



Preview text:
Bài 1:
a) Những nguyên tắc tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước là những tư tưởng
chỉ đạo làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của tất cả cơ quan nhà nước và
toàn bộ bộ máy nhà nước. Các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật về tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã quy định có 6 nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam đó là:
nguyên tắc chủ quyền nhân dân; nguyên tắc quyền lực thống nhất; nguyên tắc
công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân;
nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc Đảng Cộng sản lãnh đạo
và nguyên tắc tập trung dân chủ.
Quy định Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013 của nước CHXHCN Việt Nam:
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp.” đề cập đến Nguyên tắc quyền lực thống nhất trong tổ chức của bộ máy
Nhà nước ta hiện nay. Đây là nguyên tắc nền tảng quan trọng thứ hai của bộ
máy nhà nước CHXHCN Việt Nam và cũng là nguyên tắc quyết định thiết kế
mô hình tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nguyên tắc này có nội dung như sau:
Thứ nhất, quyền lực nhà nước ở Việt Nam là thống nhất. Xét về phương diện
chính trị, quyền lực nhà nước tập trung thống nhất ở Nhân dân thể hiện qua
nguyên tắc chủ quyền nhân dân. Về phương diện tổ chức thực hiện: quyền lực
nhà nước thống nhất ở Quốc hội. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất do nhân
dân bầu ra, trao toàn bộ quyền lực của mình cho Quốc hội.
Thứ hai, mặc dù Quốc hội là nơi thống nhất quyền lực nhà nước nhưng Quốc
hội không trực tiếp thực hiện cả 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong
bộ máy nhà nước mà có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
nhà nước (Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành
pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp). Tuy nhiên, Quốc hội luôn có quyền
giám sát tối cao đối với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước.
Với việc áp dụng nguyên tắc này thì mô hình tổ chức bộ máy nhà nước đã được
định hình một cách rõ ràng với Quốc hội là cơ quan đứng ở vị trí cao nhất trong
bộ máy nhà nước, các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, tư pháp và các cơ
quan Trung ương khác như Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch nước đều
có vị trí thấp hơn và đặt dưới sự giám sát của Quốc hội.
b) Các biểu hiện cụ thể của nội dung quy định này trong mối quan hệ giữa Quốc
hội với Chính phủ, Tòa án nhân Tối cao:
Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ quyền lực xã hội mà thực chất là quyền lực
nhân dân nên nó là một thực thể duy nhất và thống nhất. Câu nói của cựu tổng
thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln trong “Diễn văn Gettysburg” (1863) về “chính
quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” (government of the people, by
the people, for the people) cũng chính là hệ quả của nguyên lý đó. Vậy nên,
quyền lực nhà nước là một thực thể duy nhất, không thể phân ly và tách rời.
Quyền lực nhà nước ở Việt Nam với đặc trưng của mình thì càng có nhiều hơn
điều kiện để thống nhất bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết giữa giai cấp với
nhau (công nhân, nông dân và tầng lớp tri thức) và chỉ do một Đảng lãnh đạo,
các cơ quan nhà nước tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng cũng có
cùng mục tiêu trên hành trình tiến đến xây dựng CNXH…
Tuy nhiên, quyền lực nhà nước thống nhất nhưng không có nghĩa là không cần
đến sự phân công lao động quyền lực. Chúng ta có thể không chấp nhận mô
hình phân quyền trong nhà nước pháp quyền tư sản nhưng những yếu tố hợp lý,
tích cực, được thừa nhận và vận dụng phổ biến của lý thuyết phân quyền thì có
thể và vẫn cần phải kế thừa. Vì thế, dựa theo Khoản Điều 2 Hiến pháp năm
2013 quy định thì Quốc hội sẽ thực hiện quyền lập pháp (điều 69), Chính phủ
thực hiện quyền hành pháp (điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp
(khoản 1 điều 102), Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp (khoản 1 điều 107). Nhờ vậy, một mặt, phân công là cách
thức ưu trội để chống lại các tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm quyền;
mặt khác đây chính là điều kiện để lao động quyền lực được chuyên môn hóa,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong thực hiện các quyền. Tuy vậy,
việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của bộ máy nhà nước là một tổng thể
rất phức tạp, luôn ràng buộc lẫn nhau, bị chi phối bởi yếu tố các yếu tố lợi ích,
những ảnh hưởng nhạy cảm khác nên sự phân công thường bị rơi vào tình trạng
chồng lấn, dư thừa, thiếu rạch ròi,…Và thực tế đó có ở rất nhiều quốc gia, chỉ là
khác nhau về mức độ, phạm vi. Thực tiễn ở Việt Nam trong nhiều năm qua
cũng không tránh khỏi điều đó. Đây chính là cơ sở để Đảng ta phải đặt vấn đề
về “phân công rành mạch” trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước trước tình hình hiện nay. Bài 2:
a) Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh,
trong đó các bên chủ thể tham gia có những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
do pháp luật quy định và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Ngoài ra quan hệ
pháp luật còn được định nghĩa là quan hệ xã hội được xác lập, tồn tại và phát
triển hoặc là chấm dứt dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật. Quan hệ pháp
luật có những đặc điểm sau:
Đầu tiên, quan hệ pháp luật được xây dựng trên cơ sở các quy phạm pháp luật.
Đây là đặc điểm quan trọng nhất giúp phân biệt quan hệ pháp luật với các quan
hệ xã hội khác. Nếu không có quy phạm pháp luật thì sẽ không có quan hệ pháp
luật. Các quy phạm pháp luật dự liệu những tình huống phát sinh quan hệ pháp
luật; xác định thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, cả nội dung
những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.
Thứ hai, quan hệ pháp luật mang tính ý chí. Tính ý chí này được hiểu là ý chí
của nhà nước (vì pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận), là ý chí của
các bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật ( như quan hệ hôn nhân, hợp
đồng…), hoặc là ý chí của một bên trong quan hệ pháp luật (quan hệ pháp luật
hình sự). Sẽ có một số trường hợp quan hệ pháp luật sẽ làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt dựa trên cơ sở ý chí của nhà nước như quan hệ pháp luật hình
sự, quan hệ xử phạt hành chính… Ngoài ra cũng tồn tại những trường hợp quan
hệ pháp luật làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dựa trên ý chí của các bên
tham gia vào quan hệ pháp luật (phải trong khuôn khổ ý chí của nhà nước) như
quan hệ hợp đồng, quan hệ hôn nhân,…
Thứ ba là các bên tham gia quan hệ pháp luật ràng buộc với nhau bằng các
quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý hay nói cách khác là chủ thể tham gia vào
phải đáp ứng theo các quy định của pháp luật. Đây cũng chính là yếu tố làm cho
quan hệ pháp luật được thực hiện. Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại.
Quan hệ pháp luật được còn được nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể cả
bằng biện pháp cưỡng chế. Nhà nước bảo đảm thực hiện quan hệ pháp luật bằng
biện pháp giáo dục thuyết phục. Bên cạnh đó nhà nước còn bảo đảm thực hiện
pháp luật bằng biện pháp kinh tế, tổ chức – hành chính. Khi mà những biện
pháp đó không có hiệu quả khi áp dụng thì khi cần thiết nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế.
Cuối cùng quan hệ pháp luật mang tính cụ thể, có chủ thể xã định. Khác với
một số quan hệ xã hội thì với mỗi loại quan hệ pháp luật đều có cơ cấu chủ thể
nhất định. Ví dụ: chủ thể trong quan hệ pháp luật kinh tế là pháp nhân hoặc cá
nhân có đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền; chủ thể trong mỗi loại
quan hệ pháp luật nhất định đều phải đáp ứng được những điều kiện mà pháp
luật quy định cho loại quan hệ pháp luật cụ thể đó. Ví dụ trong quan hệ pháp
luật hôn nhân dù là cá nhân nhưng với nam thì yêu cầu từ đủ 20 tuổi trở lên và
nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.
b) Quan hệ pháp luật được phân chia dựa vào nhiều tiêu chí, với những tiêu chí
khác nhau thì sẽ có sự phân chia các loại quan hệ pháp luật khác biệt nhau. Cụ
thể: Phân loại quan hệ pháp luật dựa vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh
(được chia theo các ngành luật) gồm có quan hệ pháp luật dân sự; quan hệ pháp
luật hình sự; quan hệ pháp luật lao động; quan hệ pháp luật hành chính;…
Phân loại quan hệ pháp luật dựa vào tính chất của nghĩa vụ sẽ có quan hệ pháp
luật chủ động và quan hệ pháp luật thụ động.
Phân loại quan hệ pháp luật dựa vào tính xác định thành phần chủ thể thì được
chia thành quan hệ pháp luật tương đối và quan hệ pháp luật tuyệt đối.
Cuối cùng phân loại quan hệ pháp luật dựa vào cách tác động đến chủ thể gồm
quan hệ pháp luật điều chỉnh và quan hệ pháp luật bảo vệ.
Vậy trong tình huống trên là thuộc loại quan hệ pháp luật dân sự. Bởi trong tình
huống này có sự ràng buộc của hợp đồng, trong mối quan hệ này có liên quan
đến tài sản là tiền thù lao phải trả và có được của hai bên chủ thể, hai bên có
quyền và nghĩa vụ phải thực hiện. c)
Trong quan hệ pháp luật này gồm có 3 yếu tố cấu thành, cụ thể:
Về chủ thể của quan hệ pháp luật là sinh viên M và nhà ông H (ông H và cháu G)
Khách thể của quan hệ pháp luật là 200 000 đồng/buổi học.
Nội dung của quan hệ pháp luật sẽ bao gồm quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.
Trong đó, quyền chủ thể đối với sinh viên M là được nhận tiền dạy gia sư, còn
đối với nhà ông H là được dạy gia sư. Nghĩa vụ pháp lý của nhà ông H là trả
tiền dạy và nghĩ vụ pháp lý của sinh viên M đó là dạy học cho cháu G.