2. 2 đường lối phát triển kinh tế các nước Mỹ Latinh
2.1. Thay thế nhập khẩu
Từ những năm 30 đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20, hầu hết các quốc gia Mỹ
Latinh áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu. Nguyên nhân được cho do ảnh hưởng
của cuộc đại suy thoái những năm 30, khi đó các nước M Latinh xuất khẩu thực phẩm
nguyên liệu thô trong khi nhập khẩu hàng hóa sản xuất từ châu Âu Hoa Kỳ. Cuộc
đại suy thoái xảy ra, lượng hàng nhập khẩu vào các nước này giảm mạnh, thiếu hụt
nghiêm trọng hàng hóa sản xuất nhập khẩu. Đây chính động thay thế nhập khẩu bao
gồm việc thành lập các sở sản xuất trong nước để sản xuất hàng hóa trước đây được
nhập khẩu. tới sau Thế chiến thứ II, thì ISI mới trở thành công cụ chính sách để phát
cấp trong hàng hóa sản xuất sẽ giúp nền kinh tế ít phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới,
lợi cho sự phát triển lâu dài của quốc gia.
Chiến lược ISI bao gồm việc thiết lập các cơ sở sản xuất trong nước cho các mặt
hàng sản xuất trước đây được nhập khẩu. Ngoài ra, chính phủ cũng đóng vai trò rất quan
trọng trong việc bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ, trợ cấp cho các công ty, đảm bảo
tỷ giá hối đoái đặc biệt khuyến khích quốc hữu hóa. Các công cụ chính sách như thuế
quan, hàng rào phi thuế quan hạn ngạch, hàng rào phi thương mại được sử dụng để
chống lại các ngành của đối thủ cạnh tranh nhập khẩu. Hơn nữa, để hạn chế nhập khẩu
các sản phẩm chế tạo được sản xuất trong nước, chính phủ đã áp dụng biện pháp kiểm
soát tỷ giá hối đoái nghiêm ngặt.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngoài nước được chính phủ trợ cấp nhập
khẩu thiết bị vốn cho các ngành công nghiệp mới tỷ giá hối đoái ưu đãi đặc biệt được
trao cho các công ty nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu hàng hóa trung gian công
các ngành công nghiệp nặng chẳng hạn như thép. Ngoài ra chính phủ cũng đặc biệt chú
trọng đối với vốn nước ngoài rất quan trọng đối với sự phát triển của các ngành sản
xuất mới.
ISI thành công nhất các quốc gia n số với mức thu nhập lớn, cho phép tiêu
thụ các sản phẩm sản xuất trong nước như Argentina, Brazil, Mexico (và mức độ thấp
hơn Chile , Uruguay Venezuela )
Việc đầu đến sản xuất các sản phẩm tiêu dùng giá rẻ thể mang lại lợi nhuận
các thị trường nhỏ nhưng điều này lại không thể xảy ra đối với các ngành sử dụng nhiều
vốn như ô máy móc hạn nặng, vốn phụ thuộc vào các thị trường lớn hơn để tồn tài.
Do vậy, các quốc gia nhỏ hơn nghèo hơn như Ecuador , Honduras Cộng hòa
Dominica, chỉ thể triển khai ISI mức độ hạn chế. Peru thực hiện ISI o năm 1961
chính sách này kéo dài đến cuối thập kỷ.
Theo Eichengreen (2009), chiến lược ISI hoạt động hiệu quả các nước Mỹ Latinh
bởi sau khi nền kinh tế thế giới trải qua cuộc Đại suy thoái năm 1930 Thế chiến thứ
hai, cả thương mại cho vay quốc tế vẫn chưa phục hồi sự tích lũy công nghệ mới sẽ
tạo ra tăng trưởng.
Tuy nhiên đến những năm 1990, với sự phục hồi của thị trường quốc tế tự do hóa
thị trường quốc tế. ISI đã không thể chuyển các nước Mỹ La tinh thành các quốc gia tự
cung tự cấp. Do vậy, các nước Mỹ Latinh bắt đầu chuyển từ công nghiệp hóa theo hướng
nhập khẩu sang chính sách mới mở cửa thị trường. Xu hướng thế giới mới này áp lực
thị trường đã tạo ra hướng đi mới cho các chính sách kinh tế thương mại của các nước
Mỹ Latinh, do đó công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (EOI) đã được thực hiện.
2.2. Hướng về xuất khẩu
Giữa những năm 80 90 của thế kỷ 20, chiến lược ISI đã không thể chuyển các
nước Mỹ Latinh thành các quốc gia tự cung tự cấp. Các nhà kinh tế các nhà hoạch
định chính sách bắt đầu ủng hộ chiến lược hướng vào xuất khẩu hơn để đạt được tăng
trưởng phát triển kinh tế. Do đó chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu EOI
được lựa chọn để thay thế chiến lược ISI.
EOI chiến lược kinh tế thương mại nhằm tăng cường công nghiệp hóa thông
qua xuất khẩu hàng hóa lợi thế so sánh. Vai trò hàng đầu của chính phủ cung cấp
các điều kiện kinh tế tối ưu. Do đó, các chính sách của Nhà nước nhằm duy trì ổn
định kinh tế, kiểm soát lạm phát, áp dụng chính sách tài khóa tiền tệ thắt chặt, tránh
chủ nghĩa bảo hộ duy trì môi trường thị trường thân thiện nhằm tạo tiềm năng xuất
khẩu thu hút đầu trực tiếp nước ngoài.
Ngoài ra khu vực nhân nhân tố chính thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa phát
triển. Giúp phân bổ nguồn lực sản xuất hiệu quả cho các ngành định hướng xuất khẩu
lợi thế so sánh. Trong EOI, chính phủ cũng được hưởng lợi nhờ thu hút đầu trực tiếp
nước ngoài (FDI) các nước Mỹ Latinh lợi thế so sánh về lao động phổ thông với
một chiến lược đầy hứa hẹn để thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 21, có nhiều thách thức đặt ra cho chiến lược EOI về điều
kiện thương mại sự cạnh tranh giữa các ngành công nghiệp trong ngoài nước với
chi phí sản xuất thấp như Trung Quốc.

Preview text:

2. 2 đường lối phát triển kinh tế ở các nước Mỹ Latinh
2.1. Thay thế nhập khẩu
Từ những năm 30 đến cuối những năm 80 của thế kỷ 20, hầu hết các quốc gia ở Mỹ
Latinh áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu. Nguyên nhân được cho là do ảnh hưởng
của cuộc đại suy thoái những năm 30, khi đó các nước Mỹ Latinh xuất khẩu thực phẩm
và nguyên liệu thô trong khi nhập khẩu hàng hóa sản xuất từ châu Âu và Hoa Kỳ. Cuộc
đại suy thoái xảy ra, lượng hàng nhập khẩu vào các nước này giảm mạnh, thiếu hụt
nghiêm trọng hàng hóa sản xuất nhập khẩu. Đây chính là động cơ thay thế nhập khẩu bao
gồm việc thành lập các cơ sở sản xuất trong nước để sản xuất hàng hóa trước đây được
nhập khẩu. Và tới sau Thế chiến thứ II, thì ISI mới trở thành công cụ chính sách để phát
triển kinh tế. ISI sẽ mang lại sự độc lập kinh tế hơn cho các nước Mỹ Latinh: tự cung tự
cấp trong hàng hóa sản xuất sẽ giúp nền kinh tế ít phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới, có
lợi cho sự phát triển lâu dài của quốc gia.
Chiến lược ISI bao gồm việc thiết lập các cơ sở sản xuất trong nước cho các mặt
hàng sản xuất trước đây được nhập khẩu. Ngoài ra, chính phủ cũng đóng vai trò rất quan
trọng trong việc bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ, trợ cấp cho các công ty, đảm bảo
tỷ giá hối đoái đặc biệt và khuyến khích quốc hữu hóa. Các công cụ chính sách như thuế
quan, hàng rào phi thuế quan và hạn ngạch, hàng rào phi thương mại được sử dụng để
chống lại các ngành của đối thủ cạnh tranh nhập khẩu. Hơn nữa, để hạn chế nhập khẩu
các sản phẩm chế tạo được sản xuất trong nước, chính phủ đã áp dụng biện pháp kiểm
soát tỷ giá hối đoái nghiêm ngặt.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong và ngoài nước được chính phủ trợ cấp nhập
khẩu thiết bị vốn cho các ngành công nghiệp mới và tỷ giá hối đoái ưu đãi đặc biệt được
trao cho các công ty nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu và hàng hóa trung gian công
nghiệp. Chính phủ tham gia trực tiếp vào một số ngành công nghiệp nhất định, đặc biệt là
các ngành công nghiệp nặng chẳng hạn như thép. Ngoài ra chính phủ cũng đặc biệt chú
trọng đối với vốn nước ngoài vì nó rất quan trọng đối với sự phát triển của các ngành sản xuất mới.
ISI thành công nhất ở các quốc gia có dân số với mức thu nhập lớn, cho phép tiêu
thụ các sản phẩm sản xuất trong nước như Argentina, Brazil, Mexico (và ở mức độ thấp
hơn là Chile , Uruguay và Venezuela )
Việc đầu tư đến sản xuất các sản phẩm tiêu dùng giá rẻ có thể mang lại lợi nhuận ở
các thị trường nhỏ nhưng điều này lại không thể xảy ra đối với các ngành sử dụng nhiều
vốn như ô tô và máy móc hạn nặng, vốn phụ thuộc vào các thị trường lớn hơn để tồn tài.
Do vậy, các quốc gia nhỏ hơn và nghèo hơn như Ecuador , Honduras và Cộng hòa
Dominica, chỉ có thể triển khai ISI ở mức độ hạn chế. Peru thực hiện ISI vào năm 1961
và chính sách này kéo dài đến cuối thập kỷ.
Theo Eichengreen (2009), chiến lược ISI hoạt động hiệu quả ở các nước Mỹ Latinh
bởi vì sau khi nền kinh tế thế giới trải qua cuộc Đại suy thoái năm 1930 và Thế chiến thứ
hai, cả thương mại và cho vay quốc tế vẫn chưa phục hồi và sự tích lũy công nghệ mới sẽ tạo ra tăng trưởng.
Tuy nhiên đến những năm 1990, với sự phục hồi của thị trường quốc tế và tự do hóa
thị trường quốc tế. ISI đã không thể chuyển các nước Mỹ La tinh thành các quốc gia tự
cung tự cấp. Do vậy, các nước Mỹ Latinh bắt đầu chuyển từ công nghiệp hóa theo hướng
nhập khẩu sang chính sách mới mở cửa thị trường. Xu hướng thế giới mới này và áp lực
thị trường đã tạo ra hướng đi mới cho các chính sách kinh tế và thương mại của các nước
Mỹ Latinh, do đó công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (EOI) đã được thực hiện.
2.2. Hướng về xuất khẩu
Giữa những năm 80 và 90 của thế kỷ 20, chiến lược ISI đã không thể chuyển các
nước Mỹ Latinh thành các quốc gia tự cung tự cấp. Các nhà kinh tế và các nhà hoạch
định chính sách bắt đầu ủng hộ chiến lược hướng vào xuất khẩu hơn để đạt được tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Do đó chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu EOI
được lựa chọn để thay thế chiến lược ISI.
EOI là chiến lược kinh tế và thương mại nhằm tăng cường công nghiệp hóa thông
qua xuất khẩu hàng hóa có lợi thế so sánh. Vai trò hàng đầu của chính phủ là cung cấp
các điều kiện kinh tế vĩ mô tối ưu. Do đó, các chính sách của Nhà nước nhằm duy trì ổn
định kinh tế, kiểm soát lạm phát, áp dụng chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt, tránh
chủ nghĩa bảo hộ và duy trì môi trường thị trường thân thiện nhằm tạo tiềm năng xuất
khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Ngoài ra khu vực tư nhân nhân tố chính thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và phát
triển. Giúp phân bổ nguồn lực sản xuất hiệu quả cho các ngành định hướng xuất khẩu có
lợi thế so sánh. Trong EOI, chính phủ cũng được hưởng lợi nhờ thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vì các nước Mỹ Latinh có lợi thế so sánh về lao động phổ thông với
mức lương thấp hơn. Kể từ khi được triển khai, công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu đã
là một chiến lược đầy hứa hẹn để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 21, có nhiều thách thức đặt ra cho chiến lược EOI về điều
kiện thương mại và sự cạnh tranh giữa các ngành công nghiệp trong và ngoài nước với
chi phí sản xuất thấp như Trung Quốc.