Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
.....0O0.....
Bài tập lớn
Triết học Mác-Lênin
Đề tài :
“Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Và
sự vận dụng của Đảng ta hiện nay”
Họ và tên Sinh viên: Nguyễn Hoàng Minh Anh
Mã sinh viên: 11244137
Lớp: Logistics & Quản lí Chuỗi cung ứng 66A
Khóa: 66
Hà Nội-2024
1
Mục lục
Lời mở đầu...............................................................................................................1
Nội dung...................................................................................................................2
I, Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức..........................................................................................................................3
1. Vật chất quyết định ý thức............................................................................2
2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.......................2
3. Ý nghĩa của phương pháp luận.......................................................................3
II, Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức của Đảng ta hiện nay.........................................................................4
1. Các nội dung đã áp
dụng.................................................................................8
2. Thành tựu đạt
được........................................................................................9
3. Hạn chế còn tồn
tại........................................................................................14
4. Giải
pháp.......................................................................................................15
Kết luận...................................................................................................................14
Tài liệu tham khảo...................................................................................................15
2
Lời mở đầu
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc
biệt là của triết học hiện đại, Tùy theo lập trường thế giới quan khác nhau, khi
giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ bản
trong triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Khẳng định nguyên tắc
tính đảng trong triết học, V.I. Lenin đã viết:Triết học hiện đại cũng có tính đảng
như triết học hai nghìn năm về trước. Những đảng phái đang đấu tranh với nhau,
về thực chất, - mặc dù thực chất đó bị che giấu bằng những nhãn hiệu mới của
thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn – là chủ nghĩa duy vật và chủ
nghãi duy tâm.
Mục đích của bài luận là nghiên cứu sâu về các khía cạnh của mối liên hệ giữa vt
chất và ý thức theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, giúp ta có cái nhìn sâu
sắc hơn về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy
vật biện chứng. Từ đó hình thành thế giới quan khoa học, đưa ra những phân tích
một cách khách quan, thực tế về sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.
1
Nội dung
I, Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức
1, Vật chất quyết định ý thức
- Thứ nhất, vt chất quyết định nguồn gốc của ý thức:
+ Do tồn tại khách quan nên vật chất là cái có trước và mang tính thứ nhất. Ý thức
là sự phản ánh lại của vật chất nên là cái có sau và mang tính thứ hai. Nếu không
có vật chất trong tự nhiên và vật chất trong xã hội thì sẽ không có ý thức nên ý
thức là thuộc tính, là sản phẩm cuẩ vật chất, chịu sự chi phối, quyết định của vật
chất. Bên cạnh đó, ý thức có tính sáng tạo, năng động nhưng những điều này có
cơ sở từ vt chất và tuân theo những quy luật của vật chất. Vật chất quy định nội
dung và hình thức biểu hiệu của ý thức. Điều này có ý nghĩa là ý thức mang những
thông tin về đối tượng vật chất cụ thể. Những thông tin này có thể đúng hoặc sai,
đủ hoặc thiếu, sự biểu hiện khác nhau đều do mức độ tác động của vật chất lên
bộ óc con người.
+ Ngôn ngữ của đời sống hiện thực chính tiền tồn đối với ý thức, “sản phẩm
trực tiếp của các quan h vật chất. Do đó, hoàn toàn thể dựa trên những
liệu tiền sử về hoạt động vật chất đặc thù của mỗi giai đoạn, để suy ra mức độ
tinh thần, ý thức bao hàm trong mỗi giai đoạn ấy. Nhưng để làm sáng cội
nguồn của ý thức trong trạng thái đương đại của nó, Trần Đức Thảo đã tìm đến
các dữ kiện cụ thể trong tâm học trẻ em nhận thấycử chỉ của con tinh tinh
xét một cách nghiêm chỉnh không nghĩa của lời nói con người, bởi vì con vật có
thể học được hơn một trăm hiệu cử chỉ, trong khi sau nhiều năm giáo dục
chỉ thể nói được vài “từ” nó không thể chứng minh rằng các hiệu âm
thanh đó một cấu trúc ngữ nghĩa của một từ do một em nhỏ 15 tháng tuổi sử
dụng (...). T đứa trẻ 15 tháng tuổi dùng một cách riêng rẽ chứa đựng một
phép biện chứng tóm tắt sự vận động ngôn ngữ đầu tiên của đời sống hiện thực
con người được lấy lại từ nguyên gốc của ngôn ngữ đầu tiên như chúng ta
thể tái tạo từ quá trình y chuyền hoạt động đẳng được bao hàm trong
việc sản xuất những công cụ đầu tiên ở người khéo léo”
2
+ Trước hết lao động, sau lao động đồng thời với lao động ngôn ngữ, đó
là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc
đó dần dần chuyển thành bộ óc của con người”. Và khi “đem so sánh con người
với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động cùng
phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về ngôn ngữ” –Ph.
Ăngghen đã khẳng định như vậy.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức:
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động phát triển của ý thức
2, Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lênin thì trong lịch sử triết học, vấn đề
nguồn gốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Triết học duy vật biện
chứng khẳng định, ý thức của con người có nguồn gổc tự nhiên và nguồn gốc xã
hội.
a. Mặt tự nhiên
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, ý thức là một thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới khách
quan vào bộ não người. Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan
vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ quan vật
chất của ý thức thì sẽ không có ý thức. Bộ não người và sự tác động của thế
giới khách quan vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Các
nhân tố bao gồm:
- Bộ óc: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính
của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người hiện
đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có
cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào
y tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều
khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài
thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện.
- Sự phản ánh: Cũng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt động ý thức con
người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Sự
3
phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị
tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc
người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh
lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung,
phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện
lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh
của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
● Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể
hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá.
● Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu sinh
cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế
giới sinh vật.
● Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện
thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất,
cùng với sự xuất hiện của con người.
b. Mặt xã hội.
Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyết
định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốchội, thể hiện ở vai trò của lao động,
ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
- Lao động: Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất
người. Đó là hoạt động chủ động, sáng tạo, có mục đích. Lao động đem lại cho
con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng hai tay. Điều này cùng với chế độ ăn có
thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành
người, từ tâm lý động vật thành ý thức. Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý
nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế
giới. Thực chất của hoạt động lao động là tác động vào thế giới khách quan, làm
biến đổi thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Nhờ có lao động, bộ não
con người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu
tượng của con người ngày càng cao. Cũng là lao động ngay từ đầu đã liên kết con
người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ đó không
4
ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần
thiết phải nói với nhau một cái gì đó". Và ngôn ngữ xuất hiện.
- Ngôn ngữ: Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì ngôn ngữ là
phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là
cái vvật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng. Ngôn ngữ là yếu tố
quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người.
3 . Bản chất của ý thức
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh khách
quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung của
ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới
khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức
không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái
quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế
giới bởi bộ não con người
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự
nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về
thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được
thực hiện thông qua hoạt động lao động. “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được
đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” - Các Mác
- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di chuyển
vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần.
Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh, trong
khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra
5
những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và có tính khái quát cao.
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, song đây là
sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tin giữa chủ thể
và đối tượng phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới
dạng hình ảnh tinh thần và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực
khách quan.
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp, dù
dưới dạng ý tưởng thì bao giờ cũng phải dựa vào nhng tiền đề vật chất, dựa trên
hoạt động thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại trừ, tách
rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc
. - Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã
hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện
tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan
hệ xã hội khách quan. “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như
vậy đến chừng nào con người còn tồn tại” - Các Mác và Engels
- Theo Lênin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bước sai
lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.
4, Cấu trúc của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều
thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai
chiều:
Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin,
lý trí, ý chí..., trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.
6
Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức,
trong đó tự ý thức ở cấp độ sâu nhất.
II , Vai trò của ý thc trong thực tiễn
1. Vai trò của ý thức
Vai trò của ý thức có một tầm quan trọng đối với thực tiễn cuộc sống và khẳng
định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn ý thức chỉ
là sản phẩm, là sự phản ánh chân thật về thế giới khách quan. Và hành động của
con người chỉ xuất phát từ những yếu tố tác động của thế giới khách quan.
Điều này đã tạo cho con người sự thông minh, nhạy bén để có thể ứng phó kịp
thời với tác động của môi trường xung quanh. Từ đó giúp tạo bên các giá trị thực
tiễn cho đời sống xã hội, nhiều công trình kiến trúc được tạo nên, nhiều phát
minh khoa học được hình thành do ý thức của con người dự đoán được những
thiên tai, hay những thay đổi của tương lai ....
Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự
nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư
tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy
luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải
có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo
các hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động
đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất
định.
Do vậy, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì
càng cải tạo thế giới có hiệu quả. Vì thế, phải phát huy tính năng động, sáng tạo
của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách
quan.
2. Vai trò của tự ý thức
Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh con người cũng đồng thời tự
nhận thức bản thân mình. Đó chính là tự ý thức. Như vậy tự ý thức cũng là ý thức,
là một thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mình
trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài. Nhờ vậy con người tự nhận
7
thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có
hành vi, đạo đức và có vị trí trong xã hội. Những cảm giác của con người về bản
thân mình trên mọi phương diện giữ vai trò quan trọng về hình thành tự ý thức.
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thức của cả xã hội,
của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình trong hệ thống
những quan hệ sản xuất xác định, về lý tưởng và lợi ích chung ca xã hội mình,
của giai cấp hay của tầng lớp mình.
3. Vai trò của tiềm thức
Tiềm thức là những hoạt động tâm lí tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát
của chủ thể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lí đang diễn ra
dưới sự kiểm soát của chủ thể. Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ
thể có từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng trong tầm sâu của tri thức
chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Do đó tiềm thức có thể chủ động gây ra
các hoạt động tâm lí và nhận thức mà chủ thể không cần kiểm soát chúng một
cách trực tiếp. Tiềm thức có vai trò quan trọng trong cả hoạt động tâm lí hàng
ngày của con người, cả trong tư duy khoa học. Trong tư duy khoa học, tiềm thức
chủ yếu gắn với các loại hình tư duy chính xác, với các hoạt động tư duy thường
được lặp đi lặp lại nhiều lần. Ở đây tiềm thức góp phần giảm sự quá tải của đầu óc
trong việc xử lí khối lượng lớn các tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách lặp đi
lặp lại mà vẫn đảm bảo được sự chính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa
học.
4. Vai trò của vô thức
Vô thức là những trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi,
thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự
truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toàn của lý trí.
Vô thức biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn,
giấc mơ, bị thôi miên, nói nhịu, trực giác, sự lỡ lời… Mỗi hiện tượng đều có vùng
hoạt động riêng, có vai trò, chức năng riêng, song tất cả đều có một chức năng
chung đó là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng, nhất
là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ ra và thực hiện trong quy
8
tắc của đời sống cộng đồng. Nó góp phần lập lại thế cân bằng trong hoạt động
tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức.
Như vậy, vô thức có vai trò, tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động của
con người. Nhờ vô thức mà con người tránh được tình trạng căng thẳng không
cần thiết khi làm việc quá tải, nhờ vô thức mà chuẩn mực của con người được đặt
ra một cách tự nhiên… Vì vậy không thể phủ nhận vai trò của vô thức trong cuộc
sống, nếu phủ nhận vô thức sẽ không thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con người.
III, Vai trò của ý thức trong thực tiễn phát triển kinh tế (hoặc kinh doanh) ở Việt
Nam hiện nay.
1, Vai trò của nhân tố tri thức khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế.
Khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quan trọng trong việc tăng năng
suất lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển và tăng trưởng kinh
tế, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định cơ chế chính sách. Tại Việt Nam,
KH&CN đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước với hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp và góp phần
tăng trưởng hơn 10% chỉ số sản xuất công nghiệp. Nhận thức được vai trò đó,
trong những năm gần đây, bên cạnh thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, việc ứng
dụng kết quả của các nhiệm v KH&CN ngành tài chính đã góp phần xây dựng và
hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính.
Vai trò của KH&CN đã được khẳng định trong nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế.
Theo mô hình tăng trưởng của Kaldor, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào phát
triển tiến bộ kỹ thuật hoặc trình độ KH&CN. Mô hình tăng trưởng Solow cũng đề
cao các yếu tố KH&CN và tốc độ tăng trưởng lao động trong tăng trưởng kinh tế ở
trạng thái bền vững. Trong khi đó, mô hình Tân cổ điển giả thiết rằng có thể giải
thích về sản xuất xã hội, mức tăng trưởng, sự khác biệt giữa các quốc gia phát
triển và đang phát triển bằng cách tập trung nghiên cứu những yếu tố cơ bản như
nguồn lực, KH&CN... Cụ thể hơn, vai trò của KH&CN có thể được thể hiện ở một
số góc độ như sau:
Khoa học và công nghệ tác động tích cực tới việc năng suất lao động của nền
kinh tế. Theo đó, KH&CN cải tiến, ti ưu hóa các quá trình sản xuất - kinh doanh,
từ đó giải phóng sức lao động của con người bằng máy móc, thiết bị để giảm bớt
lao động nặng nhọc, thủ công, đồng thời rút ngắn thời gian làm việc và nâng cao
NSLĐ. Đồng thời, KH&CN cũng góp phần tạo ra nguyên liệu mới, sản phẩm mới với
9
giá trị gia tăng cao hơn, thay thế việc nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa từ nước
ngoài với chi phí thấp hơn.
Khoa học và công nghệ giúp đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực, KH&CN đóng vai trò quan trọng, tạo động lực giúp các ngành công
nghiệp, dịch vụ có những bước nhảy vọt thần kỳ. Những công nghệ cũ tiêu hao
nhiều tài nguyên và lao động dựa trên nền tảng điện - cơ khí được thay thế bởi
những ngành nghề công nghiệp cao cấp chủ yếu dựa trên nền tảng hiện đại, tiêu
hao ít các nguồn lực đầu vào, giảm suất tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP.
Như vậy, giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên gấp nhiều lần, trong khi mức tiêu
hao nguyên liệu, năng lượng gần như không đổi.
Khoa học và công nghệ phát triển góp phần gia tăng sức cạnh tranh của hàng
hóa. Áp dụng KH&CN vào quy trình sản xuất, tạo ra các vật liệu mới có thể giúp
giảm chi phí sản xuất, cải tiến sản phẩm, đổi mới mẫu mã của sản phẩm, từ đó
giúp tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, gia tăng được lợi nhuận và quy mô của
doanh nghiệp được mở rộng.
Bên cạnh các đóng góp trực tiếp của khoa học kỹ thuật đối với năng suất lao
động, tăng tưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế, khoa học xã hội đã góp phần nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấp luận cứ cho
việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế. Từ đó, KH&CN đóng góp vào tăng trưởng và
phát triển kinh tế.
Tại Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, KH&CN đã có những đóng
góp lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giảm dần phụ
thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô và mở rộng tín dụng. Đóng góp của
KH&CN đối với nền kinh tế Việt Nam được thể hiện thông qua chỉ số năng suất các
nhân tố tổng hợp (TFP) và giá trị gia tăng mà KH&CN tạo ra đối với các ngành.
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP năm 2019
đạt 44,6%, bình quân giai đoạn 2016 -2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức
bình quân 33,58% của giai đoạn 2011 - 2015. Ngoài ra, theo Bộ KH&CN (2019),
KH&CN đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong
sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Bên cạnh đó, nhiều mô hình nông nghiệp ứng
10
dụng công nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao với sự đầu tư mạnh của các
doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong nước và nước ngoài đã xuất hiện. Trong công
nghiệp, đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng Chỉ số sản xuất toàn ngành công
nghiệp năm 2018 tăng 10,2% so với năm 2017, vượt mức chỉ tiêu theo kế hoạch
(9%).
2, Vai trò của nhân tố tình cảm, ý chí với trong phát triển kinh tế.
-Ý thức kinh tế của người dân Việt Nam đã góp phần quan trọng vào những thành
tựu phát triển kinh tế của đất nước trong thời gian qua, như:
+Ý thức làm chủ của người dân đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân. Trong những năm qua, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đã có
bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế quốc dân. Điều
này có được là nhờ ý thức làm chủ của người dân, họ đã tích cực tham gia vào các
hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, góp phần tạo ra của cải vật chất, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
+Ý thức vươn lên làm giàu của người dân đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ý thức vươn lên làm giàu
của người dân đã được khơi dậy mạnh mẽ. Nhiều người dân đã tích cực lao động,
sáng tạo, khởi nghiệp, xây dựng doanh nghiệp, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm,
dịch vụ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
+Ý thức tiết kiệm, chống lãng phí của người dân đã góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn lực. Ý thức tiết kiệm, chống lãng phí của người dân đã được nâng
cao rõ rệt trong những năm qua. Nhiều người dân đã có ý thức sử dụng tiết kiệm
điện, nước, xăng dầu,... góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn lực.
+Ý thức định hướng cho hành động kinh tế: ý thức về giá trị của lao động sẽ
thúc đẩy con người tích cực lao động, sáng tạo, nâng cao năng suất lao động. Ý
thức về lợi ích kinh tế sẽ thúc đẩy con người tìm kiếm cơ hội kinh doanh, đầu tư,
phát triển sản xuất.
11
+Ý thức thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội: ý thức về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp sẽ thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các hoạt động vì cộng đồng,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
+ Ý thức về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa sẽ giúp các chủ thể kinh tế hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình
trong việc thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước.
-Trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, ý thức kinh tế của
người dân đang có những chuyển biến tích cực. Niềm tin của người dân vào nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được củng cố. Người dân
ngày càng có ý thức hơn về giá trị của lao động, lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã
hội. Những chuyển biến tích cực này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước.
12
Kết luận
Từ việc nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, vai trò của ý thức, ta đã có cái
nhìn trực quan và rõ ràng hơn về phạm trù triết học này, qua đây thấy được tầm
quan trọng của ý thức đối với nền kinh tế nước nhà. Phạm trù ý thức có ý nghĩa
quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, là điều khiến cho đất nước
ngày càng phát triển đặc. Đứng trước thế kỉ 21 – thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc
và phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Đây là thử thách đồng thời là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia, dân tộc
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng và phát
triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các kỹ thuật Khoa học-Công nghệ của thế
giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tế tri thức mà không qua kinh tế
công nghiệp. Đó là sự lựa chọn hợp lí và đúng đắn. Vấn đề là phải hiểu biết và vận
dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả các lĩnh vực hoạt động chứ không
phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng biệt cho một khu vực nào đó. Kinh tế tri
thức theo cách hiểu nào đó là của mọi người, nó phải được thẩm thấu vào trong
mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội. Vì thế nhân tố tình cảm, ý chí cũng đóng
góp vai trò không hề nhỏ vì nó là ý thức của mỗi cá nhân, mỗi một người dân, mỗi
một doanh nghiệp cùng đóng góp để chung tay đưa Việt Nam ta đến một tầm cao
mới. Để làm được điều đó sớm nhất, Chính phủ và những người trí thức cần tôi
luyện, rèn dũa cho mọi người dân một tư tưởng, ý thức đúng đắn về nhiều lĩnh
vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực kinh tế để có thể phát triển đất nước một cách
đồng đều và bền vững nhất.
13
Tài liệu tham khảo
Trần Đức Thảo, Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, Nxb. Văn hóa Thông
tin,1996: 19, 21, 22, 50, 98, xem 99-100.
14

Preview text:

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân .....0O0..... Bài tập lớn
Triết học Mác-Lênin Đề tài :
“Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Và
sự vận dụng của Đảng ta hiện nay”
Họ và tên Sinh viên: Nguyễn Hoàng Minh Anh Mã sinh viên: 11244137
Lớp: Logistics & Quản lí Chuỗi cung ứng 66A Khóa: 66 Hà Nội-2024 1 Mục lục
Lời mở đầu...............................................................................................................1
Nội dung...................................................................................................................2
I, Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức..........................................................................................................................3
1. Vật chất quyết định ý thức............................................................................2
2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.......................2
3. Ý nghĩa của phương pháp luận.......................................................................3
II, Sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức của Đảng ta hiện nay.........................................................................4 1. Các nội dung đã áp
dụng.................................................................................8 2. Thành tựu đạt
được........................................................................................9 3. Hạn chế còn tồn
tại........................................................................................14 4. Giải
pháp.......................................................................................................15
Kết luận...................................................................................................................14
Tài liệu tham khảo...................................................................................................15 2 Lời mở đầu
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc
biệt là của triết học hiện đại”, Tùy theo lập trường thế giới quan khác nhau, khi
giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ bản
trong triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Khẳng định nguyên tắc
tính đảng trong triết học, V.I. Lenin đã viết: “Triết học hiện đại cũng có tính đảng
như triết học hai nghìn năm về trước. Những đảng phái đang đấu tranh với nhau,
về thực chất, - mặc dù thực chất đó bị che giấu bằng những nhãn hiệu mới của
thủ đoạn lang băm hoặc tính phi đảng ngu xuẩn – là chủ nghĩa duy vật và chủ nghãi duy tâm.
Mục đích của bài luận là nghiên cứu sâu về các khía cạnh của mối liên hệ giữa vật
chất và ý thức theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, giúp ta có cái nhìn sâu
sắc hơn về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan điểm của chủ nghĩa duy
vật biện chứng. Từ đó hình thành thế giới quan khoa học, đưa ra những phân tích
một cách khách quan, thực tế về sự vận dụng của Đảng ta hiện nay. 1 Nội dung
I, Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1, Vật chất quyết định ý thức
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức:
+ Do tồn tại khách quan nên vật chất là cái có trước và mang tính thứ nhất. Ý thức
là sự phản ánh lại của vật chất nên là cái có sau và mang tính thứ hai. Nếu không
có vật chất trong tự nhiên và vật chất trong xã hội thì sẽ không có ý thức nên ý
thức là thuộc tính, là sản phẩm cuẩ vật chất, chịu sự chi phối, quyết định của vật
chất. Bên cạnh đó, ý thức có tính sáng tạo, năng động nhưng những điều này có
cơ sở từ vật chất và tuân theo những quy luật của vật chất. Vật chất quy định nội
dung và hình thức biểu hiệu của ý thức. Điều này có ý nghĩa là ý thức mang những
thông tin về đối tượng vật chất cụ thể. Những thông tin này có thể đúng hoặc sai,
đủ hoặc thiếu, sự biểu hiện khác nhau đều do mức độ tác động của vật chất lên bộ óc con người.
+ Ngôn ngữ của đời sống hiện thực chính là tiền tồn đối với ý thức, là “sản phẩm
trực tiếp của các quan hệ vật chất”. Do đó, hoàn toàn có thể dựa trên những tư
liệu tiền sử về hoạt động vật chất đặc thù của mỗi giai đoạn, để suy ra mức độ
tinh thần, ý thức bao hàm trong mỗi giai đoạn ấy. Nhưng để làm sáng rõ cội
nguồn của ý thức trong trạng thái đương đại của nó, Trần Đức Thảo đã tìm đến
các dữ kiện cụ thể trong tâm lý học trẻ em và nhận thấy “cử chỉ của con tinh tinh
xét một cách nghiêm chỉnh không có nghĩa của lời nói con người, bởi vì con vật có
thể học được hơn một trăm ký hiệu cử chỉ, trong khi sau nhiều năm giáo dục nó
chỉ có thể nói được vài “từ” mà nó không thể chứng minh rằng các ký hiệu âm
thanh đó có một cấu trúc ngữ nghĩa của một từ do một em nhỏ 15 tháng tuổi sử
dụng (...). Từ mà đứa trẻ 15 tháng tuổi dùng một cách riêng rẽ chứa đựng một
phép biện chứng tóm tắt sự vận động ngôn ngữ đầu tiên của đời sống hiện thực
con người được lấy lại ở từ nguyên gốc của ngôn ngữ đầu tiên như chúng ta có
thể tái tạo nó từ quá trình dây chuyền hoạt động sơ đẳng được bao hàm trong
việc sản xuất những công cụ đầu tiên ở người khéo léo” 2
+ “Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó
là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ óc
đó dần dần chuyển thành bộ óc của con người”. Và khi “đem so sánh con người
với các loài vật, người ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng
phát triển với lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về ngôn ngữ” –Ph.
Ăngghen đã khẳng định như vậy.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức:
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động phát triển của ý thức
2, Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lênin thì trong lịch sử triết học, vấn đề
nguồn gốc, bản chất của ý thức là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Triết học duy vật biện
chứng khẳng định, ý thức của con người có nguồn gổc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. a. Mặt tự nhiên
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, ý thức là một thuộc tính của một
dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là sự phản ánh thế giới khách
quan vào bộ não người. Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan
vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ quan vật
chất của ý thức thì sẽ không có ý thức. Bộ não người và sự tác động của thế
giới khách quan vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. Các nhân tố bao gồm:
- Bộ óc: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính
của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người hiện
đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có
cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào
này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều
khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài
thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện.
- Sự phản ánh: Cũng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt động ý thức con
người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Sự 3
phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị
tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc
người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh
lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức. Phản ánh là thuộc tính chung,
phổ biến của mọi đối tượng vật chất. Phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện
lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh
của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
● Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể
hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá.
● Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu sinh
cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật.
● Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện
thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất,
cùng với sự xuất hiện của con người. b. Mặt xã hội.
Để ý thức có thể ra đời, bên những nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyết
định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động,
ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
- Lao động: Là hoạt động đặc thù của con người, là hoạt động bản chất
người. Đó là hoạt động chủ động, sáng tạo, có mục đích. Lao động đem lại cho
con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng hai tay. Điều này cùng với chế độ ăn có
thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ vượn thành
người, từ tâm lý động vật thành ý thức. Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý
nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế
giới. Thực chất của hoạt động lao động là tác động vào thế giới khách quan, làm
biến đổi thế giới nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Nhờ có lao động, bộ não
con người được phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu
tượng của con người ngày càng cao. Cũng là lao động ngay từ đầu đã liên kết con
người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan. Mối liên hệ đó không 4
ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần
thiết phải nói với nhau một cái gì đó". Và ngôn ngữ xuất hiện.
- Ngôn ngữ: Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì ngôn ngữ là
phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là
cái vỏ vật chất của tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng. Ngôn ngữ là yếu tố
quan trọng để phát triển tâm lý, tư duy của con người và xã hội loài người.
3 . Bản chất của ý thức
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh khách
quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thể hiện rằng nội dung của
ý thức do thế giới khách quan quy định. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới
khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức
không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái
quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế
giới bởi bộ não con người
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự
nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về
thế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và được
thực hiện thông qua hoạt động lao động. “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được
đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó” - Các Mác
- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biến cái vật chất di chuyển
vào trong bộ não con người thành cái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần.
Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở của phản ánh, trong
khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái
không có trong thực tế. Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra 5
những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu
tượng và có tính khái quát cao.
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người, song đây là
sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá
trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tin giữa chủ thể
và đối tượng phản ánh. Tiếp đến là mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới
dạng hình ảnh tinh thần và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan.
- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trực tiếp hay gián tiếp, dù
dưới dạng ý tưởng thì bao giờ cũng phải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa trên
hoạt động thực tiễn nhất định. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập, loại trừ, tách
rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh.
- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức – trong bất kỳ
trường hợp nào cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo
ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc
. - Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã
hội: Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện
tượng xã hội. ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh những quan
hệ xã hội khách quan. “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như
vậy đến chừng nào con người còn tồn tại” - Các Mác và Engels
- Theo Lênin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bước sai
lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.
4, Cấu trúc của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều
thành tố khác nhau có quan hệ với nhau. Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:
Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin,
lý trí, ý chí..., trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi. 6
Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vô thức,
trong đó tự ý thức ở cấp độ sâu nhất. II , Vai trò của ý th
ức trong thực tiễn
1. Vai trò của ý thức
Vai trò của ý thức có một tầm quan trọng đối với thực tiễn cuộc sống và khẳng
định vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức, còn ý thức chỉ
là sản phẩm, là sự phản ánh chân thật về thế giới khách quan. Và hành động của
con người chỉ xuất phát từ những yếu tố tác động của thế giới khách quan.
Điều này đã tạo cho con người sự thông minh, nhạy bén để có thể ứng phó kịp
thời với tác động của môi trường xung quanh. Từ đó giúp tạo bên các giá trị thực
tiễn cho đời sống xã hội, nhiều công trình kiến trúc được tạo nên, nhiều phát
minh khoa học được hình thành do ý thức của con người dự đoán được những
thiên tai, hay những thay đổi của tương lai ....
Nói tới vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người, vì ý thức tự
nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực cả. Do đó, muốn thực hiện tư
tưởng phải sử dụng lực lượng thực tiễn. Nghĩa là con người muốn thực hiện quy
luật khách quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn những quy luật đó, phải
có ý chí và phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ chỉ đạo
các hoạt động của con người, có thể quyết định làm cho con người hành động
đúng hay sai, thành công hay thất bại trên cơ sở những điều kiện khách quan nhất định.
Do vậy, con người càng phản ánh đầy đủ, chính xác thế giới khách quan thì
càng cải tạo thế giới có hiệu quả. Vì thế, phải phát huy tính năng động, sáng tạo
của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo thế giới khách quan.
2. Vai trò của tự ý thức
Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh con người cũng đồng thời tự
nhận thức bản thân mình. Đó chính là tự ý thức. Như vậy tự ý thức cũng là ý thức,
là một thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mình
trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài. Nhờ vậy con người tự nhận 7
thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có
hành vi, đạo đức và có vị trí trong xã hội. Những cảm giác của con người về bản
thân mình trên mọi phương diện giữ vai trò quan trọng về hình thành tự ý thức.
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thức của cả xã hội,
của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình trong hệ thống
những quan hệ sản xuất xác định, về lý tưởng và lợi ích chung của xã hội mình,
của giai cấp hay của tầng lớp mình.
3. Vai trò của tiềm thức
Tiềm thức là những hoạt động tâm lí tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát
của chủ thể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lí đang diễn ra
dưới sự kiểm soát của chủ thể. Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ
thể có từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng trong tầm sâu của tri thức
chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng. Do đó tiềm thức có thể chủ động gây ra
các hoạt động tâm lí và nhận thức mà chủ thể không cần kiểm soát chúng một
cách trực tiếp. Tiềm thức có vai trò quan trọng trong cả hoạt động tâm lí hàng
ngày của con người, cả trong tư duy khoa học. Trong tư duy khoa học, tiềm thức
chủ yếu gắn với các loại hình tư duy chính xác, với các hoạt động tư duy thường
được lặp đi lặp lại nhiều lần. Ở đây tiềm thức góp phần giảm sự quá tải của đầu óc
trong việc xử lí khối lượng lớn các tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách lặp đi
lặp lại mà vẫn đảm bảo được sự chính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học.
4. Vai trò của vô thức
Vô thức là những trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi,
thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự
truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toàn của lý trí.
Vô thức biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn,
giấc mơ, bị thôi miên, nói nhịu, trực giác, sự lỡ lời… Mỗi hiện tượng đều có vùng
hoạt động riêng, có vai trò, chức năng riêng, song tất cả đều có một chức năng
chung đó là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng, nhất
là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ ra và thực hiện trong quy 8
tắc của đời sống cộng đồng. Nó góp phần lập lại thế cân bằng trong hoạt động
tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức.
Như vậy, vô thức có vai trò, tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động của
con người. Nhờ vô thức mà con người tránh được tình trạng căng thẳng không
cần thiết khi làm việc quá tải, nhờ vô thức mà chuẩn mực của con người được đặt
ra một cách tự nhiên… Vì vậy không thể phủ nhận vai trò của vô thức trong cuộc
sống, nếu phủ nhận vô thức sẽ không thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về con người. III, V
ai trò của ý thức trong thực tiễn phát triển kinh tế (hoặc kinh doanh) ở Việt Nam hiện nay. 1,
Vai trò của nhân tố tri thức khoa học, công nghệ trong phát triển kinh tế.
Khoa học và công nghệ (KH&CN) có vai trò quan trọng trong việc tăng năng
suất lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần phát triển và tăng trưởng kinh
tế, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định cơ chế chính sách. Tại Việt Nam,
KH&CN đã có những đóng góp lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước với hơn 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp và góp phần
tăng trưởng hơn 10% chỉ số sản xuất công nghiệp. Nhận thức được vai trò đó,
trong những năm gần đây, bên cạnh thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, việc ứng
dụng kết quả của các nhiệm vụ KH&CN ngành tài chính đã góp phần xây dựng và
hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính.
Vai trò của KH&CN đã được khẳng định trong nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế.
Theo mô hình tăng trưởng của Kaldor, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào phát
triển tiến bộ kỹ thuật hoặc trình độ KH&CN. Mô hình tăng trưởng Solow cũng đề
cao các yếu tố KH&CN và tốc độ tăng trưởng lao động trong tăng trưởng kinh tế ở
trạng thái bền vững. Trong khi đó, mô hình Tân cổ điển giả thiết rằng có thể giải
thích về sản xuất xã hội, mức tăng trưởng, sự khác biệt giữa các quốc gia phát
triển và đang phát triển bằng cách tập trung nghiên cứu những yếu tố cơ bản như
nguồn lực, KH&CN... Cụ thể hơn, vai trò của KH&CN có thể được thể hiện ở một số góc độ như sau:
● Khoa học và công nghệ tác động tích cực tới việc năng suất lao động của nền
kinh tế. Theo đó, KH&CN cải tiến, tối ưu hóa các quá trình sản xuất - kinh doanh,
từ đó giải phóng sức lao động của con người bằng máy móc, thiết bị để giảm bớt
lao động nặng nhọc, thủ công, đồng thời rút ngắn thời gian làm việc và nâng cao
NSLĐ. Đồng thời, KH&CN cũng góp phần tạo ra nguyên liệu mới, sản phẩm mới với 9
giá trị gia tăng cao hơn, thay thế việc nhập khẩu sản phẩm, hàng hóa từ nước
ngoài với chi phí thấp hơn.
● Khoa học và công nghệ giúp đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tích cực, KH&CN đóng vai trò quan trọng, tạo động lực giúp các ngành công
nghiệp, dịch vụ có những bước nhảy vọt thần kỳ. Những công nghệ cũ tiêu hao
nhiều tài nguyên và lao động dựa trên nền tảng điện - cơ khí được thay thế bởi
những ngành nghề công nghiệp cao cấp chủ yếu dựa trên nền tảng hiện đại, tiêu
hao ít các nguồn lực đầu vào, giảm suất tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP.
Như vậy, giá trị sản xuất công nghiệp tăng lên gấp nhiều lần, trong khi mức tiêu
hao nguyên liệu, năng lượng gần như không đổi.
● Khoa học và công nghệ phát triển góp phần gia tăng sức cạnh tranh của hàng
hóa. Áp dụng KH&CN vào quy trình sản xuất, tạo ra các vật liệu mới có thể giúp
giảm chi phí sản xuất, cải tiến sản phẩm, đổi mới mẫu mã của sản phẩm, từ đó
giúp tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, gia tăng được lợi nhuận và quy mô của
doanh nghiệp được mở rộng.
● Bên cạnh các đóng góp trực tiếp của khoa học kỹ thuật đối với năng suất lao
động, tăng tưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế, khoa học xã hội đã góp phần nghiên
cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấp luận cứ cho
việc xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các thành phần kinh tế. Từ đó, KH&CN đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Tại Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, KH&CN đã có những đóng
góp lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, giảm dần phụ
thuộc vào khai thác tài nguyên, xuất khẩu thô và mở rộng tín dụng. Đóng góp của
KH&CN đối với nền kinh tế Việt Nam được thể hiện thông qua chỉ số năng suất các
nhân tố tổng hợp (TFP) và giá trị gia tăng mà KH&CN tạo ra đối với các ngành.
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP năm 2019
đạt 44,6%, bình quân giai đoạn 2016 -2019 đạt 44,46%, cao hơn nhiều so với mức
bình quân 33,58% của giai đoạn 2011 - 2015. Ngoài ra, theo Bộ KH&CN (2019),
KH&CN đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong
sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Bên cạnh đó, nhiều mô hình nông nghiệp ứng 10
dụng công nghệ cao, công nghiệp công nghệ cao với sự đầu tư mạnh của các
doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong nước và nước ngoài đã xuất hiện. Trong công
nghiệp, đóng góp của KH&CN vào tăng trưởng Chỉ số sản xuất toàn ngành công
nghiệp năm 2018 tăng 10,2% so với năm 2017, vượt mức chỉ tiêu theo kế hoạch (9%).
2, Vai trò của nhân tố tình cảm, ý chí với trong phát triển kinh tế.
-Ý thức kinh tế của người dân Việt Nam đã góp phần quan trọng vào những thành
tựu phát triển kinh tế của đất nước trong thời gian qua, như:
+Ý thức làm chủ của người dân đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tập
thể, kinh tế tư nhân. Trong những năm qua, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đã có
bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế quốc dân. Điều
này có được là nhờ ý thức làm chủ của người dân, họ đã tích cực tham gia vào các
hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, góp phần tạo ra của cải vật chất, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
+Ý thức vươn lên làm giàu của người dân đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh
tế thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ý thức vươn lên làm giàu
của người dân đã được khơi dậy mạnh mẽ. Nhiều người dân đã tích cực lao động,
sáng tạo, khởi nghiệp, xây dựng doanh nghiệp, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm,
dịch vụ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.
+Ý thức tiết kiệm, chống lãng phí của người dân đã góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng nguồn lực. Ý thức tiết kiệm, chống lãng phí của người dân đã được nâng
cao rõ rệt trong những năm qua. Nhiều người dân đã có ý thức sử dụng tiết kiệm
điện, nước, xăng dầu,... góp phần tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
+Ý thức định hướng cho hành động kinh tế: ý thức về giá trị của lao động sẽ
thúc đẩy con người tích cực lao động, sáng tạo, nâng cao năng suất lao động. Ý
thức về lợi ích kinh tế sẽ thúc đẩy con người tìm kiếm cơ hội kinh doanh, đầu tư, phát triển sản xuất. 11
+Ý thức thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội: ý thức về trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp sẽ thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các hoạt động vì cộng đồng,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
+ Ý thức về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa sẽ giúp các chủ thể kinh tế hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình
trong việc thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước.
-Trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, ý thức kinh tế của
người dân đang có những chuyển biến tích cực. Niềm tin của người dân vào nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được củng cố. Người dân
ngày càng có ý thức hơn về giá trị của lao động, lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã
hội. Những chuyển biến tích cực này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. 12 Kết luận
Từ việc nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, vai trò của ý thức, ta đã có cái
nhìn trực quan và rõ ràng hơn về phạm trù triết học này, qua đây thấy được tầm
quan trọng của ý thức đối với nền kinh tế nước nhà. Phạm trù ý thức có ý nghĩa
quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, là điều khiến cho đất nước
ngày càng phát triển đặc. Đứng trước thế kỉ 21 – thế kỉ có nhiều biến đổi sâu sắc
và phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đồi sống xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Đây là thử thách đồng thời là thời cơ nghiệt ngã cho tất cả các quốc gia, dân tộc
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Cả thế giới đang dần tiến tới xây dựng và phát
triển nền kinh tế tri thức. Nhờ áp dụng các kỹ thuật Khoa học-Công nghệ của thế
giới mà chúng ta có thể đi thẳng tới nền kinh tế tri thức mà không qua kinh tế
công nghiệp. Đó là sự lựa chọn hợp lí và đúng đắn. Vấn đề là phải hiểu biết và vận
dụng nó để đưa tri thức khoa học vào tất cả các lĩnh vực hoạt động chứ không
phải xây dựng nền kinh tế tri thức riêng biệt cho một khu vực nào đó. Kinh tế tri
thức theo cách hiểu nào đó là của mọi người, nó phải được thẩm thấu vào trong
mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội. Vì thế nhân tố tình cảm, ý chí cũng đóng
góp vai trò không hề nhỏ vì nó là ý thức của mỗi cá nhân, mỗi một người dân, mỗi
một doanh nghiệp cùng đóng góp để chung tay đưa Việt Nam ta đến một tầm cao
mới. Để làm được điều đó sớm nhất, Chính phủ và những người trí thức cần tôi
luyện, rèn dũa cho mọi người dân một tư tưởng, ý thức đúng đắn về nhiều lĩnh
vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực kinh tế để có thể phát triển đất nước một cách
đồng đều và bền vững nhất. 13 Tài liệu tham khảo
Trần Đức Thảo, Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, Nxb. Văn hóa Thông
tin,1996: 19, 21, 22, 50, 98, xem 99-100. 14