ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC- Lênin - Copy
triết (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC- Lênin - Copy
triết (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội)
Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
BÀI 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
I. Vấn đề cơ bản của triết học
1. Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
- Vấn đề cơ bản của triết học: là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn:
+ Mặt thứ nhất:Giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết
định cái nào?
+ Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?
Cách trả lời hai câu hỏi trên quy định lập trường của nhà triết học và của trường phái triết
học, là tiền đề để giải quyết các vấn dề khác của triết học
2. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Việc giải quyết mặt thứ nhất chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn: CNDV
CNDT
Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con
người được gọi là các nhà duy vật. Còn những người cho rằng ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm
giác là cái có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm
- Chủ nghĩa duy vật: thể hiện dưới 3 hình thức cơ bản:
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác (Duy vật thời cổ đại): thừa nhận tính thứ nhất của vật chất
nhưng lại đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của vật chất và đưa ra những kết
luận mang tính trực quan, ngây thơ, chất phác. Ưu điểm: lấy bản thân giới tự nhiên để giải
thích thế giới, không viện đến thần linh, thượng đế…
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình (thế kỷ XV – XVIII): chịu sự tác động mạnh mẽ của
phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới - phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên thế giới đó về cơ bản ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại. Ưu điểm:
góp phần đẩy lùi thế giới quan duy tâm và tôn giáo, chuyển từ đêm trường trung cổ sang thời
kì Phục hưng
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng (thế kỷ XIX): Khắc phục hạn chế của CNDV chất phác
và CNDV siêu hình. CNDVBC không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn
tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện
thực.
- Chủ nghĩa duy tâm:gồm có duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan
1
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, phủ nhận sự
tồn tại khách quan của hiện thực; khẳng định mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp của những
cảm giác
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng coi đó là
tinh thần khác quan có trước và tồn tại độc lập với con người như ý niệm, tinh thần tuyệt đối,
lý tính thế giới…
Ví dụ:Xưa Khổng tử có câu: “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời”. Cụ thể, sống, chết,
giàu sang đều là những yếu tố thuộc về vật chất còn mệnh và trời là những thứ hư ảo, thần bí,
một thế lực siêu hìnhđược cho là có thể định đoạt mọi thứ. Đây là chủ nghĩ duy tâm khách
quan.
Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và là cái sản sinh ra
giới tự nhiên
- Trường phái nhị nguyên luận: những nhà triết học giải thích thế giới bằng cả hai bản
nguyên vật chất và tinh thần, xem vật chất và tinh thần là hai bản nguyên có thể cùng quyết
định nguồn gốc và sự vận động của thế giới. Trong trường hợp giải quyết một vấn đề nào đó, ở
vào một thời điểm nhất định là người duy vật, nhưng vào một thời điểm khác, và khi có giải
quyết một vấn đề khác lại là người duy tâm.
Song, xét đến cùng nhị nguyên luận thuộc về chủ nghĩa duy tâm.
3. Việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học đã chia thành Thuyết
khả tri và Bất khả tri
Những nhà triết học thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người gọi là các nhà
triết học “khả tri” (có thể biết), có một số các nhà triết phủ nhận khả năng nhận thức của con
người gọi là các nhà triết học “bất khả tri” (không thể biết).
Ngoài ra có quan điểm nghi ngờ khả năng nhận thức của con người được gọi là “Hoài
nghi luận”
- Thuyết khả tri (thuyết có thể biết): con người có thể hiểu được bản chất của sự vật.
Ví dụ: Thuyết khả tri có thể nghiên cứu về cách chúng ta biết rằng Trái Đất là hình cầu
thông qua các phương pháp khoa học và chứng cứ hình ảnh từ vệ tinh.
- Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): con người không thể hiểu được bản chất của
đối tượng, phủ nhận khả năng vô hạn của nhận thức
Ví dụ: Một người bất khả tri có thể cho rằng không thể biết chắc chắn về sự tồn tại của
một vị thần, vì không có đủ chứng cứ hoặc thông tin để đưa ra một quyết định chính xác.
- Hoài nghi luận: cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan.
2
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
II. Chức năng của triết học Mác-Lênin
1. Chức năng thế giới quan: Triết học Mác-Lênin đem lại thế giới quan DVBC, là
hạt nhân thế giới quan cộng sản.
- Định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực. Giúp con người có
cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích, ý
nghĩa của cuộc sống.
Ví dụ: Ph. Ăng-ghen cũng có công rất lớn trong việc cung cấp những luận chứng thuyết
phục để chứng minh tính chất duy vật triệt để của học thuyết Mác trong lĩnh vực lịch sử, xã
hội; làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và là “công cụ nhận thức vĩ đại” của con
người.
- Giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng cho mọi hoạt động, từ đó
xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình
- Nâng cao vai trò tích cực sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề xác
lập nhân sinh quan tích cực. Trình độ phát triển thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự
trưởng thành cá nhân, của cộng đồng xã hội
- Thế giới quan DVBC là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm,
tôn giáo, phản khoa học.
2. Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác-Lênin thực hiện chức năng phương
pháp luận duy vật biện chứng chung nhất, phổ biến nhất cho nhận thức và hoạt động thực
tiễn.
- Trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho
hoạt động nhận thức và thực tiễn
- Trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận
thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học – tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.
- Bồi dưỡng phương pháp luận DVBC giúp con người tránh được những sai lầm do chủ
quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra.
Liên hệ: Thông qua PBCDV, chủ thể nhận thức thế giới trong mỗi liên hệ phổ biến (cái
riêng và cái chung) , trong sự vận động biến đổi, phát triển không ngừng (lượng đổi chất đổi) ;
tuân thủ các nguyên tắc phương pháp luận như khách quan, toàn diện…; giúp con người định
hướnglựa chọn phương pháp phù hợp…
BÀI 2 VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Nguồn gốc của ý thức
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
3
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
- Nguồn gốc tự nhiên:
Bộ não người
Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người. Bộ
não người là khí quan vật chất ý thức. Ý thức là chức năng của bộ não người. Hoạt động ý thức
của con người diễn ra trên cơ sở hoạt đọng sinh lý thần kinh của bộ não người. Ý thức phụ
thuộc vào hoạt động bộ não con người, do đó, khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ
không bình thường hoặc bị rối loạn. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh
thần kinh của bộ não.
Bộ não con người có cấu trúc đặc biệt phát triển rất tinh vi và phức tạp, bao gồm khoảng
14-15 tỷ tế bào thần kinh chuyên thu nhận và xử lí thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ,
hình thành phản xạ có điều kiện và không điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ thể trong
quan hệ với thế giới bên ngoài.
Thế giới khách quan:
Thế giới quan là thế giới vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức của con người. Sự tác động
của thế giới quan vào bộ não con người thông qua quá trình phản ánh sinh ra ý thức. Đó chính
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Quá trình phản ánh thế giới quan bởi não bộ để hình thành ý thức
Phản ánh là quá trình tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống
vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc
vào cả hai vật -vật tác động và vật nhận tác động.
- Nguồn gốc xã hội
Lao động: là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản
phẩm, phục vụ các nhu cầu của mình, là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò
môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người với tự nhiên, Lao động là
yếu tố quyết định đến sự hình thành ý thức của con người vì:
Thứ nhất, quá trình lao động đưa lại cho con người dáng đi thẳng bằng đôi chân,
giải phóng đôi tay, các giác quan của con người ngày càng biến đổi, con người dần tách khỏi
giới động vật, bộ não của con vật dần chuyển sang bộ não người và ngày càng hoàn thiện hơn.
Thứ hai, trong lao động con người sử dụng công cụ lao động tác động vào các
đối tượng, làm chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, quy luật tồn tại… và thông
qua các giác quan tác động vào bộ não người hình thành tri thức nói riêng và ý thức con người
nói chung.
4
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Thứ ba, trong quá trình lao động, con người liên kết với nhau thành xã hội, làm
nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội dẫn đến việc
hình thành ngôn ngữ.
VD: Từ xa xưa, khi con người lao động đã tạo ra các vật dụng dao, liềm để có thể phát
triển từ thời kì hái lượm lên thời kì săn bắn để gia tăng chất lượng cuộc sống. Qua thời gian,
quá trình lao động đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cho nhân loại, con người đã làm ra nhiều
loại công cụ phục vụ cho đời sống điển hình là sự ra đời của máy hơi nước nhằm đáp ứng nhu
cầu dệt may ở Anh vào cuối thế kỷ 18, đó được xem là cuộc cách mạng công nghiệp 1.0, là
tiền đề để có được cuộc cách mạng 4.0 ngày nay, tất cả đều là nhờ lao động của con người.
Ngôn ngữ
Một là, ngôn ngữ là tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức.
Hai là, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là
phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch sử.
Ba là, ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Nhờ có
ngôn ngữ con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, trao đổi tư tưởng,
truyền đạt thông tin, giữ gìn và kế thừa những tri thức giữa các thế hệ người trong lịch sử.
VD: Con người không thể tư duy nếu không dùng tới ngôn ngữ. Chẳng hạn như chúng ta
sẽ không thể suy nghĩ và giao tiếp được với thế giới xung quanh ở một mức độ nào đó chứ
không phải là hoàn toàn.
Như vậy, lao động và ngôn ngữ là yếu tố là chuyển biến dần bộ óc vượn thành bộ óc
người, tâm lý động vật thành ý thức của con người.
Kết luận: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức được hình thành
bởi hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội. Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã
hội là điều kiện đủ. Vì vậy, nếu chỉ nhấn mạnh một mặt nào đó của nguồn gốc ý thức thì đều
dẫn đến sai lầm. Nghiên cứu nguồn gốc của ý thức là cách tiếp cận để hiểu rõ bản chất của ý
thức, khẳng định bản chất xã hội của ý thức.
VD: Câu chuyện về hai cô bé được sói hoang nuôi dưỡng. Kamala được tìm thấy trong
rừng năm 1920, khi cô bé khoảng 8 tuổi, còn Amala được tìm thấy khi chỉ mới 18 tháng. Cả
hai cô bé đều sống tách biệt với thế giới loài người cùng bầy sói ở Midnapore, Ấn Độ. Muốn
đưa 2 cô bé từ thế giới loài vật trở về xã hội loài người, người ta phải dạy cách ăn uống, cách
cầm đũa, ngôn ngữ tiếng nói chữ viết của con người -> phải huấn luyện rất nhiều, rất k
khăn -> sau vài ba năm đã biết cầm đũa, cầm chén nhưng còn vụng về, nói được những từ rất
ngắn đơn giản còn ngôn ngữ vẫn là tiếng hú của loài sói, ban đêm chỉ muốn bỏ đi lang thang
5
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Có thể thấy: người sói, người thú có nguồn gốc tự nhiên, có bộ não, có sự tác
động của thế giới khách quan lên bộ não nhưng rõ ràng không có ý thức của con người vì
không có nguồn gốc xã hội, không có lao động sản xuất, không có ngôn ngữ, gãy đi quan hệ
giữa người với người
2. Bản chất ý thức
- KN: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách
năng động, sáng tạo, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
* Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Nội dung ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức (kết quả) phản ánh là chủ quan;
Hình ảnh chủ quan thuộc về tinh thần, chỉ tồn tại trong não người, mang tính phi vật chất
Kết quả phản ánh của ý thức phụ thuộc nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh, điều kiện lịch
sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sông của chủ thể phản ánh. Cùng một đối tượng
phản ánh, nhưng với các chủ thể khác nhau có thể cho ra kết quả phản ánh khác nhau
*Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội:
+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo
- Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật. Ý thức có thể
tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý
thuyết khoa học…
- Ý thức không phải là bản sao đơn giản, thụ động, máy móc mà là sự phản ánh tích cực,
sáng tạo thể hiện ở quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích
- Sản phẩm của sự phản ánh sáng tạo qua hoạt động thực tiễn: thông qua hoạt động thực
tiễn, con người biến những ý tưởng, giả thuyết thành cái hiện thực, biến cái mô hình phi vật
chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực
+Sự phản ánh sáng tạo của ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt:
- Một là: Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh: có định hướng và chọn
lọc những thông tin cần thiết.
- Hai là: Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần: mã hóa các
đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất, là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực
- Ba là: Chuyển hoá mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực
hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái hiện thực, biến cái ý
tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực.
=> Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan
trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử.
6
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Sự phản ánh sáng tạo của ý thức gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội
- Ý thức là hiện tượng xã hội, chịu sự tác động của các quy luật xã hội, gắn liền với hoạt
động thực tiễn xã hội đa dạng, phong phú mà qua đó con người làm biến đổi thế giới theo nhu
cầu của con người.
VD: Làm ngôi nhà ở ba địa hình khác nhau, con người phải định hình và đưa ra ba kiểu
nhà khác nhau cho phù hợp với từng địa hình
BÀI 3 HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1. KHÁI NIỆM
- Mối liên hệ: một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện
trong thế giới.
- Mối liên hệ phổ biến: mối liên hệ chung nhất giữa các sự vật, hiện tượng của toàn bộ
thế giới khách quan (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy).
dụ:Trong duy con người những mối liên hệ kiến thức kiến thức mới;
cây tơ hồng; cây tầm gửi sống nhờ; muốn chung mục đích thì phải chung tay với nhau
=> Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối
2. NỘI DUNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
- Các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định
lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau, không tách biệt nhau.
- Cơ sở của sự tồn tại đa dạng các mối liên hệ là tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Các sự vật, hiện tượng phong phú trong thế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của
một thế giới vật chất duy nhất. Mối liên hệ trong ý thức của con người phản ánh mối liên hệ
của thế giới vật chất.
dụ về mối liên hệ phổ biến: Trong tự nhiên các mối liên hệ giữa động vật, thực
vật, đất, nước,.. các nhân tố của môi trường xung quanh. Ncây xanh quang hợp nhả ra khí
oxi, động vật hít khí oxi, sau đó động vật thải ra chất thải tạo thành chất dinh dưỡng trong đất
cho cây,…
3. TÍNH CHẤT
- Tính khách quan: mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là vốn có của mọi sự vật, hiện
tượng, tồn tại bên ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức của con người.
7
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Ví dụ: Con người luôn tồn tại trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên và xã hội dù họ
có ý thức được hay không. Đó là điều khách quan và không thể thay đổi bởi ý chí con người
- Tính phổ biến: diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ví dụ: Sự liên hệ qua lại bên trong cơ thể người có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa
người với người
- Tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau phụ
thuộc vào các mối liên hệ cụ thể, có thể phân chia ra một số mối liên hệ:
Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng
Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất
Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu…
Ví dụ:
- Mỗi người khác nhau thì có mối liên hệ với cha, mẹ, anh em, bạn bè khác nhau.
Hay, cùng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau có
tính chất và biểu hiện khác nhau
- Các loại chim, thú đều có quan hệ với nước nhưng cá quan hệ với nước khác chim
và thú. Cá không thể sống thiếu nước, không có nước thường xuyên cá không sống được,
nhưng các loài chim thú thì lại không sống trong nước thường xuyên được.
Chú ý: Sự phân biệt này có tính tương đối, các mối liên hệ có thể chuyển hóa cho nhau.
Những liên hệ khác nhau của sự vật có nội dung và vai trò khác nhau trong sự tồn tại và phát
triển của sự vật.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
- Khi nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng cần có quan điểm toàn diện:
VD: khi đánh giá một sinh viên phải xem xét nhiều mặt (thể lực, trí lực, phẩm chất, học
tập, đoàn thể..; nhiều mối liên hệ (thầy cô, nhân viên, bạn bè, chủ nhà trọ; gia đình....> Mối
liên hệ con người với con người), mối liên hệ với tự nhiên, sở vật chất của nhà trường... ->
Giữa các mặt, môi liên hệ đó tác động qua lại -> Phải có cái nhìn bao quát chỉnh thể đó thì mới
có thể rút ra sinh viên đó là người như thế nào
Thứ hai: cần xem xét mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau trong tất cả các
lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
8
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
VD: Khi đánh giá về công cuộc đổi mới Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng ta phải
đánh giá toàn diện những thành tựu (kết cầu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo dục, y tế...)
cùng những hạn chế (mặt trái của những yếu tố trên, đặc biệt tệ nạn hội) Rút ra được
thành tựu vẫn cái bản. Trên sở đó, chúng ta kết luận đổi mới tất yếu khách quan,
phải phân tích chỉ ra được nguyên nhân dẫn tới hạn chế, nguyên nhân nào bản, chủ yếu -
>Giải pháp khắc phục.
Thứ ba: phải thấy được các mặt,các mối liên hệ cơ bản, chủ yếu của sự vật, hiện tượng
VD: Khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham nhũng, lãng phí; con ông cháu cha,
ma túy, cờ bạc,..., chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó: nguyên nhân trực
tiếp, gián tiếp, bản không cơ bản, chủ yếu thứ yếu -> Phân tích nguyên nhân dẫn đến
kết quả đó -> Giải pháp phù hợp -> Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới thể bị xóa
bỏ.
Thứ tư: quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, chiết trung, ngụy biện
VD: Khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham nhũng, lãng phí; con ông cháu cha,
ma túy, cờ bạc,..., chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó: nguyên nhân trực
tiếp, gián tiếp, bản không cơ bản, chủ yếu thứ yếu -> Phân tích nguyên nhân dẫn đến
kết quả đó -> Giải pháp phù hợp -> Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới thể bị xóa
bỏ.
Bài 4 Cặp phạm trù cái chung, cái riêng
1.Khái niệm
- Cái riêng: là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình
riêng lẻ nhất định.
- Cái chung: là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những
có ở một sự vật, hiện tượng, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng khác.
- Cái đơn nhất: là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ có ở một sự
vật, một hiện tượng mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.
Cái chung: đào tạo sinh viên
VD: trường ĐHCN Hà Nội (cái riêng):
Cái đơn nhất: logo
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
9
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại
của mình. Cái chung không tồn tại độc lập, mà là một mặt của cái riêng và liên hệ không tách
rời với cái đơn nhất.
Ví dụ: Không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể.
Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào... nào cũng có rễ, có thân, có lá, có quá trình đồng hoá, dị
hoá để duy trì sự sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ,và được
phản ánh trong khái niệm "cây". Đó là cái chung của những cái cây cụ thể.
- Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung và có khả năng chuyển
hóa ở những điều kiện phù hợp thành cái riêng bất kỳ khác. Mọi cái riêng đều là sự thống nhất
của các mặt đối lập, vừa là cái đơn nhất, vừa là cái chung.
Ví dụ: nền kinh tế của mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng phong phú là những cái
riêng. Nhưng bất cứ nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi các quy luật chung như quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy
luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng v.v..
- Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận
nhưng sâu sắc hơn cái riêng.
Ví dụ: người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên
thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn v.v., còn có đặc điểm riêng
là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự
nhiên của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn
trong cuộc sống.
- Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau trong quá trình phát triển
của sự vật.
Ví dụ: sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường
diễn ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với
điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của
nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành cái
đơn nhất
3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của
mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, không được xuất phát
từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng.
10
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
VD: muốn đưa ra chính sách (cái chung) để phát triển doanh nghiệp thì phải khảo sát tình
hình từng doanh nghiệp cụ thể (cái riêng)
- Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra
cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng.
VD: 1 học sinh gian lận trong thi cử thì cần dựa vào quy định của nhà trường để xử lí
- Cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tùy theo
từng cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp.
VD: 1 học sinh bị khuyết tật, vùng sâu vùng xa thì được u] tiên vào trường học
- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có
thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”, nên
trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi
cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”.
VD: 1 hs có phương pháp học tập hiểu quả và các bạn trong lớp học tập theo phương
pháp đó
BÀI 5 : NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Các loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong: Là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng… đối lập
nằm trong sự vật, hiện tượng; có vai trò quy định trực tiếp quá trình phát triể của sự vật, hiện
tượng
Mâu thuẫn bên ngoài: xuất hiện trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
VD: Trong phạm vi nước ta, mâu thuẫn trong nội bộ nền kinh tế quốc dân là mâu thuẫn
bên trong; còn mâu thuẫn về kinh tế giữa nước ta với các nước khác trong ASEAN là mâu
thuẫn bên ngoài. Nếu trong phạm vi ASEAN thì mâu thuẫn giữa các nước trong khối lại là
mâu thuẫn bên trong.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản tác động trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng; quy định
bản chất, sự phát triển của chúng
Mâu thuẫn không cơ bản: đặc trưng cho một phưng diện nào đó, chỉ quy định sự vận
động, phát triển của 1 hay 1 số mặt của sự vật, hiện tượng
VD: Mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong chủ nghĩa tư bản.
11
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu: Nổi lên hàng đầu trong giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng,
chi phối quy định các mâu thuẫn khác.
Mâu thuẫn thứ yếu: Không đóng vai trò quyết định sự phát triển sự vật, hiện tượng
VD: Ở nước ta 1940-1943 mâu thuẫn chủ yếu: Nhật, Pháp và nhân dân ta; mâu thuẫn
thứ yếu: địa chủ và nông dân.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn đối kháng: Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người… có lợi ích cơ bản
đối lập nhau và không thể điều hòa được
VD: Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, giữa vô sản với tư sản, giữa dân tộc bị xâm
lược với bọn đi xâm lược.
Mâu thuẫn không đối kháng: Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người… có lợi
ích cơ bản không đối lập nhau, là mâu thuẫn cục bộ, tạm thời
VD: mâu thuẫn giữa lao động trí óc lao động chân tay, giữa công nhân với thợ thủ
công; giữa thành thị và nông thôn, v.v..ở nước ta hiện nay.
Nội dung quy luật mâu thuẫn
Hai mặt đối lập của mâu thuẫn luôn xu hướng vận động trái ngược nhau, không tách
rời nhau trong quá trình vận động phát triển của sự vật, hiện tượng. Xu hướng này
diễn ra trong tất cả các sự vật, hiện tượng ở các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Sự thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập một quá trình phức tạp. Quá trình ấy
diễn ra như sau:
Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ sự khác nhau giữa hai mặt, hai thuộc tính nào đó
theo khuynh hướng trái ngược nhau.
Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập nhau.
Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau,
mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó thể thống nhất được thay thế bằng thế thống nhất
mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế.
Như vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
VD: + Trong kháng chiến chống Pháp, mâu thuẫn giữa nhân dân và thực dân pháp được
đẩy lên đến đỉnh điểm, tạo động lực cho dân ta đấu tranh kết quả khai sinh ra nhà nước
Việt Nam dân chủ.
+ Sự đấu tranh giữa giai cấp thống trị giai cấp bị trị đã tạo nên một hình thái hội
mới. Sự hình thành của xã hội mới lại làm phát sinh những mâu thuẫn mới trong xã hội đó.
12
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Bài 6: Con đường biện chứng của quá trình nhận thức
Các giai đoạn của quá trình nhận thức
Lênin đã nêu lên luận điểm như sau: “Từ trực quan sinh động đến duy trừu tượng
từ duy trừu tượng đến thực tiễn, đó con đường biện chứng của s nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan” (V.I.Lênin toàn tập, tập 18, NXB Tiến bộ M. 1980, tr.167)
Hai giai đoạn tất yếu của nhận thức:
- Giai đoạn nhận thức cảm tính (trực quan sinh động)
- Giai đoạn nhận thức lý tính (tư duy trìu tượng)
Thực tiễn vừa là cơ sở, động lực, mục đích của quá trình nhận thức, vừa là mắt khâu kiểm
tra chân lý khách quan; vừa là yếu tố kết thúc một vòng khâu của sự nhận thức, vừa là điểm bắt
đầu của vòng khâu mới.
Nhận thức cảm tính : là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, gắn liền với thực tiễn.
Giai đoạn này, nhận thức của con người phản ánh trực tiếp khách thể thông qua các giác quan,
diễn ra dưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Cảm giác: hình thức đầu tiên của nhận thức cảm tính, phản ánh những thuộc tính
riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con
người.
Tất cả những hình thức tiếp theo của nhận thức đều dựa trên những tài liệu do cảm giác
đem lại. Từ những cảm giác, nhận thức cảm tính chuyển sang hình thức cao hơn đó là tri giác
Tri giác: là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó
vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự tổng hợp của nhiều cảm
giác. So với cảm giác thì tri giác hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn
về sự vật.
Tri giác không thể phản ánh được quá khứ. Từ những tri giác, nhận thức cảm tính chuyển
sang nhận thức cao hơn đó là biểu tượng.
Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh
động. Đó hình ảnh tính đặc trưng tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc người
về sự vật khi svật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan. Biểu tượng được hình
thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã sự tham gia của
các yếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính chất trừu tượng hóa.
Nhận thức lý tính : là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng
tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng. Đây giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng
13
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
quan trọng nhất tách ra nắm lấy cái bản chất tính quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Nhận thức lý tính được thể hiện với ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
dụ: Nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể công thức hóa học của
muối, điều chế được muối…
Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng phản ánh những đặc tính bản chất
của sự vật, hay 1 lớp sự vật. Khái niệm kết quả của sự tổng hợp, khái quát những tài liệu do
nhận thức cảm tính đem lại. khái niệm là cơ sở để hình thành sự phán đoán.
Phán đoán: hình thức cảu duy liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hoặc
phủ định một đặc điểm một thuộc tính nào đó của đối tượng.
Suy lý (suy luận) là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, là sự liên kết các phán đoán
để rút ra tri thức mới.
Ví dụ: nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra
được tri thức mới “mọi kim loại đều dẫn điện”.
Nhận thứctính chu kỳ lặp đi lặp lại: từ thực tiễn đến nhận thức rồi từ nhận thức trở
về thực tiễn sau đó từ thực tiễn lại tiếp tục phát triển quá trình nhận thức. quá trình này lặp đi
lặp lại không điểm dừng cuối cùng, trình độ nhận thức thực tiễn chu kỳ sau thường cao
hơn chu kỳ trước, nhờ đó quá trình nhận thức ngày càng đạt tới những tri thức đầy đủ chính
xác hơn.
BÀI 7: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
I. KHÁI NIỆM, KẾT CẤU LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN H SẢN
XUẤT
.1. Lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản
xuất năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu
nhất định của con người và xã hội.
Kết cấu của LLSX: gồm Người lao động và Tư liệu SX:
- Người lao động con người tri thức, kinh nghiệm, kỹ ng lao động năng lực
sáng tạo… trong quá trình sản xuất của xã hội.
- liệu sản xuất những điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm
liệu lao động và đối tượng lao động:
+ Tư liệu lao động những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác
động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi thành sản phẩm. Bao gồm công cụ lao động
phương tiện lao động:
14
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
Công cụ lao động những phương tiện vật chất con người trực tiếp sử dụng để tác
động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất. Công cụ lao động
yếu tố động nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế - xã
hội trong lịch sử; thước đo trình độ cải biến tự nhiên tiêu chuẩn để phân biệt các thời
đại kinh tế khác nhau.
VD: cày, cuốc, dệt, máy gặt lúa, xe tải,…
Phương tiện lao động hệ thống các yếu tố gián tiếp phục vụ quá trình sản xuất như
giao thông vận tải, thông tin liên lạc, truyền tải năng lượng, cấp thoát nước, kho tàng bình
chứa…
VD: tàu thuyền, xe ô tô tải, máy bay dùng để chuyên chở hàng hóa,…
+ Đối tượng lao động cái mà con người dùngliệu lao động tác động lên, nhằm biến
đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng. được phân thành loại sẵn trong tự nhiên
và loại đã trải qua chế biến.
VD:-Có sẵn trong tự nhiên: nước, đất, cát sỏi, không khí, gió, ánh sáng, quặng sắt, vàng,
than đá,...
Đã qua chế biến: vải, sợi chỉ, tấm kính, sợi, thanh nhôm, đồng, giấy, gạch trong xây
dựng, xi măng…
-Đặc trưng của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và tư liệu sản xuất,
trong đó người lao động đóng vai trò quyết định, thể hiện:
Người lao động quyết định tư liệu lao động: Trình độ của người lao động quyết định giá
trị hiệu quả thực tế của liệu lao động. Người lao động chủ th sáng tạo sử dụng
công lao động. Trong quá trình sản xuất, nếu như công cụ lao động bị khấu hao, người lao
động sẽ tạo ra giá trị mới, không những đủ đắp lượng khấu hao, còn lớn hơn giá trị đầu
ban đầu. Hiện nay, với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
người lao động được coi là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất.
Người lao động quyết định sự vận động biến đổi của đối tượng lao động, bên cạnh đối
tượng lao động hữu hình còn xuất hiện đối tượng lao động hình tri thức, công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, các nền tảng sáng tạo…
VD : “Kỳ tích Nhật Bảnmột minh chứng điển hình cho vai trò quyết định của người
lao động đối với sự phát triển nói chung và sản xuất nói riêng. Vượt qua những hậu quả nặng
nề do chiến tranh thế giới lần thứ II gây ra, họ đã tạo nên một tốc độ tăng trưởng kinh tế phi
thường. Sự thành công của “Đất nước mặt trời mọc” đã để lại cho các quốc gia đi sau một
bài học quý giá về vấn đề phát huy nguồn lực con người. Nguồn lực đó bao gồm các chính trị
15
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
gia, các nhà quản trị doanh nghiệp, tầng lớp trí thức, đội ngũ lao động lành nghề. Mỗi nhân tố
vai trò to lớn trong quá trình khắc phục hậu quả của chiến tranh, thúc đẩy kinh tế phát
triển. Thể hiện trong việc kiến tạo phát triển thể chế chính sách, thể chế doanh nghiệp, sáng
tạo ứng dụng công nghệ hiện đại. Đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống giáo dục tiên
tiến, đủ khả năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho nhu cầu tái thiết
phát triển đất nước.
- Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
+ điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
Nền sản xuất phải đạt đến một trình độ phát triển cao.
Bản thân khoa học phải đạt trình đô
nhất định.
Các phát minh phải được tự do dịch chuyển và tiếp câ
n.
Nghiên cứu khoa học và công nghê
gắn liền với sản xuất.
+ Biểu hiện của khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
Khoa học tạo ra của cải đặc biệt, những phát minh sáng chế được nhanh chóng
ứng dụng vào sản xuất giúp tăng năng suất lao động. Trthành nguyên nhân của mọi biến đổi
trong lực lượng sản xuất.
Khoa học kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra;
khả năng phát triển “vượt trước” và thâm nhập vào tất cả các yếu tố của sản xuất, trở thành mắt
khâu bên trong của quá trình sản xuất.
Tri thức khoa học được kết tinh, “vật hóa” vào người lao động, người quản lý, công cụ
lao động và đối tượng lao động. Sự phát triển của khoa học đã kích thích năng lực làm chủ sản
xuất của con người.
+ Hệ quả của khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
+ Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại.
+ Sự chuyển biến từ cách mạng công nghiệp 3.0 sang cách mạng công nghiệp 4.0…
+ Sự chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.
2. Quan hệ sản xuất
-Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong
quá trình sản xuất vật chất, bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động vối nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động.
- Kết cấu của QHSX: gồm có 3 mặt:
16
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
+ Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm
hữu, sử dụng các liệu sản xuất hội. Đây quan hệ quy định địa vị kinh tế - hội của
các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối.
VD: Nhà máy ô thể thuộc sở hữu của một công ty đa quốc gia, trong đó công ty
chủ sở hữu của nhà máy, máy móc, nguyên và linh kiện.
+ Quan hệ về tổ chức quản sản xuất quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất phân công lao động. Quan hệ này vai trò quyết định trực tiếp đến quy
mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của
nền sản xuất xã hội.
VD: Có một hệ thống tổ chức và quản lý trong nhà máy, với các quản lý cấp cao, quản lý
dây chuyền sản xuất quản công nhân. Các quản đảm bảo quá trình sản xuất diến ra
hiệu quả và phù hợp với mục tiêu sản xuất.
+ Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức quy của cải vật chất các
tập đoàn người được hưởng.
VD: Quan hệ giữa ông chủ( người trả lương) công nhân( người nhận lương) quan
hệ phân phối sản phẩm lao động. Nếu mức lương hợp sẽ kích thích người lao động tăng
năng suất, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh. Ngược lại, nếu mức lương quá thấp, công
nhân sẽ có xu hướng đình công, làm đình trệ việc sản xuất.
Các mặt trong quan hệ sản xuất mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối, ảnh
hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu liệu sản xuất giữ vai trò quyết định tính chất
của quan hệ sản xuất.
II. QUY LUT QUAN H SẢN XUT PHÙ HỢP VI TRÌNH Đ PHÁT
TRIN CA LC LƯNG SẢN XUT
1. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
* Lực lượng sản xuất quyết định QHSX vì:
- Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất - kỹ thuật của quá trình sản xuất vật chất có tính
năng động, sáng tạo, thường xuyên vận động phát triển. Nguyên nhân của sự gia tăng
không ngừng nhu cầu vật chất của con người cả về số lượng lẫn chất lượng. Người lao động
với vai trò là chủ thể sáng tạo của quá trình sản xuất, đã cải tiến công cụ để nâng cao năng suất
lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó của con
người.
17
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
- Quan hệ sản xuất hình thức kinh tế của quá trình sản xuất vật chất, tính ổn định
tương đối. Nguyên nhân do gắn liền với vấn đề lợi ích kinh tế của giai cấp nắm giữ liệu
sản xuất chủ yếu trong xã hội, gắn liền với vấn đề quyền lực chính trị và thiết chế hội.
- Mối liên hệ giữa nội dung hình thức của nền sản xuất hội, tạo thành mâu thuẫn
biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
* *LLSX quyết định QHSX thể hiện ở nội dung sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của quan hệ sản xuất. Nếu không
quá trình sản xuất vật chất sẽ không sở nảy sinh mối quan hệ giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất.
Thứ hai, lực lượng sản xuất quyết định nội dung tính chất của quan hệ sản xuất.
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ quyết định tính chất của quan hệ sở liệu sản
xuất, thông qua đó quyết định các mặt còn lại của quan hệ sản xuất.
Thứ ba, Lực lượng sản xuất quyết định sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất. Lực
lượng sản xuất phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính ổn định tương đối của quan hệ
sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển trở thành
“xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã
hội là phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới.
dụ: Quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thủy có tính chất công hữu với chế phân
phối bình quân, tức là cùng lao động, cùng thụ hưởng. Tính chất cộng đồng này được quy định
trình độ thấp của lực lượng sản xuất thời bấy giờ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt
đầu bằng sự ra đời của công c kim khí, phân công lao đô
ng hội phát triển. binh trở
thành tr thành
. Xuất hiện gia đình “Phụ hệ” “của cải thừa”, chế phân phối
bình quân không còn phù hợp. Chế độ hữu hình thành. Đây cũng lúc lịch sử chứng kiến
quan hệ sản xuất công xã nguyên thủy tan rã, thay vào đó quan hệ sản xuất chiếm hữu
.
VD: Sự tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất Việt Nam thể sự
gia tăng trong ngành công nghiệp dệt may. Khi lực lượng sản xuất trong ngành này tăng lên,
doanh nghiệp thể áp dụng các công nghệ mới tự động hóa quy trình sản xuất để tối ưu
hóa hiệu suất và giảm chi phí lao động. Sự chuyển đổi nàythể tạo ra sự cần thiết phải điều
chỉnh quan hệ sản xuất, chẳng hạn như tăng cường đào tạo cho công nhân để làm việc với các
thiết bị tự động mới. Đồng thời, có thể xuất hiện các biến động trong các mối quan hệ lao
động, như yêu cầu về kỹ năng công nghệ cao và tính linh hoạt trong làm việc. Điều này thường
18
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462
kéo theo các điều chỉnh trong hệ thống tiền lương chính sách lao động để phản ánh môi
trường sản xuất mới.
2. Sự tác động tr{ lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất vì:
Quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, phản ánh phương thức liên
kết giữa người lao động liệu sản xuất, xác định địa vị của họ đối với liệu sản xuất
sản phẩm đầu ra. Phương thức liên kết này tác động đến thái độ của người lao động, quy định
mục đích sản xuất, tổ chức phân công lao động hội, phát triển ứng dụng khoa học
công nghệ … và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quan hệ sản xuất tác động lực lượng sản xuất đồng thời trên cả cả ba mặt: sở hữu
liệu SX, tổ chức quản lý SX và phân phối sản phẩm.
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo 2 chiều hướng:
Tác động thúc đẩy khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất một trạng thái trong đó quan
hệ sản xuất hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực
lượng sản xuất phát triển.
Biểu hiện của sự phù hợp tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng kết hợp
giữa người lao động liệu sản xuất; quy nền sản xuất được mở rộng; thành tựu khoa
học công nghệ được nhanh chóng áp dụng; lợi ích được đảm bảo, người lao động hăng hái
sản xut. Tất c các yếu t này to thành h thng động lc thúc đẩy lc lượng sn xuất phát trin.
VD:Trong một công ty, nếu ni quản lý có thể đưa ra các hình thức tổ chc phù hp, sản
xuất hiu quả và đảm bảo lợi ích của ni lao động thì điều đó sẽ kích tch người lao động có
th phát huy hết khả năng. T đó tăng năng suất lao đng, cải thin đi sng hội.
- Tác động kìm hãm khi quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất. Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất.
Biểu hiện của sự đình trệ của sản xuất, khủng hoảng kinh tế, sự gia tăng bất bình đẳng,
mâu thuẫn hội trở nên gay gắt. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn,
với những điều kiện nhất định, bởi trạng thái này tất yếu sẽ được giải quyết bởi một cuộc
cách mạng xã hội. Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hayợt trước
giả tạo so với tnh độ phát triển của lực lượng sản xuất đều là không phù hợp.
VD:Nếu Việt Nam đối mặt với chiến tranh thương mại hoặc biến động thị trường quốc tế,
quan hệ sản xuất có thể gặp khó khăn trong việc thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và
19
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)
lOMoARcPSD|60179462

Preview text:

lOMoARcPSD|60179462
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC- Lênin - Copy
triết (Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) Scan to open on Studeersnel
Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
BÀI 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN I.
Vấn đề cơ bản của triết học 1.
Nội dung vấn đề cơ bản của triết học
- Vấn đề cơ bản của triết học: là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, trả lời hai câu hỏi lớn:
+ Mặt thứ nhất:Giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
+ Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thể giới hay không?
Cách trả lời hai câu hỏi trên quy định lập trường của nhà triết học và của trường phái triết
học, là tiền đề để giải quyết các vấn dề khác của triết học 2.
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Việc giải quyết mặt thứ nhất chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn: CNDV và CNDT
Những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con
người được gọi là các nhà duy vật. Còn những người cho rằng ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm
giác là cái có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy tâm
- Chủ nghĩa duy vật: thể hiện dưới 3 hình thức cơ bản:
+ Chủ nghĩa duy vật chất phác (Duy vật thời cổ đại): thừa nhận tính thứ nhất của vật chất
nhưng lại đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể của vật chất và đưa ra những kết
luận mang tính trực quan, ngây thơ, chất phác. Ưu điểm: lấy bản thân giới tự nhiên để giải
thích thế giới, không viện đến thần linh, thượng đế…
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình (thế kỷ XV – XVIII): chịu sự tác động mạnh mẽ của
phương pháp tư duy siêu hình, cơ giới - phương pháp nhìn thế giới như một cỗ máy khổng lồ
mà mỗi bộ phận tạo nên thế giới đó về cơ bản ở trong trạng thái biệt lập và tĩnh tại. Ưu điểm:
góp phần đẩy lùi thế giới quan duy tâm và tôn giáo, chuyển từ đêm trường trung cổ sang thời kì Phục hưng
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng (thế kỷ XIX): Khắc phục hạn chế của CNDV chất phác
và CNDV siêu hình. CNDVBC không chỉ phản ánh hiện thực đúng như chính bản thân nó tồn
tại mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp những lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực.
- Chủ nghĩa duy tâm:gồm có duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan 1
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người, phủ nhận sự
tồn tại khách quan của hiện thực; khẳng định mọi sự vật hiện tượng chỉ là phức hợp của những cảm giác
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng coi đó là
tinh thần khác quan có trước và tồn tại độc lập với con người như ý niệm, tinh thần tuyệt đối, lý tính thế giới…
Ví dụ:Xưa Khổng tử có câu: “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời”. Cụ thể, sống, chết,
giàu sang đều là những yếu tố thuộc về vật chất còn mệnh và trời là những thứ hư ảo, thần bí,
một thế lực siêu hìnhđược cho là có thể định đoạt mọi thứ. Đây là chủ nghĩ duy tâm khách quan.

Chủ nghĩa duy tâm triết học cho rằng ý thức, tinh thần là cái có trước và là cái sản sinh ra giới tự nhiên
- Trường phái nhị nguyên luận: những nhà triết học giải thích thế giới bằng cả hai bản
nguyên vật chất và tinh thần, xem vật chất và tinh thần là hai bản nguyên có thể cùng quyết
định nguồn gốc và sự vận động của thế giới. Trong trường hợp giải quyết một vấn đề nào đó, ở
vào một thời điểm nhất định là người duy vật, nhưng vào một thời điểm khác, và khi có giải
quyết một vấn đề khác lại là người duy tâm.
Song, xét đến cùng nhị nguyên luận thuộc về chủ nghĩa duy tâm. 3.
Việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học đã chia thành Thuyết
khả tri và Bất khả tri
Những nhà triết học thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người gọi là các nhà
triết học “khả tri” (có thể biết), có một số các nhà triết phủ nhận khả năng nhận thức của con
người gọi là các nhà triết học “bất khả tri” (không thể biết).
Ngoài ra có quan điểm nghi ngờ khả năng nhận thức của con người được gọi là “Hoài nghi luận”
- Thuyết khả tri (thuyết có thể biết): con người có thể hiểu được bản chất của sự vật.
Ví dụ: Thuyết khả tri có thể nghiên cứu về cách chúng ta biết rằng Trái Đất là hình cầu
thông qua các phương pháp khoa học và chứng cứ hình ảnh từ vệ tinh.
- Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): con người không thể hiểu được bản chất của
đối tượng, phủ nhận khả năng vô hạn của nhận thức
Ví dụ: Một người bất khả tri có thể cho rằng không thể biết chắc chắn về sự tồn tại của
một vị thần, vì không có đủ chứng cứ hoặc thông tin để đưa ra một quyết định chính xác.
- Hoài nghi luận: cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan. 2
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462 II.
Chức năng của triết học Mác-Lênin 1.
Chức năng thế giới quan: Triết học Mác-Lênin đem lại thế giới quan DVBC, là
hạt nhân thế giới quan cộng sản.
- Định hướng cho con người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực. Giúp con người có
cơ sở khoa học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống.
Ví dụ: Ph. Ăng-ghen cũng có công rất lớn trong việc cung cấp những luận chứng thuyết
phục để chứng minh tính chất duy vật triệt để của học thuyết Mác trong lĩnh vực lịch sử, xã
hội; làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và là “công cụ nhận thức vĩ đại” của con người.

- Giúp con người hình thành quan điểm khoa học định hướng cho mọi hoạt động, từ đó
xác định thái độ và cách thức hoạt động của mình
- Nâng cao vai trò tích cực sáng tạo của con người. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề xác
lập nhân sinh quan tích cực. Trình độ phát triển thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự
trưởng thành cá nhân, của cộng đồng xã hội
- Thế giới quan DVBC là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học.
2. Chức năng phương pháp luận: Triết học Mác-Lênin thực hiện chức năng phương
pháp luận duy vật biện chứng chung nhất, phổ biến nhất cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho
hoạt động nhận thức và thực tiễn
- Trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận
thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học – tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật.
- Bồi dưỡng phương pháp luận DVBC giúp con người tránh được những sai lầm do chủ
quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra.
Liên hệ: Thông qua PBCDV, chủ thể nhận thức thế giới trong mỗi liên hệ phổ biến (cái
riêng và cái chung) , trong sự vận động biến đổi, phát triển không ngừng (lượng đổi chất đổi) ;
tuân thủ các nguyên tắc phương pháp luận như khách quan, toàn diện…; giúp con người định
hướnglựa chọn phương pháp phù hợp…
BÀI 2 VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1.
Nguồn gốc của ý thức
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: 3
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
Nguồn gốc tự nhiên: -  Bộ não người
Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người. Bộ
não người là khí quan vật chất ý thức. Ý thức là chức năng của bộ não người. Hoạt động ý thức
của con người diễn ra trên cơ sở hoạt đọng sinh lý thần kinh của bộ não người. Ý thức phụ
thuộc vào hoạt động bộ não con người, do đó, khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ
không bình thường hoặc bị rối loạn. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não.
Bộ não con người có cấu trúc đặc biệt phát triển rất tinh vi và phức tạp, bao gồm khoảng
14-15 tỷ tế bào thần kinh chuyên thu nhận và xử lí thông tin từ thế giới khách quan vào não bộ,
hình thành phản xạ có điều kiện và không điều kiện, điều khiển các hoạt động của cơ thể trong
quan hệ với thế giới bên ngoài.  Thế giới khách quan:
Thế giới quan là thế giới vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức của con người. Sự tác động
của thế giới quan vào bộ não con người thông qua quá trình phản ánh sinh ra ý thức. Đó chính
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Quá trình phản ánh thế giới quan bởi não bộ để hình thành ý thức
Phản ánh là quá trình tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống
vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc
vào cả hai vật -vật tác động và vật nhận tác động. Nguồn gốc xã hội -
 Lao động: là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản
phẩm, phục vụ các nhu cầu của mình, là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò
môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người với tự nhiên, Lao động là
yếu tố quyết định đến sự hình thành ý thức của con người vì: 
Thứ nhất, quá trình lao động đưa lại cho con người dáng đi thẳng bằng đôi chân,
giải phóng đôi tay, các giác quan của con người ngày càng biến đổi, con người dần tách khỏi
giới động vật, bộ não của con vật dần chuyển sang bộ não người và ngày càng hoàn thiện hơn. 
Thứ hai, trong lao động con người sử dụng công cụ lao động tác động vào các
đối tượng, làm chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, quy luật tồn tại… và thông
qua các giác quan tác động vào bộ não người hình thành tri thức nói riêng và ý thức con người nói chung. 4
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462 
Thứ ba, trong quá trình lao động, con người liên kết với nhau thành xã hội, làm
nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên trong xã hội dẫn đến việc hình thành ngôn ngữ.
VD: Từ xa xưa, khi con người lao động đã tạo ra các vật dụng dao, liềm để có thể phát
triển từ thời kì hái lượm lên thời kì săn bắn để gia tăng chất lượng cuộc sống. Qua thời gian,
quá trình lao động đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cho nhân loại, con người đã làm ra nhiều
loại công cụ phục vụ cho đời sống điển hình là sự ra đời của máy hơi nước nhằm đáp ứng nhu
cầu dệt may ở Anh vào cuối thế kỷ 18, đó được xem là cuộc cách mạng công nghiệp 1.0, là
tiền đề để có được cuộc cách mạng 4.0 ngày nay, tất cả đều là nhờ lao động của con người.
 Ngôn ngữ 
Một là, ngôn ngữ là tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. 
Hai là, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là
phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội - lịch sử. 
Ba là, ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Nhờ có
ngôn ngữ con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, trao đổi tư tưởng,
truyền đạt thông tin, giữ gìn và kế thừa những tri thức giữa các thế hệ người trong lịch sử.
VD: Con người không thể tư duy nếu không dùng tới ngôn ngữ. Chẳng hạn như chúng ta
sẽ không thể suy nghĩ và giao tiếp được với thế giới xung quanh ở một mức độ nào đó chứ
không phải là hoàn toàn.

Như vậy, lao động và ngôn ngữ là yếu tố là chuyển biến dần bộ óc vượn thành bộ óc
người, tâm lý động vật thành ý thức của con người.
Kết luận: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức được hình thành
bởi hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội. Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã
hội là điều kiện đủ.
Vì vậy, nếu chỉ nhấn mạnh một mặt nào đó của nguồn gốc ý thức thì đều
dẫn đến sai lầm. Nghiên cứu nguồn gốc của ý thức là cách tiếp cận để hiểu rõ bản chất của ý
thức, khẳng định bản chất xã hội của ý thức.
VD: Câu chuyện về hai cô bé được sói hoang nuôi dưỡng. Kamala được tìm thấy trong
rừng năm 1920, khi cô bé khoảng 8 tuổi, còn Amala được tìm thấy khi chỉ mới 18 tháng. Cả
hai cô bé đều sống tách biệt với thế giới loài người cùng bầy sói ở Midnapore, Ấn Độ. Muốn
đưa 2 cô bé từ thế giới loài vật trở về xã hội loài người, người ta phải dạy cách ăn uống, cách
cầm đũa, ngôn ngữ tiếng nói chữ viết của con người -> phải huấn luyện rất nhiều, rất khó
khăn -> sau vài ba năm đã biết cầm đũa, cầm chén nhưng còn vụng về, nói được những từ rất
ngắn đơn giản còn ngôn ngữ vẫn là tiếng hú của loài sói, ban đêm chỉ muốn bỏ đi lang thang
5
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462 
Có thể thấy: người sói, người thú có nguồn gốc tự nhiên, có bộ não, có sự tác
động của thế giới khách quan lên bộ não nhưng rõ ràng không có ý thức của con người vì
không có nguồn gốc xã hội, không có lao động sản xuất, không có ngôn ngữ, gãy đi quan hệ giữa người với người 2. Bản chất ý thức
- KN: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách
năng động, sáng tạo, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
* Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
 Nội dung ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức (kết quả) phản ánh là chủ quan;
Hình ảnh chủ quan thuộc về tinh thần, chỉ tồn tại trong não người, mang tính phi vật chất
 Kết quả phản ánh của ý thức phụ thuộc nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh, điều kiện lịch
sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sông của chủ thể phản ánh. Cùng một đối tượng
phản ánh, nhưng với các chủ thể khác nhau có thể cho ra kết quả phản ánh khác nhau
*Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội:
+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo
- Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật. Ý thức có thể
tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học…
- Ý thức không phải là bản sao đơn giản, thụ động, máy móc mà là sự phản ánh tích cực,
sáng tạo thể hiện ở quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích
- Sản phẩm của sự phản ánh sáng tạo qua hoạt động thực tiễn: thông qua hoạt động thực
tiễn, con người biến những ý tưởng, giả thuyết thành cái hiện thực, biến cái mô hình phi vật
chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực
+Sự phản ánh sáng tạo của ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt:
- Một là: Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh: có định hướng và chọn
lọc những thông tin cần thiết.
- Hai là: Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần: mã hóa các
đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất, là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực
- Ba là: Chuyển hoá mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực
hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái hiện thực, biến cái ý
tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực.
=> Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan
trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử. 6
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462 
Sự phản ánh sáng tạo của ý thức gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội
- Ý thức là hiện tượng xã hội, chịu sự tác động của các quy luật xã hội, gắn liền với hoạt
động thực tiễn xã hội đa dạng, phong phú mà qua đó con người làm biến đổi thế giới theo nhu cầu của con người.
VD: Làm ngôi nhà ở ba địa hình khác nhau, con người phải định hình và đưa ra ba kiểu
nhà khác nhau cho phù hợp với từng địa hình
BÀI 3 HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG 1. KHÁI NIỆM
- Mối liên hệ: là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện trong thế giới.
- Mối liên hệ phổ biến: là mối liên hệ chung nhất giữa các sự vật, hiện tượng của toàn bộ
thế giới khách quan (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy).
Ví dụ:Trong tư duy con người có những mối liên hệ kiến thức cũ và kiến thức mới;
cây tơ hồng; cây tầm gửi sống nhờ; muốn chung mục đích thì phải chung tay với nhau
=> Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối 2.
NỘI DUNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
- Các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định
lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau, không tách biệt nhau.
- Cơ sở của sự tồn tại đa dạng các mối liên hệ là tính thống nhất vật chất của thế giới.
- Các sự vật, hiện tượng phong phú trong thế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của
một thế giới vật chất duy nhất. Mối liên hệ trong ý thức của con người phản ánh mối liên hệ
của thế giới vật chất.
Ví dụ về mối liên hệ phổ biến: Trong tự nhiên có các mối liên hệ giữa động vật, thực
vật, đất, nước,.. các nhân tố của môi trường xung quanh. Như cây xanh quang hợp nhả ra khí
oxi, động vật hít khí oxi, sau đó động vật thải ra chất thải tạo thành chất dinh dưỡng trong đất cho cây,…
3. TÍNH CHẤT
- Tính khách quan: mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là vốn có của mọi sự vật, hiện
tượng, tồn tại bên ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thức của con người. 7
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
Ví dụ: Con người luôn tồn tại trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên và xã hội dù họ
có ý thức được hay không. Đó là điều khách quan và không thể thay đổi bởi ý chí con người
- Tính phổ biến: diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Ví dụ: Sự liên hệ qua lại bên trong cơ thể người có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa người với người
- Tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau phụ
thuộc vào các mối liên hệ cụ thể, có thể phân chia ra một số mối liên hệ:
 Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
 Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng
 Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
 Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
 Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất
 Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu… Ví dụ:
- Mỗi người khác nhau thì có mối liên hệ với cha, mẹ, anh em, bạn bè khác nhau.

Hay, cùng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau có
tính chất và biểu hiện khác nhau

- Các loại chim, thú đều có quan hệ với nước nhưng cá quan hệ với nước khác chim
và thú. Cá không thể sống thiếu nước, không có nước thường xuyên cá không sống được,
nhưng các loài chim thú thì lại không sống trong nước thường xuyên được.

Chú ý: Sự phân biệt này có tính tương đối, các mối liên hệ có thể chuyển hóa cho nhau.
Những liên hệ khác nhau của sự vật có nội dung và vai trò khác nhau trong sự tồn tại và phát triển của sự vật.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
- Khi nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng cần có quan điểm toàn diện:
VD: khi đánh giá một sinh viên phải xem xét nhiều mặt (thể lực, trí lực, phẩm chất, học
tập, đoàn thể..; nhiều mối liên hệ (thầy cô, nhân viên, bạn bè, chủ nhà trọ; gia đình....> Mối
liên hệ con người với con người), mối liên hệ với tự nhiên, cơ sở vật chất của nhà trường... ->
Giữa các mặt, môi liên hệ đó tác động qua lại -> Phải có cái nhìn bao quát chỉnh thể đó thì mới
có thể rút ra sinh viên đó là người như thế nào
Thứ hai: cần xem xét mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau trong tất cả các
lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy 8
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
VD: Khi đánh giá về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng ta phải
đánh giá toàn diện những thành tựu (kết cầu hạ tầng, thu nhập, mức sống, giáo dục, y tế...)
cùng những hạn chế (mặt trái của những yếu tố trên, đặc biệt là tệ nạn xã hội) → Rút ra được
thành tựu vẫn là cái cơ bản. Trên cơ sở đó, chúng ta kết luận đổi mới là tất yếu khách quan,
phải phân tích chỉ ra được nguyên nhân dẫn tới hạn chế, nguyên nhân nào là cơ bản, chủ yếu -
>Giải pháp khắc phục.
Thứ ba: phải thấy được các mặt,các mối liên hệ cơ bản, chủ yếu của sự vật, hiện tượng
VD: Khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham nhũng, lãng phí; con ông cháu cha,
ma túy, cờ bạc,..., chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó: nguyên nhân trực
tiếp, gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu -> Phân tích nguyên nhân dẫn đến
kết quả đó -> Giải pháp phù hợp -> Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới có thể bị xóa bỏ.
Thứ tư: quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, chiết trung, ngụy biện
VD: Khi đã chỉ ra những hạn chế như tham ô, tham nhũng, lãng phí; con ông cháu cha,
ma túy, cờ bạc,..., chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kết quả đó: nguyên nhân trực
tiếp, gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu -> Phân tích nguyên nhân dẫn đến
kết quả đó -> Giải pháp phù hợp -> Tương lai những hiện tượng tiêu cực đó mới có thể bị xóa bỏ.
Bài 4 Cặp phạm trù cái chung, cái riêng 1.Khái niệm
- Cái riêng: là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.
- Cái chung: là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không những
có ở một sự vật, hiện tượng, mà còn lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng khác.
- Cái đơn nhất: là phạm trù triết học dùng để chỉ các mặt, các đặc điểm chỉ có ở một sự
vật, một hiện tượng mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng nào khác.
Cái chung: đào tạo sinh viên
VD: trường ĐHCN Hà Nội (cái riêng): Cái đơn nhất: logo
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 9
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại
của mình. Cái chung không tồn tại độc lập, mà là một mặt của cái riêng và liên hệ không tách rời với cái đơn nhất.
Ví dụ: Không có cái cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể.
Nhưng cây cam, cây quýt, cây đào... nào cũng có rễ, có thân, có lá, có quá trình đồng hoá, dị
hoá để duy trì sự sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ,và được
phản ánh trong khái niệm "cây". Đó là cái chung của những cái cây cụ thể.
- Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung và có khả năng chuyển
hóa ở những điều kiện phù hợp thành cái riêng bất kỳ khác. Mọi cái riêng đều là sự thống nhất
của các mặt đối lập, vừa là cái đơn nhất, vừa là cái chung.
Ví dụ: nền kinh tế của mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng phong phú là những cái
riêng. Nhưng bất cứ nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi các quy luật chung như quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy
luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng v.v..

- Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận
nhưng sâu sắc hơn cái riêng.
Ví dụ: người nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân của các nước trên
thế giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn v.v., còn có đặc điểm riêng
là chịu ảnh hưởng của văn hoá làng xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự
nhiên của đất nước, nên rất cần cù lao động, có khả năng chịu đựng được những khó khăn trong cuộc sống.

- Thứ tư, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau trong quá trình phát triển của sự vật.
Ví dụ: sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi của môi trường
diễn ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng biệt. Do phù hợp với
điều kiện mới, đặc tính đó được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của
nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều kiện mới, sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất

3. Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của
mình, nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, không được xuất phát
từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng. 10
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
VD: muốn đưa ra chính sách (cái chung) để phát triển doanh nghiệp thì phải khảo sát tình
hình từng doanh nghiệp cụ thể (cái riêng)
- Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra
cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng.
VD: 1 học sinh gian lận trong thi cử thì cần dựa vào quy định của nhà trường để xử lí
- Cái chung lại biểu hiện thông qua cái riêng, nên khi áp dụng cái chung phải tùy theo
từng cái riêng cụ thể để vận dụng cho thích hợp.
VD: 1 học sinh bị khuyết tật, vùng sâu vùng xa thì được u] tiên vào trường học
- Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định “cái đơn nhất” có
thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể biến thành “cái đơn nhất”, nên
trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để “cái đơn nhất” có lợi
cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở thành “cái đơn nhất”.
VD: 1 hs có phương pháp học tập hiểu quả và các bạn trong lớp học tập theo phương pháp đó
BÀI 5 : NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Các loại mâu thuẫn
 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong: Là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng… đối lập
nằm trong sự vật, hiện tượng; có vai trò quy định trực tiếp quá trình phát triể của sự vật, hiện tượng
Mâu thuẫn bên ngoài: xuất hiện trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
VD: Trong phạm vi nước ta, mâu thuẫn trong nội bộ nền kinh tế quốc dân là mâu thuẫn
bên trong; còn mâu thuẫn về kinh tế giữa nước ta với các nước khác trong ASEAN là mâu
thuẫn bên ngoài. Nếu trong phạm vi ASEAN thì mâu thuẫn giữa các nước trong khối lại là mâu thuẫn bên trong.

 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản tác động trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng; quy định
bản chất, sự phát triển của chúng
Mâu thuẫn không cơ bản: đặc trưng cho một phưng diện nào đó, chỉ quy định sự vận
động, phát triển của 1 hay 1 số mặt của sự vật, hiện tượng
VD: Mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong chủ nghĩa tư bản. 11
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu: Nổi lên hàng đầu trong giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng,
chi phối quy định các mâu thuẫn khác.
Mâu thuẫn thứ yếu: Không đóng vai trò quyết định sự phát triển sự vật, hiện tượng
VD: Ở nước ta 1940-1943 mâu thuẫn chủ yếu: Nhật, Pháp và nhân dân ta; mâu thuẫn
thứ yếu: địa chủ và nông dân.
 Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Mâu thuẫn đối kháng: Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người… có lợi ích cơ bản
đối lập nhau và không thể điều hòa được
VD: Mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ, giữa vô sản với tư sản, giữa dân tộc bị xâm
lược với bọn đi xâm lược.
Mâu thuẫn không đối kháng: Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tập đoàn người… có lợi
ích cơ bản không đối lập nhau, là mâu thuẫn cục bộ, tạm thời
VD: mâu thuẫn giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa công nhân với thợ thủ
công; giữa thành thị và nông thôn, v.v..ở nước ta hiện nay.
Nội dung quy luật mâu thuẫn
Hai mặt đối lập của mâu thuẫn luôn có xu hướng vận động trái ngược nhau, không tách
rời nhau trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Xu hướng này
diễn ra trong tất cả các sự vật, hiện tượng ở các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp. Quá trình ấy diễn ra như sau:
 Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau giữa hai mặt, hai thuộc tính nào đó
theo khuynh hướng trái ngược nhau.
 Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập nhau.
 Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau,
mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thế thống nhất
mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế.
Như vậy, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển.
VD: + Trong kháng chiến chống Pháp, mâu thuẫn giữa nhân dân và thực dân pháp được
đẩy lên đến đỉnh điểm, tạo động lực cho dân ta đấu tranh và kết quả là khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ.
+ Sự đấu tranh giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị đã tạo nên một hình thái xã hội
mới. Sự hình thành của xã hội mới lại làm phát sinh những mâu thuẫn mới trong xã hội đó. 12
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
Bài 6: Con đường biện chứng của quá trình nhận thức
Các giai đoạn của quá trình nhận thức
Lênin đã nêu lên luận điểm như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý,
nhận thức hiện thực khách quan” (V.I.Lênin toàn tập, tập 18, NXB Tiến bộ M. 1980, tr.167)
Hai giai đoạn tất yếu của nhận thức:
- Giai đoạn nhận thức cảm tính (trực quan sinh động)
- Giai đoạn nhận thức lý tính (tư duy trìu tượng)
Thực tiễn vừa là cơ sở, động lực, mục đích của quá trình nhận thức, vừa là mắt khâu kiểm
tra chân lý khách quan; vừa là yếu tố kết thúc một vòng khâu của sự nhận thức, vừa là điểm bắt
đầu của vòng khâu mới. N
hận thức cảm tính : là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, gắn liền với thực tiễn.
Giai đoạn này, nhận thức của con người phản ánh trực tiếp khách thể thông qua các giác quan,
diễn ra dưới 3 hình thức: cảm giác, tri giác, biểu tượng.
Cảm giác: Là hình thức đầu tiên của nhận thức cảm tính, phản ánh những thuộc tính
riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người.
Tất cả những hình thức tiếp theo của nhận thức đều dựa trên những tài liệu do cảm giác
đem lại. Từ những cảm giác, nhận thức cảm tính chuyển sang hình thức cao hơn đó là tri giác
Tri giác: là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó
vào các giác quan. Tri giác nảy sinh dựa trên cơ sở của cảm giác, là sự tổng hợp của nhiều cảm
giác. So với cảm giác thì tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật.
Tri giác không thể phản ánh được quá khứ. Từ những tri giác, nhận thức cảm tính chuyển
sang nhận thức cao hơn đó là biểu tượng.
Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh
động. Đó là hình ảnh có tính đặc trưng và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ óc người
về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan. Biểu tượng được hình
thành nhờ sự phối hợp, bổ sung lẫn cho nhau của các giác quan nhưng đã có sự tham gia của
các yếu tố phân tích, tổng hợp và ít nhiều mang tính chất trừu tượng hóa. N
hận thức lý tính : là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng
tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng. Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng 13
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Nhận thức lý tính được thể hiện với ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lý.
Ví dụ: Nhờ đi sâu phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công thức hóa học của
muối, điều chế được muối…
 Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng phản ánh những đặc tính bản chất
của sự vật, hay 1 lớp sự vật. Khái niệm là kết quả của sự tổng hợp, khái quát những tài liệu do
nhận thức cảm tính đem lại. khái niệm là cơ sở để hình thành sự phán đoán.
 Phán đoán: là hình thức cảu tư duy liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hoặc
phủ định một đặc điểm một thuộc tính nào đó của đối tượng.
 Suy lý (suy luận) là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, là sự liên kết các phán đoán
để rút ra tri thức mới.
Ví dụ: nếu liên kết phán đoán “đồng dẫn điện” với phán đoán “đồng là kim loại” ta rút ra
được tri thức mới “mọi kim loại đều dẫn điện”.
Nhận thức có tính chu kỳ và lặp đi lặp lại: từ thực tiễn đến nhận thức rồi từ nhận thức trở
về thực tiễn sau đó từ thực tiễn lại tiếp tục phát triển quá trình nhận thức. quá trình này lặp đi
lặp lại không có điểm dừng cuối cùng, trình độ nhận thức thực tiễn ở chu kỳ sau thường cao
hơn chu kỳ trước, nhờ đó là quá trình nhận thức ngày càng đạt tới những tri thức đầy đủ chính xác hơn.
BÀI 7: HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI I.
KHÁI NIỆM, KẾT CẤU LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, QUAN HỆ SẢN XUẤT
.1. Lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản
xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu
nhất định của con người và xã hội.
Kết cấu của LLSX: gồm Người lao động và Tư liệu SX:
- Người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực
sáng tạo… trong quá trình sản xuất của xã hội.
- Tư liệu sản xuất là những điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư
liệu lao động và đối tượng lao động:
+ Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác
động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi nó thành sản phẩm. Bao gồm công cụ lao động và phương tiện lao động: 14
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để tác
động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng, tạo ra của cải vật chất. Công cụ lao động là
yếu tố động nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế - xã
hội trong lịch sử; là thước đo trình độ cải biến tự nhiên và là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau.
VD: cày, cuốc, dệt, máy gặt lúa, xe tải,…
Phương tiện lao động là hệ thống các yếu tố gián tiếp phục vụ quá trình sản xuất như
giao thông vận tải, thông tin liên lạc, truyền tải năng lượng, cấp thoát nước, kho tàng và bình chứa…
VD: tàu thuyền, xe ô tô tải, máy bay dùng để chuyên chở hàng hóa,… +
Đối tượng lao động là cái mà con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến
đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng. Nó được phân thành loại có sẵn trong tự nhiên
và loại đã trải qua chế biến.
VD:-Có sẵn trong tự nhiên: nước, đất, cát sỏi, không khí, gió, ánh sáng, quặng sắt, vàng, than đá,...
Đã qua chế biến: vải, sợi chỉ, tấm kính, sợi, thanh nhôm, đồng, giấy, gạch trong xây dựng, xi măng…
-Đặc trưng của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và tư liệu sản xuất,
trong đó người lao động đóng vai trò quyết định, thể hiện:
 Người lao động quyết định tư liệu lao động: Trình độ của người lao động quyết định giá
trị và hiệu quả thực tế của tư liệu lao động. Người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng
công lao động. Trong quá trình sản xuất, nếu như công cụ lao động bị khấu hao, người lao
động sẽ tạo ra giá trị mới, không những đủ bù đắp lượng khấu hao, mà còn lớn hơn giá trị đầu
tư ban đầu. Hiện nay, với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
người lao động được coi là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất.
 Người lao động quyết định sự vận động biến đổi của đối tượng lao động, bên cạnh đối
tượng lao động hữu hình còn xuất hiện đối tượng lao động vô hình là tri thức, công nghệ, kỹ
thuật hiện đại, các nền tảng sáng tạo…
VD : “Kỳ tích Nhật Bản” là một minh chứng điển hình cho vai trò quyết định của người
lao động đối với sự phát triển nói chung và sản xuất nói riêng. Vượt qua những hậu quả nặng
nề do chiến tranh thế giới lần thứ II gây ra, họ đã tạo nên một tốc độ tăng trưởng kinh tế phi
thường. Sự thành công của “Đất nước mặt trời mọc” đã để lại cho các quốc gia đi sau một
bài học quý giá về vấn đề phát huy nguồn lực con người. Nguồn lực đó bao gồm các chính trị
15
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
gia, các nhà quản trị doanh nghiệp, tầng lớp trí thức, đội ngũ lao động lành nghề. Mỗi nhân tố
có vai trò to lớn trong quá trình khắc phục hậu quả của chiến tranh, thúc đẩy kinh tế phát
triển. Thể hiện trong việc kiến tạo phát triển thể chế chính sách, thể chế doanh nghiệp, sáng
tạo và ứng dụng công nghệ hiện đại. Đặc biệt là chú trọng xây dựng hệ thống giáo dục tiên
tiến, đủ khả năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho nhu cầu tái thiết và
phát triển đất nước.

- Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
+ điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp: 
Nền sản xuất phải đạt đến một trình độ phát triển cao. 
Bản thân khoa học phải đạt trình đô ̣ nhất định. 
Các phát minh phải được tự do dịch chuyển và tiếp câ ̣n. 
Nghiên cứu khoa học và công nghê ̣ gắn liền với sản xuất.
+ Biểu hiện của khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
 Khoa học tạo ra của cải đặc biệt, là những phát minh sáng chế và được nhanh chóng
ứng dụng vào sản xuất giúp tăng năng suất lao động. Trở thành nguyên nhân của mọi biến đổi
trong lực lượng sản xuất.
 Khoa học kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra; có
khả năng phát triển “vượt trước” và thâm nhập vào tất cả các yếu tố của sản xuất, trở thành mắt
khâu bên trong của quá trình sản xuất.
 Tri thức khoa học được kết tinh, “vật hóa” vào người lao động, người quản lý, công cụ
lao động và đối tượng lao động. Sự phát triển của khoa học đã kích thích năng lực làm chủ sản xuất của con người.
+ Hệ quả của khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp:
+ Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại.
+ Sự chuyển biến từ cách mạng công nghiệp 3.0 sang cách mạng công nghiệp 4.0…
+ Sự chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. 2. Quan hệ sản xuất
-Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong
quá trình sản xuất vật chất, bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong
tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động vối nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động.
- Kết cấu của QHSX: gồm có 3 mặt: 16
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462 + Qu
an hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm
hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế - xã hội của
các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối.
VD: Nhà máy ô tô có thể thuộc sở hữu của một công ty đa quốc gia, trong đó công ty là
chủ sở hữu của nhà máy, máy móc, nguyên và linh kiện. + Quan
hệ về tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc
tổ chức sản xuất và phân công lao động. Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy
mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
VD: Có một hệ thống tổ chức và quản lý trong nhà máy, với các quản lý cấp cao, quản lý
dây chuyền sản xuất và quản lý công nhân. Các quản lý đảm bảo quá trình sản xuất diến ra
hiệu quả và phù hợp với mục tiêu sản xuất.

+ Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong
việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các
tập đoàn người được hưởng.
VD: Quan hệ giữa ông chủ( người trả lương) và công nhân( người nhận lương) là quan
hệ phân phối sản phẩm lao động. Nếu mức lương hợp lý sẽ kích thích người lao động tăng
năng suất, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh. Ngược lại, nếu mức lương quá thấp, công
nhân sẽ có xu hướng đình công, làm đình trệ việc sản xuất.

Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối, ảnh
hưởng lẫn nhau; trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định tính chất của quan hệ sản xuất. II.
QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT
TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 1.
Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
* Lực lượng sản xuất quyết định QHSX vì:
Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất - kỹ thuật của quá trình sản xuất vật chất có tính -
năng động, sáng tạo, thường xuyên vận động phát triển. Nguyên nhân của nó là sự gia tăng
không ngừng nhu cầu vật chất của con người cả về số lượng lẫn chất lượng. Người lao động
với vai trò là chủ thể sáng tạo của quá trình sản xuất, đã cải tiến công cụ để nâng cao năng suất
lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó của con người. 17
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
Quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất vật chất, có tính ổn định -
tương đối. Nguyên nhân do nó gắn liền với vấn đề lợi ích kinh tế của giai cấp nắm giữ tư liệu
sản xuất chủ yếu trong xã hội, gắn liền với vấn đề quyền lực chính trị và thiết chế xã hội.
Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của nền sản xuất xã hội, tạo thành mâu thuẫn -
biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
* *LLSX quyết định QHSX thể hiện ở nội dung sau:
Thứ nhất, lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của quan hệ sản xuất. Nếu không có
quá trình sản xuất vật chất sẽ không có cơ sở nảy sinh mối quan hệ giữa con người với con
người trong quá trình sản xuất.
Thứ hai, lực lượng sản xuất quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất.
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ quyết định tính chất của quan hệ sở tư liệu sản
xuất, thông qua đó quyết định các mặt còn lại của quan hệ sản xuất.
Thứ ba, Lực lượng sản xuất quyết định sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất. Lực
lượng sản xuất phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính ổn định tương đối của quan hệ
sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển trở thành
“xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã
hội là phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới.
Ví dụ: Quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thủy có tính chất công hữu với cơ chế phân
phối bình quân, tức là cùng lao động, cùng thụ hưởng. Tính chất cộng đồng này được quy định
trình độ thấp của lực lượng sản xuất thời bấy giờ. Sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt
đầu bằng sự ra đời của công cụ kim khí, phân công lao đô ̣ng xã hội phát triển. Tù binh trở
thành trở thành nô lê ̣. Xuất hiện gia đình “Phụ hệ” và “của cải dư thừa”, cơ chế phân phối
bình quân không còn phù hợp. Chế độ tư hữu hình thành. Đây cũng là lúc lịch sử chứng kiến
quan hệ sản xuất công xã nguyên thủy tan rã, thay vào đó là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lê ̣.

VD: Sự tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất ở Việt Nam có thể là sự
gia tăng trong ngành công nghiệp dệt may. Khi lực lượng sản xuất trong ngành này tăng lên,
doanh nghiệp có thể áp dụng các công nghệ mới và tự động hóa quy trình sản xuất để tối ưu
hóa hiệu suất và giảm chi phí lao động. Sự chuyển đổi này có thể tạo ra sự cần thiết phải điều
chỉnh quan hệ sản xuất, chẳng hạn như tăng cường đào tạo cho công nhân để làm việc với các
thiết bị tự động mới. Đồng thời, có thể xuất hiện các biến động trong các mối quan hệ lao
động, như yêu cầu về kỹ năng công nghệ cao và tính linh hoạt trong làm việc. Điều này thường
18
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn) lOMoARcPSD|60179462
kéo theo các điều chỉnh trong hệ thống tiền lương và chính sách lao động để phản ánh môi
trường sản xuất mới.

2. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất vì:
 Quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, phản ánh phương thức liên
kết giữa người lao động và tư liệu sản xuất, xác định địa vị của họ đối với tư liệu sản xuất và
sản phẩm đầu ra. Phương thức liên kết này tác động đến thái độ của người lao động, quy định
mục đích sản xuất, tổ chức phân công lao động xã hội, phát triển và ứng dụng khoa học và
công nghệ … và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.
 Quan hệ sản xuất tác động lực lượng sản xuất đồng thời trên cả cả ba mặt: sở hữu tư
liệu SX, tổ chức quản lý SX và phân phối sản phẩm.
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo 2 chiều hướng:
Tác động thúc đẩy khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái trong đó quan
hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất và “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực
lượng sản xuất phát triển. 
Biểu hiện của sự phù hợp là tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp
giữa người lao động và tư liệu sản xuất; quy mô nền sản xuất được mở rộng; thành tựu khoa
học và công nghệ được nhanh chóng áp dụng; lợi ích được đảm bảo, người lao động hăng hái
sản xuất. Tất cả các yếu tố này tạo thành hệ thống động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
VD:Trong một công ty, nếu người quản lý có thể đưa ra các hình thức tổ chức phù hợp, sản
xuất hiệu quả và đảm bảo lợi ích của người lao động thì điều đó sẽ kích thích người lao động có
thể phát huy hết khả năng. Từ đó tăng năng suất lao động, cải thiện đời sống xã hội.

- Tác động kìm hãm khi quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất. Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất.
Biểu hiện của nó là sự đình trệ của sản xuất, khủng hoảng kinh tế, sự gia tăng bất bình đẳng,
mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn,
với những điều kiện nhất định, bởi vì trạng thái này tất yếu sẽ được giải quyết bởi một cuộc
cách mạng xã hội. Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hay vượt trước
giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đều là không phù hợp.
VD:Nếu Việt Nam đối mặt với chiến tranh thương mại hoặc biến động thị trường quốc tế,
quan hệ sản xuất có thể gặp khó khăn trong việc thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và 19
Downloaded by Ph?m Huy?n (257140249069@hpu2.edu.vn)