









Preview text:
LỊCH SỬ ĐẢNG
ĐỀ TÀI: Trình bày nội dung đường lối của Đảng tại ĐH IX, X. Phân
tích tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở VN, những đặc trưng chủ yếu của KTTT định hướng XHCN ở VN.
(Những phần in đậm, highlight, gạch chân, tô màu, in nghiêng là bỏ vô slide nhé! )
1. Đường lối của Đảng trong 2 Đại hội IX & X
1.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: tiếp tục thực hiện công cuộc đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2001-2006
– Đại hội IX của Đảng họp tại Hà Nội, từ ngày 19 – 22/4/2001. Đại hội đã thông qua
các văn kiện chính trị quan trọng, trong đó có Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
2001 – 2010; xác định rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh và bầu
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị; bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư của Đảng.
– Ngoài những nội dung tiếp tục đổi mới toàn diện, các văn kiện của Đại hội IX nổi bật
với những nhận thức mới về con đường xã hội ở nước ta. Cụ thể: Đại hội tiếp tục
khẳng định: Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự nghiệp
rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong thời
kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế.
Đảng, Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. ⟹
+ Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; có nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức phân phối, chủ yếu phân phối theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
+ Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.
+ Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện
nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
2.2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và quá trình thực hiện (2006- 2011):
– Đại hội X của Đảng họp tại Hà Nội, từ ngày 18 – 25/4/2006. Đại hội đã thông qua
các Văn kiện chính trị và tiếp tục bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư của
Đảng. Chủ đề của Đại hội “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
– Một trong những dấu ấn sâu sắc nhất của Đại hội X là: “Tổng kết một số vấn đề lý
luận – thực tiễn của 20 năm đổi mới”. Đại hội đã chỉ ra những bài học cần thiết để tiếp
tục hoàn thiện đường lối chỉ đạo đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới trong những năm tiếp theo là:
+ Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.
+ Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ
động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới.
+ Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
+ Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi
mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
– Đại hội X có sự tiếp thu, bổ sung hai đặc trưng mới của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân
ta xây dựng so với Cương lĩnh năm 1991 là: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân
chủ, văn minh; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, diễn đạt lại các đặc trưng khác.
Cụ thể: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển
cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con
người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Điểm mới của các Đại Hội IX và X so với các Đại hội trước:
1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX:
Trong toàn khóa IX, Trung ương Đảng tiếp tục chỉ đạo đổi mới toàn diện, nổi
bật nhất là những nhiệm vụ trọng tâm sau:
– Phát triển kinh tế:
Hội nghị Trung ương 3 (9/2001) đã chỉ đạo sắp xếp, đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
Hội nghị Trung ương 5 (3/2002) đã thảo luận, thống nhất nhận thức coi
kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Trung ương
quyết định tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, khuyến khích và tạo điều
kiện phát triển kinh tế tư nhân.
Hội nghị Trung ương 7 (3/2003) đã thống nhất nhận thức coi đất đai là tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội
lực và nguồn vốn to lớn của đất nước; quyền sử dụng đất là hàng hóa đặc biệt.
Những đổi mới về công tác tư tưởng, lý luận: Hội nghị Trung ương 5
(3/2002) đã đưa ra những nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận
của Đảng trong tình hình mới. Ngày 27/3/2003, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số
23-CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn mới nhằm làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân nhận thức sâu sắc nguồn gốc, nội dung, giá trị, vai trò của tư tưởng Hồ
Chí Minh, kiên định và làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội ta.
Những đổi mới về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc: Hội nghị Trung
ương 7 (3/2003) đã ban hành ba Nghị quyết quan trọng: Nghị quyết về phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết về công tác dân tộc; Nghị quyết
về công tác tôn giáo. Bộ Chính trị khóa IX (3/2004) đã ban hành Nghị
quyết số 36 chủ trương coi người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không
tách rời, là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan
trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước.
– Về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc:
Hội nghị Trung ương 8 (7/2003) đã ra kịp thời thảo luận và ban hành Chiến
lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X:
Quan điểm mới nổi bật của Đại hội X là đã cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân,
kể cả tư bản tư nhân nhưng yêu cầu phải tuân thủ Điều lệ Đảng, nghị quyết của Đảng
và quy định của pháp luật Nhà nước đồng thời nêu cao tính tiên phong gương mẫu của người đảng viên.
Nội dung mới trong thành tố thứ hai chủ đề Đại hội X là “phát huy sức
mạnh toàn dân tộc”.
Điểm mới từ đây là xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá
khứ, thành phần giai cấp; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của
dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin
cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.
– Thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Trung ương Đảng đã tiếp tục thảo luận và
quyết định nhiều vấn đề quan trọng, nổi bật:
+ Về đổi mới kinh tế
Lần đầu tiên, tại Hội nghị Trung ương 4 (2/2007), Đảng ta ban hành Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020. Trung ương đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 kinh
tế biển Việt Nam đóng góp khoảng 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu cả
nước. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Hội nghị
Trung ương 6 (1/2008) đã đưa ra những chủ trương và giải pháp để tiếp tục hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị Trung ương 7
(7/2008) đã đánh giá tình hình, lần đầu tiên đưa ra những quyết sách mạnh mẽ về chủ
trương, nhiệm vụ, giải pháp, giải quyết đồng thời ba vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
⟹ Những chủ trương nêu trên đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế 5 năm
(2005 – 2010): tốc độ tăng GDP bình quân đạt 7%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội gấp
2,5 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, đạt 42,9% GDP. Mặc dù khủng hoảng tài chính
và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt
cao. GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so với năm
2000; GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD. Năm 2008 Việt Nam đã ra khỏi tình
trạng nước nghèo, đứng vào nhóm các nước có thu nhập trung bình.
+ Về đổi mới hệ thống chính trị:
Nghị quyết Trung ương 4 (4/2007) đã sắp xếp bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà
nước ở Trung ương gọn hơn. Hội nghị Trung ương 5 (7/2007) đã chủ trương tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và chủ trương tiếp tục đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Hội nghị Trung ương
6 (1/2008) đã chủ trương tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, lãng phí và chủ trương nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
+ Về phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc:
Hội nghị Trung ương 6 (1/2008) đã ban hành Nghị quyết về xây dựng giai cấp
công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nghị
Trung ương 7 (7/2008) đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Về đổi mới công tác tư tưởng, lý luận, báo chí:
Hội nghị Trung ương 12 (7/2005) đã chỉ đạo thí điểm cuộc vận động “Học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tháng 11-2006, Bộ Chính trị khóa X
quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị Trung ương 5 (7/2007) đã ban hành Nghị
quyết về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu mới.
+ Về đổi mới mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế:
Tháng 11/2006, sau hơn 10 năm đàm phán, Việt Nam được chính thức kết nạp
là thành viên thứ 150 của WTO. Hội nghị Trung ương 4 (1/2007) ra Nghị quyết về một
số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế sau khi Việt Nam trở thành thành viên
của WTO. Về đối ngoại, thành tựu nổi bật sau 5 năm (2006/2010) là đã mở rộng và
ngày càng đi vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại, góp phần tạo ra thế và lực mới, giữ
vững ổn định chính trị và tạo được một môi trường quốc tế thuận lợi chưa từng có để
giữ vững hòa bình, an ninh và mở rộng hợp tác, tranh thủ, vốn, kỹ thuật, trí thức, kinh
nghiệm để phát triển đất nước.
Việt Nam đã trở thành thành viên 150 của tổ chức WTO; đăng cai và tổ chức
thành công tuần lễ cao cấp APEC lần thứ 14 (11/2006). Đến năm 2010, Việt Nam có
quan hệ thương mại đầu tư với 230 nước và vùng lãnh thổ, trong đó các đối tác lớn
nhất là Trung Quốc với 25 tỉ USD thương mại hai chiều, với Mỹ là 16 tỉ USD.
Hoàn thành phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền với Trung Quốc; bước
đầu đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ với Trung Quốc.
2. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN
– Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành theo các
quy luật của kinh tế thị trường đồng thời góp phần từng bước xác lập một xã hội mà
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh, công bằng, có sự điều tiết của nhà nước do
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
– Phân tích tính tất yếu khách quan:
1) Kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với tính quy luật phát triển khách quan.
+ Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, ở Việt Nam
những điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa không mất đi mà
còn phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu, sự phát triển kinh tế hàng hóa tất
yếu hình thành kinh tế thị trường. Như vậy, sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại và đặc
điểm phát triển của dân tộc.
2) Kinh tế thị trường có rất nhiều ưu việt, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước.
+ Kinh tế thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả mà loài người đã đạt
được so với các mô hình kinh tế phi thị trường, là động lực thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển nhanh và hiệu quả cao. Dưới tác động của các quy luật thị trường nền
kinh tế luôn phát triển theo hướng năng động, kích thích tiến bộ kỹ thuật – công nghệ,
nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm.
+ Xét trên góc độ đó, sự phát triển kinh tế thị trường không hề mâu thuẫn mà còn là cơ
sở vật chất tạo điều kiện thực hiện những mục tiêu XHCN.
3) Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với nguyện vọng
của nhân dân mong muốn một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
+ Sự tồn tại của kinh tế thị trường ở nước ta tạo ra một động lực quan trọng cho sự
phát triển của lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội. Với đặc điểm lịch sử của dân tộc, Việt Nam không thể lựa chọn mô hình kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa, chỉ có lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa mới phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo nhân dân về một xã
hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Gồm 5 đặc trưng cơ bản:
– Thứ nhất là mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
+ Để có thể phân biệt nền kinh tế thị trường của nước ta so với nền kinh tế thị trường
khác phải nói đến mục đích chính trị, mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và nhân dân đã
chọn. Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
+ Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người
tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được thu hẹp.
+ Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho
ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các
bí mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng.
+ Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay
trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn
đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà
còn có giá trị cao về văn hóa, xã hội.
+ Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lấy lợi ích và phúc lợi
toàn dân làm mục tiêu. Phát triển kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản xuất,
giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất; xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội
nâng cao đời sống nhân dân bằng việc đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích
mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng
bước khá giả hơn. Kinh tế thị trường bản thân nó là nội lực thúc đẩy tiến trình kinh tế
– xã hội. Mục tiêu này thể hiện rõ mục đích phát triển kinh tế thị trường là vì con
người, nâng cao đời sống nhân dân, mọi người điều được hưởng thụ thành quả của sự phát triển.
– Thứ hai là vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tồn tại
nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Theo quan điểm tại
đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay có bốn thành phần kinh tế gồm:
thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và
thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Các thành phần kinh tế độc lập với nhau bình đẳng với nhau trước pháp luật. Nhà
nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển.
+ Ngoài ra, mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng, bên
cạnh tính thống nhất giữa các thành phần kinh tế cũng có sự khác nhau thậm chí có thể
có mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo
những hướng khác nhau. Các thành phần kinh tế khác nhau dựa trên các quan hệ sở
hữu khác nhau và thường đại diện cho những giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau. Do
đó trong quá trình cùng phát triển, chúng đan xen, đấu tranh, mâu thuẫn và phát triển
theo những khuynh hướng khác nhau. Vì vậy, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ
đạo là để giữ vững định hướng xả hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế
– Thứ ba là hoạt động quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đại diện cho đa số nhân dân trong xã hội và
phải bảo vệ quyền lợi, lợi ích của nhân dân.
+ Quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, bằng chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời
sự dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị
trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và khắc
phục những tiêu cực, hạn chế do cơ chế thị trường mang lại, bảo vệ lợi ích của nhân dân và xã hội.
– Thứ tư là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hóa
các hình thức phân phối.
+ Mỗi chế độ xã hội lại có hình thức phân phối đặc trưng. Các hình thức phân phối là
một bộ phận của quan hệ sản xuất và do quan hệ sở hữu quyết định. Nhưng ngược lại,
quan hệ phân phối là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của quan hệ sở hữu.
+ Tại Việt Nam hiện đang thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông
qua phúc lợi xã hội. Cơ chế phân phối này tạo động lực để kích thích các chủ thể kinh
tế nâng cao hiệu quả hoạt động, sản xuất, kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong xã hội.
+ Do trình độ của lực lượng sản xuất còn chưa đồng đều nên tồn tại nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, do đó tất yếu cần có sự tồn tại đa dạng về quan hệ phân phối.
– Thứ năm là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với bảo đảm công bằng xã hội
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Nền kinh tế luôn gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng
con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
+ Nền kinh tế đó luôn có sự gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội,
phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, mọi người đều có
cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện. Đây cũng là một trong những mục tiêu của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự khác biệt so với kinh tế
thị trường tư bản chủ nghĩa về việc phân cực giàu nghèo, phân hóa xã hội.
Ngoài ra nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế độc lập, tự
chủ đi đôi với chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn
lực tổng hợp để phát triển đất nước.
4. Thực trạng và thành tựu đã đạt được, những tồn tại và các mặt hạn chế ĐẠI HỘI IX
– Về đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch của 5 năm (1996 – 2000), Báo cáo Chính trị
khẳng định 5 nhóm thành tựu quan trọng sau:
kinh tế tăng trưởng khá;
văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện;
tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định;
quốc phòng và an ninh được tăng cường; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú
trọng; hệ thống chính trị được củng cố;
quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến
hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt.
– Bên cạnh khẳng định những thành tựu đó, Đại hội IX đánh giá quá trình thực hiện
Nghị quyết Đại hội VIII còn bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm:
Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp;
Một số vấn đề văn hoá – xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết;
Cơ chế, chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển;
Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng.
– Đại hội đánh giá tổng quát:
Phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế –
xã hội 1991 – 2000 đã được thực hiện.
Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế;
Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ;
Thế và lực của đất nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng
lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. ĐẠI HỘI X
– Xuyên suốt các văn kiện trình ra Ðại hội X, ta thấy rất nhiều kết luận trong Báo cáo
tổng kết đã được chấp nhận. Báo cáo chính trị tại Ðại hội X, phần nhìn lại 20 năm đổi mới, đã nêu rõ:
"Hai mươi năm qua với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, công
cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
Ðất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn
diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Ðời sống nhân
dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được
củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được giữ
vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp
của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên
với triển vọng tốt đẹp".
– Song, bên cạnh những thuận lợi đó, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với những
thách thức to lớn. Tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có những thay đổi to lớn,
ảnh hưởng sâu sắc đến công cuộc đổi mới của nhân dân ta.
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng
chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho các quốc gia, nhất
là các nước đang phát triển.
Khoa học - công nghệ tiếp tục có những bước đột phá mới, tác động nhiều mặt đến tất
cả các nước trên thế giới. Chiến tranh khu vực, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc,
tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố,... diễn ra ở nhiều
nơi với tính chất ngày càng phức tạp.
Nền kinh tế đất nước vẫn trong tình trạng kém phát triển, nguy cơ tụt hậu xa hơn so
với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn tồn tại, tốc độ phát triển kinh tế
chưa tương xứng với tiềm năng của đất nước.
Trình độ khoa học - công nghệ quốc gia còn lạc hậu trên nhiều phương diện. Tình
trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng
viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí rất nghiêm trọng. Các lĩnh vực
quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế... GIẢI PHÁP
– Xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có
phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân.
– Thực hiện một cách kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí. Xử lý kịp thời, công
khai người tham nhũng, bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu
sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng.
– Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
– Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
– Tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại.
– Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
– Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất.
– Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.