Chương 1: Những kiến thức cơ bản về nhà nước
1. Khái niệm: Nhà nước một tổ chức quyền lực đặc biệt của hội, bao gồm
một lớp người được tách ra từ hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức
quản hội, phục vụ lợi ích chung của toàn hội cũng như lợi ích của lực
lượng cầm quyền trong hội.
2. Bản chất của Nhà nước
Bản chất của Nhà nước những yếu tố đặc trưng cốt lõi Nhà nước được thể hiện
hai khía cạnh:
Tại sao:
+ Nhà nước sản phẩm của hội giai cấp.
+ Nhà nước ra đời nhằm bảo vệ duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị.
Biểu hiện:
+ Quyền lực nhà nước luôn thuộc về một giai cấp nhất định trong hội: giai cấp
thống trị, giai cấp cầm quyền
+ Nhà nước luôn ưu tiên quyền lợi trước hết cho giai cấp cầm quyền.
Nhà nước công cụ giai cấp thống trị hội trên cả 3 phương diện:
+ Kinh tế: sở hữu liệu sản xuất chủ yếu
+ Chính trị: loại trừ sự phản kháng của giai cấp khác
+ tưởng: áp đặt, duy trì hệ tưởng của giai cấp mình lên toàn hội
Tính hội
Tại sao:
+ Nhà nước sản phẩm của hội giai cấp. Sự tồn tại của giai cấp này tiền
đề cho sự tồn tại của giai cấp khác ngược lại.
+ Nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu quản lí, ổn định trật tự hội, đảm bảo cho
hội phát triển.
Biểu hiện:
+ Nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị còn quan tâm tới lợi
ích của cộng đồng.
+ Nhà nước phải giải quyết các công việc chung mang tính hội như: xây dựng
các công trình phúc lợi hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các dịch bệnh,...
+ Nhà nước thay đổi khi hội thay đổi.
3. Vị trí của Nhà nước trong hội giai cấp
Nhà nước hội giai cấp hai hiện tượng quan hệ qua lại với nhau; giữa
chúng vừa sự thống nhất lại vừa sự khác biệt. Trong mối quan hệ qua lại giữa
chúng, hội giữ vai trò quyết định, sở cho sự tồn tại phát triển của nhà
nước. Những biến đổi trong sự vận động phát triển của hội sớm hay muộn
cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước. Ngược lại nhà nước cũng
sự tác động mạnh mẽ tới sự phát triển mọi mặt của hội: định hướng, điều chỉnh,
kìm hãm…
Nhà nước một bộ phận của thượng tầng kiến trúc hội, sản phẩm của một
chế độ kinh tế - hội nhất định. Sự phát triển của hạ tầng sở quyết định s
phát triển của nhà nước. Các điều kiện yếu tố như đối sánh giai cấp mức độ gay
gắt của những mâu thuẫn hội, các đảng phái chính trị, các trào lưu chính trị
pháp lý... đều ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước. Đồng thời, nhà nước
luôn tác động mạnh mẽ đến sở kinh tế, đến những điều kiện quá trình phát
triển của sản xuất hội cũng như đến các hiện tượng hội khác.
Trong hội giai cấp, để bảo vệ thực hiện những lợi ích của mình, ngoài nhà
nước ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị hội khác nữa
trong đó đáng chú ý nhất các đảng phái chính trị. So với các tổ chức chính trị
hội đó, nhà nước một vai trò đặc biệt, nằm vị trí trung tâm giữa các tổ chức
chính trị hội, bởi chỉ nhà nước mới các quan đặc biệt cùng với các
phương tiện vật chất kèm theo như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tu... cho nên
thể tác động một cách mạnh mẽ toàn diện đến đời sống hội.
=> Kết luận: Trong XH giai cấp, NN vị trí đặc biệt NN sở kinh tế -
XH rộng lớn nhất, quyền lực NN sức mạnh bạo lực
4. Đặc điểm của NN (dấu hiệu của NN)
Nhà nước Tổ chức, đoàn thể XH
quyền lực công cộng đặc biệt
Quản dân theo đơn vị hành chính
lãnh thổ
chủ quyền quốc gia
Ban hành PL
Quy định thực hiện thu các loại thuế
quyền lực trong phạm cộng đồng
nhỏ.
Không quyền quản dân
lãnh thổ
Không
Không quyền
Không quyền
Đặc điểm của Nhà nước là: (5 đặc điểm)
Nhà nước lãnh thổ thực hiện sự quản dân theo đơn vị theo đơn vị
hành chính lãnh thổ:
+ Nhà nước một bộ máy tổ chức quyền lực, thực hiện sự quản dân theo
lãnh thổ quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
+ Nhà nước tổ chức dân theo đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào
huyết thống, nghề nghiệp, giới tính.
Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt:
+ Quyền lực công đặc biệt quyền lực do giai cấp thống trị thiết lập, phản ánh ý
chí, nguyện vọng của giai cấp đó, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà
nước.
+ Duy trì đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị.
Nhà nước chủ quyền quốc gia:
+ Chủ quyền quốc gia của nhà nước quyền tối cao của nhà nước trong hoạt động
đối nội độc lập trong hoạt động đối ngoại. Chủ quyền quốc gia tính tối cao
thể hiện ở:
* Quyền lực nhà nước phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ
* Quyền lực nhà nước áp dụng đối với mọi đối tượng
Nhà nước ban hành pháp luật để quản mọi mặt của đời sống hội.
Nhà nước quy định thu các loại thuế
+ Đảm bảo điều kiện vật chất cho bộ máy nhà nước.
+ Giải quyết các công việc chung của hội trong đối nội đối ngoại.
5. Bộ máy Nhà nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam
CQ quyền lực CQ quản
NN
CQ pháp CQ Kiểm sát
Trung ương - Quốc hội Chính phủ
Bộ, CQ ngang
bộ, CQ thuộc
CP
TAND tối cao Viện KSND
tối cao
Địa phương - HĐND các
cấp
UBND các
cấp, các sở,
phòng, ban
TAND các
cấp
VKSND các
cấp
*Các quan trong bộ máy NN VN theo HP 1992:
a)Các quan quyền lực NN: Quốc hội hội đồng nhân dân các cấp
- Quốc hội: quan quyền lực NN cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra với
nhiệm 5 năm, chịu trách nhiệm trước ND. Chức năng QH quan duy nhất
quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại nhất của quốc gia, bầu
ra các ca NN khác Trung ương giám sát toàn bộ hoạt động của các quan
NN.
- HĐND gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri địa phương bầu ra,
quan quyền lực NN địa phương được tổ chức 3 cấp, tỉnh huyện, xã.
b) Chủ tịch nước:
-“Là người đứng đầu NN, thay mặt nước CHXNCNVN về đối nối đối ngoại”
- Do QH bầu ra, chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước QH
- nguyên thủ QG
c)Các quan quản NN gồm chính phủ các UBND
+Chính phủ: quan chấp hành của QH, quan hành chính NN cao nhất của
nước CHXHCN VN,
- Đứng đầu thủ tướng chính phủ do QH bầu trong số các đại biểu QH,
- cấu tổ chức: CP bao gồm các bộ quan ngang bộ các cụ chuyên môn
quan từng ngành, lĩnh vực cụ thể
-Tính chất:
Tính chấp hành: Tuân thủ PL, thực hiện quyết định của CQ cấp trên
Tính điều hành: nhân danh NN quản các lĩnh vực của XH
+ UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, quan hành chính NN địa
phương được tổ chức 3 cấp tỉnh, huyện, xã.
d) quan xét xử
- Thay mặt NN xét xử các vụ việc.
-Tổ chức TAND: 4 cấp: Đứng đầu Tòa án nhân dân tối cao, thấp hơn về phía
dân sự thì TAND cấp tỉnh TAND cấp huyện, còn về phía quân sự TA quân
sự Trung ương TA quân sự quân khu tương đương TA quân sự khu vực.
- Xét xử: 2 cấp (Sơ thẩm Phúc thẩm)
- Bản án của Tòa án đã hiệu lực thể xét xử lại theo thủ tục Tái thẩm Giám
đốc thẩm
e) Các quan kiểm sát
- Chức năng: các quan kiểm sát hoạt động pháp thực hiện quyền công tố.
- Đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thấp hơn về phía dân sự VKSND
cấp tỉnh - VKSND cấp huyện, còn về phía quân sự VKS quân sự Trung ương -->
VKS quân sự quan khu tương đương --> VKS quân sự khu vực.
6. Mối quan hệ giữa Quốc hội Chính phủ, giữa Hội đồng nhân dân Ủy
ban nhân dân, giữa Quốc hội Chủ tịch nước
6.1. Mối quan hệ giữa Quốc hội Chính phủ.
a. Về sự hình thành.
Quốc hội thành lập ra chính phủ chứ chính phủ không thể thành lập ra quốc hội.
Trên sở hình thành của mối quan hệ này thì chỉ một chiều như vậy.
Đồng thời với việc bầu phê chẩn quốc hội quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối
với tất cả các chức danh thuộc chính phủ, đối với chức danh thủ tướng chính phủ
thì trên sở đề nghị của chủ tịch nước hoặc ủy ban thường vụ quốc hội.
Quốc hội quyền quyết định chính phủ bao nhiêu bộ quan ngang bộ theo
đề nghị của thủ tướng chính phủ cho hợp với thực tế đời sống hoạt động hiệu
quả nhất.
b. Về hoạt động.
Quốc hội ban hành hiến pháp , luật , nghị quyết, chính phủ chịu trách nhiệm tổ
chức triển khai thực hiện, trên sở hiến pháp, luật nghị quyết của quốc hội.
Chính phủ nhiệm vụ quản hội đồng thời chính phủ ban hành các văn bản
hướng dẫn thi hành luật của quốc hội cho các quan nhà nước khác.
Quốc hội quyền bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyền
đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, thủ tướng Chính phủ; bãi bỏ văn bản
của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyền giám sát hoạt động của Chính phủ.
Đại biểu Quốc hội quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ, người bị chất
vấn phải trả lời chất vấn trước Quốc hội tại họp, trong trường hợp cần điều tra
thì Quốc hội cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại họp sau hoặc
gửi văn bản trả lời.
Bộ trưởng, thủ trưởng các quan ngang bộ chịu trách nhiệm nhân trước Thủ
tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công, phụ
trách.
6.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân
- UBND quan được lập ra với nhiệm vụ chính “chấp hành” HĐND cùng
cấp.
- HĐND bầu ra UBND cùng cấp.
- Chủ tịch HĐND giới thiệu nhân thuộc HĐND để HĐND bầu ra chức chủ tịch
UBND cùng cấp.
- Các thành viên khác của UBND được HĐND bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ
tịch UBND được phê chuẩn bởi UBND cấp trên trực tiếp.
- HĐND quyền giám sát UBND cùng cấp.
- UBND trách nhiệm triển khai thực hiện các Nghị quyết của HĐND.
- UBND quyền xây dựng các đề án trình HĐND xem xét
6.3. Mối quan hệ giữa Quốc hội Chủ tịch nước
Về mối quan hệ với Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (có sửa đổi, bổ sung) Luật
tổ chức Quốc hội hiện hành những quy định bản sau:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu (trong số đại biểu Quốc hội), miễn nhiệm bãi
nhiệm, với nhiệm theo nhiệm của Quốc hội.
Quốc hội quy định tổ chức hoạt động của Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chủ tịch nước trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc
kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
Quốc hội quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật,
Nghị quyết của Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời
trước Quốc hội tại họp, trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội thể quyết
định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội
hoặc cho trả lời bằng văn bản.
Chương 2: Những kiến thức cơ bản về pháp luật
1. Khái niệm: Pháp luật một hệ thống các quy tắc xử sự tính bắt buộc
chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.
2. Đặc điểm của pháp luật
Pháp luật tính quy phạm phổ biến
Sự thể hiện: pháp luật
+ Tính quy phạm pháp luật quy tắc xử sự mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực
được hội công nhận làm theo.
+ Tính quy phạm phổ biến: Pháp luật tính bao quát rộng khắp hơn so với các
quy phạm khác: pháp luật áp dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ, áp dụng với mọi chủ
thể.
Về nguyên tắc: Pháp luật thể điều chỉnh mọi loại quan hệ hội. Tuy nhiên,
pháp luật chỉ lựa chọn điều chỉnh những quan hệ hội bản quan trọng đã phát
triển tới mức phổ biến, điển hình.
Tại sao: + Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt trên phạm vi toàn lãnh thổ,
áp dụng với mọi đối tượng.
dụ: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế
Pháp luật tính quyền lực nhà nước (tính cưỡng chế)
Tại sao: Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, cho nên pháp luật phải
được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước.
Sự thể hiện:
+ Nhà nước đảm bảo cho pháp luật tính bắt buộc chung. Đây không phải sự
bắt buộc chung chung trừu tượng sự bắt buộc với mọi chủ thể cùng tham gia
một quan hệ hội nhất định do pháp luật điều chỉnh.
+ Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng nhiều biện pháp khác nhau sử
dụng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết.
Pháp luật tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Sự thể hiện: + Pháp luật phải tồn tại dưới hình thức nhất định.
+ Nội dung pháp luật phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý, cụ thể, ràng,
chính xác, dễ hiểu một nghĩa.
+ Các văn bản pháp luật phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
Tại sao:
+ Giảm thiểu lỗ hổng trong pháp luật.
+ Giúp cho chủ thể thực hiện pháp luật dễ dàng, hiệu quả hơn.
dụ: Pháp luật thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, thể
tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm pháp luật.
Hiến pháp, bộ luật: Quốc hội mới quyền ban hành
Nghị định: Chính phủ mới quyền ban hành
Pháp luật tính hệ thống:
Các quy định PL được sắp xếp theo một hệ thống, với giá trị pháp cao thấp khác
nhau
Các quy định PL mối quan hệ nội tại, thống nhất
Văn bản quy phạm pháp luật của quan vị trí cao hơn sẽ giá trị pháp lớn
hơn
Các quy phạm PL được chia thành các chế định
Pháp luật mang tính ý chí:
PL luôn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, kể cả PL hình thành từ con đường tập
quán
3. Vai trò của pháp luật
Pháp luật sở cho việc thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước
Thông qua pháp luật, các quan nhà nước được xác định về tên gọi, trình tự
thành lập, cấu tổ chức. Đồng thời, pháp luật cũng xác định luôn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng quan, xác định mối quan hệ giữa các quan nhà
nước với nhau, xác định mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của các quan nhà
nước.
Pháp luật góp phần tổ chức, quản hội
Thông qua hệ thống pháp luật, nhà nước xác định chế độ kinh tế, các chính sách
phát triển hội, điều tiết các nguồn lực hội... Mặt khác, pháp luật thể chế hóa
các đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - hội, xây dựng hành lang pháp
phù hợp nhằm đảm bảo sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với đời sống kinh tế
- hội.
Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới
Không chỉ điều chỉnh những quan hệ hội phổ biến đang tồn tại còn vai trò
dự báo, định hướng cho những quan hệ hội thể cần xuất hiện trong tương
lai. Để thực hiện được vai trò này, hoạt động của quan nghiên cứu, soạn thảo,
ban hành pháp luật phải đảm bảo tính khoa học, dự báo được chính xác lâu dài
xu hướng phát triển của hội.
VD: quy định PL tạo môi trường kinh doanh cho các lĩnh vực kinh doanh mới
Pháp luật sở cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị, hợp
tác quốc tế
Thông qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế, quy định trình tự, thủ tục kết,
phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế; quy định trình tự, thủ tục thiết lập quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác... , pháp luật sở pháp cần thiết cho việc
thiết lập thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế. Quá trình nội luật hóa các quy định
của luật pháp quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành
lang pháp an toàn cho các quan hệ hợp tác phát triển, thu hút hoạt động hợp
tác đầu từ các nhà đầu của các quốc gia khác vào thị trường để thúc đẩy sự
phát triển kinh tế đất nước.
4. Hình thức pháp luật
Hình thức của pháp luật cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, cách thức
nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành pháp luật.
Pháp luật ba hình thức bản là: tập quán pháp, tiền lệ pháp (hay án lệ) văn
bản quy phạm pháp luật.
4.1. Tập quán pháp
Tập quán pháp hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng những phong tục, tập quán
đã được lưu truyền trong đời sống hội, được Nhà nước thừa nhận thành những
quy tắc xử sử mang tính bắt buộc đối với hội.
Ưu điểm:
Gần gũi với cuộc sống hàng ngày;
Dễ tạo thói quen tuân thủ.
Nhược điểm:
Thiếu sở khoa học;
Không mang tính quy phạm phổ biến;
Bảo thủ, khó thay đổi.
4.2. Tiền lệ pháp hay án lệ
Tiền lệ pháp (Án lệ) hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các phán quyết của
các chủ thể thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được Nhà nước thừa
nhận làm khuôn mẫu cho việc giải quyết các vụ việc tương tự về sau.
Tiền lệ pháp hay án lệ kết quả từ hoạt động của quan xét xử (Tòa án hoặc
trọng tài) quan nhà nước khác. dụ, bản án do Tòa án nhân tối cao đưa ra
khi giải quyết một vụ án tranh chấp đất đai đã được Nhà nước thừa nhận làm mẫu
để các tòa án khác phải tuân theo khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đại xảy ra
sau đó nội dung tương tự.
Ưu điểm:
Án lệ kịp thời giải quyết các quan hệ hội pháp luật
Án lệ mang tính thực tiễn cao
Án lệ mang tính mềm dẻo, linh hoạt
Nhược điểm:
Tính chất pháp không cao
Án lệ không mang tính hệ thống
Số lượng án lệ tăng nhiều qua các năm
Hệ thống án lệ không ổn định
4.3. Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các văn bản
chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể thẩm quyền ban hành
theo những trình tự, thủ tục hình thức luật định, được Nhà nước đảm bảo thực
hiện được sử dụng nhiều lần trong cuộc sống.
Ưu điểm:
Dễ phổ biến kiểm soát; dễ thống nhất, dễ áp dụng, thể được hiểu thực
hiện thống nhất trên phạm vi rộng.
Tính pháp lý, tính khoa học tương đối cao;
ràng, minh bạch.
thể đáp ứng được kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống dễ sửa đối,
bổ sung
Nhược điểm:
Các quy định của văn bản quy phạm pháp luật thường mang tính khái quát nên
khó dự kiến được hết các tình huống, trường hợp xảy ra trong thực tế , thế thể
dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hay tạo ra những lỗ hổng, những khoảng trống
trong pháp luật.
Những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thường tính ổn định tương
đối cao, chặt chẽ nên đôi khi thể dẫn đến sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt.
Chi phí xây dựng tốn kém;
Cần ban hành các văn bản hướng dẫn
5. Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật quan hệ hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. làm
cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền phải gánh
vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền nghĩa vụ của các chủ thể đó được
nhà nước đảm bảo thực hiện.
5.1. Đặc điểm của quan hệ pháp luật:
- Quan hệ pháp luật quan hệ mang tính ý chí được thể hiện:
+ Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó (cụ thể các quan hệ hợp đồng.
VD: quan hệ mua bán của 2 bên)
+ Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật quan hệ hội được quy phạm pháp
luật điều chỉnh quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành thể hiện ý chí của
nhà nước, Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với
cách một chủ thể việc tham gia vào quan hệ đó hoàn toàn thể hiện ý chí của
nhà nước. (VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
- Quan hệ pháp luật xuất hiện tồn tại trên sở các quy phạm pháp luật.
Quan hệ pháp luật quan hệ hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Như
vậy, một quan hệ hội chi trở thành quan hệ pháp luật khi một quy phạm pháp
luật tác động lên quan hệ đó như vật chúng ta thể hiểu: Quan hệ pháp luật
chính hình thức pháp của quan hệ hội.
pháp luật điều chỉnh những quan hệ hội phổ biến, bản, ảnh hưởng rộng
đến đời sống hội nên trong đời sống hội, vẫn tồn tại nhiều quan hệ hội
không chịu sự tác động của quy phạm pháp luật thực hiện theo các quy tắc
hội khác như: đạo đức, tôn giáo, quy chế của tổ chức, đoàn thể...
- Nội dung của quan hệ pháp luật biểu hiện thành quyền nghĩa vụ pháp cụ
thể của các bên tham gia quan hệ
Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quyền nghĩa vụ của chủ thể khi các chủ
thể tham gia vào quan hệ đó tức khi tham gia vào một quan hệ hội được điều
chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền phải gánh vác những nghĩa
vụ nhất định. Những quyền nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm
bảo thực hiện.
Quyền nghĩa vụ của các bên cũng thể do các bên thỏa thuận trong khuôn khổ
pháp luật (ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao động), hoặc được
xác định bởi nhà nước (như trong quan hệ pháp luật hình sự, hành chính).
Quyền nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bởi nhà nước với nhiều hình thức,
tính chất khác nhau: những biện pháp bảo đảm mang tính bắt buộc, cưỡng chế,
nhưng cũng những biện pháp bảo đảm mang tính cho phép, tùy nghi.
5.2. Cấu thành của quan hệ pháp luật
Cấu thành của quan hệ pháp luật các bộ phận hợp thành quan hệ pháp luật. Một
quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các bộ phận: chủ thể, khách thể nội dung.
Chủ thể của quan hệ pháp luật
Chủ thể của quan hệ pháp luật các nhân tổ chức tham gia quan hệ pháp
luật với những quyền nghĩa vụ pháp xác định.
Tuy nhiên, để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, nhân tổ chức phải
năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật năng lực hành
vi pháp luật.
Năng lực pháp luật
khả năng của chủ thể được
hưởng quyền thực hiện nghĩa
vụ pháp khi tham gia quan hệ
pháp luật.
yếu tố mang tính chất thụ
động, phụ thuộc vào ý chí của
nhà nước thể hiện qua các quy
định của pháp luật.
Tồn tại từ khi sinh ra mất đi
Năng lực hành vi pháp luật
khả năng các chủ thể
bằng hành vi của mình xác lập
thực hiện quyền nghĩa vụ
trong một quan hệ pháp luật cụ
thể.
Không mang tính thụ động
mang tính chủ động.
Do điều kiện chủ quan của
nhân, tổ chức quyết định
Tồn tại trong điều kiện nhất định
về độ tuổi, nhận thức
Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật:
nhân
nhân bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch.
Công dân nhân mang quốc tịch của một nước các quyền, nghĩa vụ pháp
theo quy định của pháp luật nước đó. Công dân chủ thể phổ biến của quan hệ
pháp luật.
Người nước ngoài nhân sinh sống tại một quốc gia nhưng lại mang quốc tịch
của quốc gia khác.
Người không quốc tịch nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.
Người không quốc tịch thực trạng pháp của một nhân thể do nhiều
nguyên nhân: nhân xin thôi quốc tịch nước này để gia nhập quốc tịch nước
khác, trong thời gian chờ gia nhập quốc tịch nước mới, họ người không quốc
tịch; nhân được sinh ra do sự xung đột pháp luật quốc tịch giữa các quốc gia;
công bị tước quốc tịch theo quyết định tính chất chế tài của quan nhà nước
thẩm quyền. ...
Tổ chức
Gồm:
Pháp nhân: Pháp nhân thương mại & PN phi thương mại
Tổ chức không phải pháp nhân
Năng lực pháp luật năng lực hành vi của tchức xuất hiện đồng thời cùng
một lúc khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp mất đi khi tổ chức đó bị giải
thể, phá sản.
Tổ chức phải đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ
pháp luật.
Trong các tổ chức, nhóm tổ chức pháp nhân khi thỏa mãn các điều kiện được
quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là: (1) Được thành lập theo quy
định của pháp luật; (2) cấu tổ chức chặt chẽ; (3) tài sản độc lập với
nhân, pháp nhân khác tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh
mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân gồm có: pháp nhân
thương mại pháp nhân phi thương mại.
Khách thể của quan hệ pháp luật
Khách thể của quan hệ pháp luật những lợi ích các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật hướng tới khi tham gia quan hệ đó.
Khách thể của quan hệ pháp luật rất đa dạng, thể những lợi ích vật chất (như:
tiền, nhà, đất đai, phương tiện vận chuyển, liệu sản xuất...) hoặc lợi ích phi vật
chất thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần (như: quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ,
uy tín, danh tiếng...); hoặc thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch vụ của một chủ thể
(chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vận chuyển...).
Nội dung của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền nghĩa vụ pháp của chủ thể.
Quyền của chủ thể khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức pháp luật
cho phép.
Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua các khả năng sau:
+ Thực hiện một số hành vi trong khuôn khổ pháp luật quy định để thỏa mãn nhu
cầu của mình;
+ Yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế không thực hiện những hành vi
nhất định: Yêu cầu quan nhà nước thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của mình.
Nghĩa vụ pháp chủ thể các xử sự các chủ thể của quan hệ pháp luật bắt
buộc phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia trong quan hệ.
Nghĩa vụ pháp bao hàm các yếu tố sau:
+ Chủ thể nghĩa vụ phải hành động hoặc kiềm chế không hành động;
+ Chủ thể nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm pháp trong trường hợp không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.
Chương 3: Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật trách nghiệm pháp
1. Vi phạm pháp luật
1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật hành vi trái pháp luật, lỗi do chủ thể năng lực trách
nhiệm pháp thực hiện, xâm hại các quan hệ hội được pháp luật bảo vệ.
1.2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật các dấu hiệu sau:
- Vi phạm pháp luật hành vi xác định của con người. Những còn nằm trong ý
nghĩ, tưởng của con người chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể làm biến
đổi thế giới khách quan, không khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ hội
nên không thể coi vi phạm pháp luật được.
- Vi phạm pháp luật hành vi trái pháp luật. Vi phạm pháp luật xử sự trái với
các yêu cầu của pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới các hình
thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, chủ thể không thực hiện
những nghĩa vụ pháp luật bắt buộc phải thực hiện.
- Vi phạm pháp luật hành vi của chủ thể năng lực trách nhiệm pháp lý. Một
hành vi tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không năng lực trách nhiệm
pháp thì không bị coi vi phạm pháp luật.
- Vi phạm pháp luật hành vi lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi vi phạm
pháp luật khi chủ thể điều khiển được hành vi của mình nhận thức được hậu quả
của hành vi đó. Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật lỗi của chủ thể thì
mới bị coi vi phạm pháp luật.
1.3. Các loại vi phạm pháp luật
Căn cứ để phân chia ra các loại vi phạm pháp luật:
Căn cứ vào đối tượng phương pháp điều chỉnh của pháp luật
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội, chủ thể, khách thể
Vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:
Khái niệm Đặc điểm Chủ thể Các yếu tố
cấu thành
dụ
Vi phạm
pháp luật
hình sự (tội
phạm)
Vi phạm
pháp luật
hình sự (tội
phạm)
thuộc loại
vi phạm
pháp luật
tính
nghiêm
trọng nhất
Tội phạm
hành vi
nguy hiểm
cho hội,
lỗi, trái
pháp luật
Tội
phạm
hành vi
gây nguy
hiểm cho
hội.
Hành vi
gây nguy
hiểm cho
hội
hành vi
gây nên
hoặc
khả năng
thực tế
gây nên
nhân hoặc
tổ chức
cách pháp
nhân.
Năng lực
trách nhiệm
hình sự:
Độ tuổi:
Người đủ
từ 14 tuổi
- dưới 16
tuổi chỉ
chịu trách
nhiệm
hình sự về
tội phạm
mặt khách
quan,
khách thể,
mặt chủ
quan, chủ
thể của tội
phạm.
buôn bán
ma túy,
ấu dâm,
giết
người,
hối lộ…
hình sự
chịu hình
phạt.
thiệt hại
đáng kể
cho các
quan hệ
hội
nếu
không
được
ngăn
ngừa.
Tội
phạm
hành vi
trái pháp
luật hình
sự.
hành
vi được
thực hiện
một cách
lỗi.
hành
vi do chủ
thể
năng lực
trách
nhiệm
hình sự
thực hiện
phải
chịu hình
phạt.
rất
nghiêm
trọng do
lỗi cố ý
hoặc tội
phạm đặc
biệt
nghiêm
trọng.
Người từ
đủ 16 tuổi
trở lên
phải chịu
trách
nhiệm
hình sự về
mọi
tội phạm
Sức khỏe
bình
thường.
Không bị
tòa án hạn
chế.
Vi phạm
pháp luật
hành chính
Vi phạm
pháp luật
hành chính
hành vi
do nhân,
tổ chức
thực hiện
một cách cố
hành
vi trái
pháp luật
hành
chính.
Hành vi
đó đi
ngược lại
nhân hoặc
tổ chức
năng lực
trách nhiệm
hành chính.
Năng lực
trách nhiệm
hành chính:
mặt khách
quan,
khách thể,
mặt chủ
quan, chủ
thể của vi
phạm hành
chính.
Anh
NVA
đầy đủ
năng lực
chủ thể,
tham gia
giao
thông đã
ý hoặc ý
xâm phạm
các quy tắc
quản
Nhà nước
không
phải tội
phạm hình
sự theo
quy định
của pháp
luật phải bị
xử vi
phạm hành
chính.
với yêu
cầu của
pháp
luật.
Hành vi
đó bị
pháp luật
cấm.
Chủ thể
không
thực hiện
hoặc
thực hiện
không
đúng,
không
đầy đủ
những
hành vi
pháp
luật bắt
buộc
phải thực
hiện.
hành
vi được
chủ thể
thực hiện
một cách
lỗi.
hành
vi do chủ
thể
năng lực
trách
nhiệm
hành
chính
thực hiện
phải
Độ tuổi:
Người từ
đủ 14 tuổi
nhưng
chưa đủ 16
tuổi chỉ bị
áp dụng
trách
nhiệm
hành chính
đối với
những vi
phạm hành
chính với
lỗi cố ý.
Người từ
đủ 16 tuổi
trở lên
chịu trách
nhiệm
hành chính
đối với
mọi vi
phạm hành
chính do
họ thực
hiện.
Người
dưới 14
tuổi không
bị áp dụng
các biện
pháp xử
phạt hành
chính
áp dụng
các biện
pháp tác
động
hội.
vượt đèn
đỏ bị
CSGT
lập biên
bản xử
phạt
hành
chính.
Khác:
vượt đèn
đỏ, đi
vào
đường
ngược
chiều…
chịu hình
phạt.
Sức khỏe
bình
thường.
Không bị
tòa án hạn
chế.
hành vi
trái với
quy tắc về
quản
hành chính
Nhà nước
không
phải tội
phạm
theo quy
định của
pháp luật
phải bị xử
vi phạm
hành
chính.
Vi phạm
pháp luật
dân sự
Vi phạm
pháp luật
dân sự
hành vi trái
pháp luật,
lỗi, xâm
hại đến các
quan hệ tài
sản quan
hệ nhân
thân phát
sinh trong
giao lưu
dân sự.
hành
vi trái
pháp luật
dân sự,
xâm hại
tới quan
hệ tài sản
quan
hệ nhân
thân phát
sinh trong
giao lưu
dân sự.
hành
vi lỗi.
Do
nhân, tổ
chức
nhân hoặc
tổ chức
năng lực
trách nhiệm
dân sự.
Năng lực
trách nhiệm
dân sự:
Độ tuổi:
Người đủ
18 tuổi trở
lên năng
lực hành vi
đầy đủ,
đầy đủ khả
năng gánh
chịu các
hình thức
mặt khách
quan,
khách thể,
mặt chủ
quan, chủ
thể của vi
phạm pháp
luật dân sự.
Anh
NVA
đầy đủ
năng lực
chủ thể
nghi ngờ
chị NTB
ăn trộm
điện
thoại của
mình, đã
những
lời lẽ xúc
phạm
danh dự
nhân
phẩm
của chị
năng lực
trách
nhiệm
dân sự
thực hiện
phải
chịu áp
dụng các
chế tài
dân sự.
trách nhiệm
pháp luật
dân sự
dành cho
hành vi của
họ gây ra.
Người đủ
15 tuổi đến
dưới 18
tuổi
năng lực
hành vi
một phần.
Người dưới
15 tuổi
người bị
mất năng
lực hành vi
người
không
năng lực
trách nhiệm
dân sự.
Sức khỏe
tốt.
Không bị
tòa án hạn
chế.
NTB.
Chị NTB
đã kiện
anh
NVA ra
tòa.
Khác:
xát
làm hỏng
tài sản
nhà
nước, sử
dụng
hình ảnh
nhân
chưa xin
phép…
Vi phạm kỉ
luật
Vi phạm kỉ
luật hành
vi trái pháp
luật đã
được cụ thể
hóa trong
nội quy,
quy chế
hoạt động
của
quan, tổ
chức do
hành
vi trái
pháp luật
đã được
cụ thể
hóa trong
nội quy,
quy chế
hoạt
động của
quan,
tổ chức.
Do chủ thể
năng lực
trách nhiệm
kỉ luật thực
hiện
phải chịu
áp dụng
các chế tài
kỉ luật:
Độ tuổi: từ
đủ 15 tuổi
trở lên.
mặt khách
quan,
khách thể,
mặt chủ
quan, chủ
thể của vi
phạm kỉ
luật.
Anh
NVA
đầy đủ
năng lực
chủ thể
lái xe
cho
quan.
Trong
thời gian
làm việc,
anh

Preview text:

Chương 1: Những kiến thức cơ bản về nhà nước
1. Khái niệm: Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm
một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức
và quản lý xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực
lượng cầm quyền trong xã hội.

2. Bản chất của Nhà nước
Bản chất của Nhà nước là những yếu tố đặc trưng cốt lõi Nhà nước được thể hiện ở hai khía cạnh: • Tính giai cấp Tại sao:
+ Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp.
+ Nhà nước ra đời nhằm bảo vệ và duy trì quyền lợi của giai cấp thống trị. Biểu hiện:
+ Quyền lực nhà nước luôn thuộc về một giai cấp nhất định trong xã hội: giai cấp
thống trị, giai cấp cầm quyền
+ Nhà nước luôn ưu tiên quyền lợi trước hết cho giai cấp cầm quyền.
Nhà nước là công cụ giai cấp thống trị xã hội trên cả 3 phương diện:
+ Kinh tế: sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu
+ Chính trị: loại trừ sự phản kháng của giai cấp khác
+ Tư tưởng: áp đặt, duy trì hệ tư tưởng của giai cấp mình lên toàn xã hội • Tính xã hội Tại sao:
+ Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp. Sự tồn tại của giai cấp này là tiền
đề cho sự tồn tại của giai cấp khác và ngược lại.
+ Nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu quản lí, ổn định trật tự xã hội, đảm bảo cho xã hội phát triển. Biểu hiện:
+ Nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà còn quan tâm tới lợi ích của cộng đồng.
+ Nhà nước phải giải quyết các công việc chung mang tính xã hội như: xây dựng
các công trình phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống các dịch bệnh,...
+ Nhà nước thay đổi khi xã hội thay đổi.
3. Vị trí của Nhà nước trong xã hội có giai cấp
Nhà nước và xã hội có giai cấp là hai hiện tượng có quan hệ qua lại với nhau; giữa
chúng vừa có sự thống nhất lại vừa có sự khác biệt. Trong mối quan hệ qua lại giữa
chúng, xã hội giữ vai trò quyết định, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nhà
nước. Những biến đổi trong sự vận động và phát triển của xã hội sớm hay muộn
cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi tương ứng của nhà nước. Ngược lại nhà nước cũng có
sự tác động mạnh mẽ tới sự phát triển mọi mặt của xã hội: định hướng, điều chỉnh, kìm hãm…
Nhà nước là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, nó là sản phẩm của một
chế độ kinh tế - xã hội nhất định. Sự phát triển của hạ tầng cơ sở quyết định sự
phát triển của nhà nước. Các điều kiện và yếu tố như đối sánh giai cấp mức độ gay
gắt của những mâu thuẫn xã hội, các đảng phái chính trị, các trào lưu chính trị
pháp lý... đều có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhà nước. Đồng thời, nhà nước
luôn tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, đến những điều kiện và quá trình phát
triển của sản xuất xã hội cũng như đến các hiện tượng xã hội khác.
Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của mình, ngoài nhà
nước ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác nữa
trong đó đáng chú ý nhất là các đảng phái chính trị. So với các tổ chức chính trị xã
hội đó, nhà nước có một vai trò đặc biệt, nó nằm ở vị trí trung tâm giữa các tổ chức
chính trị xã hội, bởi vì chỉ nhà nước mới có các cơ quan đặc biệt cùng với các
phương tiện vật chất kèm theo như quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tu... cho nên nó
có thể tác động một cách mạnh mẽ và toàn diện đến đời sống xã hội.
=> Kết luận: Trong XH có giai cấp, NN có vị trí đặc biệt vì NN có cơ sở kinh tế -
XH rộng lớn nhất, có quyền lực NN và có sức mạnh bạo lực
4. Đặc điểm của NN (dấu hiệu của NN) Nhà nước Tổ chức, đoàn thể XH
Có quyền lực công cộng đặc biệt
Có quyền lực trong phạm cộng đồng nhỏ.
Quản lý dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ
Không có quyền quản lý dân cư và lãnh thổ Có chủ quyền quốc gia Không có Ban hành PL Không có quyền
Quy định và thực hiện thu các loại thuế Không có quyền
Đặc điểm của Nhà nước là: (5 đặc điểm)
• Nhà nước có lãnh thổ và thực hiện sự quản lý dân cư theo đơn vị theo đơn vị hành chính lãnh thổ:
+ Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực, thực hiện sự quản lý dân cư theo
lãnh thổ quốc gia và trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.
+ Nhà nước tổ chức dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào
huyết thống, nghề nghiệp, giới tính.
• Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt:
+ Quyền lực công đặc biệt là quyền lực do giai cấp thống trị thiết lập, phản ánh ý
chí, nguyện vọng của giai cấp đó, được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
+ Duy trì đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị.
Nhà nước có chủ quyền quốc gia:
+ Chủ quyền quốc gia của nhà nước là quyền tối cao của nhà nước trong hoạt động
đối nội và độc lập trong hoạt động đối ngoại. Chủ quyền quốc gia có tính tối cao thể hiện ở:
* Quyền lực nhà nước phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ
* Quyền lực nhà nước áp dụng đối với mọi đối tượng
• Nhà nước ban hành pháp luật để quản lí mọi mặt của đời sống xã hội.
• Nhà nước quy định và thu các loại thuế
+ Đảm bảo điều kiện vật chất cho bộ máy nhà nước.
+ Giải quyết các công việc chung của xã hội trong đối nội và đối ngoại.
5. Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CQ quyền lực CQ quản lý CQ tư pháp CQ Kiểm sát NN Trung ương - Quốc hội Chính phủ TAND tối cao Viện KSND Bộ, CQ ngang tối cao bộ, CQ thuộc CP Địa phương - HĐND các UBND các TAND các VKSND các cấp cấp, các sở, cấp cấp phòng, ban
*Các cơ quan trong bộ máy NN VN theo HP 1992:
a)Các cơ quan quyền lực NN: Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
- Quốc hội: là cơ quan quyền lực NN cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra với
nhiệm kì 5 năm, chịu trách nhiệm trước ND. Chức năng QH là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề trọng đại nhất của quốc gia, bầu
ra các ca NN khác ở Trung ương và giám sát toàn bộ hoạt động của các cơ quan NN.
- HĐND gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ
quan quyền lực NN ở địa phương được tổ chức ở 3 cấp, tỉnh huyện, xã.
b) Chủ tịch nước:
-“Là người đứng đầu NN, thay mặt nước CHXNCNVN về đối nối và đối ngoại”
- Do QH bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH - Là nguyên thủ QG
c)Các cơ quan quản lý NN gồm chính phủ và các UBND
+Chính phủ: là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chính NN cao nhất của nước CHXHCN VN,
- Đứng đầu là thủ tướng chính phủ do QH bầu trong số các đại biểu QH,
- Cơ cấu tổ chức: CP bao gồm các bộ và cơ quan ngang bộ là các cụ chuyên môn
quan lý từng ngành, lĩnh vực cụ thể -Tính chất:
 Tính chấp hành: Tuân thủ PL, thực hiện quyết định của CQ cấp trên
 Tính điều hành: nhân danh NN quản lý các lĩnh vực của XH
+ UBND do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan hành chính NN ở địa
phương được tổ chức ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã.
d) Cơ quan xét xử
- Thay mặt NN xét xử các vụ việc.
-Tổ chức TAND: 4 cấp: Đứng đầu là Tòa án nhân dân tối cao, thấp hơn về phía
dân sự thì là TAND cấp tỉnh TAND cấp huyện, còn về phía quân sự là TA quân 
sự Trung ương TA quân sự quân khu và tương đương  TA quân sự khu vực. 
- Xét xử: 2 cấp (Sơ thẩm và Phúc thẩm)
- Bản án của Tòa án đã có hiệu lực có thể xét xử lại theo thủ tục Tái thẩm và Giám đốc thẩm
e) Các cơ quan kiểm sát
- Chức năng: các cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố.
- Đứng đầu là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thấp hơn về phía dân sự là VKSND
cấp tỉnh - VKSND cấp huyện, còn về phía quân sự là VKS quân sự Trung ương -->
VKS quân sự quan khu và tương đương --> VKS quân sự khu vực.
6. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ, giữa Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân, giữa Quốc hội và Chủ tịch nước

6.1. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ.
a. Về sự hình thành.
Quốc hội thành lập ra chính phủ chứ chính phủ không thể thành lập ra quốc hội.
Trên cơ sở hình thành của mối quan hệ này thì chỉ có một chiều như vậy.
Đồng thời với việc bầu và phê chẩn quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối
với tất cả các chức danh thuộc chính phủ, đối với chức danh thủ tướng chính phủ
thì trên cơ sở đề nghị của chủ tịch nước hoặc ủy ban thường vụ quốc hội.
Quốc hội có quyền quyết định chính phủ có bao nhiêu bộ cơ quan ngang bộ theo
đề nghị của thủ tướng chính phủ cho hợp với thực tế đời sống và hoạt động có hiệu quả nhất. b. Về hoạt động.
Quốc hội ban hành hiến pháp , luật , nghị quyết, chính phủ chịu trách nhiệm tổ
chức triển khai thực hiện, trên cơ sở hiến pháp, luật và nghị quyết của quốc hội.
Chính phủ có nhiệm vụ quản lý xã hội đồng thời chính phủ ban hành các văn bản
hướng dẫn thi hành luật của quốc hội cho các cơ quan nhà nước khác.
Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền
đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, thủ tướng Chính phủ; bãi bỏ văn bản
của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền giám sát hoạt động của Chính phủ.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ, người bị chất
vấn phải trả lời chất vấn trước Quốc hội tại kì họp, trong trường hợp cần điều tra
thì Quốc hội cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau hoặc gửi văn bản trả lời.
Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ
tướng Chính phủ, Chính phủ, và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công, phụ trách.
6.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- UBND là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ chính là “chấp hành” HĐND cùng cấp.
- HĐND bầu ra UBND cùng cấp.
- Chủ tịch HĐND giới thiệu cá nhân thuộc HĐND để HĐND bầu ra chức chủ tịch UBND cùng cấp.
- Các thành viên khác của UBND được HĐND bầu ra theo sự giới thiệu của Chủ
tịch UBND và được phê chuẩn bởi UBND cấp trên trực tiếp.
- HĐND có quyền giám sát UBND cùng cấp.
- UBND có trách nhiệm triển khai thực hiện các Nghị quyết của HĐND.
- UBND có quyền xây dựng các đề án trình HĐND xem xét
6.3. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chủ tịch nước
Về mối quan hệ với Quốc hội, Hiến pháp năm 1992 (có sửa đổi, bổ sung) và Luật
tổ chức Quốc hội hiện hành có những quy định cơ bản sau:
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu (trong số đại biểu Quốc hội), miễn nhiệm và bãi
nhiệm, với nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội.
Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chủ tịch nước trình dự án luật ra trước Quốc hội, kiến nghị về luật thông qua việc
kiến nghị ban hành luật mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật hiện hành.
Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp, luật,
Nghị quyết của Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch nước phải trả lời
trước Quốc hội tại kì họp, trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết
định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kì họp sau của Quốc hội
hoặc cho trả lời bằng văn bản.
Chương 2: Những kiến thức cơ bản về pháp luật
1. Khái niệm: Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước.

2. Đặc điểm của pháp luật
Pháp luật có tính quy phạm phổ biến
Sự thể hiện: pháp luật có
+ Tính quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực
được xã hội công nhận và làm theo.
+ Tính quy phạm phổ biến: Pháp luật có tính bao quát rộng khắp hơn so với các
quy phạm khác: pháp luật áp dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ, áp dụng với mọi chủ thể.
Về nguyên tắc: Pháp luật có thể điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội. Tuy nhiên,
pháp luật chỉ lựa chọn điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản quan trọng đã phát
triển tới mức phổ biến, điển hình.
Tại sao: + Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt trên phạm vi toàn lãnh thổ,
áp dụng với mọi đối tượng.
Ví dụ: Pháp luật qui định: mọi chủ thể kinh doanh phải nộp thuế
Pháp luật có tính quyền lực nhà nước (tính cưỡng chế)
Tại sao: Pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, cho nên pháp luật phải
được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước. Sự thể hiện:
+ Nhà nước đảm bảo cho pháp luật có tính bắt buộc chung. Đây không phải là sự
bắt buộc chung chung trừu tượng mà là sự bắt buộc với mọi chủ thể cùng tham gia
một quan hệ xã hội nhất định do pháp luật điều chỉnh.
+ Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng nhiều biện pháp khác nhau và sử
dụng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết.
Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Sự thể hiện: + Pháp luật phải tồn tại dưới hình thức nhất định.
+ Nội dung pháp luật phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý, cụ thể, rõ ràng,
chính xác, dễ hiểu và một nghĩa.
+ Các văn bản pháp luật phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Tại sao:
+ Giảm thiểu lỗ hổng trong pháp luật.
+ Giúp cho chủ thể thực hiện pháp luật dễ dàng, hiệu quả hơn.
Ví dụ: Pháp luật thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, có thể là
tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm pháp luật.
Hiến pháp, bộ luật: Quốc hội mới có quyền ban hành
Nghị định: Chính phủ mới có quyền ban hành
• Pháp luật có tính hệ thống:
Các quy định PL được sắp xếp theo một hệ thống, với giá trị pháp lý cao thấp khác nhau
Các quy định PL có mối quan hệ nội tại, thống nhất
Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có vị trí cao hơn sẽ có giá trị pháp lý lớn hơn
Các quy phạm PL được chia thành các chế định
Pháp luật mang tính ý chí:
PL luôn thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, kể cả PL hình thành từ con đường tập quán
3. Vai trò của pháp luật
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước
Thông qua pháp luật, các cơ quan nhà nước được xác định về tên gọi, trình tự
thành lập, cơ cấu tổ chức. Đồng thời, pháp luật cũng xác định luôn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, xác định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà
nước với nhau, xác định mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của các quan nhà nước.
Pháp luật góp phần tổ chức, quản lý xã hội
Thông qua hệ thống pháp luật, nhà nước xác định rõ chế độ kinh tế, các chính sách
phát triển xã hội, điều tiết các nguồn lực xã hội... Mặt khác, pháp luật thể chế hóa
các đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hành lang pháp lý
phù hợp nhằm đảm bảo sự quản lý, điều tiết của nhà nước đối với đời sống kinh tế - xã hội.
Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới
Không chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội phổ biến đang tồn tại mà còn có vai trò
dự báo, định hướng cho những quan hệ xã hội có thể và cần xuất hiện trong tương
lai. Để thực hiện được vai trò này, hoạt động của cơ quan nghiên cứu, soạn thảo,
ban hành pháp luật phải đảm bảo tính khoa học, dự báo được chính xác và lâu dài
xu hướng phát triển của xã hội.
VD: quy định PL tạo môi trường kinh doanh cho các lĩnh vực kinh doanh mới
Pháp luật là cơ sở cho việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao, hữu nghị, hợp tác quốc tế
Thông qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế, quy định trình tự, thủ tục ký kết,
phê chuẩn, gia nhập các điều ước quốc tế; quy định trình tự, thủ tục thiết lập quan
hệ ngoại giao với các quốc gia khác... , pháp luật là cơ sở pháp lý cần thiết cho việc
thiết lập và thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế. Quá trình nội luật hóa các quy định
của luật pháp quốc tế, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, tạo hành
lang pháp lý an toàn cho các quan hệ hợp tác và phát triển, thu hút hoạt động hợp
tác đầu tư từ các nhà đầu tư của các quốc gia khác vào thị trường để thúc đẩy sự
phát triển kinh tế đất nước.
4. Hình thức pháp luật
Hình thức của pháp luật là cách thức thể hiện ý chí của nhà nước, là cách thức mà
nhà nước sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành pháp luật.
Pháp luật có ba hình thức cơ bản là: tập quán pháp, tiền lệ pháp (hay án lệ) và văn bản quy phạm pháp luật.
4.1. Tập quán pháp
Tập quán pháp là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng những phong tục, tập quán
đã được lưu truyền trong đời sống xã hội, được Nhà nước thừa nhận thành những
quy tắc xử sử mang tính bắt buộc đối với xã hội. Ưu điểm:
• Gần gũi với cuộc sống hàng ngày;
• Dễ tạo thói quen tuân thủ. Nhược điểm:
• Thiếu cơ sở khoa học;
• Không mang tính quy phạm phổ biến;
• Bảo thủ, khó thay đổi.
4.2. Tiền lệ pháp hay án lệ
Tiền lệ pháp (Án lệ) là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các phán quyết của
các chủ thể có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc cụ thể, được Nhà nước thừa
nhận làm khuôn mẫu cho việc giải quyết các vụ việc tương tự về sau.
Tiền lệ pháp hay án lệ là kết quả từ hoạt động của cơ quan xét xử (Tòa án hoặc
trọng tài) và cơ quan nhà nước khác. Ví dụ, bản án do Tòa án nhân tối cao đưa ra
khi giải quyết một vụ án tranh chấp đất đai đã được Nhà nước thừa nhận làm mẫu
để các tòa án khác phải tuân theo khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đại xảy ra
sau đó có nội dung tương tự. Ưu điểm:
• Án lệ kịp thời giải quyết các quan hệ xã hội pháp luật
• Án lệ mang tính thực tiễn cao
• Án lệ mang tính mềm dẻo, linh hoạt Nhược điểm:
• Tính chất pháp lý không cao
• Án lệ không mang tính hệ thống
• Số lượng án lệ tăng nhiều qua các năm
• Hệ thống án lệ không ổn định
4.3. Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tồn tại dưới dạng các văn bản
có chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành
theo những trình tự, thủ tục và hình thức luật định, được Nhà nước đảm bảo thực
hiện và được sử dụng nhiều lần trong cuộc sống. Ưu điểm:
• Dễ phổ biến và kiểm soát; dễ thống nhất, dễ áp dụng, có thể được hiểu và thực
hiện thống nhất trên phạm vi rộng.
• Tính pháp lý, tính khoa học tương đối cao; • Rõ ràng, minh bạch.
• Có thể đáp ứng được kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống vì dễ sửa đối, bổ sung Nhược điểm:
• Các quy định của văn bản quy phạm pháp luật thường mang tính khái quát nên
khó dự kiến được hết các tình huống, trường hợp xảy ra trong thực tế , vì thế có thể
dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hay tạo ra những lỗ hổng, những khoảng trống trong pháp luật.
• Những quy định trong văn bản quy phạm pháp luật thường có tính ổn định tương
đối cao, chặt chẽ nên đôi khi có thể dẫn đến sự cứng nhắc, thiếu linh hoạt.
• Chi phí xây dựng tốn kém;
• Cần ban hành các văn bản hướng dẫn
5. Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Nó làm
cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và phải gánh
vác những nghĩa vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được
nhà nước đảm bảo thực hiện.
5.1. Đặc điểm của quan hệ pháp luật:
- Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí và được thể hiện:
+ Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó (cụ thể là các quan hệ hợp đồng.
VD: quan hệ mua bán của 2 bên)
+ Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp
luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của
nhà nước, Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với tư
cách là một chủ thể và việc tham gia vào quan hệ đó là hoàn toàn thể hiện ý chí của
nhà nước. (VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
- Quan hệ pháp luật xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các quy phạm pháp luật.
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh. Như
vậy, một quan hệ xã hội chi trở thành quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp
luật tác động lên quan hệ đó và như vật chúng ta có thể hiểu: Quan hệ pháp luật
chính là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội.
Vì pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phổ biến, cơ bản, có ảnh hưởng rộng
đến đời sống xã hội nên trong đời sống xã hội, vẫn tồn tại nhiều quan hệ xã hội
không chịu sự tác động của quy phạm pháp luật mà thực hiện theo các quy tắc xã
hội khác như: đạo đức, tôn giáo, quy chế của tổ chức, đoàn thể...
- Nội dung của quan hệ pháp luật biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ
thể của các bên tham gia quan hệ

Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi các chủ
thể tham gia vào quan hệ đó tức là khi tham gia vào một quan hệ xã hội được điều
chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa
vụ nhất định. Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện.
Quyền và nghĩa vụ của các bên cũng có thể do các bên thỏa thuận trong khuôn khổ
pháp luật (ví dụ như trong quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế, lao động), hoặc được
xác định bởi nhà nước (như trong quan hệ pháp luật hình sự, hành chính).
Quyền và nghĩa vụ của các bên được bảo đảm bởi nhà nước với nhiều hình thức,
tính chất khác nhau: có những biện pháp bảo đảm mang tính bắt buộc, cưỡng chế,
nhưng cũng có những biện pháp bảo đảm mang tính cho phép, tùy nghi.
5.2. Cấu thành của quan hệ pháp luật
Cấu thành của quan hệ pháp luật là các bộ phận hợp thành quan hệ pháp luật. Một
quan hệ pháp luật được cấu thành bởi các bộ phận: chủ thể, khách thể và nội dung.
Chủ thể của quan hệ pháp luật
Chủ thể của quan hệ pháp luật là các cá nhân và tổ chức tham gia quan hệ pháp
luật với những quyền và nghĩa vụ pháp lý xác định.
Tuy nhiên, để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật, cá nhân và tổ chức phải có
năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật. Năng lực pháp luật
Năng lực hành vi pháp luật
 Là khả năng của chủ thể được
 Là khả năng mà các chủ thể
hưởng quyền và thực hiện nghĩa
bằng hành vi của mình xác lập
vụ pháp lý khi tham gia quan hệ
và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp luật.
trong một quan hệ pháp luật cụ
 Là yếu tố mang tính chất thụ thể.
động, phụ thuộc vào ý chí của
 Không mang tính thụ động mà
nhà nước – thể hiện qua các quy mang tính chủ động. định của pháp luật.
 Do điều kiện chủ quan của cá
 Tồn tại từ khi sinh ra – mất đi
nhân, tổ chức quyết định
 Tồn tại trong điều kiện nhất định
về độ tuổi, nhận thức
Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật: Cá nhân
Cá nhân bao gồm: công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch.
Công dân là cá nhân mang quốc tịch của một nước và có các quyền, nghĩa vụ pháp
lý theo quy định của pháp luật nước đó. Công dân là chủ thể phổ biến của quan hệ pháp luật.
Người nước ngoài là cá nhân sinh sống tại một quốc gia nhưng lại mang quốc tịch của quốc gia khác.
Người không quốc tịch là cá nhân không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào.
Người không quốc tịch là thực trạng pháp lý của một cá nhân có thể do nhiều
nguyên nhân: cá nhân xin thôi quốc tịch nước này để gia nhập quốc tịch nước
khác, trong thời gian chờ gia nhập quốc tịch nước mới, họ là người không quốc
tịch; cá nhân được sinh ra do sự xung đột pháp luật quốc tịch giữa các quốc gia;
công bị tước quốc tịch theo quyết định có tính chất chế tài của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. ... Tổ chức Gồm:
 Pháp nhân: Pháp nhân thương mại & PN phi thương mại
 Tổ chức không phải pháp nhân
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của tổ chức xuất hiện đồng thời cùng
một lúc khi tổ chức đó được thành lập hợp pháp và mất đi khi tổ chức đó bị giải thể, phá sản.
Tổ chức phải có đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định để tham gia quan hệ pháp luật.
Trong các tổ chức, có nhóm tổ chức là pháp nhân khi thỏa mãn các điều kiện được
quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể là: (1) Được thành lập theo quy
định của pháp luật; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá
nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhân danh
mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Pháp nhân gồm có: pháp nhân
thương mại và pháp nhân phi thương mại.
Khách thể của quan hệ pháp luật
Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật hướng tới khi tham gia quan hệ đó.
Khách thể của quan hệ pháp luật rất đa dạng, có thể là những lợi ích vật chất (như:
tiền, nhà, đất đai, phương tiện vận chuyển, tư liệu sản xuất...) hoặc lợi ích phi vật
chất thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần (như: quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ,
uy tín, danh tiếng...); hoặc thỏa mãn nhu cầu sử dụng dịch vụ của một chủ thể
(chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vận chuyển...).
Nội dung của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể.
Quyền của chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo cách thức mà pháp luật cho phép.
Chủ thể thực hiện quyền của mình thông qua các khả năng sau:
+ Thực hiện một số hành vi trong khuôn khổ pháp luật quy định để thỏa mãn nhu cầu của mình;
+ Yêu cầu chủ thể khác thực hiện hoặc kiềm chế không thực hiện những hành vi
nhất định: Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Nghĩa vụ pháp lý chủ thể là các xử sự mà các chủ thể của quan hệ pháp luật bắt
buộc phải thực hiện nhằm đáp ứng quyền của chủ thể phía bên kia trong quan hệ.
Nghĩa vụ pháp lý bao hàm các yếu tố sau:
+ Chủ thể nghĩa vụ phải hành động hoặc kiềm chế không hành động;
+ Chủ thể nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.
Chương 3: Thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nghiệm pháp lý 1. Vi phạm pháp luật
1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu sau:
- Vi phạm pháp luật là hành vi xác định của con người. Những gì còn nằm trong ý
nghĩ, tư tưởng của con người mà chưa thể hiện ra bên ngoài thì không thể làm biến
đổi thế giới khách quan, không có khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội
nên không thể coi là vi phạm pháp luật được.
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật. Vi phạm pháp luật là xử sự trái với
các yêu cầu của pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật được thể hiện dưới các hình
thức: chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật cấm, chủ thể không thực hiện
những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện.
- Vi phạm pháp luật là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý. Một
hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng chủ thể không có năng lực trách nhiệm
pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể. Một hành vi chỉ bị coi là vi phạm
pháp luật khi chủ thể điều khiển được hành vi của mình và nhận thức được hậu quả
của hành vi đó. Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ thể thì
mới bị coi là vi phạm pháp luật.
1.3. Các loại vi phạm pháp luật
Căn cứ để phân chia ra các loại vi phạm pháp luật:
– Căn cứ vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật
– Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, chủ thể, khách thể
Vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau: Khái niệm Đặc điểm Chủ thể Các yếu tố Ví dụ cấu thành Vi phạm Vi phạm Tội
Cá nhân hoặc mặt khách buôn bán pháp luật pháp luật phạm là tổ chức có tư quan, ma túy,
hình sự (tội hình sự (tội hành vi cách pháp khách thể, ấu dâm, phạm) phạm) gây nguy nhân. mặt chủ giết thuộc loại hiểm cho Năng lực quan, chủ người, vi phạm xã hội. trách nhiệm
thể của tội hối lộ… pháp luật  Hành vi hình sự: phạm. có tính gây nguy  Độ tuổi: nghiêm hiểm cho Người đủ trọng nhất xã hội là từ 14 tuổi Tội phạm là hành vi - dưới 16 hành vi gây nên tuổi chỉ nguy hiểm hoặc có chịu trách cho xã hội, khả năng nhiệm có lỗi, trái thực tế hình sự về pháp luật gây nên tội phạm hình sự và thiệt hại rất chịu hình đáng kể nghiêm phạt. cho các trọng do quan hệ lỗi cố ý xã hội hoặc tội nếu phạm đặc không biệt được nghiêm ngăn trọng. ngừa.  Người từ  Tội đủ 16 tuổi phạm có trở lên hành vi phải chịu trái pháp trách luật hình nhiệm sự. hình sự về  Là hành mọi vi được tội phạm
thực hiện  Sức khỏe một cách bình có lỗi. thường.  Là hành  Không bị vi do chủ tòa án hạn thể có chế. năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và phải chịu hình phạt. Vi phạm Vi phạm
 Là hành Cá nhân hoặc mặt khách Anh pháp luật pháp luật vi trái tổ chức có quan, NVA hành chính hành chính pháp luật năng lực khách thể, đầy đủ là hành vi hành trách nhiệm mặt chủ năng lực do cá nhân, chính. hành chính. quan, chủ chủ thể, tổ chức  Hành vi Năng lực thể của vi tham gia thực hiện đó đi trách nhiệm phạm hành giao một cách cố ngược lại hành chính: chính. thông đã ý hoặc vô ý với yêu  Độ tuổi: vượt đèn xâm phạm cầu của Người từ đỏ và bị các quy tắc pháp đủ 14 tuổi CSGT quản lý luật. nhưng lập biên Nhà nước  Hành vi chưa đủ 16 bản xử mà không đó bị tuổi chỉ bị phạt phải là tội pháp luật áp dụng hành phạm hình cấm. trách chính. sự và theo  Chủ thể nhiệm Khác: quy định không hành chính vượt đèn của pháp thực hiện đối với đỏ, đi luật phải bị hoặc những vi vào xử lý vi thực hiện phạm hành đường phạm hành không chính với ngược chính. đúng, lỗi cố ý. chiều… không  Người từ đầy đủ đủ 16 tuổi những trở lên hành vi chịu trách mà pháp nhiệm luật bắt hành chính buộc đối với phải thực mọi vi hiện. phạm hành  Là hành chính do vi được họ thực chủ thể hiện. thực hiện  Người một cách dưới 14 có lỗi. tuổi không  Là hành bị áp dụng vi do chủ các biện thể có pháp xử năng lực phạt hành trách chính mà nhiệm áp dụng hành các biện chính pháp tác thực hiện động xã và phải hội. chịu hình  Sức khỏe phạt. bình thường.  Không bị tòa án hạn chế.  Là hành vi trái với quy tắc về quản lý hành chính Nhà nước không phải là tội phạm mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính. Vi phạm Vi phạm  Là hành
Cá nhân hoặc mặt khách Anh pháp luật pháp luật vi trái tổ chức có quan, NVA dân sự dân sự là pháp luật năng lực khách thể, đầy đủ hành vi trái dân sự, trách nhiệm mặt chủ năng lực pháp luật, xâm hại dân sự. quan, chủ chủ thể có lỗi, xâm tới quan Năng lực thể của vi nghi ngờ hại đến các
hệ tài sản trách nhiệm phạm pháp chị NTB quan hệ tài và quan dân sự: luật dân sự. ăn trộm sản và quan hệ nhân  Độ tuổi: điện hệ nhân thân phát Người đủ thoại của thân phát sinh trong 18 tuổi trở mình, đã sinh trong giao lưu lên có năng có những giao lưu dân sự. lực hành vi lời lẽ xúc dân sự.  Là hành đầy đủ, có phạm vi có lỗi. đầy đủ khả danh dự  Do cá năng gánh nhân nhân, tổ chịu các phẩm chức có hình thức của chị năng lực trách nhiệm NTB. trách pháp luật Chị NTB nhiệm dân sự đã kiện dân sự dành cho anh thực hiện hành vi của NVA ra và phải họ gây ra. tòa. chịu áp  Người đủ Khác: dụng các 15 tuổi đến xô xát chế tài dưới 18 làm hỏng dân sự. tuổi có tài sản năng lực nhà hành vi nước, sử một phần. dụng  Người dưới hình ảnh 15 tuổi và cá nhân người bị chưa xin mất năng phép… lực hành vi là người không có năng lực trách nhiệm dân sự.  Sức khỏe tốt.  Không bị tòa án hạn chế.
Vi phạm kỉ Vi phạm kỉ  Là hành
 Do chủ thể mặt khách Anh luật luật là hành vi trái có năng lực quan, NVA vi trái pháp pháp luật
trách nhiệm khách thể, đầy đủ luật đã đã được
kỉ luật thực mặt chủ năng lực được cụ thể cụ thể hiện và quan, chủ chủ thể hóa trong hóa trong phải chịu thể của vi là lái xe nội quy, nội quy, áp dụng phạm kỉ cho cơ quy chế quy chế  các chế tài luật. quan. hoạt động hoạt kỉ luật: Trong của cơ
 động của  Độ tuổi: từ thời gian quan, tổ cơ quan, đủ 15 tuổi làm việc, chức do tổ chức. trở lên. anh