đối ngoại.
5. Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CQ quyền lực CQ quản lý CQ tư pháp CQ Kiểm sát NN Trung ương - Quốc hội Chính phủ TAND tối cao Viện KSND Bộ, CQ ngang tối cao bộ, CQ thuộc CP Địa phương - HĐND các UBND các TAND các VKSND các cấp cấp, các sở, cấp cấp phòng, ban
*Các cơ quan trong bộ máy NN VN theo HP 1992:
a)Các cơ quan quyền lực NN: Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
- Quốc hội: là cơ quan quyền lực NN cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra với
nhiệm kì 5 năm, chịu trách nhiệm trước ND. Chức năng QH là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại nhất của quốc gia, bầu
ra các ca NN khác ở Trung ương và giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ quan NN.
- HĐND gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ
quan quyền lực NN ở địa phương được tổ chức ở 3 cấp, tỉnh huyện, xã.
b) Chủ tịch nước:
-“Là người đứng đầu NN, thay mặt nước CHXNCNVN về đối nối và đối ngoại”
- Do QH bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH - Là nguyên thủ QG
c)Các cơ quan quản lý NN gồm chính phủ và các UBND
+Chính phủ: là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chính NN cao nhất của nước CHXHCN VN,
- Đứng đầu là thủ tướng chính phủ do QH bầu trong số các đại biểu QH,
- Cơ cấu tổ chức: CP bao gồm các bộ và cơ quan ngang bộ là các cụ chuyên môn
quan lý từng ngành, lĩnh vực cụ thể -Tính chất:
Tính chấp hành: Tuân thủ PL, thực hiện quyết định của CQ cấp trên
Tính điều hành: nhân danh NN quản lý các lĩnh vực của XH
+ UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan hành chính NN ở địa
phương được tổ chức ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã.
d) Cơ quan xét xử
- Thay mặt NN xét xử các vụ việc.
-Tổ chức TAND: 4 cấp: Đứng đầu là Tòa án nhân dân tối cao, thấp hơn về phía
dân sự thì là TAND cấp tỉnh TAND cấp huyện, còn về phía quân sự là TA quân
sự Trung ương TA quân sự quân khu và tương đương TA quân sự khu vực.
- Xét xử: 2 cấp (Sơ thẩm và Phúc thẩm)
- Bản án của Tòa án đã có hiệu lực có thể xét xử lại theo thủ tục Tái thẩm và Giám đốc thẩm
e) Các cơ quan kiểm sát
- Chức năng: các cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố.
- Đứng đầu là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thấp hơn về phía dân sự là VKSND
cấp tỉnh - VKSND cấp huyện, còn về phía quân sự là VKS quân sự Trung ương -->
VKS quân sự quan khu và tương đương --> VKS quân sự khu vực.
6. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ, giữa Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân, giữa Quốc hội và Chủ tịch nước
6.1. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ.
a. Về sự hình thành.
Quốc hội thành lập ra chính phủ chứ chính phủ không thể thành lập ra quốc hội.
Trên cơ sở hình thành của mối quan hệ này thì chỉ có một chiều như vậy.
Đồng thời với việc bầu và phê chẩn quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối
với tất cả các chức danh thuộc chính phủ, đối với chức danh thủ tướng chính phủ
thì trên cơ sở đề nghị của chủ tịch nước hoặc ủy ban thường vụ quốc hội.
Quốc hội có quyền quyết định chính phủ có bao nhiêu bộ cơ quan ngang bộ theo
đề nghị của thủ tướng chính phủ cho hợp với thực tế đời sống và hoạt động có hiệu quả nhất. b. Về hoạt động.
Quốc hội ban hành hiến pháp , luật , nghị quyết, chính phủ chịu trách nhiệm tổ
chức triển khai thực hiện, trên cơ sở hiến pháp, luật và nghị quyết của quốc hội.
Chính phủ có nhiệm vụ quản lý xã hội đồng thời chính phủ ban hành các văn bản
hướng dẫn thi hành luật của quốc hội cho các cơ quan nhà nước khác.
Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền
đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, thủ tướng Chính phủ; bãi bỏ văn bản
của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền giám sát hoạt động của Chính phủ.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ, người bị chất
vấn phải trả lời chất vấn trước Quốc hội tại kì họp, trong trường hợp cần điều tra
thì Quốc hội cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau hoặc gửi văn bản trả lời.
Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ
tướng Chính phủ, Chính phủ, và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công, phụ trách.
6.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- UBND là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ chính là “chấp hành” HĐND cùng cấp.
- HĐND bầu ra UBND cùng cấp.
- Chủ tịch HĐND giới thiệu cá nhân thuộc HĐND để HĐND bầu ra chức chủ tịch UBND cùng cấp.
- Các thành viên khác của UBND được HĐND bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ
tịch UBND và được phê chuẩn bởi UBND cấp trên trực tiếp.
- HĐND có quyền giám sát UBND cùng cấp.
- UBND có trách nhiệm triển khai thực hiện các Nghị quyết của HĐND.
- UBND có quyền xây dựng các đề án trình HĐND xem xét
6.3. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chủ tịch nước
Về mối quan hệ với Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (có sửa đổi, bổ sung) và Luật
tổ chức Quốc hội hiện hành có những quy định cơ bản sau:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu (trong số đại biểu Quốc hội), miễn nhiệm và bãi
nhiệm, với nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội.
Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chủ tịch nước trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc
kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật,
Nghị quyết của Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời
trước Quốc hội tại kì họp, trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết
định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội
hoặc cho trả lời bằng văn bản.
Chương 2: Những kiến thức cơ bản về pháp luật
1. Khái niệm: Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.
2. Đặc điểm của pháp luật
• Pháp luật có tính quy phạm phổ biến
Sự thể hiện: pháp luật có
+ Tính quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực
được xã hội công nhận và làm theo.
+ Tính quy phạm phổ biến: Pháp luật có tính bao quát rộng khắp hơn so với các
quy phạm khác: pháp luật áp dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ, áp dụng với mọi chủ thể.
Về nguyên tắc: Pháp luật có thể điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội. Tuy nhiên,
pháp luật chỉ lựa chọn điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản quan trọng đã phát
triển tới mức phổ biến, điển hình.
Tại sao: + Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt trên phạm vi toàn lãnh thổ,
áp dụng với mọi đối tượng.
Ví dụ: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế
• Pháp luật có tính quyền lực nhà nước (tính cưỡng chế)
Tại sao: Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, cho nên pháp luật phải
được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước. Sự thể hiện:
+ Nhà nước đảm bảo cho pháp luật có tính bắt buộc chung. Đây không phải là sự
bắt buộc chung chung trừu tượng mà là sự bắt buộc với mọi chủ thể cùng tham gia
một quan hệ xã hội nhất định do pháp luật điều chỉnh.
+ Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng nhiều biện pháp khác nhau và sử
dụng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết.
• Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Sự thể hiện: + Pháp luật phải tồn tại dưới hình thức nhất định.
+ Nội dung pháp luật phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý, cụ thể, rõ ràng,
chính xác, dễ hiểu và một nghĩa.
+ Các văn bản pháp luật phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Tại sao:
+ Giảm thiểu lỗ hổng trong pháp luật.
+ Giúp cho chủ thể thực hiện pháp luật dễ dàng, hiệu quả hơn.
Ví dụ: Pháp luật thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, có thể là
tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm pháp luật.
Hiến pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành
Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành
• Pháp luật có tính hệ thống:
Các quy định PL được sắp xếp theo một hệ thống, với giá trị pháp lý cao thấp khác nhau
Các quy định PL có mối quan hệ nội tại, thống nhất
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có vị trí cao hơn sẽ có giá trị pháp lý lớn hơn
Các quy phạm PL được chia thành các chế định
• Pháp luật mang tính ý chí:
PL luôn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, kể cả PL hình thành từ con đường tập quán
3. Vai trò của pháp luật
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước
Thông qua pháp luật, các cơ quan nhà nước được xác định về tên gọi, trình tự
thành lập, cơ cấu tổ chức. Đồng thời, pháp luật cũng xác định luôn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, xác định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà
nước với nhau, xác định mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của các quan nhà nước.
Pháp luật góp phần tổ chức, quản lý xã hội
Thông qua hệ thống pháp luật, nhà nước xác định rõ chế độ kinh tế, các chính sách
phát triển xã hội, điều tiết các nguồn lực xã hội... Mặt khác, pháp luật thể chế hóa
các đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hành lang pháp lý
phù hợp nhằm đảm bảo sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới
Không chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phổ biến đang tồn tại mà còn có vai trò
dự báo, định hướng cho những quan hệ xã hội có thể và cần xuất hiện trong tương
lai. Để thực hiện được vai trò này, hoạt động của cơ quan nghiên cứu, soạn thảo,
ban hành pháp luật phải đảm bảo tính khoa học, dự báo được chính xác và lâu dài
xu hướng phát triển của xã hội.
VD: quy định PL tạo môi trường kinh doanh cho các lĩnh vực kinh doanh mới
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị, hợp tác quốc tế
Thông qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế, quy định trình tự, thủ tục ký kết,
phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế; quy định trình tự, thủ tục thiết lập quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác... , pháp luật là cơ sở pháp lý cần thiết cho việc
thiết lập và thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế. Quá trình nội luật hóa các quy định
của luật pháp quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành
lang pháp lý an toàn cho các quan hệ hợp tác và phát triển, thu hút hoạt động hợp
tác đầu tư từ các nhà đầu tư của các quốc gia khác vào thị trường để thúc đẩy sự
phát triển kinh tế đất nước.
4. Hình thức pháp luật
Hình thức của pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, là cách thức mà
nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành pháp luật.
Pháp luật có ba hình thức cơ bản là: tập quán pháp, tiền lệ pháp (hay án lệ) và văn bản quy phạm pháp luật.
4.1. Tập quán pháp
Tập quán pháp là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng những phong tục, tập quán
đã được lưu truyền trong đời sống xã hội, được Nhà nước thừa nhận thành những
quy tắc xử sử mang tính bắt buộc đối với xã hội. Ưu điểm:
• Gần gũi với cuộc sống hàng ngày;
• Dễ tạo thói quen tuân thủ. Nhược điểm:
• Thiếu cơ sở khoa học;
• Không mang tính quy phạm phổ biến;
• Bảo thủ, khó thay đổi.
4.2. Tiền lệ pháp hay án lệ
Tiền lệ pháp (Án lệ) là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các phán quyết của
các chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được Nhà nước thừa
nhận làm khuôn mẫu cho việc giải quyết các vụ việc tương tự về sau.
Tiền lệ pháp hay án lệ là kết quả từ hoạt động của cơ quan xét xử (Tòa án hoặc
trọng tài) và cơ quan nhà nước khác. Ví dụ, bản án do Tòa án nhân tối cao đưa ra
khi giải quyết một vụ án tranh chấp đất đai đã được Nhà nước thừa nhận làm mẫu
để các tòa án khác phải tuân theo khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đại xảy ra
sau đó có nội dung tương tự. Ưu điểm:
• Án lệ kịp thời giải quyết các quan hệ xã hội pháp luật
• Án lệ mang tính thực tiễn cao
• Án lệ mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nhược điểm:
• Tính chất pháp lý không cao
• Án lệ không mang tính hệ thống
• Số lượng án lệ tăng nhiều qua các năm
• Hệ thống án lệ không ổn định
4.3. Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các văn bản
có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành
theo những trình tự, thủ tục và hình thức luật định, được Nhà nước đảm bảo thực
hiện và được sử dụng nhiều lần trong cuộc sống. Ưu điểm:
• Dễ phổ biến và kiểm soát; dễ thống nhất, dễ áp dụng, có thể được hiểu và thực
hiện thống nhất trên phạm vi rộng.
• Tính pháp lý, tính khoa học tương đối cao; • Rõ ràng, minh bạch.
• Có thể đáp ứng được kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống vì dễ sửa đối, bổ sung Nhược điểm:
• Các quy định của văn bản quy phạm pháp luật thường mang tính khái quát nên
khó dự kiến được hết các tình huống, trường hợp xảy ra trong thực tế , vì thế có thể
dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hay tạo ra những lỗ hổng, những khoảng trống trong pháp luật.
• Những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thường có tính ổn định tương
đối cao, chặt chẽ nên đôi khi có thể dẫn đến sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt.
• Chi phí xây dựng tốn kém;
• Cần ban hành các văn bản hướng dẫn
5. Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nó làm
cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và phải gánh
vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được
nhà nước đảm bảo thực hiện.
5.1. Đặc điểm của quan hệ pháp luật:
- Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí và được thể hiện:
+ Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó (cụ thể là các quan hệ hợp đồng.
VD: quan hệ mua bán của 2 bên)
+ Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp
luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của
nhà nước, Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với tư
cách là một chủ thể và việc tham gia vào quan hệ đó là hoàn toàn thể hiện ý chí của
nhà nước. (VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
- Quan hệ pháp luật xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các quy phạm pháp luật.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Như
vậy, một quan hệ xã hội chi trở thành quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp
luật tác động lên quan hệ đó và như vật chúng ta có thể hiểu: Quan hệ pháp luật
chính là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội.
Vì pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phổ biến, cơ bản, có ảnh hưởng rộng
đến đời sống xã hội nên trong đời sống xã hội, vẫn tồn tại nhiều quan hệ xã hội
không chịu sự tác động của quy phạm pháp luật mà thực hiện theo các quy tắc xã
hội khác như: đạo đức, tôn giáo, quy chế của tổ chức, đoàn thể...
- Nội dung của quan hệ pháp luật biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ
thể của các bên tham gia quan hệ
Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi các chủ
thể tham gia vào quan hệ đó tức là khi tham gia vào một quan hệ xã hội được điều
chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa
vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện.
Quyền và nghĩa vụ của các bên cũng có thể do các bên thỏa thuận trong khuôn khổ
pháp luật (ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao động), hoặc được
xác định bởi nhà nước (như trong quan hệ pháp luật hình sự, hành chính).
Quyền và nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bởi nhà nước với nhiều hình thức,
tính chất khác nhau: có những biện pháp bảo đảm mang tính bắt buộc, cưỡng chế,
nhưng cũng có những biện pháp bảo đảm mang tính cho phép, tùy nghi.
5.2. Cấu thành của quan hệ pháp luật
Cấu thành của quan hệ pháp luật là các bộ phận hợp thành quan hệ pháp luật. Một
quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các bộ phận: chủ thể, khách thể và nội dung.
Chủ thể của quan hệ pháp luật
Chủ thể của quan hệ pháp luật là các cá nhân và tổ chức tham gia quan hệ pháp
luật với những quyền và nghĩa vụ pháp lý xác định.
Tuy nhiên, để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, cá nhân và tổ chức phải có
năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật. Năng lực pháp luật
Năng lực hành vi pháp luật
Là khả năng của chủ thể được
Là khả năng mà các chủ thể
hưởng quyền và thực hiện nghĩa
bằng hành vi của mình xác lập
vụ pháp lý khi tham gia quan hệ
và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp luật.
trong một quan hệ pháp luật cụ
Là yếu tố mang tính chất thụ thể.
động, phụ thuộc vào ý chí của
Không mang tính thụ động mà
nhà nước – thể hiện qua các quy mang tính chủ động. định của pháp luật.
Do điều kiện chủ quan của cá
Tồn tại từ khi sinh ra – mất đi
nhân, tổ chức quyết định
Tồn tại trong điều kiện nhất định
về độ tuổi, nhận thức
Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật: Cá nhân
Cá nhân bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch.
Công dân là cá nhân mang quốc tịch của một nước và có các quyền, nghĩa vụ pháp
lý theo quy định của pháp luật nước đó. Công dân là chủ thể phổ biến của quan hệ pháp luật.
Người nước ngoài là cá nhân sinh sống tại một quốc gia nhưng lại mang quốc tịch của quốc gia khác.
Người không quốc tịch là cá nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.
Người không quốc tịch là thực trạng pháp lý của một cá nhân có thể do nhiều
nguyên nhân: cá nhân xin thôi quốc tịch nước này để gia nhập quốc tịch nước
khác, trong thời gian chờ gia nhập quốc tịch nước mới, họ là người không quốc
tịch; cá nhân được sinh ra do sự xung đột pháp luật quốc tịch giữa các quốc gia;
công bị tước quốc tịch theo quyết định có tính chất chế tài của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. ... Tổ chức Gồm:
Pháp nhân: Pháp nhân thương mại & PN phi thương mại
Tổ chức không phải pháp nhân
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện đồng thời cùng
một lúc khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp và mất đi khi tổ chức đó bị giải thể, phá sản.
Tổ chức phải có đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ pháp luật.
Trong các tổ chức, có nhóm tổ chức là pháp nhân khi thỏa mãn các điều kiện được
quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là: (1) Được thành lập theo quy
định của pháp luật; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá
nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh
mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân gồm có: pháp nhân
thương mại và pháp nhân phi thương mại.
Khách thể của quan hệ pháp luật
Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật hướng tới khi tham gia quan hệ đó.
Khách thể của quan hệ pháp luật rất đa dạng, có thể là những lợi ích vật chất (như:
tiền, nhà, đất đai, phương tiện vận chuyển, tư liệu sản xuất...) hoặc lợi ích phi vật
chất thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần (như: quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ,
uy tín, danh tiếng...); hoặc thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch vụ của một chủ thể
(chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vận chuyển...).
Nội dung của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể.
Quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức mà pháp luật cho phép.
Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua các khả năng sau:
+ Thực hiện một số hành vi trong khuôn khổ pháp luật quy định để thỏa mãn nhu cầu của mình;
+ Yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế không thực hiện những hành vi
nhất định: Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Nghĩa vụ pháp lý chủ thể là các xử sự mà các chủ thể của quan hệ pháp luật bắt
buộc phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia trong quan hệ.
Nghĩa vụ pháp lý bao hàm các yếu tố sau:
+ Chủ thể nghĩa vụ phải hành động hoặc kiềm chế không hành động;
+ Chủ thể nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.
Chương 3: Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nghiệm pháp lý 1. Vi phạm pháp luật
1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu sau:
- Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người. Những gì còn nằm trong ý
nghĩ, tư tưởng của con người mà chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể làm biến
đổi thế giới khách quan, không có khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội
nên không thể coi là vi phạm pháp luật được.
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật. Vi phạm pháp luật là xử sự trái với
các yêu cầu của pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới các hình
thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, chủ thể không thực hiện
những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện.
- Vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý. Một
hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không có năng lực trách nhiệm
pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm
pháp luật khi chủ thể điều khiển được hành vi của mình và nhận thức được hậu quả
của hành vi đó. Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì
mới bị coi là vi phạm pháp luật.
1.3. Các loại vi phạm pháp luật
Căn cứ để phân chia ra các loại vi phạm pháp luật:
– Căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật
– Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, chủ thể, khách thể
Vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau: Khái niệm Đặc điểm Chủ thể Các yếu tố Ví dụ cấu thành Vi phạm Vi phạm Tội
Cá nhân hoặc mặt khách buôn bán pháp luật pháp luật phạm là tổ chức có tư quan, ma túy,
hình sự (tội hình sự (tội hành vi cách pháp khách thể, ấu dâm, phạm) phạm) gây nguy nhân. mặt chủ giết thuộc loại hiểm cho Năng lực quan, chủ người, vi phạm xã hội. trách nhiệm
thể của tội hối lộ… pháp luật Hành vi hình sự: phạm. có tính gây nguy Độ tuổi: nghiêm hiểm cho Người đủ trọng nhất xã hội là từ 14 tuổi Tội phạm là hành vi - dưới 16 hành vi gây nên tuổi chỉ nguy hiểm hoặc có chịu trách cho xã hội, khả năng nhiệm có lỗi, trái thực tế hình sự về pháp luật gây nên tội phạm hình sự và thiệt hại rất chịu hình đáng kể nghiêm phạt. cho các trọng do quan hệ lỗi cố ý xã hội hoặc tội nếu phạm đặc không biệt được nghiêm ngăn trọng. ngừa. Người từ Tội đủ 16 tuổi phạm có trở lên hành vi phải chịu trái pháp trách luật hình nhiệm sự. hình sự về Là hành mọi vi được tội phạm
thực hiện Sức khỏe một cách bình có lỗi. thường. Là hành Không bị vi do chủ tòa án hạn thể có chế. năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và phải chịu hình phạt. Vi phạm Vi phạm
Là hành Cá nhân hoặc mặt khách Anh pháp luật pháp luật vi trái tổ chức có quan, NVA hành chính hành chính pháp luật năng lực khách thể, đầy đủ là hành vi hành trách nhiệm mặt chủ năng lực do cá nhân, chính. hành chính. quan, chủ chủ thể, tổ chức Hành vi Năng lực thể của vi tham gia thực hiện đó đi trách nhiệm phạm hành giao một cách cố ngược lại hành chính: chính. thông đã ý hoặc vô ý với yêu Độ tuổi: vượt đèn xâm phạm cầu của Người từ đỏ và bị các quy tắc pháp đủ 14 tuổi CSGT quản lý luật. nhưng lập biên Nhà nước Hành vi chưa đủ 16 bản xử mà không đó bị tuổi chỉ bị phạt phải là tội pháp luật áp dụng hành phạm hình cấm. trách chính. sự và theo Chủ thể nhiệm Khác: quy định không hành chính vượt đèn của pháp thực hiện đối với đỏ, đi luật phải bị hoặc những vi vào xử lý vi thực hiện phạm hành đường phạm hành không chính với ngược chính. đúng, lỗi cố ý. chiều… không Người từ đầy đủ đủ 16 tuổi những trở lên hành vi chịu trách mà pháp nhiệm luật bắt hành chính buộc đối với phải thực mọi vi hiện. phạm hành Là hành chính do vi được họ thực chủ thể hiện. thực hiện Người một cách dưới 14 có lỗi. tuổi không Là hành bị áp dụng vi do chủ các biện thể có pháp xử năng lực phạt hành trách chính mà nhiệm áp dụng hành các biện chính pháp tác thực hiện động xã và phải hội. chịu hình Sức khỏe phạt. bình thường. Không bị tòa án hạn chế. Là hành vi trái với quy tắc về quản lý hành chính Nhà nước không phải là tội phạm mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm Vi phạm Là hành
Cá nhân hoặc mặt khách Anh pháp luật pháp luật vi trái tổ chức có quan, NVA dân sự dân sự là pháp luật năng lực khách thể, đầy đủ hành vi trái dân sự, trách nhiệm mặt chủ năng lực pháp luật, xâm hại dân sự. quan, chủ chủ thể có lỗi, xâm tới quan Năng lực thể của vi nghi ngờ hại đến các
hệ tài sản trách nhiệm phạm pháp chị NTB quan hệ tài và quan dân sự: luật dân sự. ăn trộm sản và quan hệ nhân Độ tuổi: điện hệ nhân thân phát Người đủ thoại của thân phát sinh trong 18 tuổi trở mình, đã sinh trong giao lưu lên có năng có những giao lưu dân sự. lực hành vi lời lẽ xúc dân sự. Là hành đầy đủ, có phạm vi có lỗi. đầy đủ khả danh dự Do cá năng gánh nhân nhân, tổ chịu các phẩm chức có hình thức của chị năng lực trách nhiệm NTB. trách pháp luật Chị NTB nhiệm dân sự đã kiện dân sự dành cho anh thực hiện hành vi của NVA ra và phải họ gây ra. tòa. chịu áp Người đủ Khác: dụng các 15 tuổi đến xô xát chế tài dưới 18 làm hỏng dân sự. tuổi có tài sản năng lực nhà hành vi nước, sử một phần. dụng Người dưới hình ảnh 15 tuổi và cá nhân người bị chưa xin mất năng phép… lực hành vi là người không có năng lực trách nhiệm dân sự. Sức khỏe tốt. Không bị tòa án hạn chế.
Vi phạm kỉ Vi phạm kỉ Là hành
Do chủ thể mặt khách Anh luật luật là hành vi trái có năng lực quan, NVA vi trái pháp pháp luật
trách nhiệm khách thể, đầy đủ luật đã đã được
kỉ luật thực mặt chủ năng lực được cụ thể cụ thể hiện và quan, chủ chủ thể hóa trong hóa trong phải chịu thể của vi là lái xe nội quy, nội quy, áp dụng phạm kỉ cho cơ quy chế quy chế các chế tài luật. quan. hoạt động hoạt kỉ luật: Trong của cơ
động của Độ tuổi: từ thời gian quan, tổ cơ quan, đủ 15 tuổi làm việc, chức do tổ chức. trở lên. anh