VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
96
Original Article
Forest land use contribution to livelihoods and
food security of Nghe An’s ethnic people:
Lessons learned for the REDD+ program
Nguyen Dinh Tien
*
VNU University of Economics and Business
No. 144 Xuan Thuy Road, Cau Giay District, Hanoi, Vietnam
Received: September 27, 2023
Revised: February 20, 2024; Accepted: February 25, 2024
Abstract: Shifting cultivation activities were banned in the upland area of Nghe An Province to
reduce deforestation and forest fires which were greatly affecting the livelihoods of ethnic people.
This study evaluates the current land use and local people's awareness of the role of different land
use types in their livelihoods when implementing the REDD+ program in Nghe An. The results
show that the livelihoods of local people in Moi villages (Luc Da commune) and Diem villages
(Chau Khe) mainly come from agricultural production. Income from forestry (acacia, bamboo, and
non-timber forest products) accounts for 60% of total household income. Most households in the
two villages suffer from food shortages for 3 to 8 months a year. The net profits from different types
of land use show that bamboo brings high economic profits. Local people are not willing to convert
crops to the REDD+ mechanism. Therefore, local authorities need to support people in improving
their livelihoods and income from agricultural and non-agricultural activities.
Keywords: Livelihoods, Nghe An, REDD+, shifting cultivation.
*
________
*
Corresponding author
E-mail address: nguyendinhtien@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.57110/jebvn.v4i1.261
Copyright © 2024 The author(s)
Licensing: This article is published under a CC BY-NC 4.0 license.
VNU Journal of Economics and Business
Journal homepage: https://jebvn.ueb.edu.vn
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
97
Sử dụng đất lâm nghiệp gắn liền với sinh kế và
an toàn lương thực của người dân vùng cao Nghệ An:
Bài học cho chương trình REDD+ tại địa phương
Nguyễn Đình Tiến
*
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 23 tháng 11 năm 2023
Chỉnh sửa ngày 6 tháng 2 năm 2024; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 2 năm 2024
Tóm tắt: Các hoạt động canh tác nương rẫy bị cấm ở vùng cao nhằm giảm phá rừng và cháy rừng
đã ảnh hưởng nhiều đến sinh kế của người dân địa phương. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng sử
dụng đất lâm nghiệp nhận thức của người dân địa phương về vai trò của các loại hình sử dụng
đất với sinh kế khi thực hiện chương trình REDD+ tại tỉnh Nghệ An. Kết quả cho thấy, sinh kế của
người dân địa phương tại hai bản Mọi (xã Lục Dạ) và bản Diềm (Châu Khê) chủ yếu đến từ sản xuất
nông nghiệp, trong đó thu nhập từ rừng chiếm đa số. Thu nhập từ trồng rừng (keo, tre lâm sản
ngoài gỗ) chiếm 60% tổng thu nhập của hộ gia đình. Hầu hết hộ gia đình tại hai bản đều bthiếu
lương thực từ 3 đến 8 tháng. Phân tích kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ các loại hình sử dụng đất
cho thấy, tre nứa đem lại lợi nhuận kinh tế cao. Do đó, người dân không sẵn sàng chuyển đổi cây
trồng sang cơ chế REDD+. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ người dân trong phát triển sinh kế,
cải thiện thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Từ khóa: Sinh kế, Nghệ An, REDD+, canh tác nương rẫy.
1. Giới thiệu
*
Sự đóng góp lớn nhất của ngành lâm nghiệp
thông qua các chức năng bảo vệ môi trường
như duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất, cải
tạo đất, kiểm soát xói mòn và duy trì đa dạng sinh
học (Aju, 2014). Ngoài ra, lâm nghiệp còn đóng
vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương
thực, đảm bảo dinh dưỡng/duy trì đất đai, an ninh
môi trường thông qua quá trình lập carbon
giúp đảm bảo an ninh khí hậu mang lại những
giá trị bảo tồn văn hóa tín ngưỡng cộng đồng, thu
nhập cho người dân trên toàn thế giới (Temu &
Msanga, 1994; Härkönen & Vainio-Mattila,
1998; Kajembe và cộng sự, 2000; Ruffo và cộng
sự, 2002; Nyambo và cộng sự, 2005; Caspersen
cộng sự, 2018, Miller cộng sự, 2020;
Chamberlain, 2020; Jhariya cộng sự, 2022).
________
*
Tác giả liên hệ
Địa chemail: nguyendinhtien@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.57110/jebvn.v4i1.261
Bản quyền @ 2024 (Các) tác giả
Bài báo này được xuất bn theo CC BY-NC 4.0 license.
Các nhà lãnh đạo châu Á cũng đã thừa nhận sự
cần thiết của rừng đối với an ninh lương thực,
phát triển kinh tế hỗ trợ cộng đồng địa phương
(Guerrero và cộng sự, 2015).
Biến đổi khí hậu đã đang diễn ra không
chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh kế hộ gia đình
còn ảnh hưởng đến các loài hệ sinh thái.
Sự phục hồi rừng một cách hiệu quả nhất để
giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
REDD+ (Reducing Emission from Deforestation
and Forest Degradation) chương trình thể
đem lại sự đa dạng sinh học phục hồi những
cánh rừng đã biến mất (Montreal & Eschborn,
2011). Ngoài ra, chế REDD+ nhằm bù đắp về
tài chính để tránh mất rừng suy thoái rừng
thông qua khuyến khích quản lý rừng bền vững,
cải thiện sinh kế cho người dân cộng đồng
người dân địa phương sống phụ thuộc vào rừng
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
98
(Ha, 2015). Khi đa dạng sinh học bị giảm sút, các
loài động vật hoặc sản phẩm từ rừng bị cạn kiệt,
đời sống của người dân sẽ gặp nhiều khó khăn
(Vinceti, 2008; Ruffo và cộng sự, 2002). Nghiên
cứu tại Madagascar - một quốc gia Đông Phi,
Lalaina cộng sự (2011) đã chỉ ra các đặc điểm
kinh tế - xã hội của nhóm hộ trong cộng đồng bị
ảnh hưởng hoặc bị tác động bởi dự án REDD+.
Đặc biệt, nhóm hộ dễ tổn thương như hộ nghèo
dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng mạnh nhất vì sinh
kế của họ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng.
vậy, phát triển dự án REDD+ không chỉ duy
trì bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cần phải
xem xét vấn đề sinh kế và lương thực cho người
dân hoặc cộng đồng sống dựa vào rừng. Chazdon
cộng sự (2009) cho rằng hành lang pháp lý,
thể chế tại các nước đang phát triển thường
không đầy đủ, thu nhập và khả năng tiếp cận
nguồn tài nguyên như đất đai các tài nguyên
sinh thái của các hộ cũng không ổn định. Điều
này thường buộc người nghèo nông thôn phải
ưu tiên các nhu cầu ngắn hạn hơn tính bền
vững lâu dài.
Trong những m gần đây, thực trng v
an ninh lương thực tại các tỉnh ng cao, đặc
biệt là ng cao của tỉnh Ngh An đang đứng
trước những khó khăn do tác động của biến đổi
khí hậu, ng suất lúa nương và c y trồng
khác bị giảm t. Ngi ra, do c động của
chính sách giao đất giao rng, quy hoạch canh
c ơng rẫy tập trung, người dân phải canh
c tờng xun tn mt din ch cố định
n độ phì của đất giảm, dẫn đến ng suất cây
trồng giảm.nh trạng thiếuơng thực tại các
hộ gia đình diễn ra phbiến hơn so với tớc
khi giao đất giao rng. Số ợng h gia đình
thiếu lương thực ng lên so với trước năm
1998 (Nguyen cng s 2011). Việc đánh giá
nguồn sinh kế và chiến lược sử dụng đất của
cộng đồng tại địa phương ý nghĩa quan
trọng trong việc trin khai thực hiện dự án
REDD+ trên địa n tỉnh, là i học cho quá
trình m rộng dự án REDD+ trên toàn quốc.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Lục Dạ Châu Khê hai thuộc huyện
Con Cuông, tỉnh Nghệ An được lựa chọn làm
điểm nghiên cứu. Con Cuông huyện nghèo
phía Tây của tỉnh Nghệ An. Sản xuất lúa nước,
nương rẫy, trồng rừng và chăn nuôi gia súc
nguồn thu nhập chính của người dân địa phương.
Hình 1: Bản đồ địa bàn nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
Lục Dạ diện tích tự nhiên 12.272 ha,
trong đó đất lâm nghiệp 10.983 ha (chiếm
89,5%) diện tích đất tự nhiên của xã. Đất rừng
sản xuất 4.958 ha bao gồm các loại cây keo lai,
xoan và tre nứa. Rừng phòng hộ chiếm 2.693 ha
rừng đặc dụng khoảng 3.330,8 ha. Giai đoạn
trước khi bị cấm canh tác nương rẫy (1995), diện
tích rừng của bị tàn phá mạnh nhất. Trong thời
kỳ canh tác nương rẫy, thời gian bỏ hóa đất
khoảng 7-8 năm. Tuy nhiên, sau khi giao đất giao
rừng cấm canh tác nương rẫy, diện tích canh
tác bị nhỏ hẹp, các hộ phải canh tác trên diện tích
giao khoán hàng năm dẫn đến giảm độ phì của
đất, năng suất cây trồng giảm rõ rệt. Do đó,
những năm gần đây, người dân tham gia nhiều
vào trồng rừng, đặc biệt là trồng tre và keo. Lục
Dạ nghèo nên một số chương trình như 134,
135 đã hỗ trợ gạo, phân bón con giống cho
các hộ gia đình để phát triển kinh tế hộ (Ủy ban
Nhân dân xã Lục Dạ, 2023).
Châu Khê tổng diện tích tự nhiên
44.057,66 ha. Diện tích đất rừng của giảm
mạnh giai đoạn 2008-2011 (giảm 36 ha), trong
đó chủ yếu là rừng đặc dụng; tuy nhiên đến giai
đoạn 2021-2022, diện tích rừng trồng tăng lên
khoảng 55 ha. Châu Khê xã có diện tích đất tự
nhiên rộng nhất huyện Con Cuông nhưng phát
triển kinh tế m do phần lớn diện ch của giáp
với biên giới Việt - o, điều kin giao thông khó
khăn (Ủy ban Nhân dân xã Châu Khê, 2023).
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
99
2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
2.2.1. Thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các tài liệu,
nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sử
dụng hiệu quả đất lâm nghiệp, khung sinh kế bền
vững và an toàn lương thực.
2.2.2. Thu thập dữ liệu sơ cấp
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu cấp
được thu thập thông qua điều tra phỏng vấn hộ
gia đình họp nhóm. Trong quá trình họp
nhóm, tác giả đã yêu cầu người dân phỏng
địa hình thôn bản, khoanh vùng khu vực sản
xuất, rừng. Các kịch bản khi sự tác động của
dự án REDD+ tại địa phương được thảo luận
trong quá trình xây dựng bản đồ thôn bản. Tại
mỗi xã, tác giả tiến hành tổ chức họp nhóm với
người dân địa phương, mỗi nhóm gồm 10 người
dân bao gồm các độ tuổi khác nhau và đảm bảo
cân bằng về giới. c nội dung thảo luận gồm:
- Phần 1: Xác định/liệt kê mô hình/loại hình
quản đất của nhóm hộ; xác định và mô tả chi
tiết các hoạt động sản xuất cho mỗi loại hình sử
dụng đất cũng như thời gian quay vòng hoặc bỏ
hóa đất cho khoảng thời gian 30 năm (bắt đầu từ
khi khai hoang mảnh đất).
- Phần 2: Đánh giá vai trò của các loại hình
sử dụng đất đến sinh kế và môi trường. Khác với
nội dung phần 1, trong phần này, người tham gia
họp nhóm được chia làm hai nhóm theo giới tính.
Sinh kế và dịch vụ môi trường của mỗi loại hình
sử dụng đất được thu thập thông qua phương
pháp cho điểm.
+ Đánh giá đóng góp của các loại hình canh
tác đối với đời sống của hộ (giá trị của các loại
hình canh tác đối với sinh hoạt gia đình, an toàn
lương thực, các hoạt động chi tiêu khác như cưới
xin, ma chay…).
+ Đánh giá đóng p cho hệ sinh thái của loại
hình canh tác (giá trị của mỗi loại hình canh tác
khác nhau đối với nguồn nước sinh hoạt, chống
xói mòn và bảo tồn đa dạng sinh học).
- Phần 3: Phân tích hoạt động tài chính của
các loại hình sử dụng đất. Phỏng vấn hộ gia đình
được thực hiện tại bản Diềm bản Mọi dựa trên
vấn của cán bộ nông nghiệp xã. Mỗi bản tiến
hành phỏng vấn 50 hộ dân theo các tiêu chí phân
loại hộ từ họp nhóm. Cán bộ nông nghiệp
chọn mẫu ngẫu nhiên từ danh sách hộ tham gia
sản xuất nông nghiệp tại xã. Hệ thống câu hỏi
phỏng vấn được soạn thảo điều tra thử để
kiểm tra mức độ thu thập thông tin khả thi
kiểm tra tính chính xác của thông tin thu thập.
Các câu hỏi in sẵn tập trung vào việc thu thập các
dữ liệu phục vụ nghiên cứu đánh giá tác động của
dự án REDD+ đến nh hình sử dụng đất
nguồn thu nhập của hộ gia đình. Dữ liệu về đánh
giá lợi nhuận chi phí (NPV) cho từng loại hình
sử dụng đất dựa theo công thức tính như sau:
Π = 𝑝 × 𝑞 𝑐
Trong đó: Π = Li nhuận (VND/ha); p = Giá
bán (VND/tấn); q = Sản lượng (tấn); c = Tổng
chi phí (chi phí sản xuất, chi phí lao động, chi phí
thuê đất…)
2.2.3. Phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống mô tả: Phương pháp
này được vận dụng để mô tả bức tranh tổng quát
về tình hình cơ bản của các địa bàn nghiên cứu,
thực trạng sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
rừng, thực trạng các nguồn lực sinh kế cho giảm
nghèo bền vững tại các địa phương. Thông qua
phương pháp này, nghiên cứu có thể mô tả được
các yếu tố tác động đến sinh kế của người dân.
- Phương pháp tính lợi nhuận ròng (NPV):
Đây là một trong những công cụ đánh giá về tài
chính hiệu quả nhất trong ước ợng đầu tư.
Công thức tính như sau:
( )
=
=
+
=
nt
t
t
tt
i
CB
NPV
0
1
Trong đó: B
t
lợi nhuận tại thời điểm t; C
t
chi phí tại thời điểm t; t thời gian thường
tính là 1 năm; i là t lệ chiết khấu. NPV được áp
dụng tính cho mỗi loại hình đất canh tác cho từng
cây trồng tại địa phương. Thông thường, người
đầu sẽ dựa vào kết quả của NPV để đưa ra
quyết định. Trong trường hợp nhiều giá trị
NPV > 0, nhà đầu tư sẽ chọn loại nh sản xuất
có NPV dương lớn nhất.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Đặc điểm phân loại hộ gia đình nguồn
sinh kế
Kết quả thảo luận nhóm tại hai bản Diềm và
Mọi (dựa vào xếp hạng phân loại) và dữ liệu
từ bảng phỏng vấn dựa trên các hoạt động sản
xuất nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp và
chăn nuôi gia súc. Mô hình sinh kế chiến lược
sinh kế hội của các hộ được chia làm 4 loại h
(nhóm hộ):
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
- Nhóm A: Các hộ gia đình có ít đất canh tác
hoặc hạn chế về đất canh tác (ví dụ như đất rừng
quá xa không thể canh tác được hoặc đất khô
cằn) các hộ rất ít hoặc không diện tích
lúa nước. Các hộ này thu nhập phi nông
nghiệp không nhiều, đây không phải là nguồn
thu nhập chính; họ phụ thuộc nhiều vào thu hái
lâm sản ngoài gỗ như măng, nứa, mật ong rừng
hoặc trợ cấp từ Chính phủ.
- Nhóm B: Nm hộ đa dạng về sinh kế
hơn so với nhóm A. Tại bản Diềm, các hộ diện
tích nhỏ lúa nước diện tích rừng sản xuất cũng
như một số hoạt động phi nông nghiệp. Tuy
nhiên, tại bản Mọi, người dân chia loại hộ B với
điều kiện tương tự như nhóm hộ A về điều kiện
sản xuất, nhưng nhóm hộ này lại nhiều hoạt
động phi nông nghiệp như làm thuê hơn so với
nhóm hộ A.
- Nhóm C: Tại bản Diềm, các hộ gia đình
nguồn thu chủ yếu từ canh tác lúa nước, ngoài ra
trồng keo, nứa tham gia các hoạt động phi
nông nghiệp. Tuy nhiên, tại bản Mọi, nhóm hộ
này được phân loại giống như bản Diềm về điều
kiện đất canh tác nhưng lại hoạt động chăn
nuôi trâu, . H không tham gia vào c hot
động phi nông nghiệp như nhóm hộ tại bản Diềm.
- Nhóm D: Nhóm hộ diện tích về đất lúa
ruộng đất rừng lớn, phụ thuộc nhiều vào các
hoạt động nông nghiệp. Họ đủ lương thực từ
sản xuất lúa nước, chăn nuôi trâu ; diện tích
rừng trồng keo và tre nứa lớn.
Bảng 1 cho thấy c nhóm hộ tại bản Diềm không
sự khác nhau ý nghĩa thống về tuổi của chủ
hộ, trình độ học vấn, nhân khẩu diện tích trồng ngô.
Trong khi đó, lực lượng lao động, diện tích trồng keo,
tre nứa, sắn, lúa nước và diện tích rừng sản xuất có sự
khác nhau giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ 4 (D) thường
diện tích lớn hơn so với 3 nhóm hộ còn lại, trung
bình mỗi hộ khoảng 0,16 ha lúa nước. Thực tế tại
bản Diềm, trong vài năm gần đây nhiều hộ được sự
hỗ trợ của Nnước về việc tăng cường khai hoang
diện tích lúa ruộng canh tác nhằm giảm áp lực canh
tác lúa nương, thế hđã khai hoang lúa nước để
sản xuất. Ngoài ra, lúa nước là phần dự trữ lương thực
quan trọng tại các hộ do phần diện tích lúa nương bị
hạn chế.
Bảng 1: Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra tại bản Diềm
Bản Diềm
Loại hộ
ANOVA
A
B
C
D
F-value
Tuổi chủ hộ (năm)
30,57
42,54
38,69
42,77
0,04
ns
Trình độ học vấn (năm đi học)
5,86
6,21
5,46
6,33
1,09
ns
Nhân khẩu (người)
4,00
4,86
5,15
5,46
0,37
ns
Lao động (người)
2,43
3,50
3,54
4,08
5,04**
Diện tích trồng keo (ha)
0,03
0,36
0,14
1,33
18,07***
Diện tích trồng tre nứa (ha)
0,02
0,56
0,08
2,92
56,74***
Diện tích trồng sắn (ha)
0,01
0,08
0,12
0,17
5,36**
Diện tích rừng sản xuất (ha)
0,10
6,34
5,95
4,51
7,49***
Diện tích lúa nước (ha)
0,07
0,05
0,13
0,16
7,02***
Diện tích trồng ngô (ha)
0,01
0,04
0,07
0,22
0,83
ns
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Tình hình bản của nhóm hộ tại bản Mọi
được thể hiện Bảng 2. Nhóm hộ D là những hộ
có nhiều diện tích rừng trồng keo và tre nứa nhất
so với các nhóm hộ còn lại, với mức ý nghĩa
thống kê 1%. Đặc biệt, nhóm hộ này có trình độ
học vấn cao nhất so với nhóm hộ khác (7 năm),
trong khi đó nhóm hộ B trình độ học vấn thấp
nhất (3 năm), tuy nhiên sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm hộ. Diện tích
trồng keo và tre nứa của các nhóm hộ sự khác
nhau rệt mức ý nghĩa thống kê 1%. Nhóm
hộ D diện tích trồng keo và tre nứa nhiều nhất
(tương ứng với 1,52 ha và 1,67 ha).
Như vậy, nguồn lực đầu vào khác nhau giữa
các nhóm hộ điều tra cho thấy hộ dân có đa dạng
nguồn sinh kế, tuy nhiên nguồn thu nhập chính
vẫn từ sản xuất nông nghiệp, trong đó bao gồm
cả rừng sản xuất như keo, tre nứa.
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
101
Bảng 2: Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra tại bản Mọi
Bản Mọi
Loại hộ
ANOVA
A
B
C
D
F-value
Tuổi chủ hộ (năm)
37,50
37,23
38,20
36,00
2,52*
Trình độ học vấn (năm đi học)
4,58
3,00
5,20
7,00
0,37
ns
Nhân khẩu (người)
4,83
4,69
5,20
5,33
2,53*
Lao động (người)
2,33
2,54
3,50
2,00
2,49*
Diện tích trồng keo (ha)
0,06
0,02
0,01
1,52
10,88***
Diện tích trồng tre nứa (ha)
0,02
0,01
0,20
1,67
7,68***
Diện tích trồng sắn (ha)
0,01
0,04
0,06
0,03
0,53
ns
Diện tích rừng sản xuất (ha)
2,15
1,47
6,77
6,67
14,16***
Diện tích lúa nước (ha)
0,10
0,14
0,23
0,10
0,7
ns
Diện tích trồng ngô (ha)
0,01
0,01
0,02
0,03
1,73
ns
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Hình 1 2 cho thấy tlệ thu nhập của các
nhóm hộ điều tra tại bản Diềm và bản Mọi. Sinh
kế của hộ dân chủ yếu tập trung vào 4 nguồn
chính gồm: thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như
trồng lúa, ngô, sắn; thu nhập từ các hoạt động phi
nông nghiệp như làm thuê, trợ cấp, lương hưu;
thu nhập từ chăn nuôi gia súc như trâu bò, lợn;
thu nhập từ rừng, bao gồm từ lâm sản ngoài gỗ
như măng, cây thuốc, củi. Cụ thể, thu nhập từ
nông nghiệp chiếm 53% tổng thu nhập của nhóm
hộ D, trong khi nhóm hộ C lại thu nhập từ hoạt
động phi nông nghiệp cao nhất (chiếm 43%).
Nhóm hộ B đa dạng nguồn thu nhập các
nguồn thu nhập có tỷ lệ tương đương nhau. Đây
thể nhóm hộ đa dạng trong sản xuất, hoạt
động sản xuất bền vững và hạn chế rủi ro. Nhóm
hộ A thu nhập từ nông nghiệp thấp nhất
(5,9%), trong khi thu nhập chủ yếu dựa vào rừng,
các lâm sản ngoài gỗ. Đây nhóm hộ nghèo của
địa bàn nghiên cứu, rất nhạy cảm ảnh
hưởng mạnh đến bảo vệ và phát triển rừng.
Hình 1: Tỷ lệ thu nhập và nguồn thu nhập giữa các nhóm hộ tại bản Diềm
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Đa dạng sinh kế sẽ giúp các hộ gia đình giảm
thiểu rủi ro, mặt khác đây thước đo để đánh
giá mức độ bền vững trong phát triển kinh tế -
hội. Nhóm hộ tại bản Mọi cũng tập trung chủ yếu
vào 4 nguồn thu nhập chính. Trong đó, nhóm hộ
D tập trung vào sản xuất nông nghiệp như canh
tác lúa nước, trồng keo, tre nứa; nhóm hộ C lại
tập trung vào chăn nuôi gia súc (thu nhập từ chăn
nuôi gia súc chiếm 40% tổng thu nhập của nhóm
hộ). Nhóm hộ B tập trung vào các hoạt động phi
nông nghiệp như làm thuê. Nhóm hộ A thu
nhập từ rừng lớn, chiếm 46% tổng thu nhập của
hộ. Cũng giống như nhóm hộ A của bản Diềm,
đây là nhóm hộ cần phải tập trung phát triển kinh
tế, tạo nguồn thu nhập khác để họ giảm phụ
thuộc vào rừng.
0
20
40
60
80
100
120
A B C D
Thu nhập từ rừng
Thu nhập từ chăn nuôi
Thu nhập từ phi nông
nghiệp
Thu nhập từ nông
nghiệp
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
102
Hình 2: Tỷ lệ thu nhập và nguồn thu nhập giữa các nhóm hộ tại bản Mọi
Nguồn: Số liệu khảo sát.
3.2. Thực trạng an toàn lương thực tại các
nhóm hộ gia đình
Các nhóm hộ điều tra ở cả hai bản đều trong
tình trạng thiếu an toàn lương thực. Trên 50% hộ
gia đình thiếu lương thực từ 1-3 tháng, đặc biệt
ở bản Mọi, 92/105 hộ thuộc diện nghèo và thiếu
lương thực. Hàng năm Chính phủ vẫn phải trợ
cấp 2 lần cho các hộ gia đình tại bản Mọi. Hầu
hết những trường hợp này rơi vào các hộ
chữ/học vấn thấp, thiếu lao động.
Mặc diện tích trồng trọt bản Diềm
bản Mọi đều rất lớn, song do thiếu kinh nghiệm
canh tác nông nghiệp cũng như tập quán chăn thả
trâu bò tự do nên 80% hộ thường gặp rủi ro mất
mùa bởi bệnh dịch hay trâu bò phá. Một số hộ
người đi làm thuê trong thôn hoặc ngoài thôn với
tiền công từ 80.000-100.000đ/ngày. Tuy nhiên,
thu nhập từ hoạt động này không ổn định. Do
người dân thiếu thông tin cũng như trình đnhận
thực kém nên thu nhập từ hoạt động này thấp.
Khi an toàn lương thực không đảm bảo,
người dân phải khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên trừng sông suối. Khảo sát cho
thấy, người dân vẫn săn bắt cá, tôm, nhái, chuột
rừng và thu hái măng, mộc nhĩ… từ rừng để góp
phần cải thiện dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày. Tuy
nhiên, nguồn cá tại suối không dồi dào, số lượng
ngày càng giảm, đặc biệt bản Diềm, vậy
nguồn thu này không đảm bảo cho các hộ về an
toàn lương thực. Lâm sản ngoài gỗ như măng
cũng nguồn thu cho các hộ, tuy nhiên mùa
măng chỉ kéo dài khoảng 3 tháng số lượng
măng giảm nhiều so với các năm trước do bị cấm
khai thác măng diện tích rừng phòng hộ. Thu
nhập bình quân mỗi hộ từ hái măng khoản 3-5
triệu đồng/năm.
3.3. Ảnh hưởng từ thay đổi sử dụng đất đến
sinh kế của các hộ gia đình
Chính sách giao đất giao rừng được thực hiện
tại bản Diềm bản Mọi từ năm 1998, sau khi
Nhà nước ban hành quy định về cấm canh tác
nương rẫy tại bản. Mặc vậy, đến năm 2003
chính sách này mới hiệu lực và được thực thi,
đất được giao khoán đến từng hgia đình. Tuy
nhiên, sau chính sách giao đất giao rừng, đặc biệt
hộ dân bị cấm canh tác nương rẫy đã dẫn đến tình
trạng thiếu lương thực (Nguyen cộng sự
2011). Tại bản Mọi, tình trạng thiếu lương thực
khá nghiêm trọng. Hàng năm người dân vẫn phải
nhận hỗ trợ từ các chương trình cứu đói của
Chính phủ, mỗi năm khoảng 2 lần vào dịp Tết
dịp giáp hạt, người dân được nhận từ 10-13kg
gạo một khẩu.
Do hạn chế canh tác nương rẫy, hình
trồng keo tre nứa được phát triển tại c hộ
gia đình có diện tích rừng lớn (ví dụ như tại bản
Diềm). Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình thiếu lao
động hoặc diện tích đất rừng được giao nằm xa,
khó tiếp cận nên việc phát triển cây keo không
mở rộng được tại các thôn bản.
Về vai trò của từng loại đất canh tác đến đời
sống sinh kế hộ gia đình môi trường, Hình 3
cho thấy tất cả các loại hình đất canh tác đều
đóng góp đến vấn đề an toàn lương thực của các
hộ, đặc biệt là lúa nươc, lúa nương và sắn chiếm
tỷ lệ cao nhất. Đây những cây trồng đáp ứng
nhu cầu lương thực cho các hộ, ngoài ra chúng
còn mang giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.
0
20
40
60
80
100
120
A B C D
Thu nhập từ rừng
Thu nhập từ chăn
nuôi
Thu nhập từ phi nông
nghiệp
Thu nhập từ nông
nghiệp
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
103
Ngược lại, keo và tre nứa là hai cây trồng mang
lại thu nhập tiền mặt cho các hộ. Ngoài ra, thu
nhập tiền mặt từ rừng phòng hộ, rừng tái sinh và
thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ cũng đóng góp một
phần trong sinh kế hộ gia đình.
Hình 3: Tác động của các loại hình canh tác đến sinh kế hộ gia đình
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Đa số hộ dân cho rằng các loại cây trồng trên
loại hình đất đang sử dụng tại địa phương đều tạo
môi trường trong lành, góp phần chống biến đổi
khí hậu. Ngoài ra, người dân cho rằng các loại
đất rừng như rừng phòng hộ, rừng tái sinh
rừng keo có khả năng giữ nước, đặc biệt là nước
ngầm. Hiện tại nhiều bản bị mất rừng nên bị
thiếu nước nguồn sinh hoạt vào mùa đông.
Người dân đã nhận thức được vai trò của rừng
đối với mạch nước ngầm chống bão lũ. Người
dân cho rằng canh tác lúa nương đem lại sự đa
dạng sinh học nhiều hơn so với các loại hình
canh tác khác, lý do chính người dân thường
canh tác lúa nương xen kẽ với một số cây trồng
khác như ngô, khoai sọ (Hình 4).
Hình 4: Tác động của các loại hình canh tác đến môi trường và đa dạng sinh học
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Phân tích chi phí cơ hội của các loại hình sử
dụng đất tiền để để đánh giá liệu các hộ gia
đình sẵn sàng đánh đổi chi phí cơ hội này để
chuyển sang một hoạt động khác hay không.
giúp đưa ra sự đánh giá thấu đáo hơn về hội
tham gia thực hiện chương trình REDD+ tại
huyện Con Cuông. Bảng 3 cho thấy các loại đất
sử dụng đều giá trị hiện tại ròng dương
có thu nhập trên công lao động cao. Giá trị hiện
tại ròng được tính cho các cây trồng trong vòng
30 năm. Kết quả cho thấy, trồng tre nứa đem lại
lợi nhuận rất cao tính trên ngày công lao động
(300.000đ/ngày công). do chính trồng tre
có chi phí ban đầu thấp, giống tre được nhà máy
0
20
40
60
80
100
120
Lúa
nước
Lúa
nương
Sắn Tre
nứa
Keo
Rừng
tái
sinh
Rừng
phòng
hộ
Cảnh quan
Truyền thống văn hóa
Thuốc chữa bệnh
Thu nhập tiền mặt
An toàn lương thực
0
20
40
60
80
100
120
Lúa
nước
Lúa
nương
Sắn Tre
nứa
Keo
Rừng
tái sinh
Rừng
phòng
hộ
Môi trường trong sạch
Đa dạng sinh học
Cải tạo đất
Dự trữ nước
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
hỗ trợ, cây tre lại tự sản sinh qua các năm nên
người dân thường trồng tre nứa trên các diện tích
đất rừng tái sinh. Ngược lại, keo cần phải chăm
sóc đầu về phân bón, cây giống. Keo
thường được thu hoạch sau 7-8 năm nên lợi
nhuận trồng keo không cao, ước tính 11 triệu
đồng/ha. Hơn nữa, keo chủ yếu được trồng
những diện tích đất rừng thể thuận tiện thu
hoạch, thế nhiều hộ gia đình tại bản Mọi
không thể trồng keo do khó khăn trong thu
hoạch. Thu nhập tính trên ha keo của người dân
bản Mọi thấp hơn so với bản Diềm.
Sắn là loại cây dễ trồng, thường được người
dân trồng tại những nơi đất kém màu mỡ. Do
không phải đầu tư phân bón cũng như cây giống
nên sắn thu nhập khoảng 11,6 triệu đồng/ha
tại bản Diềm 16,5 triệu đồng/ha tại bản Mọi.
Lúa nước ngô hai cây trồng truyền thống
của các hộ nhưng thu nhập tính theo ngày công
lao động không cao do phải đầu nhiều công
vào việc khai hoang đất, chăm sóc và thu hoạch.
Như vậy, giá trị hiện tại ròng của từng loại
đất canh tác tại hai bản giá trị cao, điều đó
cũng nghĩa để người dân tbỏ hoạt động
canh tác hiện tại chuyển sang tập trung tham gia
vào chương trình REDD+ điều khó khả thi, trừ
khi gtrị carbon từ chương trình REDD+ có thể
đắp được chi phí hội cho các cây trồng hiện
tại. Tuy nhiên, xét về phương diện môi trường,
người dân thể chấp nhận từ bỏ hoạt động
NPV cao để bảo vệ phát triển rừng nhằm mục
đích bảo vệ môi trường chống biến đổi khí
hậu. Phân tích sự đánh đổi (trade-off) giữa việc
phát triển kinh tế từ hoạt động sản xuất hiện tại
của người dân với hoạt động nhằm tăng lượng
hấp thụ carbon của cây trồng khi tham gia vào
REDD+ cho thấy hầu hết các hoạt động sản xuất
trên các loại hình sử dụng đất tại bản Diềm
bản Mọi đều thuộc nhóm hàm lượng hấp thụ
carbon thấp nhưng mang lại lợi nhuận kinh tế cao
như lúa, ngô, tre nứa. Nhóm cây trồng như keo,
sắn, lúa nương và rừng sản suất, rừng cộng đồng
lượng carbon thấp lợi nhuận kinh tế thấp
so với các cây trồng khác như lúa nước, ngô.
Rừng phòng hộ hiện tại đem lại lượng hấp thụ
carbon cao, trong khi lại lợi nhuận kinh tế
thấp. Vì vậy, nếu dự án REDD+ được thực hiện,
cần chú ý đến việc thể chuyển đổi đất đang
canh tác sắn keo sang hoạt động REDD+.
Bảng 3: Thu nhập ngày công trên từng loại hình canh tác tại các hộ điều tra
bản Diềm và bản Mọi
Loại hình sử dụng đất
Thu nhập
(triệu đồng/ha)
Thu nhập/ngày công
(1.000đ/ngày công)
Bản Diềm
Bản Mọi
Bản Diềm
Bản Mọi
Lúa nước
79
47
90
73
Ngô (3 năm canh tác - 2 năm bỏ hóa)
42
-
91
-
Ngô (2 năm canh tác - 1 năm bỏ hóa)
-
32,5
-
86
Sắn
11,7
16,5
71
70
Tre nứa
57,8
56,3
303
306
Keo
11,6
10,6
170
165
Rừng thứ sinh
12,6
11,2
85
87
Rừng phòng hộ
6,14
100
Nguồn: Số liệu khảo sát.
4. Kết luận
Nguồn thu nhập chính của người dân địa
phương tại bản Mọi và bản Diềm chủ yếu từ sản
xuất nông nghiệp, trong đó thu nhập từ rừng (tre
nứa lâm sản ngoài gỗ) chiếm 60% tổng thu
nhập của các hộ. Mặc dù vậy, hầu hết các hộ tại
hai bản đều bị thiếu lương thực từ 3-8 tháng. Phát
triển tre nứa đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn so
với trồng keo, tuy nhiên nhiều hộ tham gia trồng
keo do được nhà máy hỗ trợ cây giống phân
bón. Phân tích dựa trên sự đánh đổi giữa sản xuất
các loại cây trồng trên từng loại đất canh tác cho
thấy thể khuyến khích người dân chuyển đổi
diện tích trồng keo, sắn canh tác lúa nương
sang hoạt động REDD+ nhằm bảo vệ phát
triển rừng trong tương lai. Tuy nhiên, chính
quyền địa phương cần phải hỗ trợ người dân
trong phát triển sinh kế, cải thiện thu nhập từ các
hoạt động nông nghiệp phi nông nghiệp.
Nhóm hộ A cần được quan tâm tập trung phát
triển kinh tế hơn so với các nhóm hộ khác, bởi
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
105
đó những hộ nghèo dễ bị tổn thương
nguồn sinh kế chủ yếu dựa vào rừng, đa phần là
nhóm hộ trẻ mới tách hộ hoặc thiếu lao động,
thiếu đất để sản xuất. Các nghiên cứu tiếp theo
cần xem xét sâu rộng hơn nữa về lợi ích của
chương trình REDD+, tính khả thi của chương
trình cũng như tính sẵn sàng tham gia chương
trình REDD+ của người dân tại địa phương.
Tài liệu tham khảo
Aju, P. C. (2014). The role of forestry in agriculture and
food security. American Journal of Research
Communication, 2(6), 109-121.
Caspersen, L., Gombert, A. J., Hommels, M. & Deller,
M. (2018). Utilizing the nutritional potential and
secondary plant compounds of neglected fruit trees
and other plant species of the walnut-fruit forests in
Kyrgyzstan. World Agroforestry - Research Data
Repository. https://agris.fao.org/agris-
search/search.do?recordID=QN201900 1259407.
Chamberlain, J. L., Darr, D. & Meinhold, K. (2020).
Rediscovering the contributions of forests and trees
to transition global food systems. Forests,
11(10), 1098.
Chau Khe People Committee (2023). The annual social
economic report in 2023.
Chazdon, R. L., Harvey, C. A., Komar, O., Griffith, D.
M., Ferguson, B. G., & Mart, M. (2009). Beyond
reserves: A research agenda for conserving
biodiversity in human-modified tropical landscapes.
Biotropica 41, 142153. Doi??
Guerrero, M. C., Razal, R. A., & Ramnath, M. (2015).
Non-timber forest products for food security, income
generation and conservation in Asia. South Africa:
XIV World Forestry Congress.
https://www.researchgate.net/publication/281776274_
Non-Timber_Forest_Products_for_Food_ Security
Income_Generation_and_Conservation_in_Asia
Ha, T. T. T. (2015). Challenges in implementing
REDD+ and recommendation to forest policies in
Vietam. Journal of Forest Sicene and Technologi,
1-2015. Doi?
Härkönen, M., & Vainio-Mattila, K. (1998). Some
examples of natural products in the Eastern Arc
Mountains. Journal of East African Natural History,
87, 265-278.
Kajembe, G. C., Mwenduwa, M. I., Mgoo, J. S., &
Ramadhani, H. (2000). Potentials of non wood forest
products in household food security in Tanzania:
The role of gender based local knowledge. Gender,
Biodiversity and Local Knowledge System.
http://41.73.194.142/handle/12345 6789/1250
Lalaina, C. R., Kazuhiro, H., & Mitsuru, Y. (2011).
Forest conservation and livelihood conflict in
REDD: A case study from the corridor Ankeniheny
Zahamena REDD project, Madagascar.
International Journal of Biodiversity and
Conservation, 3(12), 618-630. Doi?
Luc Da People Committee (2023). The annual social
economic report in 2023.
Miller, D. C., Munoz-Mora, J. C., Rasmussen, L. V., &
Zezza, A. (2020). Do trees on farms improve
household well-being? Evidence from national panel
data in Uganda. Frontiers in Forests and Global
Change. https://doi.org/ 10.3389/ffgc.2020.00101.
Montreal & Eschborn. (2011). Biodiversity and
Livelihoods-REDD-plus Benefits. Secretariat for the
Convention on Biological Diversity and Deutsche
Gesellschaft für International Zusammenarbeit
(GIZ) GmbH.
Nguyen, D. T, Tran, D. V., & Nguyen, T. L. (2011). Too
much focus on forest conservation, too little on food.
Policy Brief, RECOFTC .
http://forestindustries.eu/sites/default/files/userfiles/
1file/RECOFTC_21July10_B2_web.pdf
Nyambo, A., Nyomora, A., Ruffo, C. K. & Tengnas, B.
(2005). Fruits and nuts: Species with potential for
Tanzania. Nairobi: Regional Land Management
Unit, World Agroforestry Centre-Eastern and
Central Africa Regional Programme.
Raj, A., Jhariya, M. K., Khan, N., (2022). The
importance of forest for soil, food, and climate
security in Asia. In: Öztürk, M., Khan, S.M., Altay,
V., Efe, R., Egamberdieva, D., Khassanov, F.O.
(Eds), Biodiversity, Conservation and Sustainability
in Asia. Springe.
Ruffo, C. K., Birnie, A., & Tengnäs, B. (2002). Edible
wild plants of Tanzania. Regional land management
unit (RELMA). Nairobi, Kenya: Swedish International
Development Cooperation Agency (Sida).
Temu, R. P. C., & Msanga, H. P. (1994). Available
information and research priorities for indigenous
fruit trees in Tanzania. In Proceedings of the
regional conference on the indigenous fruit trees of
the Miombo ecozone of Southern Africa (pp. 106-
111) Mangochi, Malawi: ICRAF.

Preview text:

VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
VNU Journal of Economics and Business
Journal homepage: https://jebvn.ueb.edu.vn Original Article
Forest land use contribution to livelihoods and
food security of Nghe An’s ethnic people:
Lessons learned for the REDD+ program Nguyen Dinh Tien*
VNU University of Economics and Business
No. 144 Xuan Thuy Road, Cau Giay District, Hanoi, Vietnam Received: September 27, 2023
Revised: February 20, 2024; Accepted: February 25, 2024
Abstract: Shifting cultivation activities were banned in the upland area of Nghe An Province to
reduce deforestation and forest fires which were greatly affecting the livelihoods of ethnic people.
This study evaluates the current land use and local people's awareness of the role of different land
use types in their livelihoods when implementing the REDD+ program in Nghe An. The results
show that the livelihoods of local people in Moi villages (Luc Da commune) and Diem villages
(Chau Khe) mainly come from agricultural production. Income from forestry (acacia, bamboo, and
non-timber forest products) accounts for 60% of total household income. Most households in the
two villages suffer from food shortages for 3 to 8 months a year. The net profits from different types
of land use show that bamboo brings high economic profits. Local people are not willing to convert
crops to the REDD+ mechanism. Therefore, local authorities need to support people in improving
their livelihoods and income from agricultural and non-agricultural activities.
Keywords: Livelihoods, Nghe An, REDD+, shifting cultivation. * ________ * Corresponding author
E-mail address: nguyendinhtien@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.57110/jebvn.v4i1.261
Copyright © 2024 The author(s)
Licensing: This article is published under a CC BY-NC 4.0 license. 96
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 97
Sử dụng đất lâm nghiệp gắn liền với sinh kế và
an toàn lương thực của người dân vùng cao Nghệ An:
Bài học cho chương trình REDD+ tại địa phương Nguyễn Đình Tiến*
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 23 tháng 11 năm 2023
Chỉnh sửa ngày 6 tháng 2 năm 2024; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 2 năm 2024
Tóm tắt: Các hoạt động canh tác nương rẫy bị cấm ở vùng cao nhằm giảm phá rừng và cháy rừng
đã ảnh hưởng nhiều đến sinh kế của người dân địa phương. Nghiên cứu này đánh giá thực trạng sử
dụng đất lâm nghiệp và nhận thức của người dân địa phương về vai trò của các loại hình sử dụng
đất với sinh kế khi thực hiện chương trình REDD+ tại tỉnh Nghệ An. Kết quả cho thấy, sinh kế của
người dân địa phương tại hai bản Mọi (xã Lục Dạ) và bản Diềm (Châu Khê) chủ yếu đến từ sản xuất
nông nghiệp, trong đó thu nhập từ rừng chiếm đa số. Thu nhập từ trồng rừng (keo, tre và lâm sản
ngoài gỗ) chiếm 60% tổng thu nhập của hộ gia đình. Hầu hết hộ gia đình tại hai bản đều bị thiếu
lương thực từ 3 đến 8 tháng. Phân tích kết quả tính toán lợi nhuận ròng từ các loại hình sử dụng đất
cho thấy, tre nứa đem lại lợi nhuận kinh tế cao. Do đó, người dân không sẵn sàng chuyển đổi cây
trồng sang cơ chế REDD+. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ người dân trong phát triển sinh kế,
cải thiện thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Từ khóa: Sinh kế, Nghệ An, REDD+, canh tác nương rẫy. 1. Giới thiệu *
Các nhà lãnh đạo châu Á cũng đã thừa nhận sự
cần thiết của rừng đối với an ninh lương thực,
Sự đóng góp lớn nhất của ngành lâm nghiệp
phát triển kinh tế và hỗ trợ cộng đồng địa phương
là thông qua các chức năng bảo vệ môi trường
(Guerrero và cộng sự, 2015).
như duy trì và phục hồi độ phì nhiêu của đất, cải
Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra không
tạo đất, kiểm soát xói mòn và duy trì đa dạng sinh
chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh kế hộ gia đình
học (Aju, 2014). Ngoài ra, lâm nghiệp còn đóng
mà còn ảnh hưởng đến các loài và hệ sinh thái.
vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương
Sự phục hồi rừng là một cách hiệu quả nhất để
thực, đảm bảo dinh dưỡng/duy trì đất đai, an ninh
giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
môi trường thông qua quá trình cô lập carbon
REDD+ (Reducing Emission from Deforestation
giúp đảm bảo an ninh khí hậu và mang lại những
and Forest Degradation) là chương trình có thể
giá trị bảo tồn văn hóa tín ngưỡng cộng đồng, thu
đem lại sự đa dạng sinh học và phục hồi những
nhập cho người dân trên toàn thế giới (Temu &
cánh rừng đã biến mất (Montreal & Eschborn,
Msanga, 1994; Härkönen & Vainio-Mattila,
2011). Ngoài ra, cơ chế REDD+ nhằm bù đắp về
1998; Kajembe và cộng sự, 2000; Ruffo và cộng
tài chính để tránh mất rừng và suy thoái rừng
sự, 2002; Nyambo và cộng sự, 2005; Caspersen
thông qua khuyến khích quản lý rừng bền vững,
và cộng sự, 2018, Miller và cộng sự, 2020;
cải thiện sinh kế cho người dân và cộng đồng
Chamberlain, 2020; Jhariya và cộng sự, 2022).
người dân địa phương sống phụ thuộc vào rừng ________ * Tác giả liên hệ
Địa chỉ email: nguyendinhtien@vnu.edu.vn
https://doi.org/10.57110/jebvn.v4i1.261
Bản quyền @ 2024 (Các) tác giả
Bài báo này được xuất bản theo CC BY-NC 4.0 license. 98
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
(Ha, 2015). Khi đa dạng sinh học bị giảm sút, các
nương rẫy, trồng rừng và chăn nuôi gia súc là
loài động vật hoặc sản phẩm từ rừng bị cạn kiệt,
nguồn thu nhập chính của người dân địa phương.
đời sống của người dân sẽ gặp nhiều khó khăn
(Vinceti, 2008; Ruffo và cộng sự, 2002). Nghiên
cứu tại Madagascar - một quốc gia ở Đông Phi,
Lalaina và cộng sự (2011) đã chỉ ra các đặc điểm
kinh tế - xã hội của nhóm hộ trong cộng đồng bị
ảnh hưởng hoặc bị tác động bởi dự án REDD+.
Đặc biệt, nhóm hộ dễ tổn thương như hộ nghèo
dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng mạnh nhất vì sinh
kế của họ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng.
Vì vậy, phát triển dự án REDD+ không chỉ duy
trì bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường mà cần phải
xem xét vấn đề sinh kế và lương thực cho người
dân hoặc cộng đồng sống dựa vào rừng. Chazdon
và cộng sự (2009) cho rằng hành lang pháp lý,
thể chế tại các nước đang phát triển thường
không đầy đủ, thu nhập và khả năng tiếp cận
nguồn tài nguyên như đất đai và các tài nguyên
sinh thái của các hộ cũng không ổn định. Điều
Hình 1: Bản đồ địa bàn nghiên cứu
này thường buộc người nghèo ở nông thôn phải
Nguồn: Tổng hợp của tác giả.
ưu tiên các nhu cầu ngắn hạn hơn là tính bền vững lâu dài.
Xã Lục Dạ có diện tích tự nhiên 12.272 ha,
Trong những năm gần đây, thực trạng về
trong đó đất lâm nghiệp là 10.983 ha (chiếm
an ninh lương thực tại các tỉnh vùng cao, đặc
89,5%) diện tích đất tự nhiên của xã. Đất rừng
biệt là vùng cao của tỉnh Nghệ An đang đứng
sản xuất là 4.958 ha bao gồm các loại cây keo lai,
trước những khó khăn do tác động của biến đổi
xoan và tre nứa. Rừng phòng hộ chiếm 2.693 ha
khí hậu, năng suất lúa nương và các cây trồng
và rừng đặc dụng khoảng 3.330,8 ha. Giai đoạn
khác bị giảm sút. Ngoài ra, do tác động của
trước khi bị cấm canh tác nương rẫy (1995), diện
chính sách giao đất giao rừng, quy hoạch canh
tích rừng của xã bị tàn phá mạnh nhất. Trong thời
tác nương rẫy tập trung, người dân phải canh
kỳ canh tác nương rẫy, thời gian bỏ hóa đất
tác thường xuyên trên một diện tích cố định
khoảng 7-8 năm. Tuy nhiên, sau khi giao đất giao
nên độ phì của đất giảm, dẫn đến năng suất cây
rừng và cấm canh tác nương rẫy, diện tích canh
trồng giảm. Tình trạng thiếu lương thực tại các
tác bị nhỏ hẹp, các hộ phải canh tác trên diện tích
hộ gia đình diễn ra phổ biến hơn so với trước
giao khoán hàng năm dẫn đến giảm độ phì của
khi giao đất giao rừng. Số lượng hộ gia đình
đất, năng suất cây trồng giảm rõ rệt. Do đó,
thiếu lương thực tăng lên so với trước năm
những năm gần đây, người dân tham gia nhiều
1998 (Nguyen và cộng sự 2011). Việc đánh giá
vào trồng rừng, đặc biệt là trồng tre và keo. Lục
nguồn sinh kế và chiến lược sử dụng đất của
Dạ là xã nghèo nên một số chương trình như 134,
cộng đồng tại địa phương có ý nghĩa quan
135 đã hỗ trợ gạo, phân bón và con giống cho
trọng trong việc triển khai thực hiện dự án
REDD+ trên địa bàn tỉnh, là bài học cho quá
các hộ gia đình để phát triển kinh tế hộ (Ủy ban
trình mở rộng dự án REDD+ trên toàn quốc.
Nhân dân xã Lục Dạ, 2023).
Xã Châu Khê có tổng diện tích tự nhiên là
44.057,66 ha. Diện tích đất rừng của xã giảm
2. Phương pháp nghiên cứu
mạnh giai đoạn 2008-2011 (giảm 36 ha), trong
đó chủ yếu là rừng đặc dụng; tuy nhiên đến giai
2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
đoạn 2021-2022, diện tích rừng trồng tăng lên
khoảng 55 ha. Châu Khê là xã có diện tích đất tự
Lục Dạ và Châu Khê là hai xã thuộc huyện
nhiên rộng nhất huyện Con Cuông nhưng phát
Con Cuông, tỉnh Nghệ An được lựa chọn làm
triển kinh tế kém do phần lớn diện tích của xã giáp
điểm nghiên cứu. Con Cuông là huyện nghèo
với biên giới Việt - Lào, điều kiện giao thông khó
phía Tây của tỉnh Nghệ An. Sản xuất lúa nước,
khăn (Ủy ban Nhân dân xã Châu Khê, 2023).
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 99
2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
kiểm tra mức độ thu thập thông tin khả thi và
kiểm tra tính chính xác của thông tin thu thập.
2.2.1. Thu thập dữ liệu thứ cấp
Các câu hỏi in sẵn tập trung vào việc thu thập các
Dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các tài liệu,
dữ liệu phục vụ nghiên cứu đánh giá tác động của
nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sử
dự án REDD+ đến tình hình sử dụng đất và
dụng hiệu quả đất lâm nghiệp, khung sinh kế bền
nguồn thu nhập của hộ gia đình. Dữ liệu về đánh
vững và an toàn lương thực.
giá lợi nhuận và chi phí (NPV) cho từng loại hình
2.2.2. Thu thập dữ liệu sơ cấp
sử dụng đất dựa theo công thức tính như sau:
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp Π = 𝑝 × 𝑞 − 𝑐
Trong đó: Π = Lợi nhuận (VND/ha); p = Giá
được thu thập thông qua điều tra phỏng vấn hộ
bán (VND/tấn); q = Sản lượng (tấn); c = Tổng
gia đình và họp nhóm. Trong quá trình họp
chi phí (chi phí sản xuất, chi phí lao động, chi phí
nhóm, tác giả đã yêu cầu người dân mô phỏng thuê đất…)
địa hình thôn bản, khoanh vùng khu vực sản
xuất, rừng. Các kịch bản khi có sự tác động của
2.2.3. Phân tích dữ liệu
dự án REDD+ tại địa phương được thảo luận
- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp
trong quá trình xây dựng bản đồ thôn bản. Tại
này được vận dụng để mô tả bức tranh tổng quát
mỗi xã, tác giả tiến hành tổ chức họp nhóm với
về tình hình cơ bản của các địa bàn nghiên cứu,
người dân địa phương, mỗi nhóm gồm 10 người
thực trạng sản xuất nông nghiệp và diện tích đất
dân bao gồm các độ tuổi khác nhau và đảm bảo
rừng, thực trạng các nguồn lực sinh kế cho giảm
cân bằng về giới. Các nội dung thảo luận gồm:
nghèo bền vững tại các địa phương. Thông qua
- Phần 1: Xác định/liệt kê mô hình/loại hình
phương pháp này, nghiên cứu có thể mô tả được
quản lý đất của nhóm hộ; xác định và mô tả chi
các yếu tố tác động đến sinh kế của người dân.
tiết các hoạt động sản xuất cho mỗi loại hình sử
- Phương pháp tính lợi nhuận ròng (NPV):
dụng đất cũng như thời gian quay vòng hoặc bỏ
Đây là một trong những công cụ đánh giá về tài
hóa đất cho khoảng thời gian 30 năm (bắt đầu từ
chính hiệu quả nhất trong ước lượng đầu tư.
khi khai hoang mảnh đất). Công thức tính như sau:
- Phần 2: Đánh giá vai trò của các loại hình t n
sử dụng đất đến sinh kế và môi trường. Khác với NPV  = B − = C t t
nội dung phần 1, trong phần này, người tham gia t t =0 (1 + i )
họp nhóm được chia làm hai nhóm theo giới tính. Trong đó: B
Sinh kế và dịch vụ môi trường của mỗi loại hình
t là lợi nhuận tại thời điểm t; Ct
là chi phí tại thời điểm t; t là thời gian thường
sử dụng đất được thu thập thông qua phương
tính là 1 năm; i là tỷ lệ chiết khấu. NPV được áp pháp cho điểm.
dụng tính cho mỗi loại hình đất canh tác cho từng
+ Đánh giá đóng góp của các loại hình canh
cây trồng tại địa phương. Thông thường, người
tác đối với đời sống của hộ (giá trị của các loại
đầu tư sẽ dựa vào kết quả của NPV để đưa ra
hình canh tác đối với sinh hoạt gia đình, an toàn
quyết định. Trong trường hợp có nhiều giá trị
lương thực, các hoạt động chi tiêu khác như cưới
NPV > 0, nhà đầu tư sẽ chọn loại hình sản xuất xin, ma chay…). có NPV dương lớn nhất.
+ Đánh giá đóng góp cho hệ sinh thái của loại
hình canh tác (giá trị của mỗi loại hình canh tác
khác nhau đối với nguồn nước sinh hoạt, chống
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
xói mòn và bảo tồn đa dạng sinh học).
- Phần 3: Phân tích hoạt động tài chính của
3.1. Đặc điểm phân loại hộ gia đình và nguồn
các loại hình sử dụng đất. Phỏng vấn hộ gia đình sinh kế
được thực hiện tại bản Diềm và bản Mọi dựa trên
tư vấn của cán bộ nông nghiệp xã. Mỗi bản tiến
Kết quả thảo luận nhóm tại hai bản Diềm và
hành phỏng vấn 50 hộ dân theo các tiêu chí phân
Mọi (dựa vào xếp hạng và phân loại) và dữ liệu
từ bảng phỏng vấn dựa trên các hoạt động sản
loại hộ từ họp nhóm. Cán bộ nông nghiệp xã
xuất nông nghiệp, hoạt động phi nông nghiệp và
chọn mẫu ngẫu nhiên từ danh sách hộ tham gia
chăn nuôi gia súc. Mô hình sinh kế và chiến lược
sản xuất nông nghiệp tại xã. Hệ thống câu hỏi
sinh kế xã hội của các hộ được chia làm 4 loại hộ
phỏng vấn được soạn thảo và điều tra thử để (nhóm hộ): 100
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
- Nhóm A: Các hộ gia đình có ít đất canh tác
này được phân loại giống như bản Diềm về điều
hoặc hạn chế về đất canh tác (ví dụ như đất rừng
kiện đất canh tác nhưng lại có hoạt động chăn
quá xa không thể canh tác được hoặc đất khô
nuôi trâu, bò. Họ không tham gia vào các hoạt
cằn) và các hộ có rất ít hoặc không có diện tích
động phi nông nghiệp như nhóm hộ tại bản Diềm.
lúa nước. Các hộ này có thu nhập phi nông
- Nhóm D: Nhóm hộ có diện tích về đất lúa
nghiệp không nhiều, đây không phải là nguồn
ruộng và đất rừng lớn, phụ thuộc nhiều vào các
thu nhập chính; họ phụ thuộc nhiều vào thu hái
hoạt động nông nghiệp. Họ có đủ lương thực từ
lâm sản ngoài gỗ như măng, nứa, mật ong rừng
sản xuất lúa nước, chăn nuôi trâu bò; có diện tích
hoặc trợ cấp từ Chính phủ.
rừng trồng keo và tre nứa lớn.
- Nhóm B: Nhóm hộ có đa dạng về sinh kế
Bảng 1 cho thấy các nhóm hộ tại bản Diềm không
hơn so với nhóm A. Tại bản Diềm, các hộ có diện
có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về tuổi của chủ
tích nhỏ lúa nước và diện tích rừng sản xuất cũng
hộ, trình độ học vấn, nhân khẩu và diện tích trồng ngô.
Trong khi đó, lực lượng lao động, diện tích trồng keo,
như một số hoạt động phi nông nghiệp. Tuy
tre nứa, sắn, lúa nước và diện tích rừng sản xuất có sự
nhiên, tại bản Mọi, người dân chia loại hộ B với
khác nhau giữa các nhóm hộ. Nhóm hộ 4 (D) thường
điều kiện tương tự như nhóm hộ A về điều kiện
có diện tích lớn hơn so với 3 nhóm hộ còn lại, trung
sản xuất, nhưng nhóm hộ này lại có nhiều hoạt
bình mỗi hộ có khoảng 0,16 ha lúa nước. Thực tế tại
động phi nông nghiệp như làm thuê hơn so với
bản Diềm, trong vài năm gần đây nhiều hộ được sự nhóm hộ A.
hỗ trợ của Nhà nước về việc tăng cường khai hoang
- Nhóm C: Tại bản Diềm, các hộ gia đình có
diện tích lúa ruộng canh tác nhằm giảm áp lực canh
nguồn thu chủ yếu từ canh tác lúa nước, ngoài ra
tác lúa nương, vì thế họ đã khai hoang lúa nước để
sản xuất. Ngoài ra, lúa nước là phần dự trữ lương thực
trồng keo, nứa và tham gia các hoạt động phi
quan trọng tại các hộ do phần diện tích lúa nương bị
nông nghiệp. Tuy nhiên, tại bản Mọi, nhóm hộ hạn chế.
Bảng 1: Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra tại bản Diềm Loại hộ ANOVA Bản Diềm A B C D F-value Tuổi chủ hộ (năm) 30,57 42,54 38,69 42,77 0,04ns
Trình độ học vấn (năm đi học) 5,86 6,21 5,46 6,33 1,09ns Nhân khẩu (người) 4,00 4,86 5,15 5,46 0,37ns Lao động (người) 2,43 3,50 3,54 4,08 5,04** Diện tích trồng keo (ha) 0,03 0,36 0,14 1,33 18,07***
Diện tích trồng tre nứa (ha) 0,02 0,56 0,08 2,92 56,74***
Diện tích trồng sắn (ha) 0,01 0,08 0,12 0,17 5,36**
Diện tích rừng sản xuất (ha) 0,10 6,34 5,95 4,51 7,49***
Diện tích lúa nước (ha) 0,07 0,05 0,13 0,16 7,02***
Diện tích trồng ngô (ha) 0,01 0,04 0,07 0,22 0,83ns
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Tình hình cơ bản của nhóm hộ tại bản Mọi
trồng keo và tre nứa của các nhóm hộ có sự khác
được thể hiện ở Bảng 2. Nhóm hộ D là những hộ
nhau rõ rệt ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Nhóm
có nhiều diện tích rừng trồng keo và tre nứa nhất
hộ D có diện tích trồng keo và tre nứa nhiều nhất
so với các nhóm hộ còn lại, với mức ý nghĩa
(tương ứng với 1,52 ha và 1,67 ha).
thống kê 1%. Đặc biệt, nhóm hộ này có trình độ
Như vậy, nguồn lực đầu vào khác nhau giữa
học vấn cao nhất so với nhóm hộ khác (7 năm),
các nhóm hộ điều tra cho thấy hộ dân có đa dạng
trong khi đó nhóm hộ B có trình độ học vấn thấp
nguồn sinh kế, tuy nhiên nguồn thu nhập chính
nhất (3 năm), tuy nhiên sự khác biệt này không
vẫn là từ sản xuất nông nghiệp, trong đó bao gồm
có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm hộ. Diện tích
cả rừng sản xuất như keo, tre nứa.
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 101
Bảng 2: Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra tại bản Mọi Loại hộ ANOVA Bản Mọi A B C D F-value Tuổi chủ hộ (năm) 37,50 37,23 38,20 36,00 2,52*
Trình độ học vấn (năm đi học) 4,58 3,00 5,20 7,00 0,37ns Nhân khẩu (người) 4,83 4,69 5,20 5,33 2,53* Lao động (người) 2,33 2,54 3,50 2,00 2,49* Diện tích trồng keo (ha) 0,06 0,02 0,01 1,52 10,88***
Diện tích trồng tre nứa (ha) 0,02 0,01 0,20 1,67 7,68***
Diện tích trồng sắn (ha) 0,01 0,04 0,06 0,03 0,53ns
Diện tích rừng sản xuất (ha) 2,15 1,47 6,77 6,67 14,16***
Diện tích lúa nước (ha) 0,10 0,14 0,23 0,10 0,7ns
Diện tích trồng ngô (ha) 0,01 0,01 0,02 0,03 1,73ns
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Hình 1 và 2 cho thấy tỷ lệ thu nhập của các
động phi nông nghiệp cao nhất (chiếm 43%).
nhóm hộ điều tra tại bản Diềm và bản Mọi. Sinh
Nhóm hộ B có đa dạng nguồn thu nhập và các
kế của hộ dân chủ yếu tập trung vào 4 nguồn
nguồn thu nhập có tỷ lệ tương đương nhau. Đây
chính gồm: thu nhập từ sản xuất nông nghiệp như
có thể là nhóm hộ đa dạng trong sản xuất, hoạt
trồng lúa, ngô, sắn; thu nhập từ các hoạt động phi
động sản xuất bền vững và hạn chế rủi ro. Nhóm
nông nghiệp như làm thuê, trợ cấp, lương hưu;
hộ A có thu nhập từ nông nghiệp thấp nhất
thu nhập từ chăn nuôi gia súc như trâu bò, lợn;
(5,9%), trong khi thu nhập chủ yếu dựa vào rừng,
thu nhập từ rừng, bao gồm từ lâm sản ngoài gỗ
các lâm sản ngoài gỗ. Đây là nhóm hộ nghèo của
như măng, cây thuốc, củi. Cụ thể, thu nhập từ
địa bàn nghiên cứu, rất nhạy cảm và có ảnh
nông nghiệp chiếm 53% tổng thu nhập của nhóm
hưởng mạnh đến bảo vệ và phát triển rừng.
hộ D, trong khi nhóm hộ C lại có thu nhập từ hoạt 120 100 Thu nhập từ rừng 80 60 Thu nhập từ chăn nuôi 40 Thu nhập từ phi nông 20 nghiệp 0 Thu nhập từ nông nghiệp A B C D
Hình 1: Tỷ lệ thu nhập và nguồn thu nhập giữa các nhóm hộ tại bản Diềm
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Đa dạng sinh kế sẽ giúp các hộ gia đình giảm
nuôi gia súc chiếm 40% tổng thu nhập của nhóm
thiểu rủi ro, mặt khác đây là thước đo để đánh
hộ). Nhóm hộ B tập trung vào các hoạt động phi
giá mức độ bền vững trong phát triển kinh tế - xã
nông nghiệp như làm thuê. Nhóm hộ A có thu
hội. Nhóm hộ tại bản Mọi cũng tập trung chủ yếu
nhập từ rừng lớn, chiếm 46% tổng thu nhập của
vào 4 nguồn thu nhập chính. Trong đó, nhóm hộ
hộ. Cũng giống như nhóm hộ A của bản Diềm,
D tập trung vào sản xuất nông nghiệp như canh
đây là nhóm hộ cần phải tập trung phát triển kinh
tác lúa nước, trồng keo, tre nứa; nhóm hộ C lại
tế, tạo nguồn thu nhập khác để họ giảm phụ
tập trung vào chăn nuôi gia súc (thu nhập từ chăn thuộc vào rừng.
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 120 100 Thu nhập từ rừng 80 Thu nhập từ chăn 60 nuôi 40 Thu nhập từ phi nông nghiệp 20 Thu nhập từ nông 0 nghiệp A B C D
Hình 2: Tỷ lệ thu nhập và nguồn thu nhập giữa các nhóm hộ tại bản Mọi
Nguồn: Số liệu khảo sát.
3.2. Thực trạng an toàn lương thực tại các
nhập bình quân mỗi hộ từ hái măng khoản 3-5
nhóm hộ gia đình triệu đồng/năm.
Các nhóm hộ điều tra ở cả hai bản đều trong
3.3. Ảnh hưởng từ thay đổi sử dụng đất đến
tình trạng thiếu an toàn lương thực. Trên 50% hộ
sinh kế của các hộ gia đình
gia đình thiếu lương thực từ 1-3 tháng, đặc biệt
ở bản Mọi, 92/105 hộ thuộc diện nghèo và thiếu
Chính sách giao đất giao rừng được thực hiện
lương thực. Hàng năm Chính phủ vẫn phải trợ
tại bản Diềm và bản Mọi từ năm 1998, sau khi
cấp 2 lần cho các hộ gia đình tại bản Mọi. Hầu
Nhà nước ban hành quy định về cấm canh tác
hết những trường hợp này rơi vào các hộ mù
nương rẫy tại bản. Mặc dù vậy, đến năm 2003
chữ/học vấn thấp, thiếu lao động.
chính sách này mới có hiệu lực và được thực thi,
Mặc dù diện tích trồng trọt ở bản Diềm và
đất được giao khoán đến từng hộ gia đình. Tuy
bản Mọi đều rất lớn, song do thiếu kinh nghiệm
nhiên, sau chính sách giao đất giao rừng, đặc biệt
canh tác nông nghiệp cũng như tập quán chăn thả
hộ dân bị cấm canh tác nương rẫy đã dẫn đến tình
trâu bò tự do nên 80% hộ thường gặp rủi ro mất
trạng thiếu lương thực (Nguyen và cộng sự
mùa bởi bệnh dịch hay trâu bò phá. Một số hộ có
2011). Tại bản Mọi, tình trạng thiếu lương thực
người đi làm thuê trong thôn hoặc ngoài thôn với
khá nghiêm trọng. Hàng năm người dân vẫn phải
tiền công từ 80.000-100.000đ/ngày. Tuy nhiên,
nhận hỗ trợ từ các chương trình cứu đói của
thu nhập từ hoạt động này không ổn định. Do
Chính phủ, mỗi năm khoảng 2 lần vào dịp Tết và
người dân thiếu thông tin cũng như trình độ nhận
dịp giáp hạt, người dân được nhận từ 10-13kg
thực kém nên thu nhập từ hoạt động này thấp. gạo một khẩu.
Khi an toàn lương thực không đảm bảo,
Do hạn chế canh tác nương rẫy, mô hình
người dân phải khai thác các nguồn tài nguyên
trồng keo và tre nứa được phát triển tại các hộ
thiên nhiên từ rừng và sông suối. Khảo sát cho
gia đình có diện tích rừng lớn (ví dụ như tại bản
thấy, người dân vẫn săn bắt cá, tôm, nhái, chuột
Diềm). Tuy nhiên, nhiều hộ gia đình thiếu lao
rừng và thu hái măng, mộc nhĩ… từ rừng để góp
động hoặc diện tích đất rừng được giao nằm xa,
phần cải thiện dinh dưỡng bữa ăn hàng ngày. Tuy
khó tiếp cận nên việc phát triển cây keo không
nhiên, nguồn cá tại suối không dồi dào, số lượng
mở rộng được tại các thôn bản.
cá ngày càng giảm, đặc biệt ở bản Diềm, vì vậy
Về vai trò của từng loại đất canh tác đến đời
nguồn thu này không đảm bảo cho các hộ về an
sống sinh kế hộ gia đình và môi trường, Hình 3
toàn lương thực. Lâm sản ngoài gỗ như măng
cho thấy tất cả các loại hình đất canh tác đều
cũng là nguồn thu cho các hộ, tuy nhiên mùa
đóng góp đến vấn đề an toàn lương thực của các
măng chỉ kéo dài khoảng 3 tháng và số lượng
hộ, đặc biệt là lúa nươc, lúa nương và sắn chiếm
măng giảm nhiều so với các năm trước do bị cấm
tỷ lệ cao nhất. Đây là những cây trồng đáp ứng
khai thác măng ở diện tích rừng phòng hộ. Thu
nhu cầu lương thực cho các hộ, ngoài ra chúng
còn mang giá trị văn hóa truyền thống lâu đời. 102
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 103
Ngược lại, keo và tre nứa là hai cây trồng mang
thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ cũng đóng góp một
lại thu nhập tiền mặt cho các hộ. Ngoài ra, thu
phần trong sinh kế hộ gia đình.
nhập tiền mặt từ rừng phòng hộ, rừng tái sinh và 120 100 80 Cảnh quan 60 Truyền thống văn hóa 40 Thuốc chữa bệnh 20 Thu nhập tiền mặt 0 An toàn lương thực Lúa Lúa Sắn Tre Keo Rừng Rừng nước nương nứa tái phòng sinh hộ
Hình 3: Tác động của các loại hình canh tác đến sinh kế hộ gia đình
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Đa số hộ dân cho rằng các loại cây trồng trên
Người dân đã nhận thức được vai trò của rừng
loại hình đất đang sử dụng tại địa phương đều tạo
đối với mạch nước ngầm và chống bão lũ. Người
môi trường trong lành, góp phần chống biến đổi
dân cho rằng canh tác lúa nương đem lại sự đa
khí hậu. Ngoài ra, người dân cho rằng các loại
dạng sinh học nhiều hơn so với các loại hình
đất rừng như rừng phòng hộ, rừng tái sinh và
canh tác khác, lý do chính là người dân thường
rừng keo có khả năng giữ nước, đặc biệt là nước
canh tác lúa nương xen kẽ với một số cây trồng
ngầm. Hiện tại nhiều bản bị mất rừng nên bị
khác như ngô, khoai sọ (Hình 4).
thiếu nước nguồn sinh hoạt vào mùa đông. 120 100 80 Môi trường trong sạch 60 Đa dạng sinh học 40 20 Cải tạo đất 0 Dự trữ nước Lúa Lúa Sắn Tre Keo Rừng Rừng nước nương nứa tái sinh phòng hộ
Hình 4: Tác động của các loại hình canh tác đến môi trường và đa dạng sinh học
Nguồn: Số liệu khảo sát.
Phân tích chi phí cơ hội của các loại hình sử
sử dụng đều có giá trị hiện tại ròng là dương và
dụng đất là tiền để để đánh giá liệu các hộ gia
có thu nhập trên công lao động cao. Giá trị hiện
đình có sẵn sàng đánh đổi chi phí cơ hội này để
tại ròng được tính cho các cây trồng trong vòng
chuyển sang một hoạt động khác hay không. Nó
30 năm. Kết quả cho thấy, trồng tre nứa đem lại
giúp đưa ra sự đánh giá thấu đáo hơn về cơ hội
lợi nhuận rất cao tính trên ngày công lao động
tham gia thực hiện chương trình REDD+ tại
(300.000đ/ngày công). Lý do chính là trồng tre
huyện Con Cuông. Bảng 3 cho thấy các loại đất
có chi phí ban đầu thấp, giống tre được nhà máy 104
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105
hỗ trợ, cây tre lại tự sản sinh qua các năm nên
vào chương trình REDD+ là điều khó khả thi, trừ
người dân thường trồng tre nứa trên các diện tích
khi giá trị carbon từ chương trình REDD+ có thể
đất rừng tái sinh. Ngược lại, keo cần phải chăm
bù đắp được chi phí cơ hội cho các cây trồng hiện
sóc và đầu tư về phân bón, cây giống. Keo
tại. Tuy nhiên, xét về phương diện môi trường,
thường được thu hoạch sau 7-8 năm nên lợi
người dân có thể chấp nhận từ bỏ hoạt động có
nhuận trồng keo không cao, ước tính 11 triệu
NPV cao để bảo vệ phát triển rừng nhằm mục
đồng/ha. Hơn nữa, keo chủ yếu được trồng ở
đích bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí
những diện tích đất rừng có thể thuận tiện thu
hậu. Phân tích sự đánh đổi (trade-off) giữa việc
hoạch, vì thế nhiều hộ gia đình tại bản Mọi
phát triển kinh tế từ hoạt động sản xuất hiện tại
không thể trồng keo do khó khăn trong thu
của người dân với hoạt động nhằm tăng lượng
hoạch. Thu nhập tính trên ha keo của người dân
hấp thụ carbon của cây trồng khi tham gia vào
bản Mọi thấp hơn so với bản Diềm.
REDD+ cho thấy hầu hết các hoạt động sản xuất
Sắn là loại cây dễ trồng, thường được người
trên các loại hình sử dụng đất tại bản Diềm và
dân trồng tại những nơi có đất kém màu mỡ. Do
bản Mọi đều thuộc nhóm có hàm lượng hấp thụ
không phải đầu tư phân bón cũng như cây giống
carbon thấp nhưng mang lại lợi nhuận kinh tế cao
nên sắn có thu nhập khoảng 11,6 triệu đồng/ha
như lúa, ngô, tre nứa. Nhóm cây trồng như keo,
tại bản Diềm và 16,5 triệu đồng/ha tại bản Mọi.
sắn, lúa nương và rừng sản suất, rừng cộng đồng
Lúa nước và ngô là hai cây trồng truyền thống
có lượng carbon thấp và lợi nhuận kinh tế thấp
của các hộ nhưng thu nhập tính theo ngày công
so với các cây trồng khác như lúa nước, ngô.
lao động không cao do phải đầu tư nhiều công
vào việc khai hoang đất, chăm sóc và thu hoạch.
Rừng phòng hộ hiện tại đem lại lượng hấp thụ
Như vậy, giá trị hiện tại ròng của từng loại
carbon cao, trong khi lại có lợi nhuận kinh tế
đất canh tác tại hai bản có giá trị cao, điều đó
thấp. Vì vậy, nếu dự án REDD+ được thực hiện,
cũng có nghĩa là để người dân từ bỏ hoạt động
cần chú ý đến việc có thể chuyển đổi đất đang
canh tác hiện tại chuyển sang tập trung tham gia
canh tác sắn và keo sang hoạt động REDD+.
Bảng 3: Thu nhập ngày công trên từng loại hình canh tác tại các hộ điều tra
ở bản Diềm và bản Mọi Thu nhập Thu nhập/ngày công
Loại hình sử dụng đất (triệu đồng/ha) (1.000đ/ngày công) Bản Diềm Bản Mọi Bản Diềm Bản Mọi Lúa nước 79 47 90 73
Ngô (3 năm canh tác - 2 năm bỏ hóa) 42 - 91 -
Ngô (2 năm canh tác - 1 năm bỏ hóa) - 32,5 - 86 Sắn 11,7 16,5 71 70 Tre nứa 57,8 56,3 303 306 Keo 11,6 10,6 170 165 Rừng thứ sinh 12,6 11,2 85 87 Rừng phòng hộ 6,14 100
Nguồn: Số liệu khảo sát. 4. Kết luận
bón. Phân tích dựa trên sự đánh đổi giữa sản xuất
các loại cây trồng trên từng loại đất canh tác cho
Nguồn thu nhập chính của người dân địa
thấy có thể khuyến khích người dân chuyển đổi
phương tại bản Mọi và bản Diềm chủ yếu từ sản
diện tích trồng keo, sắn và canh tác lúa nương
xuất nông nghiệp, trong đó thu nhập từ rừng (tre
sang hoạt động REDD+ nhằm bảo vệ và phát
nứa và lâm sản ngoài gỗ) chiếm 60% tổng thu
triển rừng trong tương lai. Tuy nhiên, chính
nhập của các hộ. Mặc dù vậy, hầu hết các hộ tại
quyền địa phương cần phải hỗ trợ người dân
hai bản đều bị thiếu lương thực từ 3-8 tháng. Phát
trong phát triển sinh kế, cải thiện thu nhập từ các
triển tre nứa đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn so
hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp.
với trồng keo, tuy nhiên nhiều hộ tham gia trồng
Nhóm hộ A cần được quan tâm tập trung phát
keo do được nhà máy hỗ trợ cây giống và phân
triển kinh tế hơn so với các nhóm hộ khác, bởi
N.D. Tien / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 4, No. 1 (2024) 96-105 105
đó là những hộ nghèo dễ bị tổn thương và có
Kajembe, G. C., Mwenduwa, M. I., Mgoo, J. S., &
nguồn sinh kế chủ yếu dựa vào rừng, đa phần là
Ramadhani, H. (2000). Potentials of non wood forest
nhóm hộ trẻ mới tách hộ hoặc thiếu lao động,
products in household food security in Tanzania:
thiếu đất để sản xuất. Các nghiên cứu tiếp theo
The role of gender based local knowledge. Gender,
Biodiversity and Local Knowledge System.

cần xem xét sâu rộng hơn nữa về lợi ích của
http://41.73.194.142/handle/12345 6789/1250
chương trình REDD+, tính khả thi của chương
Lalaina, C. R., Kazuhiro, H., & Mitsuru, Y. (2011).
trình cũng như tính sẵn sàng tham gia chương
Forest conservation and livelihood conflict in
trình REDD+ của người dân tại địa phương.
REDD: A case study from the corridor Ankeniheny Zahamena REDD project, Madagascar.
International Journal of Biodiversity and
Tài liệu tham khảo
Conservation, 3(12), 618-630. Doi?
Luc Da People Committee (2023). The annual social
Aju, P. C. (2014). The role of forestry in agriculture and economic report in 2023.
food security. American Journal of Research
Miller, D. C., Munoz-Mora, J. C., Rasmussen, L. V., &
Communication, 2(6), 109-121.
Zezza, A. (2020). Do trees on farms improve
Caspersen, L., Gombert, A. J., Hommels, M. & Deller,
household well-being? Evidence from national panel
M. (2018). Utilizing the nutritional potential and
data in Uganda. Frontiers in Forests and Global
secondary plant compounds of neglected fruit trees
Change. https://doi.org/ 10.3389/ffgc.2020.00101.
and other plant species of the walnut-fruit forests in
Montreal & Eschborn. (2011). Biodiversity and
Kyrgyzstan. World Agroforestry - Research Data
Livelihoods-REDD-plus Benefits. Secretariat for the Repository. https://agris.fao.org/agris-
Convention on Biological Diversity and Deutsche
search/search.do?recordID=QN201900 1259407.
Gesellschaft für International Zusammenarbeit
Chamberlain, J. L., Darr, D. & Meinhold, K. (2020). (GIZ) GmbH.
Rediscovering the contributions of forests and trees
Nguyen, D. T, Tran, D. V., & Nguyen, T. L. (2011). Too
to transition global food systems. Forests,
much focus on forest conservation, too little on food. 11(10), 1098.
Policy Brief, RECOFTC .
Chau Khe People Committee (2023). The annual social
http://forestindustries.eu/sites/default/files/userfiles/ economic report in 2023.
1file/RECOFTC_21July10_B2_web.pdf
Chazdon, R. L., Harvey, C. A., Komar, O., Griffith, D.
Nyambo, A., Nyomora, A., Ruffo, C. K. & Tengnas, B.
M., Ferguson, B. G., & Mart, M. (2009). Beyond
(2005). Fruits and nuts: Species with potential for
reserves: A research agenda for conserving
Tanzania. Nairobi: Regional Land Management
biodiversity in human-modified tropical landscapes.
Unit, World Agroforestry Centre-Eastern and
Biotropica 41, 142–153. Doi??
Central Africa Regional Programme.
Guerrero, M. C., Razal, R. A., & Ramnath, M. (2015).
Raj, A., Jhariya, M. K., Khan, N., (2022). The
Non-timber forest products for food security, income
importance of forest for soil, food, and climate
generation and conservation in Asia. South Africa:
security in Asia. In: Öztürk, M., Khan, S.M., Altay, XIV World Forestry Congress.
V., Efe, R., Egamberdieva, D., Khassanov, F.O.
https://www.researchgate.net/publication/281776274_
(Eds), Biodiversity, Conservation and Sustainability
Non-Timber_Forest_Products_for_Food_ Security in Asia. Springe.
Income_Generation_and_Conservation_in_Asia
Ruffo, C. K., Birnie, A., & Tengnäs, B. (2002). Edible
Ha, T. T. T. (2015). Challenges in implementing
wild plants of Tanzania. Regional land management
REDD+ and recommendation to forest policies in
unit (RELMA). Nairobi, Kenya: Swedish International
Vietam. Journal of Forest Sicene and Technologi,
Development Cooperation Agency (Sida). 1-2015. Doi?
Temu, R. P. C., & Msanga, H. P. (1994). Available
Härkönen, M., & Vainio-Mattila, K. (1998). Some
information and research priorities for indigenous
examples of natural products in the Eastern Arc
fruit trees in Tanzania. In Proceedings of the
Mountains. Journal of East African Natural History,
regional conference on the indigenous fruit trees of 87, 265-278.
the Miombo ecozone of Southern Africa (pp. 106- 111) Mangochi, Malawi: ICRAF.