lOMoARcPSD| 62189299
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOA LÝ LUẬN & NGHIỆP VỤ CÔNG ĐOÀN
GIÁO TRÌNH
ĐẠI CƯƠNG VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
Hà Nội, 2020
lOMoARcPSD| 62189299
NHÓM BIÊN SOẠN
1. PGS.TS Phạm Văn Hà (Chủ biên)
2. PGS.TS. Dương Văn Sao
3.TS.Nguyễn Thị Thùy Yên
4. TS. Nguyễn Anh Tuấn
5. Ths. Lê Thanh Thủy
6. Ths. Nguyễn Hoàng Mai
7.Ths. Bùi Thị Minh Phương
8. Ths. Thị Minh Nguyệt
9. Ths. Ngô Thị Phương Liên
10. Ths. Nguyễn Ngọc Minh
lOMoARcPSD| 62189299
LỜI GIỚI THIỆU
Công đoàn Việt Nam thành lập ngày 28.7.1929, đến nay đã trải qua
gần một thế kỷ xây dựng phát triển với những trang sử vẻ vang đáng tự
hào, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng bảo
vệ Tổ quốc. Là tchức, chăm lo đại diện quyền lợi ích, hợp pháp chính đáng
cho đoàn viên người lao động, công đoàn Việt Nam đã gây dựng được
lòng tin, tạo được vị thế, thực sự là trung tâm tập hợp, đoàn kết CNVCLĐ cả
nước. Trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi tổ chức Công đoàn phải đổi mới nội
dung và phương pháp hoạt động cho phù hợp phong trào công nhân, quán
triệt đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
phải thu hút tập hợp được nhiều đoàn viên, bám sát cơ sở để giữ vững vị trí,
phát huy vai trò tích cực của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
hóa – xã hội.
Bởi vậy, việc biên soạn “Giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt
Nam“để đưa vào giảng dạy rất cần thiết đối với chương trình đào tạo cử
nhân chính quy các ngành của Trường Đại học Công đoàn nói riêng và trong
hệ thống tổ chức của Công đoàn Việt Nam nói chung.
Giáo trình được biên soạn lầny sẽ cung cấp cho người học các kiến
thức bản hệ thống cả v luận thực tiễn của Công đoàn Việt
Nam; giúp trang bị cho người học một cái nhìn tổng thể về quá trình hình
thành phát triển của Công đoàn Việt Nam, tính chất, vị trí, vai trò, chức
năng của tổ chức Công đoàn, tổ chức hoạt động của Công đoàn Việt Nam.
Đồng thời giáo trình còn thể tài liệu tham khảo cho các cán bộ công
đoàn đúc rút được những kiến thức cần thiết để vận dụng vào thực tiễn tại
sở nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở.
Giáo trình được biên soạn gồm 3 chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam
Chương 2: Tính chất, vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn
lOMoARcPSD| 62189299
Việt Nam
Chương 3: Tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam
Cuối mỗi chương đều có câu hỏi ôn tập củng cố kiến thức
Cuốn Giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt Nam“ được biên soạn
tại Trường Đại học Công đoàn sự cố gắng của nhóm tác giả do PGS.TS
Phạm Văn làm chủ biên. Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn giáo
trình Trường Đại học Công đoàn đã nhận được squan tâm chỉ đạo của Đoàn
chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; sự góp ý của các ban, đơn vị
trực thuộc Tổng Liên đoàn, các nhà nghiên cứu trong ngoài hệ thống tổ
chức Công đoàn.
Trường Đại học Công đoàn rất mong nhận được sự góp ý của các đồng
chí lãnh đạo, của các cán bộ, đoàn viên công đoàn bạn đọc để nội dung
giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt Nam ngày càng được hoàn thiện.
Hà nội, ngày…..tháng. năm…
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
lOMoARcPSD| 62189299
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM ......................................................................... 1
1.1. Sự hình thành của tổ chức Công đoàn Việt Nam .......................... 1
1.1.1. Quá trình ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam ...................... 1
1.1.2. Quá trình thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam ....................... 7
1.2. Quá trình phát triển của Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử ..................................................................................................... 11
1.2.1. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
.............................................................................................................. 11
(1930 – 1945) ....................................................................................... 11
1.2.2. Công đoàn Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp 18
(1945 – 1954) ....................................................................................... 18
1.2.3. Công đoàn Việt Nam trong công cuộc cải tạo, xây dựng Chủ nghĩa
hội miền Bắc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất
.............................................................................................................. 23
nước (1954 – 1975) .............................................................................. 23
1.2.4. Công đoàn Việt Nam trong những năm đầu đất nước thống nhất,
đi lên xây dựng CNXH (1975 – 1986) ................................................. 27
1.2.5. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .............................. 32
CHƯƠNG 2: TÍNH CHẤT, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CÔNG
..................................................................................................................... 50
ĐOÀN VIỆT NAM .................................................................................... 50
2.1. Tính chất của Công đoàn Việt Nam .............................................. 50
2.1.1. Khái niệm tính chất .................................................................... 50
2.1.2. Biểu hiện tính chất giai cấp của giai cấp công nhân .................. 50
2.1.3. Biểu hiện tính chất quần chúng rộng lớn ................................... 51
2.2. Vị trí của Công đoàn Việt Nam ..................................................... 51
2.2.1. Khái niệm vị trí .......................................................................... 51
2.2.2. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Đảng Cộng sản Việt Nam .... 52
2.2.3. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước .............................. 54
lOMoARcPSD| 62189299
2.2.4. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . 57
2.2.5. Mối quan hệ giữa Công đoàn với các tổ chức chính trị - xã hội
.............................................................................................................. 58
trong hệ thống chính trị ........................................................................ 58
2.2.6. Mối quan hệ của Công đoàn trong quan hệ đối tác xã hội ........ 60
2.3. Vai trò của Công đoàn Việt Nam ................................................... 62
2.3.1. Khái niệm vai trò ........................................................................ 62
2.3.2. Nội dung vai trò của Công đoàn Việt Nam ................................ 62
Trong lĩnh vực kinh tế .......................................................................... 63
Trong lĩnh vực chính trị ....................................................................... 64
Trong lĩnh vực xã hội ........................................................................... 64
Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng ....................................................... 65
2.4. Chức năng của Công đoàn Việt Nam ............................................ 65
2.4.1. Khái niệm chức năng ................................................................. 65
2.4.2. Các chức năng của Công đoàn Việt Nam .................................. 65
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT
NAM ........................................................................................................... 71
3.1. Nguyên tắc t chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam ...... 71
3.1.1. Khái niệm nguyên tắc ................................................................ 71
3.1.2. Các nguyên tắc tchức hoạt động của Công đoàn Việt Nam
.............................................................................................................. 71
3.2. Công tác tổ chức và cán bộ Công đoàn Việt Nam ....................... 77
3.2.1. Công tác tổ chức Công đoàn Việt Nam...................................... 77
3.2.2. Công tác cán bộ Công đoàn Việt Nam ..................................... 102
3.3. Hoạt động của Công đoàn Việt Nam .......................................... 107
3.4. Phương pháp hoạt động cơ bản của Công đoàn Việt Nam ...... 147
3.4.1. Khái niệm ................................................................................. 147
3.4.2. Các phương pháp hoạt động cơ bản của Công đoàn Việt Nam 148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 152
lOMoARcPSD| 62189299
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ:
An toàn vệ sinh lao động
ATVSV:
An toàn vệ sinh viên
BCH:
Ban chấp hành
BCHCĐ:
Ban chấp hành Công đoàn
BHLĐ:
Bảo hộ lao đng
BNN:
Bệnh nghề nghiệp
CĐCS:
Công đoàn cơ sở
CNLĐ:
Công nhân lao động
CNVC:
Công nhân viên chức
CNVCLĐ:
Công nhân viên chức lao động
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
DN:
Doanh nghiệp
ĐCSVN:
Đảng Cộng sản Việt Nam
GCCN:
Giai cấp công nhân
HTX:
Hợp tác xã
KHKT BHLĐ:
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
TLĐLĐVN:
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
TNLĐ:
Tai nạn lao động
lOMoARcPSD| 62189299
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
lOMoARcPSD| 62189299
1
CHƯƠNG 1:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1.1. Sự hình thành của tổ chức Công đoàn Việt Nam
1.1.1. Quá trình ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam
a-Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (1897-1930) và
quá trình hình thành giai cấp công nhân Việt Nam
Trong gần mt thế kỷ xâm lược và đô hộ Việt Nam (1858-1945), thực
dân Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa đthực hiện mục tiêu khai
thác, vơ vét, bóc lột làm giàu cho chính quốc. Cuộc khai thác thuộc địa quy
mô, bài bản được bắt đầu từ năm 1897, kết thúc vào năm 1914, khi chiến
tranh thế giới thứ nhất nổ ra (thường gọi là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất). Trong cuộc khai thác lần I, với nguồn vốn chủ yếu do chính phủ đầu
tư, người Pháp đã tập trung đầu tư vào các ngành khai thác khoáng sản, công
nghiệp nhgiao thông vận tải. Cuộc khai thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp được tiến hành sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và kéo dài trong
khoảng 10 năm, đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (19291933).
Trong cuộc khai thác lần hai, thực dân Pháp đã đẩy nhanh quá trình đầu
vào các ngành kinh tế Việt Nam với quy rộng lớn đẩy nhanh tốc độ
hơn lần thứ nhất
1
. Dưới tác động của các cuộc khai thác thuộc địa, hội
Việt Nam có những biến đổi sâu sắc.
1
Nhìn chung, toàn bộ số vốn tư bản Pháp rót vào Đông Dương, chủ yếu Việt Nam trong thời kỳ cuối thế
kỷ XIX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất đạt khoảng 1 tỷ frans. Nhưng từ sau chiến tranh, nhất là vào
đầu những năm 1920 trở đi, khối lượng vốn đầu của Pháp tăng nhanh. Riêng năm 1920, số vốn đó đã đạt
255 triệu frans. J. Aumiphin (1999), Sự hiện diện tài chính kinh tế của Pháp Đông Dương
(18581939), Hội Sử học Việt Nam xuất bản, HN, tr.57.
lOMoARcPSD| 62189299
)
2
Về kinh tế, cuộc khai thác của thực dân Pháp làm xuất hiện nền công
nghiệp thuộc địa mang yếu tố thực dân; cấu kinh tế mất cân đối, què quặt,
mất cân đối cả về cơ cấu vùng và cơ cấu ngành, phục vụ cho sự khai thác,
bóc lột, củng cố ách thống trị và khuếch trương thanh thế của Pháp tại vùng
Viễn đông.
Về lĩnh vực xã hội, bên cạnh các giai cấp không ngừng bị phân hóa,
hội Việt Nam xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới. Đó chính
tầng lớp những người lao động làm thuê (tầng lớp công nhân Việt Nam).
Về nguồn gốc xuất thân, khác với phương Tây, công nhân Việt Nam
chủ yếu xuất thân từ nông dân, còn gắn nhiều với ruộng đất. Họ trở thành
công nhân bằng nhiều con đường khác nhau. Do hậu quả của chính sách cướp
đoạt ruộng đất của thực dân Pháp đã diễn ra tình trạng “sản hoá không lối
thoáttrong nông thôn Việt Nam, một số nông dân phải tự đến hầm mỏ, xí
nghiệp, đồn điền kiếm công việc làm, hoặc thông qua bọn cai thầu mộ phu
mới có việc làm. Một số nông dân là “công nhân theo mùa”.
Việt Nam trong thời kỳ này có các chế độ lao động
2
:
Thứ nhất, chế độ lao động giao kèo: người làm thuê trực tiếp ký giao
kèo với chủ bản Pháp
3
. Ngoài ra người lao động làm thuê hợp đồng
giao kèo với một “chủ thầu” đứng ra làm trung gian giữa họ với chủ bản
Pháp. Thực chất của việc hợp đồng giao kèo này sự bóc lột sức lao động
thậm tệ.
Thứ hai, chế độ lao động “cưỡng bức”: người Pháp, được sự tiếp tay
của bộ máy chính quyền phong kiến, đã cưỡng bức nông dân phải đi phu
không công cho chúng, trong số đó cả một số “tù nhân” cũng bị đẩy đi
2
Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập 1, trang 28, Nxb Lao động 2003.
3
Nghị định ngày 26/8/1899 do Toàn quyền Pôn Đume ban hành.
lOMoARcPSD| 62189299
3
làm. Sự hỗn hợp, xen ghép, hòa trộn các quan hệ tư bản chủ nghĩa với quan
hệ phong kiến đã thể hiện nét sự phân hóa ngày càng sâu sắc của các
giai tầng xã hội Việt Nam.
Cùng với smở rộng của công cuộc khai thác thuộc địa phân hóa
hội, lực lượng công nhân Việt Nam sự chuyển biến về số lượng. Đến
năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200 nghiệp của
bản Pháp ở Đông Dương là 55.000 người. Họ là cốt lõi đầu tiên của giai cấp
công nhân
công nghiệp Việt Nam. Họ đã một trình độ chuyên môn, kỹ thuật nhất
định biểu hiện rõ tinh chất của giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại
3
.
b-Giai cấp công nhân Việt Nam phát triển nhanh chóng sau chiến tranh
thế giới lần thứ nhất (1914 -1918)
Giai cấp công nhân Việt Nam sớm tinh thần đoàn kết đấu tranh
chống áp bức, bóc lột. Ngay trong giai đoạn đầu, công nhân đã đứng lên đấu
tranh bằng nhiều hình thức mà đỉnh cao là các cuộc bãi công. Tuy nhiên, do
chưa luận tiến tiến soi đường, các cuộc đấu tranh mới dừng mức độ
“tự phát”. Phải từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cùng với cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ hai của tư bản Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam mới
tăng cả về số lượng chất lượng, nhanh chóng tiếp thu luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin để vươn lên nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Những chính sách tăng cường đầu tư, đẩy mạnh khai thác thuộc địa đã
tạo ra hệ quả ngoài ý muốn chủ quan của thực dân Pháp. Đó sự trưởng
thành nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng ca giai cấp công nhân Việt
Nam lúc bấy giờ. Năm 1929, số công nhân hiện đại trong các doanh nghiệp
3
Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập 1, trang 26, Nxb Lao động 2003.
lOMoARcPSD| 62189299
)
4
của người Pháp Đông Dương chủ yếu Việt Nam khoảng 221.050
người
4
.
c-Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân Việt Nam.
Giai cấp công nhân Việt Nam lớn lên sau đại chiến thế giới lần thứ
nhất, khi Cách mạng tháng Mười Nga, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên
thế giới thành công, lật đổ chế độ bóc lột người lao động, thành lập nhà nước
công nông liên minh, xây dựng chế độ không người bóc lột người. Xét
trên ý nghĩa rộng lớn và sâu xa, Cách mạng tháng Mười Nga đã “mở ra con
đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu cho một thời đại
mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa bản lên chủ nghĩa hội
trên toàn thế giới”.
Những nguyên của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền lãnh đạo của giai
cấp vô sản trong toàn bộ quá trình cách mạng, về vai trò to lớn của giai cấp
nông dân trong cách mạng dân chủ cách mạng hội chủ nghĩa, về lực
lượng dự trữ và người bạn đồng hành của giai cấp sản các nước thuộc
địa bị áp bức bóc lột... đã thôi thúc động viên các dân tộc bị áp bức bóc lột
có phương hướng đúng trong đấu tranh.
Thắng lợi đại của Cách mạng tháng Mười Nga nguồn cổ to lớn
đối với phong trào ch mạng của giai cấp công nhân thế giới. Những kinh
nghiệm chính trị, nguồn gốc đích thực của Công hội đỏ Việt Nam chỉ xuất
hiện trong sự tiếp xúc với phong trào công nhân thế giới, với Quốc tế Cộng
sản và Quốc tế Công hội đỏ, những tác nhân từ bên ngoài là động lực cho sự
thuần thục chính trị của phong trào công nhân Việt Nam.
4
Dumarest (A.), La Formation des classes socials en pays annamites (Sự hình thành các giai cấp xã hội ở
nước An Nam), Paris, 1935 Dẫn theo Đinh Xuân Lâm (chbiên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập II,
Nxb. Giáo dục, HN, 1999, tr. 235.
lOMoARcPSD| 62189299
5
d-Phong trào công nhân lớn mạnh trong giai đoạn 1919-1930
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, điều kiện sinh hoạt vật chất của giai
cấp công nhân Việt Nam vẫn hết sức thấp kém. Cuộc khai thác thuộc địa lần
hai chỉ chú ý mở rộng vốn quy sản xuất, không tăng cường các phương
tiện máy móc và cải thiện các điều kiện làm việc cho công nhân. Tình trạng
ăn, của công nhân, nhất các đồn điền và hầm mỏ rất thấp kém. Thêm
vào đó, thời gian làm việc thường phải kéo dài từ 9 đến 10 giờ trong một
ngày, nơi như khu dệt Nam Định, ngày công của công nhân năm 1924
được quy định bình quân 12 giờ. Công nhân không được hưởng bất kmột
chế độ bảo hiểm thân thể nào. Tiền lương của công nhân rất thấp. Bình quân
thu nhập hàng tháng của một công nhân vào khoảng 10 đồng
5
. Ngoài đồng
lương rẻ mạt, điều kiện làm việc cực khổ, công nhân còn bị đánh đập, ngược
đãi như nô lệ. Tình hình đó dẫn đến cuộc sống cùng quẫn, thậm chí dẫn đến
cái chết của nhiều công nhân. Chính cảnh sống cùng cực ấy đã thúc đẩy công
nhân hăng hái đứng lên đấu tranh chống bóc lột và cường quyền.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thông qua hoạt động của Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc nhiều người Việt Nam yêu nước khác, các sách báo cách
mạng đã bắt đầu được truyền vào trong nước. Các tờ báo Người cùng khổ,
Việt Nam hồn… cũng như các tác phẩm của Chủ nghĩa c Lênin đã lọt
qua lưới sắt của thực dân đến với giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Cũng vào thời kỳ này, nhiều thủ thủy, lính thợ Việt Nam hồi hương, mang
theo các hiểu biết mới và cả các kinh nghiệm đấu tranh của công nhân châu
Âu về nước
6
. Nhờ vậy, giai cấp công nhân Việt Nam mới bắt đầu biết đến
5
,
6
Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb. Giáo dục, HN, 1999, tr. 261.
6
Theo số liệu của Phủ Toàn quyền Đông Dương, đến tháng 7/1919, cả Đông Dương tiếp nhận 11.518 người
từ Pháp về bao gồm 4.338 lính thợ và 7.180 lính chiến. (Dẫn theo Trần Văn Giàu, Giai cấp công nhân Việt
Nam, Nxb Sự thật, H. 1961, tr.299).
lOMoARcPSD| 62189299
)
6
Cách mạng tháng Mười, biết đến Lênin, trên sở đó dần dần tiếp thu ánh
sáng của chủ nghĩa cộng sản. Ánh sáng ấy đã thôi thúc, lôi cuốn giai cấp
công nhân Việt Nam vùng dậy đấu tranh, trước hết là chĩa mũi nhọn vào bọn
tư bản thực dân Pháp.
Kết quả của sự vận động trên là việc ra đời một tổ chức Công hội đầu
tiên Việt Nam Công hội Ba Son. Sau khi từ Pháp trở về, đồng chí n
Đức Thắng đã đi vào hoạt động trong tầng lớp công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn
trực tiếp vận động thành lập ra tổ chức Công hội đầu tiên. Sau một thời
gian vận động, chuẩn bị, vào đầu năm 1921, Công hội đã ra đời tại xưởng Ba
Son, cảng Sài Gòn, trường Nghệ Cao Thắng, nhà đèn Chợ Quán nhà
máy đèn Sài Gòn. Sau dần dần phát triển đến hãng Faci và nhiều nơi khác.
Hội trưởng ca Công hội lúc đó là Tôn Đức Thắng thợ máy nhà đèn Chợ
Quán.
Công hội Ba Son một tổ chức mật, hoạt động bất hợp pháp, tập
hợp những công nhân tiên tiến nhiều nghiệp trong thành phố. Hội hoạt
động không có điều lệ viết ra thành văn bản. Ngay khi ra đời, với mục đích
hành động tương trợ đấu tranh bênh vực quyền lợi cho công nhân, công
hội đã lãnh đạo, tổ chức nhiều cuộc bãi công của công nhân tại các nhà máy.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi. Hình thức đấu tranh thấp nhất
của công nhân là bỏ việc và phá giao kèo. Đấu tranh bãi công-một hình thức
đấu tranh điển hình của giai cấp công nhân quc tế, đã trở thành hình thức
đấu tranh phổ biến của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn này. Đó
là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân nước ta chống lại sự bóc lột tàn bạo
của giai cấp tư sản.
lOMoARcPSD| 62189299
7
Các cuộc bãi công của giai cấp công nhân liên tiếp nổ ra, đặc biệt
ở hai hải cảng lớn là Hải Phòng và Sài Gòn. Cuộc đấu tranh ngày 15/8/1919
của thủy thủ tàu Sácnô (Sharnhorst) ở cảng Hải Phòng nổ ra đòi tăng lương,
chống thực dân Pháp đưa binh linh Việt Nam sang đàn áp cách mạng Xiri
thu được thắng lợi. Tiếp sau cuộc bãi công của 200 thủy thủ trên 5 chiếc
tàu ở cảng Sài Gòn diễn ra ngày 8/3/1920, đòi phụ cấp đắt đỏ. Cuộc bãi công
của công nhân Ba Son (8/1925) đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ chỗ lẻ tẻ, tự phát,
đến chỗ tiếp cận trình độ tổ chức biết kết hợp đấu tranh kinh tế đấu
tranh chính trị; từ chỗ thể hiện tinh thần đoàn kết giai cấp giữa những người
công nhân trong cùng một xí nghiệp, một ngành nghề, thành phố, nhiều
thành phố trong nước đến tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản.
1.1.2. Quá trình thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam
a. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về lý luận và tổ chức cho sự ra
đời của Công hội đỏ Bc Kỳ (28/71929)
Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành) sinh ngày
19/5/1890, quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết
chí ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Khác với các bậc tiền bối, Người tự
tìm đường đi sang phương Tây, nơi đã từng có những khẩu hiệu tự do: “T
do - Bình đẳng-Bác ái”. Người đã trải qua rất nhiều nghề để được đến nhiều
nước, nhiều miền đất trên thế giới, để khảo nghiệm và học tập tìm con
đường cứu nước.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp, một chính Đảng tiến bộ nhất
lúc đó Pháp. Tháng 6/1919, tại Hội nghị Vecxai (Versailles), thay mặt
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị “Bản yêu
lOMoARcPSD| 62189299
)
8
sách của nhân dân An Namgồm 8 điểm, đòi Chính phủ Pháp thực hiện
quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam.
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, tnăm 1921,
Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn b
tiền đề chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng vô sản
tại Việt Nam.
Tháng 7/1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ.
Trong diễn văn của mình, Nguyễn Ái Quốc nói lên tiếng nói chính thức đầu
tiên tại diễn đàn quốc tế yêu cầu thành lập Công hội đỏ ở Việt Nam để sớm
hòa nhập vào dòng thác cách mạng chung của giai cấp công nhân quốc tế.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) thành
lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên để tuyển lựa và đào tạo cán bộ cho
cách mạng Việt Nam. Trong quá trình huấn luyện đào tạo, Người chú
trọng đến công tác vận động công nhân và hướng tới nhiệm vụ xây dựng tổ
chức quần chúng của giai cấp công nhân Việt Nam Công hội đỏ. Người
xác định mục đích, yêu cầu của tổ chức Công hội đViệt Nam c đó :
Tổ chức công hội trước hết là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm
tình; hai để nghiên cứu với nhau; ba để sửa sang cách sinh hoạt của
công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn đgiữ gìn quyền cho công nhân; năm
là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới
7
.
b. Hội nghị đại biểu thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ (28/7/1929)
Sau tháng 8 năm 1925, phong trào công nhân nước ta những bước
phát triển mới thể hiện quá trình chuyển mình sang giai đoạn đấu tranh tự
giác đấu tranh tổ chức ngày càng nét. Các cuộc bãi công của công
7
Nguyễn Ái Quốc (1927), Đường Kách mệnh, dẫn theo Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, Nxb Sự thật.
lOMoARcPSD| 62189299
9
nhân nổ ra liên tiếp trên nhiều địa bàn với số lượng tăng đều qua các năm:
nếu hai năm 1926 1927 27 cuộc, thì sang đến 1928 1929 40 cuộc
bãi công. Mục tiêu của các cuộc bãi công nhằm vào hai nội dung bản
đòi tăng lương từ 20 40% ngày làm 8 giờ. Qua đó cho thấy, phong trào
công nhân đang dần bớt đi tính chất tự phát và tính chất cục bộ địa phương.
Cùng với sự tiến bộ của phong trào đấu tranh, công nhân nước ta có
sự chuyển biến về tchức. Từ năm 1928, các ng hội đỏ mật đã từng
bước xuất hiện ở các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Bắc và Trung Kỳ: Nhà
máy sửa chữa ô Aviat (Hà Nội), nhà máy Dệt Nam Định, nhà máy xi măng
Hải Phòng, Vinh – Bên Thủy...
Trước tình hình phát triển trên, một yêu cầu bức thiết đặt ra trong công
tác vận động công nhân phải tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân trong
một tổ chức Công hội thống nhất, vậy đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Ủy
viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản, đã nhận
nhiệm vụ: đứng ra triệu tập Đại hội đại biểu Công hội đỏ Bắc Kỳ, để thành
lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929 tại số nhà 15 phố Hàng
Nón, Nội. Tham dự hội nghị đại biểu các Tổng Công hội tỉnh, thành
phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Đông Triều, Mạo Khê.
Đại hội đã nhất trí thông qua chương trình, điều lệ, phương hướng hoạt
động của Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ và bầu ra Ban chấp hành lâm thời Tổng
công hi đỏ Bắc Kỳ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban chấp hành
Trung ương lâm thời Đông Dương Cng sản đứng đầu. Ban chấp hành lâm
thời còn có các đồng chí: Trần Hồng Vân, Trần Văn Các, Nguyễn Huy Thảo,
Trần Văn Lan và một công nhân ưu tú của Nhà máy sợi Nam Định. Hội nghị
quyết định xuất bản tờ báo Lao động quan ngôn luận thông tin, tuyên
truyền tạp chí Công hội đỏ là quan luận truyền quan điểm, chủ
trương của Công hội đỏ trong giai cấp công nhân.
lOMoARcPSD| 62189299
)
10
Việc thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ có ý nghĩa hết sức to lớn đối
với phong trào công nhân Việt Nam. Đó vừa là kết quả tất yếu của sự trưởng
thành về chất lượng của phong trào công nhân nước ta, vừa là thắng lợi của
đường lối công vận của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đông Dương Cộng sản
đảng, đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu cấp thiết về lãnh đạo tổ chức phong
trào công nhân Việt Nam sự hoà nhập của phong trào công nhân Việt Nam
với phong trào cng sản, công nhân quốc tế.
Công hội đỏ Việt Nam ra đời trong bối cảnh độc đáo, gần trùng khít với
sự ra đời của chính đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Có thể nói, việc thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ có ý nghĩa hết sức
to lớn đối với phong trào công nhân Việt Nam. Nó vừa là kết quả tất yếu của
sự trưởng thành về chất lượng phong trào công nhân nước ta, vừa thắng
lợi của đường lối công vận của Nguyễn Ái Quốc Đảng Cộng sản Đông
Dương cũng như của phong trào yêu nước nói chung. Đồng thời cũng đáp
ứng nhu cầu bức thiết về hình tổ chức của phong trào công nhân Việt
Nam và đánh dấu sự hòa nhập của phong trào công nhân nước ta với phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Sự kiện quan trọng này cũng được một lãnh tụ khác của phong trào
Công đoàn Việt Nam, đồng chí Hoàng Quốc Việt đánh giá như sau:
Trong lịch sử phong trào Công đoàn Việt Nam, Công hội đỏ tổ chức
quần chúng đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. ng hội đỏ ra đời
giữa lúc giai cấp công nhân và dân nhân Việt Nam bị áp bức, bóc lột thậm
tệ. Sớm được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Công hội đỏ đã
luôn gắn liền việc vận động quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày
với việc tổ chức công nhân đoàn kết cùng tầng lớp nhân nhân chống đế quóc
lOMoARcPSD| 62189299
11
Pháp để giải phóng dân tộc. Đồng thời, Công hội đỏ cũng góp phần đặt mối
quan hệ đầu tiên giữa phong trào công nhân Việt Nam với phong trào công
nhân thế giới, đặc biệt là Công đoàn và công nhân Pháp
8
1.2. Quá trình phát triển của Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ lch
sử
1.2.1. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
(1930 – 1945)
a. Giai đoạn 1930 – 1935
Nhiệm vụ đầu tiên ca tổ chức Công hội đỏnhằm nhanh chóng xây dựng
và phát triển cơ sở ra khắp cả nước.
Bắc Kỳ tchức công hội được thành lập chủ yếu các sở công nghiệp,
đô thị nơi nhiều công nhân, như: Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai,
Đông Triều...
Trung Kỳ, đến năm, 1930 tổ chức Công hội đã được thành lập Vinh,
Bến Thủy, đoạn đường sắt Vinh – Dĩ An. Trong số các nhà máy trên địa bàn,
nhà máy xe lửa Trường Thi, diêm Bến Thủy, xe lửa Dĩ An đã thanh lập
được tổ chức Công hội đỏ...
Nam Kỳ, từ năm 1930, Tổng Công hội đBắc Kỳ cử nhiều cán bộ vào
Nam hoạt động, tăng cường gây dựng sở. Trên sở các công hội đỏ được
thành lập trước như Ba Son, Chợ Quán, cảng Sài Gòn... các đồn điền cao su
miền Đông như Thủ Dầu Một, Phú Riềng… đều đã xuất hiện các Công hội
đỏ. Trên sở đó, đến đầu năm 1930, Tổng Công hội đỏ Nam Kỳ được thành
lập. Đến năm 1931, cả Nam K có hơn một vạn hội viên Công hội đỏ.
8
Hoàng Quốc Việt: Những nét sơ lược về lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Nxb.
Lao động, H. 1959, tr.12.
lOMoARcPSD| 62189299
)
12
Tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương mang tính chiến
lược phải nắm vững và nh đạo tổ chức Công hội đtừ đó lãnh đạo giai
cấp công nhân.
Trong phong trào cách mạng 1930-1931, Tổ chức Công hội đỏ cả nước đã
đóng góp to lớn vào cuộc tổng diễn tập cách mạng lần thứ nhất. Các cuộc
đấu tranh khắp cả nước, điển hình Vinh-Bến Thủy, Hải Phòng,
Nội, Đông Triều-Quảng Ninh, Phú Riềng, Sài Gòn... đã hàng ngàn hội
viên Công hội đỏ đấu tranh, nhiều hội viên bị địch bắt, bị giết, bị tù hoặc hy
sinh. Tổn thất lớn nhất đối với phong trào Công hội đỏ là việc đồng chí
Nguyễn Đức Cảnh (Chủ tịch Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ) đã bị địch bắt tại
Nghệ An và đưa ra xử chém tại Hải Phòng.
b. Giai đoạn 1935 – 1939
Trong giai đoạn này, tổ chức Công hội đỏ đã có những thay đổi về mặt
tổ chức và chiến lược hoạt động phù hợp với tình hình mới, đã đổi tên thành
Nghiệp đoàn ái hữu và hoạt động bán công khai. Đây là thời kỳ mà Đảng đã
lợi dụng những thay đổi chính trị ở Pháp, Đông Dương, thành lập Mặt trận
dân chủ Đông Dương để đấu tranh đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ đưa
quần chúng và cuc tổng diễn tập cách mạng lần thứ hai.
Mục tiêu của phong trào công nhân là đấu tranh đòi được tự do Nghiệp
đoàn để tập hợp quần chúng rộng rãi. Về tổ chức tùy theo từng nơi gọi
cho thích hợp. Đó các nghiệp đoàn, hội ái hữu, hội tương tế, hội nghề
nghiệp. Nam Kỳ, các tổ chức Nghiệp đoàn ái hữu mang đậm tính cách
ngành nghchiếm số đông trong các đơn vị sản xuất. Nhà máy Ba Son,
từ 261 hội viên (1937) đã lên đến 400 người (1938), chiếm non nửa số công
nhân toàn công binh xưởng. Nhiều khu công nghiệp, tỉnh, thành, thị xã cũng
có tổ chức Nghiệp đoàn ái hữu.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 62189299
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN
KHOA LÝ LUẬN & NGHIỆP VỤ CÔNG ĐOÀN GIÁO TRÌNH
ĐẠI CƯƠNG VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM Hà Nội, 2020 lOMoAR cPSD| 62189299 NHÓM BIÊN SOẠN
1. PGS.TS Phạm Văn Hà (Chủ biên)
2. PGS.TS. Dương Văn Sao
3.TS.Nguyễn Thị Thùy Yên
4. TS. Nguyễn Anh Tuấn
5. Ths. Lê Thanh Thủy
6. Ths. Nguyễn Hoàng Mai
7.Ths. Bùi Thị Minh Phương
8. Ths. Vũ Thị Minh Nguyệt
9. Ths. Ngô Thị Phương Liên
10. Ths. Nguyễn Ngọc Minh lOMoAR cPSD| 62189299 LỜI GIỚI THIỆU
Công đoàn Việt Nam thành lập ngày 28.7.1929, đến nay đã trải qua
gần một thế kỷ xây dựng và phát triển với những trang sử vẻ vang đáng tự
hào, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Là tổ chức, chăm lo đại diện quyền lợi ích, hợp pháp chính đáng
cho đoàn viên và người lao động, công đoàn Việt Nam đã gây dựng được
lòng tin, tạo được vị thế, thực sự là trung tâm tập hợp, đoàn kết CNVCLĐ cả
nước. Trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi tổ chức Công đoàn phải đổi mới nội
dung và phương pháp hoạt động cho phù hợp phong trào công nhân, quán
triệt đường lối quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
phải thu hút tập hợp được nhiều đoàn viên, bám sát cơ sở để giữ vững vị trí,
phát huy vai trò tích cực của mình trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội.
Bởi vậy, việc biên soạn “Giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt
Nam“để đưa vào giảng dạy là rất cần thiết đối với chương trình đào tạo cử
nhân chính quy các ngành của Trường Đại học Công đoàn nói riêng và trong
hệ thống tổ chức của Công đoàn Việt Nam nói chung.
Giáo trình được biên soạn lần này sẽ cung cấp cho người học các kiến
thức cơ bản và có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn của Công đoàn Việt
Nam; giúp trang bị cho người học một cái nhìn tổng thể về quá trình hình
thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam, tính chất, vị trí, vai trò, chức
năng của tổ chức Công đoàn, tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam.
Đồng thời giáo trình còn có thể là tài liệu tham khảo cho các cán bộ công
đoàn đúc rút được những kiến thức cần thiết để vận dụng vào thực tiễn tại cơ
sở nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở.
Giáo trình được biên soạn gồm 3 chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam
Chương 2: Tính chất, vị trí, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn lOMoAR cPSD| 62189299 Việt Nam
Chương 3: Tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam
Cuối mỗi chương đều có câu hỏi ôn tập củng cố kiến thức
Cuốn “ Giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt Nam“ được biên soạn
tại Trường Đại học Công đoàn là sự cố gắng của nhóm tác giả do PGS.TS
Phạm Văn Hà làm chủ biên. Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn cuốn giáo
trình Trường Đại học Công đoàn đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đoàn
chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; sự góp ý của các ban, đơn vị
trực thuộc Tổng Liên đoàn, các nhà nghiên cứu trong và ngoài hệ thống tổ chức Công đoàn.
Trường Đại học Công đoàn rất mong nhận được sự góp ý của các đồng
chí lãnh đạo, của các cán bộ, đoàn viên công đoàn và bạn đọc để nội dung
giáo trình Đại cương về Công đoàn Việt Nam ngày càng được hoàn thiện.
Hà nội, ngày…..tháng. năm…
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT lOMoAR cPSD| 62189299
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM ......................................................................... 1
1.1. Sự hình thành của tổ chức Công đoàn Việt Nam .......................... 1
1.1.1. Quá trình ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam ...................... 1
1.1.2. Quá trình thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam ....................... 7
1.2. Quá trình phát triển của Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử ..................................................................................................... 11
1.2.1. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
.............................................................................................................. 11
(1930 – 1945) ....................................................................................... 11
1.2.2. Công đoàn Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp 18
(1945 – 1954) ....................................................................................... 18
1.2.3. Công đoàn Việt Nam trong công cuộc cải tạo, xây dựng Chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất
.............................................................................................................. 23
nước (1954 – 1975) .............................................................................. 23
1.2.4. Công đoàn Việt Nam trong những năm đầu đất nước thống nhất,
đi lên xây dựng CNXH (1975 – 1986) ................................................. 27
1.2.5. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .............................. 32
CHƯƠNG 2: TÍNH CHẤT, VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CÔNG
..................................................................................................................... 50
ĐOÀN VIỆT NAM .................................................................................... 50
2.1. Tính chất của Công đoàn Việt Nam .............................................. 50
2.1.1. Khái niệm tính chất .................................................................... 50
2.1.2. Biểu hiện tính chất giai cấp của giai cấp công nhân .................. 50
2.1.3. Biểu hiện tính chất quần chúng rộng lớn ................................... 51
2.2. Vị trí của Công đoàn Việt Nam ..................................................... 51
2.2.1. Khái niệm vị trí .......................................................................... 51
2.2.2. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Đảng Cộng sản Việt Nam .... 52
2.2.3. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Nhà nước .............................. 54 lOMoAR cPSD| 62189299
2.2.4. Mối quan hệ giữa Công đoàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam . 57
2.2.5. Mối quan hệ giữa Công đoàn với các tổ chức chính trị - xã hội
.............................................................................................................. 58
trong hệ thống chính trị ........................................................................ 58
2.2.6. Mối quan hệ của Công đoàn trong quan hệ đối tác xã hội ........ 60
2.3. Vai trò của Công đoàn Việt Nam ................................................... 62
2.3.1. Khái niệm vai trò ........................................................................ 62
2.3.2. Nội dung vai trò của Công đoàn Việt Nam ................................ 62
Trong lĩnh vực kinh tế .......................................................................... 63
Trong lĩnh vực chính trị ....................................................................... 64
Trong lĩnh vực xã hội ........................................................................... 64
Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng ....................................................... 65
2.4. Chức năng của Công đoàn Việt Nam ............................................ 65
2.4.1. Khái niệm chức năng ................................................................. 65
2.4.2. Các chức năng của Công đoàn Việt Nam .................................. 65
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT
NAM ........................................................................................................... 71
3.1. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam ...... 71
3.1.1. Khái niệm nguyên tắc ................................................................ 71
3.1.2. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam
.............................................................................................................. 71
3.2. Công tác tổ chức và cán bộ Công đoàn Việt Nam ....................... 77
3.2.1. Công tác tổ chức Công đoàn Việt Nam...................................... 77
3.2.2. Công tác cán bộ Công đoàn Việt Nam ..................................... 102
3.3. Hoạt động của Công đoàn Việt Nam .......................................... 107
3.4. Phương pháp hoạt động cơ bản của Công đoàn Việt Nam ...... 147
3.4.1. Khái niệm ................................................................................. 147
3.4.2. Các phương pháp hoạt động cơ bản của Công đoàn Việt Nam 148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................... 152 lOMoAR cPSD| 62189299
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ATVSLĐ:
An toàn vệ sinh lao động ATVSV: An toàn vệ sinh viên BCH: Ban chấp hành BCHCĐ: Ban chấp hành Công đoàn BHLĐ: Bảo hộ lao động BNN: Bệnh nghề nghiệp CĐCS: Công đoàn cơ sở CNLĐ: Công nhân lao động CNVC: Công nhân viên chức CNVCLĐ:
Công nhân viên chức lao động CNXH: Chủ nghĩa xã hội DN: Doanh nghiệp ĐCSVN:
Đảng Cộng sản Việt Nam GCCN: Giai cấp công nhân HTX: Hợp tác xã KHKT BHLĐ:
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động NLĐ: Người lao động NSDLĐ:
Người sử dụng lao động TLĐLĐVN:
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam TNLĐ: Tai nạn lao động lOMoAR cPSD| 62189299 XHCN: Xã hội chủ nghĩa ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế lOMoAR cPSD| 62189299 CHƯƠNG 1:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
1.1. Sự hình thành của tổ chức Công đoàn Việt Nam
1.1.1. Quá trình ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam
a-Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (1897-1930) và
quá trình hình thành giai cấp công nhân Việt Nam
Trong gần một thế kỷ xâm lược và đô hộ Việt Nam (1858-1945), thực
dân Pháp tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa để thực hiện mục tiêu khai
thác, vơ vét, bóc lột làm giàu cho chính quốc. Cuộc khai thác thuộc địa quy
mô, bài bản được bắt đầu từ năm 1897, kết thúc vào năm 1914, khi chiến
tranh thế giới thứ nhất nổ ra (thường gọi là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất). Trong cuộc khai thác lần I, với nguồn vốn chủ yếu do chính phủ đầu
tư, người Pháp đã tập trung đầu tư vào các ngành khai thác khoáng sản, công
nghiệp nhẹ và giao thông vận tải. Cuộc khai thuộc địa lần thứ hai của thực
dân Pháp được tiến hành sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và kéo dài trong
khoảng 10 năm, đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (19291933).
Trong cuộc khai thác lần hai, thực dân Pháp đã đẩy nhanh quá trình đầu tư
vào các ngành kinh tế Việt Nam với quy mô rộng lớn và đẩy nhanh tốc độ
hơn lần thứ nhất1. Dưới tác động của các cuộc khai thác thuộc địa, xã hội
Việt Nam có những biến đổi sâu sắc.
1 Nhìn chung, toàn bộ số vốn tư bản Pháp rót vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam trong thời kỳ cuối thế
kỷ XIX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất đạt khoảng 1 tỷ frans. Nhưng từ sau chiến tranh, nhất là vào
đầu những năm 1920 trở đi, khối lượng vốn đầu tư của Pháp tăng nhanh. Riêng năm 1920, số vốn đó đã đạt
255 triệu frans. – J. Aumiphin (1999), Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông Dương
(18581939),
Hội Sử học Việt Nam xuất bản, HN, tr.57. 1 lOMoAR cPSD| 62189299
Về kinh tế, cuộc khai thác của thực dân Pháp làm xuất hiện nền công
nghiệp thuộc địa mang yếu tố thực dân; cơ cấu kinh tế mất cân đối, què quặt,
mất cân đối cả về cơ cấu vùng và cơ cấu ngành, phục vụ cho sự khai thác,
bóc lột, củng cố ách thống trị và khuếch trương thanh thế của Pháp tại vùng Viễn đông.
Về lĩnh vực xã hội, bên cạnh các giai cấp cũ không ngừng bị phân hóa,
xã hội Việt Nam xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới. Đó chính là
tầng lớp những người lao động làm thuê (tầng lớp công nhân Việt Nam).
Về nguồn gốc xuất thân, khác với phương Tây, công nhân Việt Nam
chủ yếu xuất thân từ nông dân, còn gắn bó nhiều với ruộng đất. Họ trở thành
công nhân bằng nhiều con đường khác nhau. Do hậu quả của chính sách cướp
đoạt ruộng đất của thực dân Pháp đã diễn ra tình trạng “vô sản hoá không lối
thoát” trong nông thôn Việt Nam, một số nông dân phải tự đến hầm mỏ, xí
nghiệp, đồn điền kiếm công việc làm, hoặc thông qua bọn cai thầu mộ phu
mới có việc làm. Một số nông dân là “công nhân theo mùa”.
Ở Việt Nam trong thời kỳ này có các chế độ lao động2:
Thứ nhất, chế độ lao động giao kèo: người làm thuê trực tiếp ký giao
kèo với chủ tư bản Pháp3. Ngoài ra người lao động làm thuê ký hợp đồng
giao kèo với một “chủ thầu” đứng ra làm trung gian giữa họ với chủ tư bản
Pháp. Thực chất của việc ký hợp đồng giao kèo này là sự bóc lột sức lao động thậm tệ.
Thứ hai, chế độ lao động “cưỡng bức”: người Pháp, được sự tiếp tay
của bộ máy chính quyền phong kiến, đã cưỡng bức nông dân phải đi phu
không công cho chúng, trong số đó có cả một số “tù nhân” cũng bị đẩy đi
2 Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập 1, trang 28, Nxb Lao động 2003. 3
Nghị định ngày 26/8/1899 do Toàn quyền Pôn Đume ban hành. 2 ) lOMoAR cPSD| 62189299
làm. Sự hỗn hợp, xen ghép, hòa trộn các quan hệ tư bản chủ nghĩa với quan
hệ phong kiến đã thể hiện rõ nét ở sự phân hóa ngày càng sâu sắc của các
giai tầng xã hội Việt Nam.
Cùng với sự mở rộng của công cuộc khai thác thuộc địa và phân hóa
xã hội, lực lượng công nhân Việt Nam có sự chuyển biến về số lượng. Đến
năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200 xí nghiệp của tư
bản Pháp ở Đông Dương là 55.000 người. Họ là cốt lõi đầu tiên của giai cấp công nhân
công nghiệp Việt Nam. Họ đã có một trình độ chuyên môn, kỹ thuật nhất
định biểu hiện rõ tinh chất của giai cấp vô sản công nghiệp hiện đại3.
b-Giai cấp công nhân Việt Nam phát triển nhanh chóng sau chiến tranh
thế giới lần thứ nhất (1914 -1918)
Giai cấp công nhân Việt Nam sớm có tinh thần đoàn kết đấu tranh
chống áp bức, bóc lột. Ngay trong giai đoạn đầu, công nhân đã đứng lên đấu
tranh bằng nhiều hình thức mà đỉnh cao là các cuộc bãi công. Tuy nhiên, do
chưa có lý luận tiến tiến soi đường, các cuộc đấu tranh mới dừng ở mức độ
“tự phát”. Phải từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cùng với cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ hai của tư bản Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam mới
tăng cả về số lượng và chất lượng, nhanh chóng tiếp thu lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin để vươn lên nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Những chính sách tăng cường đầu tư, đẩy mạnh khai thác thuộc địa đã
tạo ra hệ quả ngoài ý muốn chủ quan của thực dân Pháp. Đó là sự trưởng
thành nhanh chóng về cả số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân Việt
Nam lúc bấy giờ. Năm 1929, số công nhân hiện đại trong các doanh nghiệp
3 Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam, tập 1, trang 26, Nxb Lao động 2003. 3 lOMoAR cPSD| 62189299
của người Pháp ở Đông Dương – chủ yếu ở Việt Nam có khoảng 221.050 người4.
c-Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân Việt Nam.
Giai cấp công nhân Việt Nam lớn lên sau đại chiến thế giới lần thứ
nhất, khi Cách mạng tháng Mười Nga, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên
thế giới thành công, lật đổ chế độ bóc lột người lao động, thành lập nhà nước
công nông liên minh, xây dựng chế độ không có người bóc lột người. Xét
trên ý nghĩa rộng lớn và sâu xa, Cách mạng tháng Mười Nga đã “mở ra con
đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu cho một thời đại
mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên toàn thế giới”.
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về quyền lãnh đạo của giai
cấp vô sản trong toàn bộ quá trình cách mạng, về vai trò to lớn của giai cấp
nông dân trong cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, về lực
lượng dự trữ và người bạn đồng hành của giai cấp vô sản ở các nước thuộc
địa bị áp bức bóc lột... đã thôi thúc động viên các dân tộc bị áp bức bóc lột
có phương hướng đúng trong đấu tranh.
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mười Nga là nguồn cổ vũ to lớn
đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân thế giới. Những kinh
nghiệm chính trị, nguồn gốc đích thực của Công hội đỏ Việt Nam chỉ xuất
hiện trong sự tiếp xúc với phong trào công nhân thế giới, với Quốc tế Cộng
sản và Quốc tế Công hội đỏ, những tác nhân từ bên ngoài là động lực cho sự
thuần thục chính trị của phong trào công nhân Việt Nam.
4 Dumarest (A.), La Formation des classes socials en pays annamites (Sự hình thành các giai cấp xã hội ở
nước An Nam),
Paris, 1935 – Dẫn theo Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập II,
Nxb. Giáo dục, HN, 1999, tr. 235. 4 ) lOMoAR cPSD| 62189299
d-Phong trào công nhân lớn mạnh trong giai đoạn 1919-1930
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, điều kiện sinh hoạt vật chất của giai
cấp công nhân Việt Nam vẫn hết sức thấp kém. Cuộc khai thác thuộc địa lần
hai chỉ chú ý mở rộng vốn và quy mô sản xuất, không tăng cường các phương
tiện máy móc và cải thiện các điều kiện làm việc cho công nhân. Tình trạng
ăn, ở của công nhân, nhất là ở các đồn điền và hầm mỏ rất thấp kém. Thêm
vào đó, thời gian làm việc thường phải kéo dài từ 9 đến 10 giờ trong một
ngày, có nơi như khu dệt Nam Định, ngày công của công nhân năm 1924
được quy định bình quân là 12 giờ. Công nhân không được hưởng bất kỳ một
chế độ bảo hiểm thân thể nào. Tiền lương của công nhân rất thấp. Bình quân
thu nhập hàng tháng của một công nhân vào khoảng 10 đồng5. Ngoài đồng
lương rẻ mạt, điều kiện làm việc cực khổ, công nhân còn bị đánh đập, ngược
đãi như nô lệ. Tình hình đó dẫn đến cuộc sống cùng quẫn, thậm chí dẫn đến
cái chết của nhiều công nhân. Chính cảnh sống cùng cực ấy đã thúc đẩy công
nhân hăng hái đứng lên đấu tranh chống bóc lột và cường quyền.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thông qua hoạt động của Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc và nhiều người Việt Nam yêu nước khác, các sách báo cách
mạng đã bắt đầu được truyền bá vào trong nước. Các tờ báo Người cùng khổ,
Việt Nam hồn… cũng như các tác phẩm của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã lọt
qua lưới sắt của thực dân đến với giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Cũng vào thời kỳ này, nhiều thủ thủy, lính thợ Việt Nam hồi hương, mang
theo các hiểu biết mới và cả các kinh nghiệm đấu tranh của công nhân châu
Âu về nước6. Nhờ vậy, giai cấp công nhân Việt Nam mới bắt đầu biết đến
5 ,6 Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập II, Nxb. Giáo dục, HN, 1999, tr. 261.
6 Theo số liệu của Phủ Toàn quyền Đông Dương, đến tháng 7/1919, cả Đông Dương tiếp nhận 11.518 người
từ Pháp về bao gồm 4.338 lính thợ và 7.180 lính chiến. (Dẫn theo Trần Văn Giàu, Giai cấp công nhân Việt
Nam,
Nxb Sự thật, H. 1961, tr.299). 5 lOMoAR cPSD| 62189299
Cách mạng tháng Mười, biết đến Lênin, trên cơ sở đó dần dần tiếp thu ánh
sáng của chủ nghĩa cộng sản. Ánh sáng ấy đã thôi thúc, lôi cuốn giai cấp
công nhân Việt Nam vùng dậy đấu tranh, trước hết là chĩa mũi nhọn vào bọn tư bản thực dân Pháp.
Kết quả của sự vận động trên là việc ra đời một tổ chức Công hội đầu
tiên ở Việt Nam – Công hội Ba Son. Sau khi từ Pháp trở về, đồng chí Tôn
Đức Thắng đã đi vào hoạt động trong tầng lớp công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn
và trực tiếp vận động thành lập ra tổ chức Công hội đầu tiên. Sau một thời
gian vận động, chuẩn bị, vào đầu năm 1921, Công hội đã ra đời tại xưởng Ba
Son, cảng Sài Gòn, trường Bá Nghệ Cao Thắng, nhà đèn Chợ Quán và nhà
máy đèn Sài Gòn. Sau dần dần phát triển đến hãng Faci và nhiều nơi khác.
Hội trưởng của Công hội lúc đó là Tôn Đức Thắng – thợ máy nhà đèn Chợ Quán.
Công hội Ba Son là một tổ chức bí mật, hoạt động bất hợp pháp, tập
hợp những công nhân tiên tiến ở nhiều xí nghiệp trong thành phố. Hội hoạt
động không có điều lệ viết ra thành văn bản. Ngay khi ra đời, với mục đích
hành động là tương trợ và đấu tranh bênh vực quyền lợi cho công nhân, công
hội đã lãnh đạo, tổ chức nhiều cuộc bãi công của công nhân tại các nhà máy.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân ngày càng phát triển rầm rộ, sôi nổi. Hình thức đấu tranh thấp nhất
của công nhân là bỏ việc và phá giao kèo. Đấu tranh bãi công-một hình thức
đấu tranh điển hình của giai cấp công nhân quốc tế, đã trở thành hình thức
đấu tranh phổ biến của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn này. Đó
là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân nước ta chống lại sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản. 6 ) lOMoAR cPSD| 62189299
Các cuộc bãi công của giai cấp công nhân liên tiếp nổ ra, đặc biệt là
ở hai hải cảng lớn là Hải Phòng và Sài Gòn. Cuộc đấu tranh ngày 15/8/1919
của thủy thủ tàu Sácnô (Sharnhorst) ở cảng Hải Phòng nổ ra đòi tăng lương,
chống thực dân Pháp đưa binh linh Việt Nam sang đàn áp cách mạng Xiri
thu được thắng lợi. Tiếp sau là cuộc bãi công của 200 thủy thủ trên 5 chiếc
tàu ở cảng Sài Gòn diễn ra ngày 8/3/1920, đòi phụ cấp đắt đỏ. Cuộc bãi công
của công nhân Ba Son (8/1925) đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam từ chỗ lẻ tẻ, tự phát,
đến chỗ tiếp cận trình độ có tổ chức biết kết hợp đấu tranh kinh tế và đấu
tranh chính trị; từ chỗ thể hiện tinh thần đoàn kết giai cấp giữa những người
công nhân trong cùng một xí nghiệp, một ngành nghề, thành phố, và nhiều
thành phố trong nước đến tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản.
1.1.2. Quá trình thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam
a. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về lý luận và tổ chức cho sự ra
đời của Công hội đỏ Bắc Kỳ (28/71929)
Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành) sinh ngày
19/5/1890, quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết
chí ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Khác với các bậc tiền bối, Người tự
tìm đường đi sang phương Tây, nơi đã từng có những khẩu hiệu tự do: “Tự
do - Bình đẳng-Bác ái”. Người đã trải qua rất nhiều nghề để được đến nhiều
nước, nhiều miền đất trên thế giới, để khảo nghiệm và học tập tìm con đường cứu nước.
Năm 1919, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp, một chính Đảng tiến bộ nhất
lúc đó ở Pháp. Tháng 6/1919, tại Hội nghị Vecxai (Versailles), thay mặt
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị “Bản yêu 7 lOMoAR cPSD| 62189299
sách của nhân dân An Nam” gồm 8 điểm, đòi Chính phủ Pháp thực hiện
quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam.
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, từ năm 1921,
Nguyễn Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, chuẩn bị
tiền đề chính trị, tư tưởng và tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng vô sản tại Việt Nam.
Tháng 7/1924, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ.
Trong diễn văn của mình, Nguyễn Ái Quốc nói lên tiếng nói chính thức đầu
tiên tại diễn đàn quốc tế yêu cầu thành lập Công hội đỏ ở Việt Nam để sớm
hòa nhập vào dòng thác cách mạng chung của giai cấp công nhân quốc tế.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) thành
lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên để tuyển lựa và đào tạo cán bộ cho
cách mạng Việt Nam. Trong quá trình huấn luyện và đào tạo, Người chú
trọng đến công tác vận động công nhân và hướng tới nhiệm vụ xây dựng tổ
chức quần chúng của giai cấp công nhân Việt Nam là Công hội đỏ. Người
xác định mục đích, yêu cầu của tổ chức Công hội đỏ ở Việt Nam lúc đó là:
Tổ chức công hội trước hết là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm
tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của
công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền cho công nhân; năm
là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”7.
b. Hội nghị đại biểu thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ (28/7/1929)
Sau tháng 8 năm 1925, phong trào công nhân nước ta có những bước
phát triển mới thể hiện quá trình chuyển mình sang giai đoạn đấu tranh tự
giác – đấu tranh có tổ chức ngày càng rõ nét. Các cuộc bãi công của công
7 Nguyễn Ái Quốc (1927), Đường Kách mệnh, dẫn theo Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập II, Nxb Sự thật. 8 ) lOMoAR cPSD| 62189299
nhân nổ ra liên tiếp trên nhiều địa bàn với số lượng tăng đều qua các năm:
nếu hai năm 1926 – 1927 có 27 cuộc, thì sang đến 1928 – 1929 là 40 cuộc
bãi công. Mục tiêu của các cuộc bãi công nhằm vào hai nội dung cơ bản là
đòi tăng lương từ 20 40% và ngày làm 8 giờ. Qua đó cho thấy, phong trào
công nhân đang dần bớt đi tính chất tự phát và tính chất cục bộ địa phương.
Cùng với sự tiến bộ của phong trào đấu tranh, công nhân nước ta có
sự chuyển biến về tổ chức. Từ năm 1928, các công hội đỏ bí mật đã từng
bước xuất hiện ở các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Bắc và Trung Kỳ: Nhà
máy sửa chữa ô tô Aviat (Hà Nội), nhà máy Dệt Nam Định, nhà máy xi măng
Hải Phòng, Vinh – Bên Thủy...
Trước tình hình phát triển trên, một yêu cầu bức thiết đặt ra trong công
tác vận động công nhân là phải tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân trong
một tổ chức Công hội thống nhất, vì vậy đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - Ủy
viên Ban chấp hành Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản, đã nhận
nhiệm vụ: đứng ra triệu tập Đại hội đại biểu Công hội đỏ Bắc Kỳ, để thành
lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ vào ngày 28/7/1929 tại số nhà 15 phố Hàng
Nón, Hà Nội. Tham dự hội nghị có đại biểu các Tổng Công hội tỉnh, thành
phố: Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Đông Triều, Mạo Khê.
Đại hội đã nhất trí thông qua chương trình, điều lệ, phương hướng hoạt
động của Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ và bầu ra Ban chấp hành lâm thời Tổng
công hội đỏ Bắc Kỳ do đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Ban chấp hành
Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản đứng đầu. Ban chấp hành lâm
thời còn có các đồng chí: Trần Hồng Vân, Trần Văn Các, Nguyễn Huy Thảo,
Trần Văn Lan và một công nhân ưu tú của Nhà máy sợi Nam Định. Hội nghị
quyết định xuất bản tờ báo Lao động là cơ quan ngôn luận thông tin, tuyên
truyền và tạp chí Công hội đỏ là cơ quan lý luận truyền bá quan điểm, chủ
trương của Công hội đỏ trong giai cấp công nhân. 9 lOMoAR cPSD| 62189299
Việc thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ có ý nghĩa hết sức to lớn đối
với phong trào công nhân Việt Nam. Đó vừa là kết quả tất yếu của sự trưởng
thành về chất lượng của phong trào công nhân nước ta, vừa là thắng lợi của
đường lối công vận của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đông Dương Cộng sản
đảng, đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu cấp thiết về lãnh đạo và tổ chức phong
trào công nhân Việt Nam và sự hoà nhập của phong trào công nhân Việt Nam
với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế.
Công hội đỏ Việt Nam ra đời trong bối cảnh độc đáo, gần trùng khít với
sự ra đời của chính đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có thể nói, việc thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc kỳ có ý nghĩa hết sức
to lớn đối với phong trào công nhân Việt Nam. Nó vừa là kết quả tất yếu của
sự trưởng thành về chất lượng phong trào công nhân nước ta, vừa là thắng
lợi của đường lối công vận của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Đông
Dương cũng như của phong trào yêu nước nói chung. Đồng thời cũng đáp
ứng nhu cầu bức thiết về mô hình tổ chức của phong trào công nhân Việt
Nam và đánh dấu sự hòa nhập của phong trào công nhân nước ta với phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Sự kiện quan trọng này cũng được một lãnh tụ khác của phong trào
Công đoàn Việt Nam, đồng chí Hoàng Quốc Việt đánh giá như sau:
“ Trong lịch sử phong trào Công đoàn Việt Nam, Công hội đỏ là tổ chức
quần chúng đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Công hội đỏ ra đời
giữa lúc giai cấp công nhân và dân nhân Việt Nam bị áp bức, bóc lột thậm
tệ. Sớm được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Công hội đỏ đã
luôn gắn liền việc vận động quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày
với việc tổ chức công nhân đoàn kết cùng tầng lớp nhân nhân chống đế quóc 10 ) lOMoAR cPSD| 62189299
Pháp để giải phóng dân tộc. Đồng thời, Công hội đỏ cũng góp phần đặt mối
quan hệ đầu tiên giữa phong trào công nhân Việt Nam với phong trào công
nhân thế giới, đặc biệt là Công đoàn và công nhân Pháp8
1.2. Quá trình phát triển của Công đoàn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
1.2.1. Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945)
a. Giai đoạn 1930 – 1935
Nhiệm vụ đầu tiên của tổ chức Công hội đỏ là nhằm nhanh chóng xây dựng
và phát triển cơ sở ra khắp cả nước.
Ở Bắc Kỳ tổ chức công hội được thành lập chủ yếu ở các cơ sở công nghiệp,
đô thị nơi có nhiều công nhân, như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hòn Gai, Đông Triều...
Ở Trung Kỳ, đến năm, 1930 tổ chức Công hội đã được thành lập ở Vinh,
Bến Thủy, đoạn đường sắt Vinh – Dĩ An. Trong số các nhà máy trên địa bàn,
có nhà máy xe lửa Trường Thi, diêm Bến Thủy, xe lửa Dĩ An đã thanh lập
được tổ chức Công hội đỏ...
Ở Nam Kỳ, từ năm 1930, Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ cử nhiều cán bộ vào
Nam hoạt động, tăng cường gây dựng cơ sở. Trên cơ sở các công hội đỏ được
thành lập trước như Ba Son, Chợ Quán, cảng Sài Gòn... các đồn điền cao su
ở miền Đông như Thủ Dầu Một, Phú Riềng… đều đã xuất hiện các Công hội
đỏ. Trên cơ sở đó, đến đầu năm 1930, Tổng Công hội đỏ Nam Kỳ được thành
lập. Đến năm 1931, cả Nam Kỳ có hơn một vạn hội viên Công hội đỏ.
8 Hoàng Quốc Việt: Những nét sơ lược về lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam. Nxb. Lao động, H. 1959, tr.12. 11 lOMoAR cPSD| 62189299
Tháng 10/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương có chủ trương mang tính chiến
lược là phải nắm vững và lãnh đạo tổ chức Công hội để từ đó lãnh đạo giai cấp công nhân.
Trong phong trào cách mạng 1930-1931, Tổ chức Công hội đỏ cả nước đã
đóng góp to lớn vào cuộc tổng diễn tập cách mạng lần thứ nhất. Các cuộc
đấu tranh khắp cả nước, mà điển hình là ở Vinh-Bến Thủy, Hải Phòng, Hà
Nội, Đông Triều-Quảng Ninh, Phú Riềng, Sài Gòn... đã có hàng ngàn hội
viên Công hội đỏ đấu tranh, nhiều hội viên bị địch bắt, bị giết, bị tù hoặc hy
sinh. Tổn thất lớn nhất đối với phong trào Công hội đỏ là việc đồng chí
Nguyễn Đức Cảnh (Chủ tịch Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ) đã bị địch bắt tại
Nghệ An và đưa ra xử chém tại Hải Phòng.
b. Giai đoạn 1935 – 1939
Trong giai đoạn này, tổ chức Công hội đỏ đã có những thay đổi về mặt
tổ chức và chiến lược hoạt động phù hợp với tình hình mới, đã đổi tên thành
Nghiệp đoàn ái hữu và hoạt động bán công khai. Đây là thời kỳ mà Đảng đã
lợi dụng những thay đổi chính trị ở Pháp, ở Đông Dương, thành lập Mặt trận
dân chủ Đông Dương để đấu tranh đòi các quyền lợi dân sinh, dân chủ đưa
quần chúng và cuộc tổng diễn tập cách mạng lần thứ hai.
Mục tiêu của phong trào công nhân là đấu tranh đòi được tự do Nghiệp
đoàn để tập hợp quần chúng rộng rãi. Về tổ chức tùy theo từng nơi mà gọi
cho thích hợp. Đó là các nghiệp đoàn, hội ái hữu, hội tương tế, hội nghề
nghiệp. Ở Nam Kỳ, các tổ chức Nghiệp đoàn ái hữu mang đậm tính cách
ngành nghề và chiếm số đông trong các đơn vị sản xuất. Nhà máy Ba Son,
từ 261 hội viên (1937) đã lên đến 400 người (1938), chiếm non nửa số công
nhân toàn công binh xưởng. Nhiều khu công nghiệp, tỉnh, thành, thị xã cũng
có tổ chức Nghiệp đoàn ái hữu. 12 )