Đề tài : Quan điểm của chủ nghũa Mác – Lênin về mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức. Và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay
Họ và tên SV : Nguyễn Nhật Minh
Lớp học phần : 34
Mã SV : 11234933
GVHD : Nguyễn Văn Thuân
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
3
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
7
3. Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.
8
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
1
LỜI NÓI ĐẦU
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đóng vai trò không thể thay thế trong
triết học hiện đại. Nó đã trở thành vấn đề cơ bản và cũng là cốt lõi của nhiều
trường phái triết học. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện
chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau, trở thành một trong những học thuyết
đóng vai trò quan trọng để chủ nghĩa Mác-lênin hình thành và phát
triển. Và học thuyết trên có ảnh hưởng cực kì sâu rộng đến những
chính sách của Đảng và nhà nước ta bằng cách áp dụng những
luận, chứng minh đó làm cơ sở, nền tảng cho các hoạt động của
đất nước. Tuy còn một số hạn chế nhưng cơ bản đất nước đã có
được một số thành tựu nhất định. Trong đó có thể kể đến việc áp
dụng mối liên hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị cung với đổi mới và phát triển của quốc gia,
đem lại những thay đổi rõ rệt.
Chính vì vậy em tin rằng chủ đề “ Quan điểm của triết học
Mác- Lênin về mối quam hệ biện chứg giữa vật chất và ý thức và
sự vận dụng của Đảng ta hiện nay" là đề tài đáng để nghiên cứu
giúp cho mọi người củng cố được kiến thức về triết học Mác –
Lênin để áp dụng vào đời sống và công cuộc xây dựng nhà nước
Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong bài tiểu luận của em có thể có
một số sai sót bởi sự hạn chế trong kiến thức của em nên hi vọng
được thầy đánh giá và góp ý để giúp em mở rộng kiến thức
2
NỘI DUNG
1. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
a . Vật chất
Theo Ph.Ănghen, để có cách hiểu đúng đắn về thế nào là
quan niệm của vật chất, phải phân biệt được thế nào là vật chất
với tính cách là một phạm trù của triết học. Bởi vật chất với có tính
vật chất, là một sáng tạo thuần tuý của tư duy, và là một trừu
tượng thuần tuý...Vì vậy, bản chất của vật chất là không có sự tồn
tại cảm tính, đó là điểm khác biệt với vật chất nhất định và đang
tồn tại. Thêm vào đó, Ph.Ănghen còn chỉ ra rằng phạm trù vật chất
không phải kết quả ngẫu hứng của sự sáng tạo của con người
trái lại là kết quả của “ con đường trừu tượng ” có cơ sở của con
người về sự vật hiện tượng có thể cảm biết được qua các giác
quan. Đặc biệt, Ph.Ănghen khẳng định ý nghĩa của phạm trù triết
học nói chung cũng như của phạm trù vật chất nói riêng cũng là sự
tóm tắt theo những thuộc tính chung của tập hợp và rằng thuộc
tính chung của vật chất chính là tính vật chất- tính tồn tại độc lập,
không lệ thuộc vào ý thức.
Kế thừa tư tưởng đi trước thời đại đó, Lênin đã kế thừa và
tiếp tục công trình nghiên cứu của Ph.Ănghen từ đó hoàn thiện
định nghĩa về vấn đề phạm trù vật chất và bảo vệ nó, đấu tranh
chống mọi hành động lật đổ của chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa
duy tâm. Định nghĩa phát biểu rằng: Vật chất là các sự vật hiện
tượng tồn tại bên ngoài tầm ảnh hưởng của ý thức, là thứ tồn tại
khách quan không bị ý thức tác động vào và con người có thể cảm
nhận, sờ thấy, nhìn thấy, chép lại chụp lai được. Đây có thể xem là
một định nghĩa hoàn thiện về vật chất mà cho đến thời gian địa
điểm hiện tại được các nhà khoa học hiện đại đã coi đó là một định
nghĩa mang tầm cỡ vỹ nhân mới có thể nghĩ ra, học thuyết ấy kinh
điển đến độ góp phần không nhỏ trong sự phát triển của chủ nghĩa
duy vật. Định nghĩa khái quát những nội dung như sau:
3
+Vật chất xuất hiện trong môi trường thực tế khách quan, là
cái tồn tại bên ngoài và không bị lệ buộc vào ý thức, cho dc con
người có nhân thức được hay không thì nó vẫn vẫn tổn tại.
+Vật chất là cái mà khi tác động vào dù là trực tiếp hay gián
tiếp vô các
giác quan con người thi đem lại cho con người cảm giác, ý thức
của con người
là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái mà ý thức phản
ánh. 3
+Vật chất chẳng qua chỉ là cái mà ý thức phản ánh lai của
sự vật, hiện tượng
Để thuận tiện cho việc phân tích chuyên sâu, Ph.Ănghen
đã chía sự vận động của vật chât ra thành 5 hình thức cơ bản
nhất, bao gồm: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội
Sự phân chia này có tác động vô cùng quan trọng trong
việc xác định sự khác biệt về vai trò của các ngành khoa học mà
còn cho chúng ta thấy được sự so sánh giữa sự di chuyển của vật
và chất. Theo Ph.Ănghen, sự chuyễn động liên tục của sự vật chất
không hề làm mất đi mà ngược lại còn tiềm tàng trong đó đứng im
mang tính chất tương đối. Trạng thái đứng im ổn định chỉ có tính
chất nhất thời, nó chỉ là hiện tượng ở một khoảng thời gian nào đó,
chứ không phải cùng lúc với mọi hình thức vận động vì theo quan
điểm trường phái duy vật, đứng im là điều kiện tiên quyết quyết
định cho sự chuyên hóa của vật chất.
Có thể nói đứng im chính là trạng thái đặc biệt của chuyển động,
là vận động trong thế cân bằng, chưa có sự thay đổi về hình dạng,
vị trí, bản chất của sự vật.
Không gian và thời gian cũng là một trong những phạm
trù nghiên cứu của vật chất. Trong đó, không gian chính là nơi vật
chất tồn tại, sau đó tùy vào tính chất khách quan của không gian
thì vật chất sẽ có bản chất phù hợp với từng không gian khác
nhau. Còn thời gian chỉ sự thay đổi cách thức vật chất tồn tại, biểu
hiện qua tốc độ nhanh chậm ở sự chuyển biến của quá trình vận
động
Không gian và thời gian tồn tại song song, bổ trợ và không thể
tách rời cho nhau. Sự biến đổi của không gian luôn gắn liền với
một mốc thời gian nhất định và ngược lại sự biến đổi của thời gian
luôn có sự biến đổi trong một khoảng không gian. Vì vậy có thể
cho rằng thời gian và không gian như là một thể hợp nhất, luôn
cùng song hành tồn tại và phát triển. Vật chất có 3 chiều không
gian và 1 chiều thời gian. Quan điểm biện chứng về không gian-
thời gian là cơ sở khoa học lí luận để đối đầu với quan niệm duy
tâm, siêu hình cho rằng không gian và thời gian có thể tách rời.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng nhấn mạnh bản chất thế
giới là vật chất và thời gian không khác nhau nếu xét về tính chật
vất được thể hiện ở ba điểm:
- Chỉ tồn tại một thế giới thống nhất đỏ là thể dới vật chất.
Thế giới vật chất tồn
Chỉ tồn tại một thế giới
thống nhất đỏ là thể dới
vật chất. Thế giới vật chất
tồn
4
+Chỉ tồn tại một thế giới thống nhất đó là thế giới vật chất. Thế
giới vật chất tồn tại ở một cách ngoại quan, có trước ý thức con
người và tách rời, do chúng phản ánh
Mọi thành phần của thế
giới này đều có mối liên hệ
chật vất thống nhất với
+Mọi thành phần của thế giới này đều có mối liên hệ chật vất
thống nhất với nhau ở chỗ, chúng đều là hình dạng cụ thể của vật
chất, do vật chất hình thành lên và cũng chịu sự điều khiển của
quy luật bên ngoài, thường gặp của thế giới vật chất
hế giới và vật chất không
được sinhh ra, không tự
nhiên đi đâu lại biến mất,
+Thế giới và vật chất không được sinh ra, không tự nhiên lại
biến mất, nó là sự tồn tại vinh hằng, vô thời hạn, không kết thúc.
Như vậy thế giới được cho là sự bao hàm tự nhiên và xã hội
có bản chất là vật chất, từ đó sự đa dạng của thế giới xung quanh,
là ánh sáng soi sáng cho con người trong việc nhận thức sự đa
dạng ấy và thay đổi sao cho phù hợp với tự nhiên.
b. Ý thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, ý thức được khẳng
định là đặc tính, sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan của bộ óc con người thông qua ngôn ngữ và lao
động. Ý thức là những sản phẩm của con người bao gồm tri thức,
tình cảm, ý chí, trong đó trí thức đóng vai trò quan trọng nhất là
phương thức tồn tại của ý thức.
Trí thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự phát triển
của ý thức có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình nhận
thức của con người và cải biến thế giới tự nhiên. Trí thức càng
được tích lũy, con người sẽ càng đi sâu vào bản chất sự vật, cải
thiện sự vật, từ đó tính năng động ý thức càng cao hơn. Tuy nhấn
mạnh vào yếu tố trí thức nhưng cũng không thể xem nhẹ ảnh
hưởng của tình cảm và ý chí trong quá trình hình thành ý thức.
Tự ý thức cũng đóng vai trò cực kì quan trọng trong ý thức.
Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, có
sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa
duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức hướng về nhận
thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài. Khi
phản ánh lại thế giới khách quan, con người tự cho bản than là
một thực thể đặc biệt: có hoạt động, có cảm xúc, có tư duy, có
hành vi đạo đức xã
5
hội. Mặt khác những hoạt động thực tiễn của xã hội đòi hỏi con
người phải nhận thức rõ bản than mình theo các quy tắc mà xã hội
đã đề ra.
Vô thức là một hiện tượng liên quan đến những hoạt động
xảy ra ngoài phạm vi của ý thức. Có hai loai vô thức: Loại thứ nhất
liên quan đến hành vi chưa được con người ý thức; loai thứ hai liên
quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nó
trở thành thói quen. Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt
động của con người. Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúp
con người bớt sự căng thẳng trong hoạt động. Tuy vậy ở con
người, ý thức vẫn đóng vai trò chính trong việc quyết định hành vi
của bản thân.
Ý thức được sinh ra từ hai nguồn gốc chính: Nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc xã hội.
*Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức là kết quả của sự tiến hóa của thế giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng
minh thế giới đã tồn tại rất lâu trước khi con người xuất hiện, rằng
hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lí
thần kinh của của bộ não con người Bộ não là khí quan của ý thức,.
còn ý thức là chức năng của bộ não. Hoạt động của bộ não có ảnh
hưởng lớn tới ý thức, điển hình là khi bộ não bị tổn thương thì hoạt
động ý thức sẽ bị rối loạn. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách
quan vào bộ óc con người. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự
phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với
sự phát triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con người và
xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản
ánh ý thức. Sự phản ánh ý thức là một yếu tố quan trọng trong sự
phát triển của con người.
*Nguồn gốc xã hội
Bộ óc con người qua từng thời kì không ngừng tiến hóa
theo đó mà ý thức của con người ngày càng triển thông qua giao
tiếp, các mối quan hệ xã hội và đặc biệt là lao động.
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính
chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ
mục đích của bản thân con người. Nhờ lao động mà xã hội con
người không ngừng phát triển. Lao động là
6
phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động cũng giúp
con người có mối liên kết với nhau trong xã hội, mối quan hệ này
lại nảy sinh một vấn đề trong giao tiếp để trao đổi kiến thức và tổ
chức lao động. Sự ra đời của ngôn ngữ là kết quả tất yếu giúp con
người giải quyết vấn đề. Với sự ra đời của ngôn ngữ, những suy
nghĩ của con người có thể biểu hiện ra trực tiếp, trờ thành yếu tố
tác động lên con người và gây ra cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ, con
người có thể truyền đạt kinh nghiệm, trao đổi về tư tưởng, tình
cảm cho nhau. Ngôn ngữ đã trở thành phương tiện không thể thiếu
giúp con người có thể đi sâu vào nghiên cứu bản chất của sự vật,
hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của minh trong
toàn bộ lịch sử
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức là những nguyên tố không thể thiếu
trong sự hình thành, phát triển của đời sống con người. Tuy vậy,
cần phải có được làn ranh giữa vật chất và ý thức, đồng thời cũng
là câu trà lời rằng cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào chi
phối cái nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn giũa vật chất và ý thức và
cuối cùng sẽ rời xa quan điểm duy vật.
a. Vật chất quyết định ý thức
Định nghĩa về vật chất của Lê Nin đã khẳng định vật
chất là thực tại khách quan vào bộ não của con người thông qua
tri thức và cảm giác. Thật vậy, vật chất là nguồn gốc của ý thức và
quyết định nội dung của ý thức. Vì nhân tố vật chất quy định các
nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt đông con người, tạo
động lực cho nhân tố tinh thần giúp cho con người quy định mục
đích, chủ trương của con người đề ra cho hoạt động của mình.
Khi vật chất thay đổi thì sớm muộn gì ý thức cũng thay
đổi theo. Theo dòng chảy của thời gian, vật chất của chúng ta
không ngừng thay đổi, chuyển động và nó phản chiếu vào trong
bộ não của chúng ta khiến cho những suy nghĩ, nhìn nhận về thế
giới thay đổi theo. Vì vậy vật chất thay đổi khiến cho ý thức cũng
thay đổi qua thời gian
b. Ý thức tác động lại vào vật chất.
7
Mặc dù phụ thuộc vào vật chất, ý thức lại có được tính
sáng tạo, năng
động cho nên thông qua hoạt động của con người, ý thức vẫn là
yêu tố tác động đến sự phát triển hay kìm hãm các điều kiện vật
chất, góp phần thay đổi bộ mặt thế giới khách quan. Tuy vậy thì
sự tác động của ý thức vẫn phụ thuộc vào vật chất. Vì vậy vật chất
vẫn luôn quyết định ý thức
3. Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.
a. Vận dụng mối quan hệ biện chứng vào kinh tế và
chính trị.
Yếu tố vật chất nắm vai trò chủ chốt, yếu tố ý thức thì
có tác dụng ngược lại vật chất. Trong một số trường hợp nhất định
ý thức đóng vai trò quan trọng trong sự thành bại của con người.
Vì quy luật thế giới bên ngoài không hề phụ thuộc vào ý thức nên
đòi hỏi ý thức phải thay đổi phù hợp với sự biến đổi của thế giới
nếu không thì sớm muộn sẽ bị đào thải. Xét tổng thể, ý chí tạo
được ảnh hưởng khi và chỉ khi nó thâm nhập vào xã hội hay tổ
chức. Nếu đưa nó vào hoàn cảnh nhất định thì kinh tế ( vật chất )
và chính trị ( ý thức ) có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Nếu
một đất giàu có nhưng nền chính trị bất ổn: đấu tranh giai cấp,
tranh chấp quyền lực thì đất nước đó không thể phát triển, thậm
chí lụi tàn. Ngược lại nếu quốc gia có nền kinh tế kiệt quệ thì
đường lối chính sách có tốt đến đâu thì người dân vẫn sẽ khổ cực
dẫn đến bất mãn đối với nhà nước gây ra những vụ đảo chính, lật
đổ chính quyền. Có thể thấy, kinh tế và chính trị gắn bó vô cùng
chặt chẽ, có tác động lớn đến đời sống xã hội.
Nền kinh tế là cơ sở để nhà nước ban hành những chính
sách. Vì vậy để ổn định chính trị thì việc phát triển kinh tế, an ninh
quốc phòng là việc hết sức quan trọng. Dựa vào tình hình kinh tế,
nhà nước có thể ban hành những chính sách phát triển phù hợp,
đem lại lợi ích kinh tế cao cho xã hội và nhân dân. Đồng thời có
những quyết sách ổn định chính trị hợp lí sẽ tạo không khí yên ấm,
thoải mái, tự do giúp cho các công ty, tổ chức, hoạt động kinh tế
cống hiến, phát huy hết khả năng của minh để đem lại lợi ích cho
bản thân và của xã hội.
b. Vận dụng trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở
nước ta hiện nay.
*Các đại hội theo từng giai đoạn tiêu biểu và nội dung.
8
Sau giải phóng miền Nam năm 1975 Đại hội Đảng lần thứ
IV đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao vượt
quá khả năng của nền kinh tế. Trong đó có việc đề ra việc xây
thêm cơ sở mới về công nghiệp nặng, cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn
thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ
trương sai lầm cùng với việc quản lí yếu kém đã khiến nền kinh tế
nước ta trở nên kiệt quệ, ảnh hưởng xấu tới đời sống nhân dân.
Đến năm 1980, rất nhiều mục tiêu chỉ đặt được một nửa so với
mức được đề ra, nền kinh tế tang trưởng cực kì chậm chạp: tổng
bình quân tang 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp thâm
chí còn giảm 0,15% so với năm 1975.
Đại hội Đảng lần thứ V vẫn chưa hoàn toàn tìm ra
những nguyên nhân cốt lõi trong sự trì trệ của nền kinh tế nước ta
cũng như chưa có được những chính sách toàn diện về đổi mới
kinh tế. Trong năm 1981-1985 chúng ta chưa kiên quyết khắc
phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh
vực phân phối lưu thông Nhình chung, chúng ta chưa thể đạt được .
mục tiêu cơ bản là ổn định được tình hình kinh tế-xã hội đời sống
nhân dân.
Tại Đại hội lần thứ VI Đảng ta đã tự phê bình một cách
nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng
hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng mới đặc biệt là đổi mới
kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế: lương
thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất, hình thành nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế
tiểu tư sản, sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân, đổi mới
cơ chế quản lí kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá- tiền
tệ. Trong quá trình thực hiện theo đường lối của Đại hội lần thứ VI,
nhà nước và nhân dân đã từng bước khắc phục khó khăn, kiên trì
giải quyết những hạn chế trong tình hình kinh tế và xã hội nước ta.
Đại hội lần thứ VII đã đưa ra những báo cáo về tình hình
kinh tế, chính trị trong bốn năm qua như sau: những bước đầu
công cuộc đã có được thành công ban đầu và mở ra những thành
tựu quan trọng: tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế có nhiều
chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí
của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt
hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật chất và tinh
thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. Qua dẫn
chứng trên ta thấy được tác động qua lại giữa vật chất và ý thức
thông qua nền kinh tế và chính trị. Nhờ có đường lối
9
đúng đắn, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện,
khủng hoảng giảm bớt góp phần ổn định tình hình chính trị của đất
nước.
*Thành tựu đạt được
Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống còn
17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm 1993. Tổng sản phẩm trong
nước GDP tăng bình quân 8,2% (mức đề ra cho năm 1991- 1995 là
5,5- 6,5%). Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện,
sản lượng lương thực 5 năm qua tăng 26% so với 5 năm trước đó,
tạo điều kiện cơ bản để ổn định đời sống nhân dân, phát triển
ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, vấn đề lương thực được giản quyết tốt. Sản xuất công nghiệp
đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,3 % (mức kế
hoạch là 7,5% - 8,5%). Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng
theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá, thị trường xuất nhập
khẩu được củng cố và mở rộng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng
mạnh...tăng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 1991 - 1995 đạt
trên 17 tỷ USD (kế hoạch là 12 - 15 tỷ USD). Ngoài ra nông nghiệp
ngày càng phát triển giúp cho đất nước ta vươn lên trở thành nước
có mức xuất khẩu gạo cao thứ ba thế giới. Đời sống nhân dân ngày
càng được củng cố.
c. Những hạn chế còn tồn tại.
Tuy thành tựu là vậy, Đảng ta vẫn mắc phải một số sai
lầm: Vội vàng trong việc cải tổ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nền kinh
tế đa thành phần; đẩy mạnh quá mức trong việc xây dựng công
nghiệp nặng; duy trì chế độ bao cấp, nhiều sai lệch khi ban hành
chính sách về giá cả. Nguyên nhân chủ yếu là do sự trì trệ trong tổ
chức hệ thống cán bộ làm kìm hãm sản xuất. Chế độ bao cấp
khiến cho nhân dân ta triệt tiêu đi động lực phát triển.
d. Giải pháp
Tiếp tục tiếp thu và áp dụng mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức của chủ nghĩa Mác- Lênin, học hỏi những sai lầm
trong quá khứ để không có lần tiếp theo mắc phải. Ngoài ra còn
phải nâng cao ý thức của cán bộ cũng như nâng cao chất lượng bộ
máy nhà nước
10
KẾT LUẬN
Xây dựng nhà nước chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam còn
gặp nhiều trở ngại. Những diễn biến phức tạp của thế giới, biến
động trong đất nước đòi hỏi Đảng và nhà nước ta có được những
chính sách về kinh tế và chính trị đúng đắn, thông minh, phù hợp
trong bối cảnh tình hình thực tế thay đổi từng ngày, từng giờ. Việc
áp dụng thành công phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức áp dụng vào
nền kinh tế, chính trị sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam cất cánh, nâng
cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần ổn định
chính trị của đất nước. Đó là trách nhiệm không chỉ của Đảng mà
còn là của mỗi con người trong đất nước.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
studocu.com
thegioiluat.vn
dichthuatadong.com
12

Preview text:

Đề tài : Quan điểm của chủ nghũa Mác – Lênin về mối quan hệ
giữa vật chất và ý thức. Và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay

Họ và tên SV : Nguyễn Nhật Minh Lớp học phần : 34 Mã SV : 11234933 GVHD : Nguyễn Văn Thuân MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3
1. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 3
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 7
3. Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay. 8 KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12 1 LỜI NÓI ĐẦU
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đóng vai trò không thể thay thế trong
triết học hiện đại. Nó đã trở thành vấn đề cơ bản và cũng là cốt lõi của nhiều
trường phái triết học. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện
chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau, trở thành một trong những học thuyết
đóng vai trò quan trọng để chủ nghĩa Mác-lênin hình thành và phát
triển. Và học thuyết trên có ảnh hưởng cực kì sâu rộng đến những
chính sách của Đảng và nhà nước ta bằng cách áp dụng những lí
luận, chứng minh đó làm cơ sở, nền tảng cho các hoạt động của
đất nước. Tuy còn một số hạn chế nhưng cơ bản đất nước đã có
được một số thành tựu nhất định. Trong đó có thể kể đến việc áp
dụng mối liên hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ giữa
kinh tế và chính trị cung với đổi mới và phát triển của quốc gia,
đem lại những thay đổi rõ rệt.
Chính vì vậy em tin rằng chủ đề “ Quan điểm của triết học
Mác- Lênin về mối quam hệ biện chứg giữa vật chất và ý thức và
sự vận dụng của Đảng ta hiện nay" là đề tài đáng để nghiên cứu
giúp cho mọi người củng cố được kiến thức về triết học Mác –
Lênin để áp dụng vào đời sống và công cuộc xây dựng nhà nước
Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong bài tiểu luận của em có thể có
một số sai sót bởi sự hạn chế trong kiến thức của em nên hi vọng
được thầy đánh giá và góp ý để giúp em mở rộng kiến thức 2 NỘI DUNG
1. VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
a . Vật chất
Theo Ph.Ănghen, để có cách hiểu đúng đắn về thế nào là
quan niệm của vật chất, phải phân biệt được thế nào là vật chất
với tính cách là một phạm trù của triết học. Bởi vật chất với có tính
vật chất, là một sáng tạo thuần tuý của tư duy, và là một trừu
tượng thuần tuý...Vì vậy, bản chất của vật chất là không có sự tồn
tại cảm tính, đó là điểm khác biệt với vật chất nhất định và đang
tồn tại. Thêm vào đó, Ph.Ănghen còn chỉ ra rằng phạm trù vật chất
không phải kết quả ngẫu hứng của sự sáng tạo của con người mà
trái lại là kết quả của “ con đường trừu tượng ” có cơ sở của con
người về sự vật hiện tượng có thể cảm biết được qua các giác
quan. Đặc biệt, Ph.Ănghen khẳng định ý nghĩa của phạm trù triết
học nói chung cũng như của phạm trù vật chất nói riêng cũng là sự
tóm tắt theo những thuộc tính chung của tập hợp và rằng thuộc
tính chung của vật chất chính là tính vật chất- tính tồn tại độc lập,
không lệ thuộc vào ý thức.
Kế thừa tư tưởng đi trước thời đại đó, Lênin đã kế thừa và
tiếp tục công trình nghiên cứu của Ph.Ănghen từ đó hoàn thiện
định nghĩa về vấn đề phạm trù vật chất và bảo vệ nó, đấu tranh
chống mọi hành động lật đổ của chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa
duy tâm. Định nghĩa phát biểu rằng: Vật chất là các sự vật hiện
tượng tồn tại bên ngoài tầm ảnh hưởng của ý thức, là thứ tồn tại
khách quan không bị ý thức tác động vào và con người có thể cảm
nhận, sờ thấy, nhìn thấy, chép lại chụp lai được. Đây có thể xem là
một định nghĩa hoàn thiện về vật chất mà cho đến thời gian địa
điểm hiện tại được các nhà khoa học hiện đại đã coi đó là một định
nghĩa mang tầm cỡ vỹ nhân mới có thể nghĩ ra, học thuyết ấy kinh
điển đến độ góp phần không nhỏ trong sự phát triển của chủ nghĩa
duy vật. Định nghĩa khái quát những nội dung như sau: 3
+Vật chất xuất hiện trong môi trường thực tế khách quan, là
cái tồn tại bên ngoài và không bị lệ buộc vào ý thức, cho dc con
người có nhân thức được hay không thì nó vẫn vẫn tổn tại.
+Vật chất là cái mà khi tác động vào dù là trực tiếp hay gián tiếp vô các
giác quan con người thi đem lại cho con người cảm giác, ý thức của con người
là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái mà ý thức phản ánh. 3
+Vật chất chẳng qua chỉ là cái mà ý thức phản ánh lai của sự vật, hiện tượng
Để thuận tiện cho việc phân tích chuyên sâu, Ph.Ănghen
đã chía sự vận động của vật chât ra thành 5 hình thức cơ bản
nhất, bao gồm: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội
Sự phân chia này có tác động vô cùng quan trọng trong
việc xác định sự khác biệt về vai trò của các ngành khoa học mà
còn cho chúng ta thấy được sự so sánh giữa sự di chuyển của vật
và chất. Theo Ph.Ănghen, sự chuyễn động liên tục của sự vật chất
không hề làm mất đi mà ngược lại còn tiềm tàng trong đó đứng im
mang tính chất tương đối. Trạng thái đứng im ổn định chỉ có tính
chất nhất thời, nó chỉ là hiện tượng ở một khoảng thời gian nào đó,
chứ không phải cùng lúc với mọi hình thức vận động vì theo quan
điểm trường phái duy vật, đứng im là điều kiện tiên quyết quyết
định cho sự chuyên hóa của vật chất.
Có thể nói đứng im chính là trạng thái đặc biệt của chuyển động,
là vận động trong thế cân bằng, chưa có sự thay đổi về hình dạng,
vị trí, bản chất của sự vật.
Không gian và thời gian cũng là một trong những phạm
trù nghiên cứu của vật chất. Trong đó, không gian chính là nơi vật
chất tồn tại, sau đó tùy vào tính chất khách quan của không gian
thì vật chất sẽ có bản chất phù hợp với từng không gian khác
nhau. Còn thời gian chỉ sự thay đổi cách thức vật chất tồn tại, biểu
hiện qua tốc độ nhanh chậm ở sự chuyển biến của quá trình vận động
Không gian và thời gian tồn tại song song, bổ trợ và không thể
tách rời cho nhau. Sự biến đổi của không gian luôn gắn liền với
một mốc thời gian nhất định và ngược lại sự biến đổi của thời gian
luôn có sự biến đổi trong một khoảng không gian. Vì vậy có thể
cho rằng thời gian và không gian như là một thể hợp nhất, luôn
cùng song hành tồn tại và phát triển. Vật chất có 3 chiều không
gian và 1 chiều thời gian. Quan điểm biện chứng về không gian-
thời gian là cơ sở khoa học lí luận để đối đầu với quan niệm duy
tâm, siêu hình cho rằng không gian và thời gian có thể tách rời.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng nhấn mạnh bản chất thế
giới là vật chất và thời gian không khác nhau nếu xét về tính chật
vất được thể hiện ở ba điểm: -
Chỉ tồn tại một thế giới thống nhất đỏ là thể dới vật chất.
Thế giới vật chất tồn
Chỉ tồn tại một thế giới
thống nhất đỏ là thể dới
vật chất. Thế giới vật chất tồn 4
+Chỉ tồn tại một thế giới thống nhất đó là thế giới vật chất. Thế
giới vật chất tồn tại ở một cách ngoại quan, có trước ý thức con
người và tách rời, do chúng phản ánh
Mọi thành phần của thế
giới này đều có mối liên hệ
chật vất thống nhất với
+Mọi thành phần của thế giới này đều có mối liên hệ chật vất
thống nhất với nhau ở chỗ, chúng đều là hình dạng cụ thể của vật
chất, do vật chất hình thành lên và cũng chịu sự điều khiển của
quy luật bên ngoài, thường gặp của thế giới vật chất
hế giới và vật chất không
được sinhh ra, không tự
nhiên đi đâu lại biến mất,
+Thế giới và vật chất không được sinh ra, không tự nhiên lại
biến mất, nó là sự tồn tại vinh hằng, vô thời hạn, không kết thúc.
Như vậy thế giới được cho là sự bao hàm tự nhiên và xã hội
có bản chất là vật chất, từ đó sự đa dạng của thế giới xung quanh,
là ánh sáng soi sáng cho con người trong việc nhận thức sự đa
dạng ấy và thay đổi sao cho phù hợp với tự nhiên. b. Ý thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, ý thức được khẳng
định là đặc tính, sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế
giới khách quan của bộ óc con người thông qua ngôn ngữ và lao
động. Ý thức là những sản phẩm của con người bao gồm tri thức,
tình cảm, ý chí, trong đó trí thức đóng vai trò quan trọng nhất là
phương thức tồn tại của ý thức.
Trí thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự phát triển
của ý thức có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình nhận
thức của con người và cải biến thế giới tự nhiên. Trí thức càng
được tích lũy, con người sẽ càng đi sâu vào bản chất sự vật, cải
thiện sự vật, từ đó tính năng động ý thức càng cao hơn. Tuy nhấn
mạnh vào yếu tố trí thức nhưng cũng không thể xem nhẹ ảnh
hưởng của tình cảm và ý chí trong quá trình hình thành ý thức.
Tự ý thức cũng đóng vai trò cực kì quan trọng trong ý thức.
Chủ nghĩa duy tâm coi tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, có
sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan hệ xã hội. Trái lại chủ nghĩa
duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thức hướng về nhận
thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài. Khi
phản ánh lại thế giới khách quan, con người tự cho bản than là
một thực thể đặc biệt: có hoạt động, có cảm xúc, có tư duy, có hành vi đạo đức xã 5
hội. Mặt khác những hoạt động thực tiễn của xã hội đòi hỏi con
người phải nhận thức rõ bản than mình theo các quy tắc mà xã hội đã đề ra.
Vô thức là một hiện tượng liên quan đến những hoạt động
xảy ra ngoài phạm vi của ý thức. Có hai loai vô thức: Loại thứ nhất
liên quan đến hành vi chưa được con người ý thức; loai thứ hai liên
quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nó
trở thành thói quen. Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt
động của con người. Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúp
con người bớt sự căng thẳng trong hoạt động. Tuy vậy ở con
người, ý thức vẫn đóng vai trò chính trong việc quyết định hành vi của bản thân.
Ý thức được sinh ra từ hai nguồn gốc chính: Nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc xã hội. *Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức là kết quả của sự tiến hóa của thế giới tự nhiên cho
tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng
minh thế giới đã tồn tại rất lâu trước khi con người xuất hiện, rằng
hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lí
thần kinh của của bộ não con người. Bộ não là khí quan của ý thức,
còn ý thức là chức năng của bộ não. Hoạt động của bộ não có ảnh
hưởng lớn tới ý thức, điển hình là khi bộ não bị tổn thương thì hoạt
động ý thức sẽ bị rối loạn. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách
quan vào bộ óc con người. Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự
phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này phát triển cùng với
sự phát triển của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con người và
xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản
ánh ý thức. Sự phản ánh ý thức là một yếu tố quan trọng trong sự
phát triển của con người. *Nguồn gốc xã hội
Bộ óc con người qua từng thời kì không ngừng tiến hóa
theo đó mà ý thức của con người ngày càng triển thông qua giao
tiếp, các mối quan hệ xã hội và đặc biệt là lao động.
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính
chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ
mục đích của bản thân con người. Nhờ lao động mà xã hội con
người không ngừng phát triển. Lao động là 6
phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động cũng giúp
con người có mối liên kết với nhau trong xã hội, mối quan hệ này
lại nảy sinh một vấn đề trong giao tiếp để trao đổi kiến thức và tổ
chức lao động. Sự ra đời của ngôn ngữ là kết quả tất yếu giúp con
người giải quyết vấn đề. Với sự ra đời của ngôn ngữ, những suy
nghĩ của con người có thể biểu hiện ra trực tiếp, trờ thành yếu tố
tác động lên con người và gây ra cảm giác. Nhờ có ngôn ngữ, con
người có thể truyền đạt kinh nghiệm, trao đổi về tư tưởng, tình
cảm cho nhau. Ngôn ngữ đã trở thành phương tiện không thể thiếu
giúp con người có thể đi sâu vào nghiên cứu bản chất của sự vật,
hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của minh trong toàn bộ lịch sử
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức là những nguyên tố không thể thiếu
trong sự hình thành, phát triển của đời sống con người. Tuy vậy,
cần phải có được làn ranh giữa vật chất và ý thức, đồng thời cũng
là câu trà lời rằng cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào chi
phối cái nào. Không như vậy sẽ lẫn lộn giũa vật chất và ý thức và
cuối cùng sẽ rời xa quan điểm duy vật.
a. Vật chất quyết định ý thức
Định nghĩa về vật chất của Lê Nin đã khẳng định vật
chất là thực tại khách quan vào bộ não của con người thông qua
tri thức và cảm giác. Thật vậy, vật chất là nguồn gốc của ý thức và
quyết định nội dung của ý thức. Vì nhân tố vật chất quy định các
nhân tố tinh thần có thể tham gia vào hoạt đông con người, tạo
động lực cho nhân tố tinh thần giúp cho con người quy định mục
đích, chủ trương của con người đề ra cho hoạt động của mình.
Khi vật chất thay đổi thì sớm muộn gì ý thức cũng thay
đổi theo. Theo dòng chảy của thời gian, vật chất của chúng ta
không ngừng thay đổi, chuyển động và nó phản chiếu vào trong
bộ não của chúng ta khiến cho những suy nghĩ, nhìn nhận về thế
giới thay đổi theo. Vì vậy vật chất thay đổi khiến cho ý thức cũng thay đổi qua thời gian
b. Ý thức tác động lại vào vật chất. 7
Mặc dù phụ thuộc vào vật chất, ý thức lại có được tính sáng tạo, năng
động cho nên thông qua hoạt động của con người, ý thức vẫn là
yêu tố tác động đến sự phát triển hay kìm hãm các điều kiện vật
chất, góp phần thay đổi bộ mặt thế giới khách quan. Tuy vậy thì
sự tác động của ý thức vẫn phụ thuộc vào vật chất. Vì vậy vật chất
vẫn luôn quyết định ý thức
3. Sự vận dụng của Đảng ta hiện nay.
a. Vận dụng mối quan hệ biện chứng vào kinh tế và chính trị.
Yếu tố vật chất nắm vai trò chủ chốt, yếu tố ý thức thì
có tác dụng ngược lại vật chất. Trong một số trường hợp nhất định
ý thức đóng vai trò quan trọng trong sự thành bại của con người.
Vì quy luật thế giới bên ngoài không hề phụ thuộc vào ý thức nên
đòi hỏi ý thức phải thay đổi phù hợp với sự biến đổi của thế giới
nếu không thì sớm muộn sẽ bị đào thải. Xét tổng thể, ý chí tạo
được ảnh hưởng khi và chỉ khi nó thâm nhập vào xã hội hay tổ
chức. Nếu đưa nó vào hoàn cảnh nhất định thì kinh tế ( vật chất )
và chính trị ( ý thức ) có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Nếu
một đất giàu có nhưng nền chính trị bất ổn: đấu tranh giai cấp,
tranh chấp quyền lực thì đất nước đó không thể phát triển, thậm
chí lụi tàn. Ngược lại nếu quốc gia có nền kinh tế kiệt quệ thì
đường lối chính sách có tốt đến đâu thì người dân vẫn sẽ khổ cực
dẫn đến bất mãn đối với nhà nước gây ra những vụ đảo chính, lật
đổ chính quyền. Có thể thấy, kinh tế và chính trị gắn bó vô cùng
chặt chẽ, có tác động lớn đến đời sống xã hội.
Nền kinh tế là cơ sở để nhà nước ban hành những chính
sách. Vì vậy để ổn định chính trị thì việc phát triển kinh tế, an ninh
quốc phòng là việc hết sức quan trọng. Dựa vào tình hình kinh tế,
nhà nước có thể ban hành những chính sách phát triển phù hợp,
đem lại lợi ích kinh tế cao cho xã hội và nhân dân. Đồng thời có
những quyết sách ổn định chính trị hợp lí sẽ tạo không khí yên ấm,
thoải mái, tự do giúp cho các công ty, tổ chức, hoạt động kinh tế
cống hiến, phát huy hết khả năng của minh để đem lại lợi ích cho
bản thân và của xã hội.
b. Vận dụng trong việc xây dựng nền kinh tế mới ở
nước ta hiện nay.
*Các đại hội theo từng giai đoạn tiêu biểu và nội dung. 8
Sau giải phóng miền Nam năm 1975 Đại hội Đảng lần thứ
IV đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao vượt
quá khả năng của nền kinh tế. Trong đó có việc đề ra việc xây
thêm cơ sở mới về công nghiệp nặng, cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn
thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam. Những chủ
trương sai lầm cùng với việc quản lí yếu kém đã khiến nền kinh tế
nước ta trở nên kiệt quệ, ảnh hưởng xấu tới đời sống nhân dân.
Đến năm 1980, rất nhiều mục tiêu chỉ đặt được một nửa so với
mức được đề ra, nền kinh tế tang trưởng cực kì chậm chạp: tổng
bình quân tang 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp thâm
chí còn giảm 0,15% so với năm 1975.
Đại hội Đảng lần thứ V vẫn chưa hoàn toàn tìm ra
những nguyên nhân cốt lõi trong sự trì trệ của nền kinh tế nước ta
cũng như chưa có được những chính sách toàn diện về đổi mới
kinh tế. Trong năm 1981-1985 chúng ta chưa kiên quyết khắc
phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội
chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh
vực phân phối lưu thông. Nhình chung, chúng ta chưa thể đạt được
mục tiêu cơ bản là ổn định được tình hình kinh tế-xã hội đời sống nhân dân.
Tại Đại hội lần thứ VI Đảng ta đã tự phê bình một cách
nghiêm khắc, đã phân tích đúng nguyên nhân của tình hình khủng
hoảng kinh tế xã hội, đề ra các định hướng mới đặc biệt là đổi mới
kinh tế, đã thực hiện mục tiêu của ba chương trình kinh tế: lương
thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất, hình thành nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của kinh tế
tiểu tư sản, sản xuất hàng hoá và kinh tế tư bản tư nhân, đổi mới
cơ chế quản lí kinh tế, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá- tiền
tệ. Trong quá trình thực hiện theo đường lối của Đại hội lần thứ VI,
nhà nước và nhân dân đã từng bước khắc phục khó khăn, kiên trì
giải quyết những hạn chế trong tình hình kinh tế và xã hội nước ta.
Đại hội lần thứ VII đã đưa ra những báo cáo về tình hình
kinh tế, chính trị trong bốn năm qua như sau: những bước đầu
công cuộc đã có được thành công ban đầu và mở ra những thành
tựu quan trọng: tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế có nhiều
chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí
của nhà nước, nguồn lực sản xuất của xã hội được huy động tốt
hơn, tốc độ lạm phát được kìm chế bớt, đời sống vật chất và tinh
thần của một bộ phận nhân dân có phần được cải thiện. Qua dẫn
chứng trên ta thấy được tác động qua lại giữa vật chất và ý thức
thông qua nền kinh tế và chính trị. Nhờ có đường lối 9
đúng đắn, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện,
khủng hoảng giảm bớt góp phần ổn định tình hình chính trị của đất nước.
*Thành tựu đạt được
Lạm phát được đẩy lùi từ 67% năm 1991 xuống còn
17,5% năm 1992 và còn 5,2% năm 1993. Tổng sản phẩm trong
nước GDP tăng bình quân 8,2% (mức đề ra cho năm 1991- 1995 là
5,5- 6,5%). Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện,
sản lượng lương thực 5 năm qua tăng 26% so với 5 năm trước đó,
tạo điều kiện cơ bản để ổn định đời sống nhân dân, phát triển
ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, vấn đề lương thực được giản quyết tốt. Sản xuất công nghiệp
đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 13,3 % (mức kế
hoạch là 7,5% - 8,5%). Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng
theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá, thị trường xuất nhập
khẩu được củng cố và mở rộng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng
mạnh...tăng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm 1991 - 1995 đạt
trên 17 tỷ USD (kế hoạch là 12 - 15 tỷ USD). Ngoài ra nông nghiệp
ngày càng phát triển giúp cho đất nước ta vươn lên trở thành nước
có mức xuất khẩu gạo cao thứ ba thế giới. Đời sống nhân dân ngày càng được củng cố.
c. Những hạn chế còn tồn tại.
Tuy thành tựu là vậy, Đảng ta vẫn mắc phải một số sai
lầm: Vội vàng trong việc cải tổ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nền kinh
tế đa thành phần; đẩy mạnh quá mức trong việc xây dựng công
nghiệp nặng; duy trì chế độ bao cấp, nhiều sai lệch khi ban hành
chính sách về giá cả. Nguyên nhân chủ yếu là do sự trì trệ trong tổ
chức hệ thống cán bộ làm kìm hãm sản xuất. Chế độ bao cấp
khiến cho nhân dân ta triệt tiêu đi động lực phát triển. d. Giải pháp
Tiếp tục tiếp thu và áp dụng mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức của chủ nghĩa Mác- Lênin, học hỏi những sai lầm
trong quá khứ để không có lần tiếp theo mắc phải. Ngoài ra còn
phải nâng cao ý thức của cán bộ cũng như nâng cao chất lượng bộ máy nhà nước 10 KẾT LUẬN
Xây dựng nhà nước chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam còn
gặp nhiều trở ngại. Những diễn biến phức tạp của thế giới, biến
động trong đất nước đòi hỏi Đảng và nhà nước ta có được những
chính sách về kinh tế và chính trị đúng đắn, thông minh, phù hợp
trong bối cảnh tình hình thực tế thay đổi từng ngày, từng giờ. Việc
áp dụng thành công phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức áp dụng vào
nền kinh tế, chính trị sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam cất cánh, nâng
cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần ổn định
chính trị của đất nước. Đó là trách nhiệm không chỉ của Đảng mà
còn là của mỗi con người trong đất nước. 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO studocu.com thegioiluat.vn dichthuatadong.com 12