













Preview text:
10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
Câu 1: Tín ngưỡng trong đời sống người Việt
Tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần quan trọng của phần lớn người dân Việt Nam.
Hiện tín hiệu này vẫn luôn được giữ kín, có vai trò quan trọng trong đời
sống tinh thần của dân dân.
- Khái niệm : Tín ngưỡng là niềm tin của con người được hiện thông qua
những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thông để mang lại sự kiện
bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. (Theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo giáo 2016)
- Nguồn gốc : Tín hiệu được thiết lập thành công trong hoạt động sản xuất của con
người dùng. Nó không chỉ giải quyết các tự nhiên xã hội hiện tại mà còn là sản phẩm
sản phẩm văn hóa được hình thành trong mối quan hệ giữa người với môi trường
trường tự nhiên- môi trường môi trường và nghị viện chính bản thân mình. Từ xa xưa, do
phương thức sản xuất nông nghiệp lạc hậu, thiên tai luôn chắc chắn, chưa rõ
nhiều về thế giới xung quanh nên con người phải tìm hiểu, khám phá tự nhiên.
Từ đó xuất hiện tín hiệu, giải quyết các hiện tượng tự nhiên, xã hộtôi và con
người dùng. Ví dụ như người Việt quan niệm rằng trên trờtôi là không gian sinh sống
của các vị thần, dưới đất là địa phủ, nơi linh hồn của những người đã mất cư dânrú.
Mỗi hiện tượng nắng, mưa, sét đánh, bão tố đều là điều khiển thần tiên, nên
người Việt luôn hoa hương cầu khấn mưa thuận gió hòa để mùa hè bội thu.
-Một số loại tín hiệu ngưỡng ở Việt Nam:
Thực thi tín hiệu tín hiệu:
Khái niệm : Là sự sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản. Chuyển tín hiệu tiếp theo
hiện ước vọng, niềm tin mong đợi về sự sôi động của công việc và con người.
Biểu hiện : Chữ biểu tượng sinh thực khí, Tiếp tục thờ hành vi giao phối, Tiếp tục thờ đá…
+Thông báo sinh thực khí: stk dc coi là “biểu tượng của năng lượng thứiênng sinh ra
tồn tại loài”, cho nên người dân nông nghiệp giáo dục với mong muốn mang đến sự thật
sinh sôi sục, tốt tươi cho cây cối, hoa màu, an yên bội thu. Stk bình thường mà
biểu hiện qua linga yoni, nỏ nường, bụi nước.
+Tục thờ đá: vì đá gắn với linga yoni; các cặp linga yoni đều được làm bng đá sa Tôi
Trọng nghệ thuật: Tranh Hứng dừa và Đánh ghen của tranh dân gian Đông Hồ;
điêu khắc làng Đông Viên, đình Phùng.
Trong văn học dân gian: tranh thanh giảng, tranh liên tục giảng thanh. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
Trong lễ hội cổ truyền: tín ngưỡng quỳ thực tái hiện rất sống đào tạo dịch vụ
hội: Lễ hội Katê( đc coi là tết cổ truyền của ng Chăm Bàlamon được tổ chức vào
khoàng tháng 9-10 dương lịch, tín ngưỡng pt được thực hiện lễ tắm tượng( đặt nằm
nước tắm cho linga và yoni bôi lên đầu), và các lễ vật cúng thần (1 dê 3 con gà,….),
Lễ hội Rija Nưgar(1 trg những lễ hội chuyển mùa của dt Chăm, được tổ chức tại
t4, t5 dương lịch; vật cúng gồm dê gà, cơm canh..và bắt lửa phải lửa và
nước, đây là hình thái mang biểu tượng âm dương-> hy vọng âm dương hòa âm hợp, vạn vật sinh sôi)
Ý nghĩa: thể hiện ước mơ của dân dân về 1 cuộc sống ấm no, đủ đầy, con đàn anh ấy/cô ấy
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
Ý niệm ; Là sùng bái, thiêng hóa các hiện tượng tự nhiên; có thể hiện ước
vọng, niềm cầu mong mưa thuận, gió hòa.
Nguồn gốc, đặc điểm : do sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên
dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực tư duy là hoàng tư duy tổng hợp và trong lĩnh vực
tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần, tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp
dẫn đến hậu quả trong quan hệ xã hội là đường sống thiên về tình cảm, trọng nữ, và
trong tín ngưỡng là trạng thái của các nữ thần sử dụng ưu thế( là các Bà mẹ, các Mẫu). Biểu hiện:
+Tục thờ các tự nhiên: Bà Trời, Bà Đất, BàNước- những nữ thần cai
quản lý các hiện vật tự nhiên thân thuộc với cuộc sống của người trồng lúa nước; Mặt nạ
+Thờ động vật và thực vật: ng Việt có câu: nhất đôi xà tam ngư tứ tượng,
làm như vậy Việt sùng bái chim, rắn, cá sấu, Thúc các loài vật này lên biểu hiện
trưng: Tiên, Rồng. Theo truyền thuyết về tổ tiên của ng Việt thì ta thuộc “như Rồng Tiên”.
Ngã Thần Lúa, Mẹ Lúa, thờ cây Cầu, cây Đa, cây Dâu,…
Ví dụ: lễ hội Yangkoi- cúng thần lúa của Ng Mạ, vào t2-t3 âm lịch, khi ng Mạ
thu hoạch xong mùa ngủ, mong ước 1 nhiệm vụ lúa mới bội thu
Ý nghĩa: là tín ngưỡng dân gian tĩnh Việt, thể hiện ước mơ mưa thuận gió
hòa, mùa lành tươi tốt, cây cối lộc sinh sôi.
Tín ngưỡng sùng bái con ngưôi: 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
+Nguồn gốc : quan niệm về hồn vía, thể xác, linh hồn trở thành đầu mối của tín
ngưỡng. Truyền thống uống nguồn nước nhớ, đề cao tiềm của người Việt. +Bạch hiện:
Tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên: niềm tin rằng chết là về với tổ tiên chín sur,
Nhưng linh hồn vẫn thường xuyên về thăm nom, phù hộ cho con cháu; đó là cơ sở
cấu hình thành tín hiệu thờ cúng tiên tiên.
Ngạ thần có công với làng xã, danh nhân, anh hùng: trai qua nhiều biến cố
thăng trầm của lịch sử nước và giữ nước, VN có rất nhiều anh hùng
dân tộc đc nhân dân tôn giáo như Trần Hưng Đạo có công đánh ui giặc
Nguyên, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lý Thường
Kiệt mang quân đi chính phạt đất Tống, Đinh Bộ Lĩnh vực dọn dẹp 12 sứ quân, Lê Lợi chống quân Minh,…
Vd: đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Ninh Bình, HBT ở HN, Lê Lợi ở Thanh hoán
Ngã vua tổ: vua Hùng, vùng đất Phong Châu- nơi đóng đô của vua Hùng
ngày trước, trở thành đất Tổ, ngày 10-3 là ngày giỗ Tổ.
-Ý nghĩa : là giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần bồi đắp
đạo lý uống nước nhớ nguồn, có trước có sau,…
Tín hiệu thờ cúng Thành Hoàng Làng : là một loại hình tín ngưỡng phổ
phổ biến ở làng xã của Việt Nam bằng BB.
“thần Thành hoàng là biểu tượng thiêng liêng nhất của cả làng, ở mỗi làng, khắp nơi
các làng xưa kia” (ĐV sử ký toàn thư)
Thành: thành trì, hoàng: hào-> thành hoàng: nghĩa gốc là hào bao quanh thành.
Thành Hoàng là vị thần bảo hộ một thành quách cụ thể, nguồn gốc từ TQ; đc du
nhập vào VN thời Đường.
Ở mỗi làng quê Bắc Bộ, làng nào cũng có thành hoàng- vị thần bản mệnh, chỗ
dựa tâm linh cho cả làng.
Nơi thờ Thành hoàng làng là đình làng- nơi đc coi như không gian sinh hoạt văn
hoá, tín ngưỡng, hành chính của làng. Người dân thờ cúng thành hoàng vào
những ngày tiết nạp bốn mùa, giao thừa, xây dựng công trình chung, đb là ngày thần huý và thần đản.
Thành Hoàng làng gồm Thiên thần như Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn
thần…), nhiên thần ( thần sông, thần núi, thần sấm…) và nhân thần( Lý Thường
Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu…); nhân thần gồm tà thần, dâm thần và chính 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
thần (trong chính thần lại phân thành thượng đẳng thần, trung đẳng thần, hạ
đẳng thần, tuỳ theo công trạng của các vị thần đối với ndan, làng xã).
Vd: Công chúa Ngọc Hoa là Thành hoàng làng Đại Yên, quận Ba Đình; công
chúa Túc Trinh khai dân lập làng Đại Áng( Kẻ Đảm), huyện Thanh Trì,…
Ý nghĩa: nhắc nhở con ng về cội nguồn, uóng nc nhớ nguồn, tăng tình làng
nghĩa xóm, gắn bó, đoàn kết của dân làng, củng cố khối cộng đồng làng xã.
Thờ Tứ Bất Tử
-Thánh Tản Viên: Truyền thuyết kể rằng:…..
Cuộc chiến đấu chống lại Thuỷ Tinh của Sơn Tinh cũng phản ánh quá trình
chống thiên tai địch hoạ từ biển của VN, thể hiện khát vọng chinh phục tự
nhiên, mưa thuận gió hoà.
Tục lệ thờ Đức Thánh Tản có khoảng 250 năm trc Công nguyên, An Dương
vương cho lập đền thờ trên núi Tản Viên, gọi là đền Thượng, nay thuộc huyện
Ba Vì, Sơn Tây, HN, là biểu tượng không gian văn hoá xứ Đoài. 3 năm 1
lần,Vào 15 tháng giêng âm lịch, diễn ra nhiều hoạt động như rước bài vị thánh
Tản, đánh các sông (99 con), lễ rước Thánh bà Mỵ Nương, múa gà, đấu cờ…
-Thánh Gióng: vị thánh bất tử tượng trưng cho sức mạnh vĩ đại của dân tộc trc giặc ngoại xâm. ….
Vua Hùng ghi nhận công lao của Thánh gióng và phong cho danh hiệu Phù
Đổng Thiên Vương, lập đền thờ tại đền Sóc Sơn, núi Vệ Linh. Hằng năm, cứ
đến ngày 9 tháng4 âm lịch, làng Gióng hay còn gọi là làng Phù Đổng tổ chức lễ
hội rất long trọng. Lễ hội TG là btg kh gian vh xứ Bắc, còn đc unessco công
nhận là di sản vh phi vật thể của nhân loại.
Tục thờ TG thể hiện tinh thần yêu nước, khát vọng hoà bình cũng như sức mạnh
chống giặc ngoại xâm, bảo vệ qh của nhân dân ta.
-Chử Đồng Tử:…. CĐT thần thông quảng đại, dạy dân buôn bán, chài lưới,
nuôi tằm dệt vải, đem lại cs đủ đầy, còn hiển linh giúp dân đánh giặc.
Trung tuần tháng hai âm lịch hằng năm, ng dân lại tổ chức tế lễ tại đền Dạ
Trạch, KC, HY với mong muốn 1 cs giàu sang, pt, sung túc. Hội Dạ Trạch là btg khgian vh xứ Đông.
-Thánh Mẫu Liễu Hạnh:….btg của ng phụ nữ VN tài hoa, đức hạnh,nhân hậu,
hiếu thảo, nghĩa tình. Bà đc tôn thờ là “Thánh Mẫu linh thiêng - Mẹ của muôn dân.” 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
Ở qh Phủ Giầy của bà, ngdan xd 1 quần thể kiến trúc để thờ cúng. Hằng năm
ngày 1-10 tháng 3 âm lịch diễn ra hội Phủ Giầy vs các hd tế lễ để thể hiện ước
vọng giải phóng con ng, đb là phụ nữ. là btg kgian vh xứ nam.
Thờ Mẫu: Tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc sâu xa từ chế độ mẫu hệ của VN.
(Ng V từ tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần + sự ảnh hưởng của Đạo giáo
TH, tương đối nhất quán về điện thần vs các phủ, đền; chuẩn hoá các nghi lễ,
hình thành nên tín ngưỡng thờ Mẫu.)
Tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần+ đạo giáo tương đối nhất quán về hệ
thống thờ cúng trg các phủ, đền; các nghi lễ đã đc chuẩn hoá.
Chứa đựng những nhân tố về vũ trụ luận nguyên sơ, 1 vũ trụ thống nhất chia
thành 4 miền do hoa sthaan 4 vị thánh Mẫu cai quản: miền trời( Mẫu Thiên),
miền đất (Mẫu địa), miền sông biển (Mẫu thoải), miền núi rừng (mẫu thượng ngàn).
Hình thức thể hiện: Điện thờ, hát chầu văn, hầu đồng
Thể hiện ý thức nhân sinh, ý thức về cội nguồn dân tộc, đất nước, chứa đựng lòng yêu nước
Thờ Nữ thần: mang tính nguyên sơ, bản địa; đc phổ cập rộng rãi trg sinh hoạt
tín ngưỡng dân gian vs các thiên thần như Thần Sấm…( Tứ pháp) bắt nguồn từ
hd nông nghiệp, nhân thần như Mẫu Liễu Hạnh, Ỷ Lan, bà Trưng, bà Triệu…
Thờ Mẫu thần: là các nữ thần đc tôn vinh, cung đình hoá như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu
Mẫu tam phủ, tứ phủ: sự pt cao của tín ngưỡng thờ nữ thần+ mẫu thần vs sự ảnh
hưởng của đạo giáo TH sau tk 16. Có sự khái quát cao độ từ tín ngưỡng đa thần
về 1 số vị nữ thần cơ bản như: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẫu Thượng Ngàn,
Mẫu Thoải (Thủy), Mẫu Địa (Địa Tiên Thiên Thánh Mẫu), lần lượt cai quản
vùng trời, rừng núi, sông nước, miền đất. Hệ thống thần điện:
Ngọc Hoàng-Tam toả thánh mẫu- Ngũ vị vương quan- tứ vị chầu bà- ngũ vị
hoàng tử- thập nhị cô nương- thập nhị vương cậu- quan ngũ hổ- ông lốt (rắn).
-Những điểm tích cực và tiêu cực trong việc thực hành tín ngưỡng:
+Tích cực: Góp phần đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân
dân, củng cố, nâng cao giá trị đạo đức, lối sống của người Việt, củng cố, bảo tồn
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
+Tiêu cực: Nhiều lễ hội, tín ngưỡng đang có chiều hướng phát triển thiên lệch,
xa rời bản chất, nhận thức của người dân về các giá trị văn hóa truyền thống có
xu hướng lệnh lạc ( ví dụ: hoạt động tín ngưỡng mang tính vụ lợi, thực dụng,
tâm lí ỷ lại vào thần thánh, hiện tượng tế lễ cầu kì, tốn kém…); trong nhiều lễ
hội, tín ngưỡng còn tồn tại những tục hèm tối cổ, ít hoặc không còn phù hợp với
điều kiện mới, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý con người hiện đại( tục
hèm chém lợn, lễ hội hiến tế trâu…); nhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian biến
dạng, gây tác động xấu với xã hội, khó khăn cho công tác quản lí nhà nước. Câu 2: Văn hóa Đông Sơn:
Văn hóa Đông Sơn được coi là thời kì rực rỡ của nền văn hóa Việt cổ. Nền văn
hóa này cơ sở vật chất để hình thành nhà nước đầu tiên Văn Lang-Âu Lạc, và là
nền tảng cho sự hình thành bản sắc văn hóa Việt cổ, cũng như văn minh Đại Việt sau này.
-Bối cảnh hình thành: biển lùi, đồng bằng hình thành, cư dân Việt cổ di cư từ
vùng cao xuống vùng thấp để cư trú định cư.
(Văn hoá Đông Sơn thuộc giai đoạn đồng thau- đồ sắt sớm ( tk7 tcn- 179 tcn),
trải qua hai giai đoạn phát triển kế tục nhau: giai đoạn sớm, văn hoá ĐS chưa có
đồ sắt, chưa chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán; giai đoạn muộn văn hoá ĐS đã
xuất hiện đồ sắt và ít nhiều chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá Hán được thể
hiện trên đồ gốm và đồ uống.) -Đặc trưng:
+ Được hình thành từ 3 nền vh tiền ĐS thuộc thời đại kim khí
Văn hoá Đông Sơn được hình thành từ ba nền văn hoá ở lưu vực sông Hồng,
sông Mã, sông Cả: văn hoá Phùng Nguyên- Đồn Đậu- Gò Mun.
+Là nền vh mang đậm tính bản địa: Chủ nhân của vh ĐS là người Việt Cổ,
được cho là tổ tiên của người dân tộc Việt và Mường hiện nay. Cho nên vh ĐS
có nguồn gốc bản địa, mang đậm tính bản địa.
+Là nền văn hoá phát triển rực rỡ, đỉnh cao thứ nhất trong tiến trình văn hoá Việt Nam
+Đặt nền móng cho văn hoá VN sau này: 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
Phân hoá xã hội và sự hình thành nhà nước sơ khai:
Nguyên nhân thứ nhất: điều kiện kinh tế xã hội: phương thức sản xuất phát triển
mạnh mẽ và toàn diện hình thành các trung tâm sản xuất thủ công có tính
chuyên môn hoá cao: cụm công xưởng Cồn cấu- Bái Tề- Núi Nấp, Núi Sen,
Đền Thượng,…tạo nên các khu định cư trung tâm. Sức sản xuất cao đã tạo nên
sự dư thừa của cải, dẫn đến sự phân hoá xã hội, chênh lệch về của cải và địa vị.
Thứ hai, trước sự đe doạ xâm lăng của thế lực bên ngoài, yêu cầu người Việt cổ
đoàn kết lại để chống kẻ thù.
Thứ ba, cư dân ĐS dần khai phá các đồng bằng châu thổ ven sông lớn, vấn đề
trị thuỷ được đặt nên hàng đầu, nên yêu cầu bức thiết con người chung sức, liên kết lại.
Vậy nên, bóng dáng của một nhà nước sơ khai được hình thành. Nhà nước đầu
tiên là Văn Lang, đứng đầu là Vua Hùng, dưới có lạc hầu, lạc tướng, con trai
vua gọi là quan lang, con gái là mỵ nương. Tiếp đó là nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương.
Sự ra đời và phát triển của Nhà nước sơ khai là đóng góp lớn nhất của thời
Đông Sơn với nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng
vững chắc cho sự hình thành và phát triển của các nhà nước phong kiến sau này.
Bên cạnh đó, đời sống văn hóa Đông Sơn là nền tảng cơ bản nhất, hình thành
nên bản sắc dân tộc, mà trong quá trình bị Bắc thuộc nó vẫn không bị mất đi,
không bị đồng hóa, vẫn tồn tại mãnh liệt và trỗi dậy sau 1000 năm Bắc thuộc.
(Hiện vật văn hoá Đông Sơn vô cùng phong phú, phần lớn được phát hiện trong
các di chỉ cư trú và khu mộ táng, chẳng hạn như: trống đồng Ngọc Lũ, trống
Hoàng Hạ, trống Cổ Loa, kho mũi tên đồng Cổ Loa…. Hiện vật gồm nhiều chất
liệu khác nhau như đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, gốm, thuỷ tinh…nhiều nhất, tiêu biểu
nhất là đồ đồng với kỹ thuật đúc điêu luyện và trình độ thẩm mĩ cao; như: rìu,
lưỡi liềm, thạp, thố, bình, vòng ống, vòng tay, trống, sênh,…)
+Thành tưu văn hoá vật chất:
+Nông nghiệp: cư dân tiền Đông Sơn là cư dân trồng lúa nước; bên cạnh đó còn
có việc trồng lúa nương trên các vùng núi và trung du của các cộng đồng cư dân
nhỏ phân tán. Thời kì này họ có thể đã có những kỹ thuật trị thuỷ như đắp đê
chống lụt. Nông nghiệp dùng cày phát triển, một năm hai vụ. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
Ngoài trồng lúa ra, cư dân Đông Sơn còn trồng nhiều loại cây lấy củ, cây rau, lấy hạt.
+Chăn nuôi: Cư dân Đông Sơn đã biết thuần dưỡng và sử dụng trâu, bò làm sức
kéo sản xuất nông nghiệp. Người Đông Sơn còn nuôi chó hình ảnh con chó
được khắc hoạ trên rìu đồng gót vuông ở Gò De, Làng Cả trong cảnh đang đón
đầu hươu trong một cảnh đi săn.
Ngoài ra người dân ĐS còn thuần dưỡng voi để phục vụ cho việc đánh trận và
chuyên chở vật dụng; nuôi các con vật khác như lợn, gà, dê. +Thủ CN
Người ĐS phát triển kỹ thuật luyện kim ở trình độ cao.
Từ thời Tiền Đông Sơn họ đã biết đến luyện đồng, pha chế được hợp kim đồng
và thiếc; dần dần, cư dân cổ đã biết cho thêm acxênic và antimoan vào hợp kim
để chế tác những mũi tên sắc bén hơn.
Bước sang thời kì văn hoá Đông Sơn, những người thợ kim khí đã biết cho
thêm thành phần chì, tạo ra hợp kim đồng-chì-thiếc. Đây là yếu tố gây nên sự
đột biến về kỹ thuật luyện kim. Chính nhờ vậy mà kỹ thuật đúc đồng thau đạt
đến đỉnh cao của thời kì này với trình độ điêu luyện. Số lượng và loại hình công
cụ, vũ khí bằng đồng tăng vọt. Nhiều khuôn đúc đồng đã được tìm thấy ở Làng
Cả, Làng Vạc, Làng Ngâm, Luy Lâu (Bắc Ninh),…
Bên cạnh việc phát triển nghề luyện kim, nhiều ngành thủ công truyền thống,
tiếp nối từ các văn hoá thời Tiền Đông Sơn vẫn được duy trì và phát triển. Đó là
nghề làm đồ đá, làm gố, dệt vải, nghề mộc, nghề nấu thuỷ tinh…
+Về việc làm nhà: vật liệu chủ yếu là gỗ, tre, nứa,.. để làm kèo, cột nhà; còn
rơm, rạ, lá cọ, lá dừa để lợp mái; dùng đất nung xây tường. Kiểu dáng nhà mang
đậm tính sông nước, đa phần là nhà sàn hình mai rùa hoặc hình thuyền. Nhà
được xây “nhà cao-cửa rộng”, hướng về phía nam hoặc đông nam; nhà xây quần tụ theo xóm, làng.
+Về trang phục, nam ở trần, đóng khố, đi chân đất; nữ mặc váy, ngoài ra cũng
có một số loại áo như áo cánh dài tay, áo xẻ ngực bên trong có yếm, váy lông
chim, khố dài thêu… Người ĐS ưa thích đồ trang sức, họ đeo đồ trang sức bằng
đồng, thuỷ tinh ở tay, cổ tay và chân; học còn có tục nhuộm răng đen và xăm mình.
+Ăn :Cư dân ĐS bắt đầu ăn gạo tẻ, gạo nếp được dùng chủ yếu trong lễ tết cầu
cúng. Ngoài ra họ còn ăn các loại hoa màu, rau quả, thuỷ sản theo mô hình cơm-rau-cá. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
+Thành tựu văn hoá tinh thần:
Cư dân ĐS có một đời sống tinh thần rất phong phú.
Thời kì này hình thành những huyền thoại thần thoại, phản ánh quá trình khai
phá và chiếm lĩnh các đồng bằng của cư dân Việt cổ. Những lễ nghi, tín ngưỡng
giai đoạn này gắn chặt với nghề nông trồng lúa nước. Đó là tục thờ mặt trời,
mưa giông, nghi lễ phồn thực, tục đua thuyền,…Bên cạnh đó cư dân ĐS đã nảy
sinh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh hùng, thủ lĩnh.
Thời kì này người dân có tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp; cho rằng thế giới được
chia đôi: có đàn ông ắt có đàn bà, có đực tất có cái, có âm ắt có dương. Hơn nữa
còn có tư duy khoa học thể hiện trong tri thức thiên văn, khái niệm số đếm, lịch
pháp. Phong tục tập quán cũng rất đa dạng: nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình,
uống nước bằng mũi, xăm mình, ma chay, cưới xin,…
Nghệ thuật nhạc cũng phát triển. Nhiều nhạc cụ được chế tạo và sử dụng như bộ
gõ có trống đồng, trống da, chuông nhạc, phách, bộ hơi có khèn, tiêu biểu là
trống đồng. Những hình khắc trên trống đồng có cảnh người hóa trang lông
chim đang nhảy múa theo nhịp đánh của dàn nhạc cụ trống, chiêng, hoặc tượng
đồng Đông Sơn thể hiện hai người cõng nhau, vừa thổi khèn, vừa nhảy múa.
Về chữ viết, người ĐS khắc chữ trên các công cụ, vũ khí đồng thau
Câu 3: Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa Việt Nam
Việt Nam là quốc gia nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á- khu vực điển
hình của văn hoá phương Đông. Môi trường sống có khí hậu nhiệt đới, mưa
nhiều đã tạo nên các con sông lớn với các đồng bằng rộng lớn, trù phú. Đó là cơ
sở để nghề trồng trọt hình thành và phát triển. Vậy nên, tính nông nghiệp đã thể
hiện rõ nét trong các thành tố văn hoá Việt Nam. -Ăn-mặc-ở-đi lại:
+ Ăn: Nguồn lương thực chính của người Việt chủ yếu là lúa gạo.
+Ở: Vì làm nông nghiệp cần thời gian chờ đợi để cây lớn lên, rồi thu hoạch nên
người Việt sống định cư. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
-Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên: nghề trồng trọt buộc người dân
phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống
phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và
ước vọng hoà hợp với thiên nhiên, tôn sùng thiên nhiên, thể hiện đức hiếu sinh.
Người Việt Nam thường nói là “lạy trời”,”nhờ trời”,”ơn trời”…Người nông dân
Việt Nam trong tâm thức luôn coi trời là chỗ dựa cho nên có những câu ca dao
rất gần gũi như:”Người ta đi cấy lấy công/ Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề/
Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm/
Trông cho chân cứng đá mềm/ Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.”
Người Việt còn tôn sùng và thờ cúng tự nhiên qua tín ngưỡng đa thần và coi
trọng nữ thần, thờ động thực vật. Về thực vật, người dân tôn sùng nhất là Cây
Lúa, sau đó đến Cây đa, Cây cau, Cây dâu và Quả bầu. Về động vật thờ hươu,
nai, cóc, đặc biệt là các loài vật phổ biến ở vùng sông nước như chim nước, rắn, cá sấu.
-Trong cách ứng xử với môi trường xã hội:
Tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của nền văn hoá nông nghiệp còn quy
định thái độ trong dung hợp và tiếp nhận các yếu tố. Người Việt tiếp nhận và
coi các tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo, Thiên chúa giáo,…) đều bình đẳng như
nhau. Vì thế mà Việt Nam không có chiến tranh giữa các tôn giáo. Tất cả các
tôn giáo đều được công nhận và bình đẳng trước pháp luật.
Trong việc đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết
sức mềm dẻo, hiếu hoà, linh hoạt. Như trong cuộc chiến tranh chống giặc Minh,
khi đang ở trên thế thắng, Lê Lợi đã hạ lệnh cung cấp thuyền, ngựa và lương
thực cho quân Minh sử dụng để về nước, mở đường cho chúng rút lui trong
danh dự; cũng như bảo toàn lực lượng của ta, tránh gây thù với nước lớn.
Trong tiếp nhận văn hoá của nước khác, chúng ta tiếp nhận cái tốt và bài trừ cái xấu. -Trong văn hoá tinh thần:
Hàng nghìn năm nay, nghề chính của người dân Việt Nam là nghề nông trồng
lúa nước. Do tính chất công việc phức tạp, nặng nhọc, gồm nhiều công đoạn và
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên người nông dân luôn có ý thức tôn
trọng và ước vọng sống hoà hợp với thiên nhiên: “Người ta đi cấy lấy công/ Tôi
nay đi cấy còn trông nhiều bề…”
Vì phải “trông nhiều bề” như vậy nên trong nhận thức và tiềm thức của người
dân dần hình thành lối tư duy tổng hợp, bao quát thiên về kinh nghiệm, trực
giác, cảm tính và duy linh (linh cảm).Tổng hợp kéo theo hiện chứng – cái mà 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
người nông nghiệp quan tâm không phải làcác yếu tố riêng rẽ, mà là những mối
quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp là bao quát được mọi yếu tố, còn biện
chứng là chút rọng đến các mối quan hệ giữa chúng. Người nông dân quan sát
từng yếu tố, hiện tượng của tự nhiên để đúc kết ra kinh nghiệm trong sản xuất,
trồng trọt, truyền lại cho đời sau qua những câu ca dao, tục ngữ: “ Chuồn chuồn
bay thấp thì mưa/ Bay cao thì ráo/ Bay vừa thì râm.”
Về tín ngưỡng: Trọng sự duy trì và phát triển nên tín ngưỡng phồ thực xuất
hiện( phồn=nhiều, thực= nảy nở); tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: chất âm tính
của văn hoá nông nghiệp dẫn đến sự chiếm ưu thế của các nữ thần…; thờ cúng
tổ tiên( trong đồ cúng phải có nước, vì nước là thứ quan trọng đối với cư dân trồng lúa nước);
Gắn với tín ngưỡng là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, cầu
mưa, cầu nắng, đua thuyền, tịch điền, mừng được mùa… Về ngôn từ:
Về lối sống: Cuộc sống nông nghiệp cần sự ổn định nên có lối sống trọng tĩnh,
hướng nội và khép kín. Người Việt sống theo làng xã, sống bằng nền nông
nghiệp tự cấp tự túc nên rất ít đi giao lưu, buôn bán xa.
-Trong văn hoá tổ chức cộng đồng:
Từ xưa đến nay, người Việt Nam ưa tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình,
chuộng sự hoà thuận, tương trợ, quan tâm đến láng giềng. Hàng xóm phải lấy
tình nghĩa đặt lên trên, sống hoà thuận với nhau. Điều này đã được đề cập đến
trong các câu ca dao:”Bán anh em xa, mua láng giềng gần.”; “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.”
Nhân dân ta còn ưa chuộng hoà bình, luôn có thái độ sống hoà thuận, tương trợ
láng giềng. Năm 1978, trước lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước
Campuchia, quân dân Việt nam đã phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng
Campuchia tiến hành tấn công Khmer Đỏ, giúp đỡ nước bạn thoát khỏi nạn diệt
chủng. Đến hiện nay, Việt Nam vẫn giữ thái độ thân thiện, hoà đồng, trung lập
với tất cả các quốc gia trên thế giới.
Lối sống trọng tình dẫn đến thái độ trọng đứa, trọng văn, trọng Mẫu, đề cao
nguyên lí Mẹ. Trong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôinhà, coi
trọng cái bếp và coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quánvà rõ nét: Phụ nữ
Việt Nam là người quản lý kinh tế, tài chính trong gia đình – ngườtôi nắm tay.
key. Chính bởi vậy mà người Việt Nam coi: “Nhất vợ nhì trời”, “Lòh
ông không bằng cồng bà”, Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu
lòng”…Vì tầm quan trọng của người mẹ nên trong tiếng Việt, từ cái với nghĩa
là “mẹ” đã mangthêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông cái, đường cái, đũa cái,
cột cái,trống cái, ngón tay cái, máy cái…Tuy nhiên trong một giai đoạn của
xãhội cũ, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã bị truyền vào Việt Nam và đã bịngười
dân phản ứng một cách dữ dội. Vậy nên không phải ngẫu nhiên màvùng nông
nghiệp Đông Nam Á này được nhiều học giả phương Tây gọilà “xứ sở Mẫu hệ”.
Con người sống theo tình cảm, biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với
nhau. Đó là nền dân chủ làng mạc, nó có trước nền quân chủ phong kiếnphương
Đông và nền dân chủ tư sản phương Tây. Người nông nghiệp coi trọng tập thể, làm việc cộng đồng.
Nhưng với tác hại của tính linh hoạt là thói tuỳ tiện biểu hiện ở các thói quen co
giãn giờ giấc, trì hoãn thời gian, sự thiếu tôn trọng pháp luật:”Một trăm cái lý
không bằng một tí cái tình.”
Trên đây là những biểu hiện của tính nông nghiệp trong các thành tố văn hoá
Việt Nam. Tuy nhiên, văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển
của tiến trình lịch sử Việt Nam, làm hạn chế tính năng động, sáng tạo và linh
hoạt của người Việt. Vậy nên bên cạnh việc giữ gìn nên văn hóa đặc trưng của
dân tộc, cần phải vượt lên trên cái trì trệ, lạc hậu, không phù hợp với tình hình hiện nay. 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu 10:48, 08/01/2026
Đề cương Tín Ngưỡng trong Đời Sống Người Việt - Nghiên cứu CSVH - Studocu