Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
1
Chương I. MỸ THUẬT VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY
VÀ THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC
PHẦN I: MỸ THUẬT VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY
I. Đặc điểm lịch sử thời nguyên thủy ở Việt Nam.
Thời nguyên thủy là thời kỳ đầu tiên của xã hội loại người.
Thời kỳ nảy sinh phát triển của chế độ công xã nguyên thủy chính thời đại đồ đá.
Các nhà khảo cổ học đã chia thời kỳ đồ đá ra làm ba giai đoạn: thời kỳ đồ đá cũ thời kỳ
đồ đá giữa – thời kỳ đồ đá mới:
1. Thời kỳ đồ đá cũ:
- Di tích núi Đọ - Thanh Hóa được xếp vào kỳ đồ đá . Đây nơi trú của người
việt cổ, đồng thời cũng nơi chế tạo các công cụ bằng đá thô sơ: mảnh tước, công cụ
chặt, rìu tay, nạo ...
- Thời kỳ này cách chúng ta khoảng 300.000 năm, thời kỳ tchức hội đang hình
thành.
- Trải qua quá trình phát triển con người dần bước vào chế độ thị tộc nguyên thủy. Để
thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, con người phải tụ họp lại với
nhau, sống thành những bầy đàn người trong các hang động tự nhiên.
- Với công cụ bằng đá thô sơ, họ sống chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm.
- Cuối thời kỳ đồ đá cũ, người việt cổ đã cư ttrên một địa bàn khá rộng, các di tích
khảo cổ học đã cho chúng ta thấy dấu tích của thời kỳ này nhiều nơi: Miền Bắc: Phú
Thọ, Sơn La, Lai Châu, Bắc Ninh, Bắc Giang. Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng
Trị.
- Thời kỳ này, các bầy người nguyên thủy đã tập hợp lại với nhau thành các thị tộc, bộ
lạc.
Mỗi thị tộc gồm vài ba thế hệ cùng huyết thống. Nhiều thị tộc hợp thành một bộ lạc. Kỹ
thuật chế tác đá đã tiến thêm một bước, thay dùng đá bazan để chế tạo công cụ thì họ
lại dùng đá cuội tìm được các bãi sông. Nhng viên đá cuội được ghè đẽo trở thành
công cụ có hiệu quả hơn so với thời kì trước, dễ dàng cắt, xẻ…
- Các di ch của các bộ lạc thời kì này được gọi văn hóa Sơn Vi. Văn hóa Sơn Vi
thuộc Sơn Vi- huyện sông Thao, tỉnh Phú Thọ, cách ngày nay khoảng 10000 đến
18000 năm.
2. Thời kì đồ đá giữa
Sau văn hóa Sơn Vi, người Việt cổ bước vào thời kì đồ đá giữa, tương đương với nền văn
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
2
hóa Hòa Bình.
- Thời kì này cách chúng ta khoảng 10.000 năm.
- Văn hóa Hòa Bình được tìm thấy ở Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Đa Bút
- Xã hội nguyên thủy sang thời kì văn hóa Hòa Bình đã tiến thêm một bước cao hơn.
- Ngoài săn bắn, hái lượm, các cư dân văn hóa Hòa Bình đã bắt đầu làm nông nghiệp.
- Những dấu vết về nền nông nghiệp sơ khai đã được tìm thấy ở nhiều nơi như hang Sùng
Lãm- Hòa Bình, hang Thẩm Khương- Lai Châu, hoặc hang Xóm Trại- Hòa Bình. Thời kì
n hóa Hòa Bình, con người đã định lâu dài so với thời đồ đá cũ. Con người thời
kì này thường làm lều, nhà ở gần cửa hang, sông, suối. Bên cạnh các công cụ bằng đá còn
tìm được các công cụ, vũ khí bằng tre, nứa, xương, sừng rất phong phú.
Cùng với săn bắn, hái lượm, con người đã biết trồng trọt. Nền văn minh nông nghiệp bắt
đầu được hình thành.
- Tín ngưỡng, tôn giáo có lẽ cũng xuất hiện với hình thức sơ khai nhất: Totemise (Tô tem
giáo - Thờ vật tổ)
3. Thời kì đồ đá mới
- Thời đồ đá mới bắt đầu khoảng thiên niên kỉ VI trước CN. Địa bàn trú của người
Việt cổ lan rộng trong cả nước từ miền biển, miền núi, miền trung du, dân sngày càng
tăng.
- Quá trình tiến hóa của họ tạo nên văn hóa Bắc Sơn.
Công cụ sản xuất thời kì văn hóa Bắc Sơn đã tiến bộ hơn trước nhiều.
- Các cư dân thời kì này đã biết sử dụng công cụ lao động với những chức năng mới. Các
cư dân thời kì này đã biết sử dụng kĩ thuật mài đá tạo ra lưỡi rìu mài, có tra cán. Với công
cụ lao động mới, năng suất lao động đã tăng lên rất nhiều, chăn nuôi, trồng trọt phát triển
mạnh.
- Thời kì này được gọi là thời kì cách mạng đồ đá.
- Ngoài ng cụ đồ dùng bằng đá, dân thời này đã biết chế tạo ra đồ gốm. Cuộc
sống sinh hoạt, làm ăn của cư dân thời kì đồ đá mới đã tiến bộ hơn rất nhiều so với thời kì
trước...
- Bên cạnh việc săn bắn, hái lượm, nhiều nghề mới xuất hiện như trồng trọt, chăn nuôi,
đánh cá. Nghề nông bắt đầu hình thành trong thời đồ đá giữa, đến nay tiếp tục phát
triển trở thành một trong những ngành chính. Cây trồng quan trọng và chủ yếu là cây lúa.
-Đời sống vật chất phát triển kéo theo sự phát triển của đời sống tinh thần. Đồ trang sức
được chế tác trên nhiều vật liệu phong phú như đá, vỏ ốc, đất nung, vỏ trai... và nhiều thể
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
3
loại khác như vòng trai, vòng cổ khuyên tai. Điều này chứng tỏ nghề thủ công đã rất phát
triển.
- Ngoài việc chế tạo công clao động, dụng cụ gia đình, đồ trang sức, đồ gốm, con
người thời kì này còn biết dệt vải.
- Trong các ngôi mộ cổ, chúng ta tìm được nhiều xương sọ các xương khác được
màu đỏ cùng các vật dụng, dụng cụ lao động. Điều đó cho thấy trong duy của người
nguyên thủy đã hình thành quan niệm về một giới khác tồn tại chỉ khi con người đã từ giã
cuộc sống, ở thế giới đó, con người vẫn làm ăn, sinh sống, lao động như thế giới hiện tại.
- Thời kì đồ đá mới là giai đoạn cuối của thời kì nguyên thủy. Tư duy của con người ngày
càng phát triển phong phú hơn. Bàn tay ngày càng khéo léo hơn. Phân công lao động
trong các bộ lạc đã ngày càng ràng, cụ thể chuyên môn hóa hơn. Đời sống n định
lâu dài hơn. Tất cả những điều đó sự chuẩn bị cho sự ra đời một chế độ hội mới
với sự hình thành nhà nước ở giai đoạn sơ khai nhất.
II.Quá trình phát triển của mỹ thuật nguyên thủy
- Thời kỳ nguyên thủy l thời kỳ dài nhất trong lịch sử phát triển của hội loài
người. Đồng thời sphát triển của hội ng chạm chạp nhất. Mặc dù vậy cùng với sự
nhích dần chậm chạp ấy, con người cũng dần tiến tới một đời sống thẫm mỹ. Cùng với
lao động, với cái ích, cái đẹp cũng dần xuất hiện. Trải qua một thời gian lâu dài, đến
thời kỳ đồ đá giữa con người thời nguyên thủy đã bắt đầu tạo ra nhũng hình khắc đầu
tiên, mở đầu cho một nền mĩ thuật phát triển sau này.
1.Mĩ thuật thời kỳ đồ đá giữa (cách ngày nay khoảng một vạn năm)
Trong lịch sử mĩ thuât thế giới, đến cuối thời kỳ đồ đá cũ đã bắt đầu xuất hiện những dấu
vết đầu tiên về nghệ thuật tạo hình.
- Việt Nam, thời kỳ đồ đá với văn hóa Sơn Vi, ta tìm được chủ yếu hòn ghè
các công cụ chặt.
- Sang văn hóa Hòa Bình chúng ta mới tìm được những dấu hiệu mỹ thuật đầu tiên. Thuật
ngữ văn hóa Hòa Bình chỉ chung văn hóa của cả vùng Đông Nam Á. Văn hóa Hòa Bình
được xếp vào thời kì đồ đá giữa và dần dần phát triển sang thời đồ đá mới.
- Những dấu hiệu thuật đầu tiên mặc chnhững hình khắc đơn giản về nội dung
và bằng trình độ tạo hình sơ khai nhưng sự xuất hiện đó đã khắng định sự ra đời nền nghệ
thuật tạo hình của người Việt cổ.
- Thời kì này con người vẫn ở trong hang động. Nghệ thuật văn hóa Hòa Bình cũng chính
nghệ thuật hang động. hang động Lam Gan (Hòa Bình), người ta tìm được mũi dùi
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
4
làm từ xương thú. Trên mũi dùi khắc nh sáu cái mọc so le nhau đan thành hình
ngọn cây. Mặc rất nhỏ nhưng hình được khắc chi tiết. Bốn trong sáu chiếc
còn khắc cả đường gân song song.
- Những hình khắc trong hang Đồng Nội thuộc ĐồngTâm-huyện Lạc Thủy-Tỉnh Hòa
Bình, do nhà khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani (1866 1943) tìm thấy nhũng
tác phẩm hoàn thiện độc lập hơn, chứng tỏ sự phát triển thêm một bước của thuật
nguyên thủy.
- Trên vách đá của lối đi vào hang Đồng Nội, có bốn hình khắc với nét sâu và to, trong đó
có ba hình mặt người và một hình mặt thú.
Mặt người phía ngoài cùng chỉ còn một nửa. Ba hình khắc mặt người được sắp xếp
thành một nhóm.
Mặt giữa to nhất với kích thước cao 31cm, rộng 34cm. Các nét chi tiết mắt, mũi, miệng
ràng, cân đối. Nét khắc dứt khoát, khỏe. Khuôn mặt vuông vứt, đôi mày đậm gợi cho
người xem cảm giác đây là chân dung một người đàn ông.
Người phía trong cao 13cm, rộng 18cm, nét khắc mỏng mềm hơn. Nét cong của
khuôn mặt thể hiện khuôn mặt tròn trịa nữ tính hơn, các chi tiết mắt mũi miệng
gần nhau. Trên đầu của cả ba hình khắc đều hình gần giống chữ Y, gợi cho ta liên
tưởng tới hình sừng thú. Có nhiều giả thuyết về hình này, song tập trung 2 giả thuyết:
Đây cách hóa trang để lại gần các con thú. Đồng thời cũng thể một nghi lễ gắn
với hình thức thờ phụng của người Việt cổ.
Nhóm hình khắc mặt thú có kích thước to nhất cao 57cm, rộng 51cm. Miệng rộng, mắt
tròn, cánh mũi to sừng. Dưới miệng các nghệ nhân còn khắc hai nh dọc tạo sự
cân bằng cho bố cục.
- Bốn hình khắc hang Đồng Nội chứng tỏ tư duy hình tượng nghệ thuật của người
Việt thời nguyên thủy đã tiến thêm một bước. Từ những hình đơn giản, độc lập đã tiến
đến một bố cục ý thức. Mặt khác, trong các hình khắc đã bộc lộ khả năng quan sát và
thể hiện tỷ lệ mặt người, thú tương đối cân đối hoàn thiện. Ngoài ra còn thể hiện tài
năng khéo léo của bàn tay qua nét khắc thoáng đạt phong phú về đsâu, độ to nhỏ,
cứng cáp hoặc mềm mại.
- Vòng đeo bằng vsò, vỏ ốc chất liệu quen thuộc để tạo ra đồ trang sức của một bộ
phận người Việt cổ trú trên sông hay ven biển. Những vỏ ốc biển đẹp được người
nghệ thời xưa tách làm hai nửa, xâu dây xuyên qua miệng của những vỏ c tạo thành
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
5
những chuỗi vòng lấp lánh để đeo vào cổ và đeo tay.
- thời kì ban đầu các công cụ thô chưa tính nghệ thuật dần dần phân hóa được
dùng đa chức năng: rìu, nạo, mũi nhọn, cối, dao đá. Mảnh tước tra vào cán gỗ tạo thành
dụng cụ mới, công năng mới, tạo thành cuộc cách mạng đầu tiên của người nguyên
thủy. Trong việc gia công làm những vật dụng phục vụ đời sống săn bắt, hái lượm,
một bước chuyển biến dài từ công cụ tiện dụng đến công cụ vừa tiện vừa đẹp, tiến tới
thoát ly hoàn toàn, biến vật dụng thành vật trang trí, không nhằm mục đích sử dụng vật
chất nào cả. Đồ trang txu hướng trở thành tác phẩm độc lập, mang tính thẩm mỹ,
gắn liền với tổ chức phương tiện sống, mở rộng nhiều chiều đến phân hóa đa dạng.
2.Mỹ thuật ở thời kì đồ đá mới (Cách ngày nay khoảng 5000 năm)
- Việt Nam thời đồ đá mới để lại dấu vết của nhiều nền văn hóa: VH Bắc Sơn, VH
Quỳnh Lưu, VH Bàu Tró, VH Hạ Long. Cuối thời đđá mới, trên toàn bộ nước ta đã
tụ nhiều nhóm bộ lạc trồng lúa. Họ thuật chế tác đồ đá, đồ gốm tương tự như
nhau. Trên sở đó, nghệ thuật tạo hình cũng phát triển nhiều nơi khác nhau, từ miền
núi đến miền biển, đồng bằng.
- Ở thời kì này, người nguyên thủy đã biết làm đồ gốm. Dấu vết về đồ gốm được tìm thấy
nhiều nơi như Quỳnh Văn (Nghệ An), Bàu Tró (Quảng Bình), hang Mai Pha (Lạng
Sơn), hang Minh Cầm (Quảng Bình).
- Gốm của các nền văn hóa khác nhau nhiều kiểu dáng đa dạng phong phú. Gốm Bắc
Sơn, miệng loe, đáy tròn, hoa văn đơn giản như gạch chéo, răng lược, sóng. Gốm Bàu
Tró có nhiều kiểu dáng, miệng có tai để nhắc, nhiều đồ gốm được tô thổ hoàng đỏ ở cổ và
miệng. Gốm Hoa Lộc loại gốm lạ kiểu trong nghệ thuật Việt Nam, đạt thành tựu đáng
kể của nghệ thuật trang thình học. Đồ vật nào cũng được trang trí hoa văn. Hình dáng
càng phức tạp, hoa văn càng phức tạp. Người nguyên thủy dùng những lược trang trí
bằng đất nung, xương, ngà voi để tạo nên hoa văn.
Có 18 loại hoa văn:
- thời đồ đá mới, ngoài khả năng tạo hình trang trí, người nguyên thủy đã biết
dùng màu sắc, nhất màu đỏ thổ hoàng. Những vỏ c, rìu đá màu đỏ những vật
chôn theo cho người chết.
Thế giới tìm được rất nhiều hình vẽ trên các hang động tiền sử. Việt Nam, Đến ngày
nay, các nkhảo cổ học vẫn chưa tìm được những hình vẽ chứng tỏ sự mặt của một
nền hội họa, nhưng về nghệ thuật chạm khắc thì lại thấy khá nhiều, chủ yếu là chạm khắc
trên đất, đá. dụ hình chạm khắc trên những viên đá cuội Đông Ky (Thái Nguyên),
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
6
kích thước dài khoảng 10cm. Trên đá cuội có hình khắc cả 2 mặt. Mặt này những
hình hình học, chủ yếu là hình vuông được sắp xếp như một mặt người vẽ theo kiểu kỉ hà.
Mặt kia là chân dung người đã chi tiết mắt, mũi, miệng, được tạo bởi những chấm
chấm.
Hoặc tác phẩm thể hiện tính trang trí tượng trưng như tác phẩm bằng đất sét
vàng(10x4x0.7cm) tìm thấy Nghinh Tắc-Thái Nguyên. Bố cục trên bề mặt được chia
làm 2 phần, phía ngoài là 15 nhóm khắc vạch được sắp xếp chung quanh. Mỗi nhóm có 3
hoặc 4 vạch khắc. Bên trong được bố trí thành 8 đường song song. Mỗi đường được tạo
nên bởi những hình giống chữ V liên tiếp. Nhìn vào tác phẩm này thể liên tưởng đến
một khu vườn, một mảnh ruộng với những hàng cây đều đặn hàng rào xung quanh.
Tuy vậy, mọi sự áp đặt, so sánh đều không chính xác, đôi khi làm giảm giá trị của nghệ
thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng tác phẩm đã thể hiện được khả năng tạo hình,
trang trí của người nguyên thủy.
III. Đặc điểm của mĩ thuật nguyên thủy Việt Nam
1. Đặc điểm loại hình nghệ thuật
- Trong giai đoạn khai của thuật, chúng ta mới tìm được một số tác phẩm nghệ
thuật chạm khắc trên chất liệu đá, xương thú, đất.
- Chưa có nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc tượng tròn.
- Cuối thời đồ đá mới, nghệ thuật đồ gốm trang ttrên đồ gốm phát triển, để lại
nhiều hoa văn đơn giản nhưng phong phú về thể loại.
2. Đặc điểm đề tài, nội dung.
- Hình chạm khắc chủ yếu đi vào đề tài chân dung con người hoặc khái quát hình tượng
đầu thú.
- Một số hình tượng mang tính trang trí tượng trưng đề cập tới đề tài lá cây, thiên
nhiên.
Họa tiết trang trí phong phú, song đều bắt nguồn từ hiện thực sinh động của cuộc sống:
dấu nan đan, vân tay, sóng nước, vặn thừng, răng lược, ô quả trám, hình hoa thị, khắc
vạch...
3. Đặc điểm cách thể hiện
- Các nghệ nhân nguyên thủy đã bộc lộ khả năng quan sát, thể hiện đặc điểm đặc trưng
của một số sự vật, hình tượng.
- Tỉ lệ tương đối cân đối. Ở một số hình còn thể hiện ý thức về bố cục. Lúc đầu là những
hình đơn lẻ, riêng biệt. Dần dần xuất hiện một số tác phẩm chạm khắc hoàn thiện.
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
7
- Ngoài khả năng vẽ hình, các nghệ nhân nguyên thủy còn bắt đầu tìm cách sử dụng màu
để vẽ hoặc nhuộm trên các bình gốm, vỏ ốc, những vật thiêng dành cho người chết.
- Các hoa văn trang trí thể hiện khả năng khái quát và cách điệu của người nguyên thủy
từ những quan sát chính xác trong cuộc sống.
* Với một số ít tác phẩm còn giữ được đến ngày nay của mĩ thuật nguyên thủy cho chúng
ta tìm hiểu những bước đi chập chững đầu tiên của tổ tiên ta. Mặc dù rấ ít tác phẩm song
cũng đủ để khẳng định sự hình thành và phát triển một đời sống thẩm mĩ vào cuối thời đồ
đá. Những tác phẩm chạm khắc đều thể hiện rất đơn giản, song đó chính là sự bộc lộ
những nhận thức, cảm nhận về thế giới xung quanh của người Việt cổ. Hơn nữa còn
chứng tỏ khả năng quan sát thực tế, chính xác, khả năng tư duy hình tượng và sự khéo léo
của đôi bàn tay khi biểu hiện sự cảm nhận đó lên nhiều chất liệu: đất đá, xương thú, ngà
voi…
Tất cả những yếu tố đó tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuy còn rất vụng về trong cách
biểu hiện song lại rất chân thực, đường nét phong phú sinh động thể hiện cảm xúc trong
sáng, tinh khiết của con người thời y. Mặc rất lâu sau khi hội hình thành,
những dấu vết nghệ thuật mới xuấ hiện, nhưng những hoạt động sáng tạo này đã đặt nên
những viên gạch đầu tiên để tạo nên nền móng cho nghệ thuật tạo hình dân tộc sau này
tiếp tục phát triển và đạt được những thành công đáng kể.
PHẦN II. MĨ THUẬT VIỆT NAM THỜI KÌ DỰNG NƯỚC
I. Các giai đoạn phát triển của văn hóa thời đại dựng nước
Trải qua một thời gian lao động lâu dài, các tộc người nguyên thủy ngày càng phát triển
đông đúc hơn. Trình độ canh tác chế tác đồ đá, đgốm đạt trình độ cao. Lao động
sáng tạo đã giúp các bộ tộc nguyên thủy Việt Nam phát triển trên một địa bàn khá rộng
thống nhất. Theo quy luật phát triển, thời nguyên thủy rất chậm chạp song cũng
phải kết thúc, nhường chỗ cho thời văn minh khi hình thức nhà nước khai nhất ra
đời VN. Đó thời của nền văn minh sông Hồng hay còn gọi là nền văn minh Văn
Lang, Âu Lạc, bắt đầu tthời đại đồ đồng thau với sra đời nhà nước Văn Lang đến
kì đồ sắt với nhà nước Âu Lạc do An Dương Vương đứng đầu.
Các nhà sử học, khảo cổ học đều thống nhất chia thời đại dựng nước ra làm 4 giai đoạn
tương đương với 4 nền văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Mun, Đông Sơn. Các di
chỉ văn hóa thời đại dựng nước được tìm thấy nhiều nơi trên đất nước ta như: Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Tây, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ
An, Yên Bái, Hải Dương, Quảng Bình...
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
8
1. Văn hóa Phùng Nguyên
Văn hóa Phùng Nguyên Thuộc Lâm Thao-Phú Thọ, xuất hiện vào nửa đầu thiên niên
kỉ II trCN. Đây là thời đại đồng thau, các vật dụng tìm thấy chủ yếu Hà Tây,
Bắc, Phú Thọ.
- Công cụ đá tìm được phong phú vloại hình, số lượng, thuật trau chuốt tinh vi,
ngoài ra còn tìm được nhiều đồ trang sức.
- Đồ gốm mịn, độ nung cao chứng tỏ thuật làm đất tiến bộ. Loại hình gốm đa dạng,
độc đáo về phong cách tạo hình.
- Ngoài đồ đá và đồ gốm còn tìm thấy xỉ đồng và mảnh đồng thau. Điều này chứng tỏ bắt
đầu mầm mống của kĩ thuật luyện kim thuật đúc đồng kĩ thuật bản địa, không
phải du nhập từ Trung Quốc các nước khác. Con người thời Phùng Nguyên một mặt
tiếp thu truyền thống của thời kì trước, mặt khác tiếp tục sáng tạo và tìm ra nhiều kĩ thuật
mới, thể hiện nguồn gốc bản địa rõ ràng.
2. Văn hóa Đồng Đậu
- Văn hóa Đồng Đậu niên đại thuộc nửa sau thiên niên kỉ II trCN. Di chỉ Đồng Đậu
thuộc Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, được phát hiện năm 1964, thuộc
trung kì thời đại đồng thau.
- Công cụ đá vẫn chiếm đa số, kết hợp với công cụ đồng.
- Gốm Đồng Đậu có độ nung cao hơn thời Phùng Nguyên.
- thời này còn tìm được nhiều tượng súc vật nhỏ, mũi tên đồng, rìu đồng, mũi lao,
khuôn đúc mũi tên.
- Càng về sau, kĩ thuật đúc càng tinh xảo và phát triển hơn.
3. Văn hóa Gò Mun
Văn hóa Mun tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỉ I trCN, thuộc Phong Châu-Phú Thọ.
Giai đoạn này kĩ thuật luyện kim đã phát triển, công cụ bằng đồng là chủ yếu. Thời kì Gò
Mun chính hậu thời đồng thau. Ngoài mũi tên đồng, lưỡi liềm đồng, chúng ta còn
tìm được những lưỡi câu đồng nhỏ chứng tỏ kĩ thuật đúc đồng đã đạt trình độ cao.
4. Văn hóa Đông Sơn
- Văn hóa Đông Sơn thuộc Thanh Hóa một số địa phương khác trên cả nước, niên
đại cách ngày nay khoảng 2800 đến 2000 năm.
- thời kì này, kĩ thuật đúc đồng, luyện kim đã đạt trình độ tinh xảo, điêu luyện. Đó là
do khiến nhiều nhà khảo cổ học nước ngoài muốn phủ định tài năng sáng tạo của tổ tiên
ta thời Đông Sơn. Ngoài những công cụ, khí, đtrang sức bằng đồng, hiện vật cổ nổi
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
9
tiếng thời Đông Sơn chính những chiếc trống đồng, thau đồng được tìm thấy nhiều
nơi từ Thanh Hóa đến Yên Bái, Lào Cai. Điều này chứng tỏ sự thống nhất về phong cách
thuật của người Việt cổ thời Đông Sơn khẳng định sự tồn tại, phát triển kế tiếp, liên
tục của nền thuật VN suốt từ thời đại đồ đá đến thời đại đồ đồng. Cùng với đồ đồng,
thời này con người đã tìm được sắt. Giai đoạn Đông Sơn thời đầu của thời đại đồ
sắt.
II. Sự phát triển của mĩ thuật thời đại dựng nước
1. Nghệ thuật kiến trúc
- Dưới thời Hùng Vương, các nước Văn Lang được chia làm 15 bộ, dưới mỗi bộ các
công nông dân. Mỗi công đều có trung tâm hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Như vậy
một nền kiến trúc sơ khai nhất đã được hình thành ở thời kì này. Tuy các kiến trúc không
còn tồn tại hay để lại dấu vết, song ít nhất nó cũng tồn tại trong sử sách. Trên trống đồng
Đông Sơn, các nghệ nhân đã khắc họa những hình ảnh cho chúng ta hiểu về cuộc sống
sinh hoạt, vui chơi, lễ hội của cư dân thời Đông Sơn.
Nhà sàn có 2 kiểu:
Kiểu 1: Mái cong võng xuống, hai bên đầu mái được trang trí hình một hoặc hai con chim
cách điệu.
Kiểu 2: Mái tròn, cuộn hai đầu mái 2 hình tròn đồng tâm, sàn thấp. Toàn bộ khối n
btrí trong hình thang cân đối. Mặt ngoài nhà phủ kín hoa văn trang trí, hình tròn tiếp
tuyến, hình tròn có chấm ở giữa, hoa văn gạch chéo.
Kiến trúc thành Cổ Loa
- Trong lịch sử dựng nước, kinh đô Văn Lang miền Lâm Thao (Bạch Hạc-Phú Thọ).
Năm 208 trCN, nhà nước Âu Lạc ra đời, Thục Phán tự xưng An Dương Vương,
quyết định chọn Cổ Loa (Đông Anh-Nội) để xây dựng kinh đô Âu Lạc. Những dấu
vết còn lại ngày nay ở Cổ loa đã được trùng tu vào đời Ngô Vương và các đời tiếp theo.
- Cổ Loa nằm vị trí trung tâm của đất nước, đầu mối của các hệ thống giao thông
đường thủy.
- Cổ Loa kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào
khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của Nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10
sau Công nguyên. Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng nơi
giao lưu quan trọng của đường thủy đường bộ. Từ đây thể kiểm soát được cả vùng
đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa một khu đất đồi cao ráo nằm tả ngạn sông
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
10
Hoàng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch
nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng,
nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình.
Như vậy, vphương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa một vị tcùng thuận
lợi hơn bất kỳ đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy. Đó vị trí nối liền mạng lưới
đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai
mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam.
- Cổ Loa được xây dựng gồm 3 vòng thành, tổng chiều dài khoảng 16km, vòng ngoài
cùng khoảng 8km, vòng thứ hai khoảng 6.5km, vòng trong cùng hình chữ nhật với chu vi
khoảng 1.6km. Phía ngoài các vòng thành đều hào sâu, rộng bao quanh. đây vừa
kinh đô, vừa thành lũy thuận lợi cho cả bbinh thủy quân của quốc gia Âu Lạc
chống ngoại xâm. Với thành Cổ Loa kiên cố, quân dân ta đã lập được nhiều chiến
công, chiến thắng quân Triệu bảo vệ nền độc lập của đất nước cho đến trước năm 179
trCN
2. Nghệ thuật điêu khắc
Tượng người bằng đá (Văn Điển-Nội)
Năm 1966, viện bảo tàng lịch sđã tchức khai quật di chỉ Văn Điển, đây, các nhà
khảo cổ đã tìm được một pho tượng người bằng đá, kích thước nhỏ. Toàn bộ tượng được
tạo ra tmột khối, tượng bằng đá, kích thước nhỏ, hiện chỉ cao 3.6cm. Tay thì hầu như
không có, đầu mình trên một đường trục thẳng, hai chân khép lại đưa về phía trước.
Đầu, thân, mông tương đối hài hòa về tỉ lệ. Đầu, mặt được chú ý diễn tả. Mặt được mài
vát hai bên gò má, nổi cao phần mũi. Chi tiết giới tính nam được nhấn mạnh.
Bức tượng được các nchuyên môn đánh giá cao, thể hiện trình độ làm tượng tròn của
con người thời kì này.
Tuy nhiên, so với nghệ thuật thế giới, pho tượng người đá Văn Điển xuất hiện muộn hơn
nhiều. Trong thời nguyên thủy trên thế giới đã tìm được nhiều tượng phụ nữ. Cùng thời
đó, nghệ thuật điêu khắc Việt Nam chưa phát triển, chúng ta chỉ tìm được một số
hình khắc trên đất, đá, xương.
Tượng người thổi khèn trên cán muôi Việt Khê-Hải Phòng.
Năm 1961, với việc phát hiện di chỉ khảo cổ Việt Khê, Hải Phòng, nhiều hiện vật
quí gía đã được tìm thấy. Chiếc muôi bằng đồng kích thước 17.8cm, được tạo dáng
thanh thoát, cân đối, mềm mại với cán muôi mảnh, cong cuộn tạo thành những vòng tròn
đồng tâm điểm kết thúc.Tuy vậy, sự cân đối còn được hoàn thiện hơn khi các nghệ
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
11
nhân thời này đặt trên cán muôi đặt một pho tượng nhỏ, đó là tượng một người đàn
ông ngồi thổi khèn. Một đầu khèn đặt trên chân, đầu kia tựa vào vòng tròn cán muôi.
Tượng tuy nhỏ song được diễn tả khá chi tiết. Tượng ngồi với tỉ lệ khá cân đối, tóc i
cao, khối mặt được diễn tả , biểu hiện đặc điểm của người Việt Cổ. Tượng được gắn
với chiếc muôi vừa một phần hữu không thể tách rời, vừa tác phẩm nghệ thuật
trang trí cho chiếc muôi đẹp hơn, hoàn thiện cân đối hơn.
Tượng người trên cán dao
Dao găm bằng đồng một thứ krất thông dụng thời Đông Sơn luôn gắn
với con người. Một số dao găm đều phần cán một phụ nữ. Cán dao kích thước
chiếm 1/3 tổng chiều dài của dao, do vậy kích thước của không lớn lắm.Dù vậy các
pho tượng đều được diễn tả rất công phu, chi tiết với nhiều kiểu dáng khác nhau.
Vì tượng là cán dao, do đó phải có bố cục hình dáng phù hợp với chức năng của nó và dễ
sử dụng. Các pho tượng đều tạo dáng đứng thẳng, tay chống nạng. Các chi tiết mắt, mũi,
miệng, đầu tóc, đồ trang sức như vòng tay, ng tai các hoa văn trang trí trên áo, váy
được thể hiện rất kĩ, tỉ mỉ, chi tiết. Tỉ lphần đầu lớn, nhưng đặt trong tổng thể con dao
găm thì lại rất cân đối, hợp lí. Nghệ thuật điêu khắc đã tiến bộ hơn so với thời trước,
nhưng chưa phải là loại hình nghệ thuật độc lập, mà vẫn chỉ là một phần của công cụ, vận
dụng mang tính chất trang trí.
Tượng người quỳ làm chân đèn
Người quỳ đội đèn, hai tay bưng đĩa dầu, vai khuỷu tay chìa ra nhiều nhánh, trên
nhánh cũng những đĩa dầu như tay. Tác phẩm được tìm thấy Lạch Trường-Thanh
Hóa
Tượng người cõng nhau nhảy múa
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, chăm chỉ và rất yêu âm nhạc, thể hiện qua tác
phẩm tượng người cõng nhau nhảy múa m được Đông Sơn-Thanh Hóa. Tượng cao
8.8cm, bố cục hình, đường nét phong psinh động. Tóc, khuyên tai, được cường
điệu về tỉ lệ nhưng tạo sự hài hòa, cân đối, hợp lí cho bố cục của nhóm tượng.
Tượng trên nắp thạp Đào Thịnh
- Nhiều thạp đồng khi khai quật đều thấy đựng nhiều đồ trang sức, dụng cụ cả hài
cốt. vậy theo nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng thạp đồng nếu không phải là một
hình thức quan tài thì cũng là đồ đựng chôn theo cho người mất.
- Ngoài ra trên nắp thạp đồng Đào Thịnh còn bắt gặp 4 cặp tượng người nam nữ đang
giao hoan được bố trí đối xứng. Kích thước các cặp tượng nhỏ, lối tạo hình đơn giản, cụ
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
12
thể nhưng với nội dung độc đáo, mang ý nghĩa lớn lao. Phải chăng đó mong muốn
được tái sinh của con người? Mặt khác cũng bộc lộ một qui luật, nơi kết thúc của
một cuộc đời, lại cũng chính là nơi bắt đầu một kiếp người khác. Phải chăng điều đó cũng
sẽ giúp con người dễ dàng vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống, kể cả trở ngại lớn nhất
là cái chết.
Ngày nay quan niệm đó vẫn còn được duy trì trong đời sống của người Tây Nguyên.
nhà mồ Tây Nguyên ta vẫn bắt gặp những pho tượng nam nữ như trên nắp thạp Đào
Thịnh ngày xưa, điều này góp phần thể hiện quan niệm tín ngưỡng của người Việt.
Cùng với tượng vcon người, chúng ta còn tìm được những pho tượng các con vật
như gà trống, tượng cóc, hổ, chim, cá.
Những tác phẩm mĩ thuật phản ánh văn minh lúa nước thời Đông Sơn:
- Cóc:
Theo thống của viện khảo cổ học 1995, có 80 tượng cóc. Do đặc tính tự nhiên, cóc rất
nhạy cảm với thời tiết, mỗi lần cóc nghiến răng thì mưa rơi. Cóc mặt hầu hết trên
trống đồng, nắp thạp, họ coi đó biểu tượng của tâm linh, mưa thuận gió hòa, biểu
tượng của thần nông nghiệp.
- Thú nuôi:
Chó: Con thú được thuần dưỡng, giữ nhà, săn thú. giống vật tinh khôn và gần giũ với con
người.
Một số dân tộc ở Việt Nam rất tôn thờ con chó và xem như vật tổ: Cơ Tu, Dao.
Bò, trâu: Hiền lành, chăm chỉ. Gắn với đời sống cộng đồng, gắn với đời sống người nông
dân, đồng thời gắn với văn minh lúa nước. Trâu bò cày cấy, tải đồ.
Con vật tình nghĩa, thủy chung, dũng mãnh.
Chim lạc: Thể hiện tâm linh của người Việt, biểu hiện của Totemisme.
Bồ nông: Luôn đi sau luống cày của người dân để ăn giun, biểu hiện gía trị nhân văn đối
với văn minh lúa nước, biểu hiện tinh thần văn hóa Đông Sơn.
Gà: trống Vinh Quang-Tây: chú trọng chi tiết mào gà, đuôi gà, toàn bộ hình
được cách điệu với đường nét cong, mềm mại, tạo dáng thanh mảnh.
Gà gáy báo sáng, xua tan đêm tối, người ta tin rằng gà có công năng xua đuổi ma quỷ.
gáy gọi người thức dậy ra đồng
Các vật dụng trong đời sống vũ khí
- Lưỡi cày, thuổng, cuốc, mai, đục, bẹt, nạo, dùi, dao khắc, rìu…Công cụ gắn liền với
sản xuất nông nghiệp, được tạo dáng phù hợp với chức năng sử dụng.
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
13
- khí đa dạng và độc đáo về kiểu dáng: rìu chiến, kiếm ngắn, giáo, dao găm lưỡi tre,
áo giáp có hộ tâm kính che ngực, mũi tên cánh én.
- Đồ trang sức đa dạng và phong phú.
Trang sức ở tai, tay, chân, cổ, thắt lưng.
Đồ trang sức có gắn nhạc(gắn liền với âm nhạc và ca múa)
3. Nghệ thuật chạm khắc trang trí.
- Trong những hiện vật tìm thấy Đông Sơn, tiêu biểu nhất những chiếc trống đồng.
Đây là một loại nhạc cụ thường được dùng trong các lễ hội, các cuộc tế lễ, ca múa. Trống
đồng còn một tác phẩm thuật độc đáo của dân tộc ta. đó vẻ đẹp về hình dáng,
tỉ lệ và các hình hoa văn trang trí được cách điệu cao, phong phú về thể loại.
- Trống được cấu tạo gồm 3 phần chính: mặt trống tròn, tang trống phình, phần thân thon
và chân hơi choãi tạo dáng vững chải cho trống đồng. Mặt khác với cấu tạo như vậy trống
sẽ âm thanh vang xa sự cộng hưởng âm thanh. Trên mặt thân trống được
trang trí hoa văn cách điệu cao, phong phú về thể loại. Qua đó thể hiện cuộc sống làm ăn,
vui chơi, lễ hội, cách ăn mặc, trang phục...
Trang trí trên trống đồng Ngọc Lũ(Hà Nam)
Phần mặt trống thường được trang trí bằng nhiều hoa văn phong phú. Trong cùng
ngôi saonhiều cánh, khoảng 14 đến 16 cánh, đây là biểu tượng mặt trời, khoảng trống
giữa các cánh sao hoa văn lông công. Từ trung tâm tỏa ra các hoa văn hình học như:
hoa văn hình tròn tiếp tuyến, hoa văn chữ S gấp khúc. Ba vành hoa văn diễn tả hoạt động
của con người, chim, thú, nối nhau chuyển động theo hướng ngược chiều kim đồng hồ.
Ngoài cùng được lặp lại 5,6 vành hoa văn hình học bố trí cân đối.
Do kĩ thuật khắc khi làm khuôn đúc nên khi đổ đồng đã tạo ra độ cao thấp cho các hình
tượng. Điều này đã tạo ra mảng sáng tối đậm nhạt phong phú cho toàn bộ hình trang trí
mặt trống.
Hoa văn về con người diễn tả nhiều hoạt động sinh hoạt như nhảy múa, lễ hội, giã
gạo, chèo thuyền, chơi trồng nụ trồng hoa. Con người muôn thú được diễn tả theo
hướng nhìn nghiêng, cánh chim, mắt chim diễn tả theo hướng chính diện. Tất cả tạo nên
những típ trang trí đơn giản sinh động cách điệu cao. Những hình trang trí này
giúp người đời sau hiểu được lịch sử xã hội đương thời.
Hình tượng mặt trời đặt ở trọng tâm thể hiện sự quan tâm của mặt trời đối với các dân
tộc trồng lúa nước.
Phần tang trống thân trống trang trí thưa hơn cũng đơn giản hơn. Hình người,
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
14
hình chim vẫn chuyển động theo chiều như trên mặt trống, thể hiện chủ yếu bằng kĩ thuật
khắc chìm nhưng cũng chỗ hình nổi, xen kẽ hài hòa cân đối. Ngoài hình người, chim,
hươu còn có hình cá sấu (giao long), cá, hình thuyền...
Vũ khí, trang sức
Hoa văn trên đồ gốm
Bàn xoay được sử dụng để làm gốm. Gốm thời này phong phú về hình dáng, nung
trong chuyên dụng tạo ra loại gốm xương cứng, bề mặt mịn màng hơn. Đồ gốm đa
dạng về kiểu dáng, thống nhất cấu trúc ba phần: miệng rộng, thân thon, chân doãng để
tạo đế vững chải cho đồ dùng.
Phần lớn các hoa văn đều được bố cục thành các dải băng ngang. Tất cả đều được gợi từ
những hình mẫu sẵn trong tự nhiên, nhưng được cách điệu hoặc đơn giản mang
trình độ thẩm mĩ cao.
III. Đặc điểm của mĩ thuật thời đại dựng nước
Tóm lại:
- Mặc dù số lượng không nhiều, không hoành tráng như nghệ thuật tạo hình thế giới cùng
thời đại nhưng các tác phẩm điêu khắc, hoa văn trang trí trên trống đồng, đồ gốm
những tư liệu quý giá khẳng định sự tồn tại và bước đầu phát triển một nền nghệ thuật tạo
hình của người Việt cổ. Nền nghệ thuật mang đậm đà màu sắc bản địa đang dần được
hình thành. Nền nghệ thuật đó phần nào phản ánh được những phong tục, sinh hoạt lao
động, làm ăn vui chơi, lễ hội của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
- Nền nghệ thuật ĐS đậm đà màu sắc bản địa, phản ánh phong tục, sinh hoạt lao động,
làm ăn vui chơi, lễ hội của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
- Đồ đồng thời ĐS phát triển rực rỡ với nhiều thể loại, đặc biệt trống đồng, thạp đồng,
hoa văn thú vật, sinh hoạt con người, hoa văn hình học.
- Thủ pháp nghệ thuật miêu tả theo hướng nhìn nghiêng
- Văn hóa lúa nước phát triển, thực phẩm dồi dào, có dự trữ dẫn đến phân cấp hội
người Việt c
- Kĩ thuật đồng thau mà đỉnh cao là trống đồng
- Kĩ thuật quân sự mà đỉnh cao là thành Cổ Loa.
- Sự tổ chức cộng đồng hoàn chỉnh theo phương thức thôn tự trị đỉnh cao là sự
thành lập nhà nước Văn Lang.
Nền thuật thời kì này tạo nền móng, sở cho một nền thuật dân tộc ngày càng
được hoàn thiện trong các giai đoạn sau.
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
15
CHƯƠNG II: MĨ THUẬT THỜI KÌ PHONG KIẾN DÂN TỘC ĐỘC LẬP
PHẦN I: MĨ THUẬT THỜI LÝ(1009-1225)
I. Khái quát về xã hội thời Lý(1009-1225)
- Ngày 2 tháng 11 năm Kỉ Dậu (21/11/1009), được các thế lực phật giáo, đứng đầu
Vạn Hạnh các triều thần ủng hộ, Công Uẩn(Lý Thái Tổ 970-1028) lên ngôi hoàng
đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên. 1010, Lý Công Uẩn rời Hoa Lư ra Đại La, đổi tên thành
là Thăng Long.
- Nvua nhiều chính sách tích cực phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống của
dân dần dần được ổn định, tạo cơ sở vật chất cho nhà nước trung ương tập quyền.
- Các hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển như dệt vải lụa, đồ gốm,
đúc đồng, khai thác vàng, nghề in, nghề khắc gỗ. Thương nghiệp mở rộng buôn bán cả
nội, ngoại thương.
- Nhà vua chú trọng đến việc chọn lựa nhân tài, xây dựng miếu thờ Khổng Tử, mở Quốc
Tử Giám, mở các khoa thi.
- Hoạt động lập pháp của nhà nước bắt đầu phát triển, ban hành bộ Hình Thư, đây được
coi bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Tuy nhiên luật này chủ yếu bảo vệ quyền
lợi cho nhà nước phong kiến, quan lại, quý tộc, phân biệt đẳng cấp hội...và hiệu lực
của nó còn hạn chế.
- Tín ngưỡng dân gian với các tục lệ thờ cúng vẫn được duy trì ăn sâu trong nếp nghĩ
của người dân.
- Phật giáo được phát triển ảnh hưởng lớn trong nhân dân, quý tộc. Nhiều công
trình kiến trúc chùa tháp được xây dựng phục vụ cho nhu cầu tôn giáo. Phật giáo chiếm
vị trí độc tôn, với tưởng từ bi bác ái chinh phục đông đảo nhân dân.Phật giáo được
xem như là quốc đạo.
Tất cả mọi điều kiện xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của mĩ thuật thời Lý.
Sự phát triển ổn định của kinh tế, chính trị điều kiện quan trọng cho nhiều công
trình kiến trúc được xây dựng, các tác phẩm điêu khắc, hội họa được sáng tác.
II. Các loại hình nghệ thuật
1. Nghệ thuật kiến trúc
Kiến trúc phát triển mạnh ở cả hai thể loại: kiến trúc tôn giáo và kiến trúc thế tục. Kiến
trúc thế tục đáng chú ý là những công trình kiến trúc thuộc về cung đình.
a. Thành Thăng Long
- Thành Thăng Long được xây dựng từ mùa thu 1010 đến m xuân 1011. Thăng Long
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
16
được giới hạn bởi 3 con sông: sông Hồng, sông và sông Kim Ngưu. Chính điện của
đời Thái Tổ được dựng trên núi, đến nay thì còn lại dấu vết của thềm bậc cửa điện
Kính Thiên.
- Kinh thành được chia làm 2 khu chính: khu hoàng thành khu dân sinh sống làm
ăn. Thành gồm 2 vòng dài khoảng 25 km. Trong hoàng thành, nhà nước cho xây dựng
nhiều cung điện, lầu gác như điện Càn Nguyên, điện Giảng Võ, Phụng Thiên, cung Thúy
Hoa, Long Thụy, Nghinh Xuân, Uy Viễn. Trong kinh thành còn xây dựng nhiều ngôi
chùa như: Vạn Tuế, Chân Giáo, ....dành cho vua và hoàng hậu, cung tần đến lễ Phật. Để
bảo vệ các công trình trên, năm 1029, vua cho xây dựng một dải tường bao quanh gọi
Long Thành. Từ đó mở ra 4 cửa 4 hướng: Bắc, Nam, Đông, Tây. Ngoài hoàng thành
cũng chia làm 4 hướng. Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo bố cục cân xứng,
đăng đối tất cả đều quy tụ vào điểm giữa, điểm trung tâm. Về mặt địa lý, Thăng Long
là trung tâm của đất nước, giao thông thủy bộ đều dễ dàng, thuận lợi, xây dựng trên mảnh
đất hợp với phong thủy.
Kinh thành Thăng Long: quần thể kiến trúc lớn với hai vòng thành bao bọc lấy nhau.
Vòng ngoài Đại La Thành(kinh thành),vòng trong là cung thành(hoàng thành).Tổ chức
theo kiểu vòng thành bao bọc nhau lần đầu tiên xuất hiện trong kiến trúc thành Việt Nam.
Hoàng thành nơi ở, làm việc của vua chúa gồm nhiều cung điện như: điện Càn
Nguyên, điện Tập Hiền, điện Giảng Võ, điện Trường Xuân...
Thành tính chất phòng thủ không cao như Hoa Lư, nhưng là đầu mối thông thương
của đồng bằng Bắc Bộ, kề sát sông Hồng với 61 phường thợ đông đúc.
Đại La thành: vòng tường thành ngoài cùng, khép kín, dựa theo thế tự nhiên xây
đắp, đóng vai trò là một đê quai chống lũ lụt, là nơi dân cư sinh sống làm ăn.
Cung thành (khu hoàng thành), tường thành bao quanh khu vực cung điện, bảo vệ các
cơ quan đầu não của nhà nước, họ hàng nhà vua
1029, xây dựng Long Thành bao bọc nơi làm việc chính cuả nhà vua, triều đình một
số điện khác.
b. Kiến trúc chùa tháp
Kiến trúc chùa tháp thời nhà phát triển cực thịnh. Trong mỗi ngôi chùa, kiến trúc thể
hiện sự hài hoà tạo nên không khí của tâm linh. Chùa tháp sở hoạt dộng truyền
Phật giáo, thờ thần, thờ tam giáo ( Phật, Lão, Khổng ).
- Chùa thời được phân chia 3 loại, Đại danh lam ( Phật Tích, Chương Sơn ), Trung
danh lam, Tiểu danh lam.
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
17
- Chùa thời thường được dựng giữa đồng bằng hoặc chân núi, gần sông, ao, mặt
chính thường quay về hướng Nam ( để nghe tâu bày của thiên hạ )
*Chùa Một Cột (Diên Hựu)
Chùa Diên Hựu được xây dựng năm 1049, gồm ngôi chùa đài Liên Hoa, xây giữa
hồ vuông Linh Chiểu. Vòng quanh hồ dãy hành lang, phía ngoài ao Bách Trì, mỗi
bên đều bắc cầu vồng đi vào. Chùa xây dựng theo giấc của vua Thái Tông mong
được kéo dài tuổi thọ.
Năm 1080, chuông chùa Một Cột được đúc và có tên là chuông Quy Điền
Năm 1100, chùa được mở rộng thêm về quy mô.
Năm 1954, Pháp cho nổ mìn phá hủy đài Liên Hoa, chính phủ ta đã cho làm lại hoàn
thành năm 1955.
Chùa Một Cột ngày nay là ngôi chùa hình vuông, mỗi chiều 3m, được dựng
trên cây cột có đường kính 1.2m, cao 4m. Chùa Một Cột là công trình kiến trúc độc
đáo của dân tộc ta, chứng tỏ sự sáng tạo trong nghệ thuật kiến trúc, xứng đáng là một
trong nhiều tác phẩm tiêu biểu cho Thăng Long-Hà Nội.
* Chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự-xã Phượng Hoàng-huyện Tiên Sơn-tỉnh Bắc Ninh)
Chùa được xây dựng vào năm 1057, chuà cổ nay không còn. Chùa được dựng dưới
chân núi Phật Tích. Trên nền tầng 3 5 đôi tượng thú sắp thành hai hàng ngang đối
xứng nhau trước cửa chùa. Các tượng thú gồm: sư tử, voi, trâu, tê giác, ngựa.
Đến thế kỉ 12, chùa đã được dựng lại theo kiểu nội công ngoại quốc, song lại bị phá hủy
hoàn toàn vào năm 1947. Năm 1991, chùa được dựng lại và tồn tại đến ngày nay.
* Chùa Dạm (Nam Sơn-Quế Võ-Bắc Ninh)
Chùa còn có nhiều tên gọi khác như: Cảnh Long Đồng Khánh, chùa Thần Quang, được
xây dựng vào năm 1086 dưới triều Nhân Tông. Đến nay vẫn còn dấu vết của 4 lớp
nền cao 117m, chiều ngang 65m. Trên lớp nền thứ 2 còn dấu vết của các ô đất dựng
cột đá cao hơn 5m, chạm rồng. Sau cột giếng, cột giếng hai hình tượng ý
nghĩa về mặt dân tộc học, đó biểu tượng phồn thực, âm dương. Chùa Dạm hiện nay đã
được xây dựng lại trên nền cũ.
* Kiến trúc tháp thời
Khi bắt đầu tiếp xúc với Phật giáo, nhân dân ta đã xây tháp để thờ Phật. Sau này chùa,
tháp được xây dựng tách riêng và cũng mang chức năng khác nhau.
Tháp được xây dựng sau hoặc những vị trí quan trọng trong chùa. Kiến trúc tháp
vuông bốn mặt, cao tầng, đây là một hình thức độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
18
với nhiều chức năng. Tháp thể nơi tưởng niệm, hành lễ tôn giáo cũng nhiều
nơi tháp chứa xá lị của các sư tăng.
Chiều cao tháp thường được tính bằng chu vi đáy. Tháp Chương Sơn cao khoảng 76m,
tháp chùa Phật Tích cao 34m, truyền thuyết về tháp Báo Thiên cao vài mươi trượng.
2. Nghệ thuật điêu khắc thời Lý
a. Tượng Phật và các loại tượng khác
*Tượng Phật chùa Phật Tích
Kích thước thật của tượng Phật không kể bệ là 1.85m, pho tượng gồm 2 phần: tượng
Phật bệ tượng được làm bằng đá. Phần bệ tượng đá thô hơn, hạt đá nổi hơn so với
đá làm tượng Phật. Tượng Phật mặt hơi cúi, miệng hơi mỉm cười, mặt trái xoan, mũi dọc
dừa, lông mày liễu, mắt dăm. Miệng nhỏ, môi nở dày, mọng, đầy sức sống. Thân
thẳng, mỏng, đường nét, khối khỏe, dứt khoát, kết hợp với sóng áo nổi cao, mềm mại, lan
tỏa gợi sự hài hòa, cân đối giữa các yếu tố tĩnh, động, cứng, mềm. Tất cả tạo cho pho
tượng có vẻ đẹp vừa hiện thực, sống động vừa sâu lắng, thần bí.
Pho tượng Phật chùa Phật Tích tác phẩm quý giá của thời Lý để lại, tác phẩm đã thể
hiện Đức Phật theo tinh thần thẩm mỹ của người Việt. Tượng được biểu hiện sự kết
hợp hài hòa giữa hai yếu tố tôn giáo và hiện thực. Ở tượng Phật chùa Phật Tích vừa có sự
nghiêm trang sâu lắng trầm tư, lại vừa phúc hậu sôi nổi, tươi mát tràn đầy sức sống.
*Một số pho tượng khác
Tượng người chim đánh trống: Pho tượng skết hợp hài hòa sự hợp của hai yếu
tố: con người và chim. Phần đầu, thân người và chiếc trống cơm trước ngực được gắn với
phần thân, cánh, chân đuôi chim. Chân dung mang vẻ phúc hậu, tĩnh lặng rất quen
thuộc với người Việt.
Tượng sư tử chùa Tấm- Gia Lâm-Nội cao 1.1m, tượng con sấu trên bậc cửa
chùa Hương Lãng-Hải Hưng, tượng thú đặt trên tòa sen.
tháp chùa Long Đọi-Nam Định còn 6 tượng Kim Cương gắn liền với tấm đá sau lưng.
Hình thức này gần giống với chạm nổi thời Hi Lạp. Khối nổi như tượng tròn, nhưng
không đứng độc lập mà gắn trên mặt phẳng đá liền thành một khối.
b. Chạm nổi trang trí
- Các hình tượng hoa sen, hoa cúc, con rồng, sóng nước, nhạc công, vũ nữ những
môtip chủ yếu trong chạm nổi trang tcủa thời Lý. Các hoa văn trang trí thời được
cách điệu cao thường được sắp xếp thành các đồ án trang trí cụ thể trong hình tròn,
hình đề. Mật độ hoa văn trang trí dày đặc trên bề mặt, hình tượng thường nhỏ li ti,
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
19
đường nét mượt mà trau chuốt, trang trí tỉ mỉ, chi tiết.
- Hình tượng con người xuất hiện với đề tài dàn nhạc công trên mặt bên của đá chân
cột chùa Phật Tích. Các nhạc công chơi các nhạc cụ như trống, nhị, sáo, tam thập lục,
phách, đàn bà, đàn nguyệt, trống cơm, trong trang phục ngày hội, tóc búi cao, cài hoa
trang trí, vừa tấu nhạc vừa nhảy múa với hình dáng động. Khối nổi cao, tròn, chắc, đường
nét mềm mại, uyển chuyển.
- Hình tượng con rồng được trang trí trong kiến trúc điêu khắc thuộc vPhật giáo
cung đình. Rồng thời Lý mang đặc điểm riêng, thống nhất với phong cách chung của thời
đại. Toàn bộ con rồng được sắp xếp gồm nhiều hình tròn nối tiếp nhau, nhỏ dần về phía
đuôi. Các khúc uốn lượn nhịp nhàng, thoăn thoắt, đều đặn. Rồng mang đặc điểm thân rắn,
chân chim, bờm ngựa, đầu phảng phất một con vật trong thần thoại Ấn Độ. Rồng được
sắp xếp thành các môtip như: rồng ổ, rồng chầu, rồng đuổi, rồng đơn...
3. Nghệ thuật hội họa thời
- Một số loại tranh được sáng tạo thời Lý như tranh trang trí gắn với kiến trúc, tranh
chân dung, tranh chữ, tranh bản đồ, tranh Phật giáo.
Sau khi xây dựng Văn Miếu, ngoài việc cho đắp tượng Khổng Tử để thờ phụng, nhà nước
còn vẽ bộ tranh “Thất thập nhị hiền”(Bảy mươi hai người học trò giỏi của Khổng Tử)
- Tranh tường về đề tài tôn giáo, thể hiện quan niệm nhân quả, khuyến thiện trừng ác theo
quan niệm nhà Phật. Tranh vẽ về các Phật tổ cũng có khá nhiều trên chất liệu như gỗ, vải,
giấy.
- Tranh chmột kiểu chơi chữ, chữ Hán chhình tượng do đó chữ viết cũng giống
vẽ tranh. Sử ghi lại nhiều bức tranh chữ của các vua thời như Nhân Tông, Lý
Thánh Tông với chữ Phật cao một trượng sáu thước(5m). Vua Anh Tông chủ biên
tranh bản đồ Đại Việt vẽ theo kiểu tranh phong cảnh đất nước như “Nam Bắc phiên giới
địa lý”.
4. Gốm thời Lý
III. Đặc điểm mĩ thuật thời Lý
- Tính chất vương quyền nổi bật.
- Các công trình kiến trúc quy lớn, nhất kiến trúc thuộc vPhật giáo. Kiến trúc
hòa với thiên nhiên thành một tổng thể rộng lớn. Tháp có kích thước lớn hơn nhiều so với
chùa, có nhiều tầng và nhỏ dần về phía ngọn.
- Điêu khắc thời này gắn liền với kiến trúc, các hình tượng điêu khắc đều gắn liền với
thực tế thiên nhiên, con người sinh động. Vì vậy mĩ thuật thời Lý vừa mang tính tôn giáo,
Lịch s mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giảng viên: Trần Th Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
20
chính thống vừa mang tính hiện thực.
- thuật thời hướng tới sự mẫu mực, hoàn thiện trong đường nét, khối hình. Hoa
văn nhỏ, dày đặc. Hoa văn trang tđược cách điệu cao, sắp xếp trong bố cục hình tròn,
vuông, tạo thành những đồ án trang trí thống nhất về phong cách suốt hai trăm năm tồn
tại của triều Lý.
- Về phong cách thể hiện, thuật thời mang tính tôn giáo, chính thống nhiều hơn
tính dân gian, đồng thời còn kết hợp nhuần nhuyễn hai tính chất tôn giáo thần với tính
vương quyền, quý tộc.
PHẦN II: MĨ THUẬT THỜI TRẦN(1226-1400)
I. Khái quát về xã hội thời Trần
Nhà phát triển thịnh trị vào đời vua Nhân Tông(1072-1127), sau đó bắt đầu đi
vào con đường suy yếu, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra góp phần làm lung lay ngai vàng
nhà Lý.
Huệ Tông không con trai nên nhường ngôi cho con gái thứ Chiêu Thánh (Lý
Chiêu Hoàng,7 tuổi). Vì vậy mọi điều hành trong triều đình đều nằm trong tay viên quan
điện tiền Trần Thủ Độ.
1226, dưới sự chỉ đạo của Trần Thủ Độ, Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho
chồng Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu Trần Thái Tông, triều Trần chính
thức được thành lập, thay thế cho nhà trên đài chính trị, nắm quyền điều hành đất
nước từ năm 1226 đến năm1400.
- Dưới triều Trần ý thức dân tộc ngày càng được khẳng định, bộ máy chính quyền được
xây dựng có hệ thống từ trung ương đến địa phương.
- Nho giáo tuy chưa phát triển mạnh bằng Phật giáo nhưng nhà nước cũng rất chú trọng
đến việc học hành, thi cử, chọn nho sĩ có tài. Nhiều nhân tài được đào tạo trong thời Trần
như: Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh...
Phật giáo vẫn được phát triển mạnh, ngày càng hòa hợp gần gũi với đời sống nhân
gian, chùa tháp vẫn được xây dựng nhiều, tuy không có quy mô lớn như chùa thời Lý.
- Về kinh tế, nhà nước chú trọng những chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển.
Quân đội được tổ chức theo chế độ “Ngụ binh ư nông” để góp thêm lực lượng sản xuất
nông nghiệp. Kinh tế thành thị thịnh vượng kéo theo sự phát triển kinh tế hàng hóa, giao
thông.
Từ năm1258 đến năm 1287, quân Mông Nguyên đã 3 lần đem quân sang đánh chiếm
Đại Việt song đều thất bại nặng nề, điều đó đã khẳng định truyền thống yêu nước và ý chí

Preview text:

Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương I. MỸ THUẬT VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY
VÀ THỜI ĐẠI DỰNG NƯỚC
PHẦN I: MỸ THUẬT VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY
I. Đặc điểm lịch sử thời nguyên thủy ở Việt Nam.
Thời nguyên thủy là thời kỳ đầu tiên của xã hội loại người.
Thời kỳ nảy sinh và phát triển của chế độ công xã nguyên thủy chính là thời đại đồ đá.
Các nhà khảo cổ học đã chia thời kỳ đồ đá ra làm ba giai đoạn: thời kỳ đồ đá cũ – thời kỳ
đồ đá giữa – thời kỳ đồ đá mới:
1. Thời kỳ đồ đá cũ:
- Di tích núi Đọ - Thanh Hóa được xếp vào sơ kỳ đồ đá cũ. Đây là nơi cư trú của người
việt cổ, đồng thời cũng là nơi chế tạo các công cụ bằng đá thô sơ: mảnh tước, công cụ chặt, rìu tay, nạo ...
- Thời kỳ này cách chúng ta khoảng 300.000 năm, là thời kỳ tổ chức xã hội đang hình thành.
- Trải qua quá trình phát triển con người dần bước vào chế độ thị tộc nguyên thủy. Để có
thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, con người phải tụ họp lại với
nhau, sống thành những bầy đàn người trong các hang động tự nhiên.
- Với công cụ bằng đá thô sơ, họ sống chủ yếu bằng săn bắn, hái lượm.
- Cuối thời kỳ đồ đá cũ, người việt cổ đã cư trú trên một địa bàn khá rộng, các di tích
khảo cổ học đã cho chúng ta thấy dấu tích của thời kỳ này ở nhiều nơi: Miền Bắc: Phú
Thọ, Sơn La, Lai Châu, Bắc Ninh, Bắc Giang. Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị.
- Thời kỳ này, các bầy người nguyên thủy đã tập hợp lại với nhau thành các thị tộc, bộ lạc.
Mỗi thị tộc gồm vài ba thế hệ cùng huyết thống. Nhiều thị tộc hợp thành một bộ lạc. Kỹ
thuật chế tác đá đã tiến thêm một bước, thay vì dùng đá bazan để chế tạo công cụ thì họ
lại dùng đá cuội tìm được ở các bãi sông. Những viên đá cuội được ghè đẽo trở thành
công cụ có hiệu quả hơn so với thời kì trước, dễ dàng cắt, xẻ…
- Các di tích của các bộ lạc thời kì này được gọi là văn hóa Sơn Vi. Văn hóa Sơn Vi
thuộc xã Sơn Vi- huyện sông Thao, tỉnh Phú Thọ, cách ngày nay khoảng 10000 đến 18000 năm.
2. Thời kì đồ đá giữa
Sau văn hóa Sơn Vi, người Việt cổ bước vào thời kì đồ đá giữa, tương đương với nền văn
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- hóa Hòa Bình.
- Thời kì này cách chúng ta khoảng 10.000 năm.
- Văn hóa Hòa Bình được tìm thấy ở Bắc Sơn, Quỳnh Văn, Đa Bút
- Xã hội nguyên thủy sang thời kì văn hóa Hòa Bình đã tiến thêm một bước cao hơn.
- Ngoài săn bắn, hái lượm, các cư dân văn hóa Hòa Bình đã bắt đầu làm nông nghiệp.
- Những dấu vết về nền nông nghiệp sơ khai đã được tìm thấy ở nhiều nơi như hang Sùng
Lãm- Hòa Bình, hang Thẩm Khương- Lai Châu, hoặc hang Xóm Trại- Hòa Bình. Thời kì
văn hóa Hòa Bình, con người đã định cư lâu dài so với thời kì đồ đá cũ. Con người thời
kì này thường làm lều, nhà ở gần cửa hang, sông, suối. Bên cạnh các công cụ bằng đá còn
tìm được các công cụ, vũ khí bằng tre, nứa, xương, sừng rất phong phú.
Cùng với săn bắn, hái lượm, con người đã biết trồng trọt. Nền văn minh nông nghiệp bắt đầu được hình thành.
- Tín ngưỡng, tôn giáo có lẽ cũng xuất hiện với hình thức sơ khai nhất: Totemise (Tô tem giáo - Thờ vật tổ)
3. Thời kì đồ đá mới
- Thời kì đồ đá mới bắt đầu khoảng thiên niên kỉ VI trước CN. Địa bàn cư trú của người
Việt cổ lan rộng trong cả nước từ miền biển, miền núi, miền trung du, dân số ngày càng tăng.
- Quá trình tiến hóa của họ tạo nên văn hóa Bắc Sơn.
Công cụ sản xuất thời kì văn hóa Bắc Sơn đã tiến bộ hơn trước nhiều.
- Các cư dân thời kì này đã biết sử dụng công cụ lao động với những chức năng mới. Các
cư dân thời kì này đã biết sử dụng kĩ thuật mài đá tạo ra lưỡi rìu mài, có tra cán. Với công
cụ lao động mới, năng suất lao động đã tăng lên rất nhiều, chăn nuôi, trồng trọt phát triển mạnh.
- Thời kì này được gọi là thời kì cách mạng đồ đá.
- Ngoài công cụ và đồ dùng bằng đá, cư dân thời kì này đã biết chế tạo ra đồ gốm. Cuộc
sống sinh hoạt, làm ăn của cư dân thời kì đồ đá mới đã tiến bộ hơn rất nhiều so với thời kì trước...
- Bên cạnh việc săn bắn, hái lượm, nhiều nghề mới xuất hiện như trồng trọt, chăn nuôi,
đánh cá. Nghề nông bắt đầu hình thành trong thời kì đồ đá giữa, đến nay tiếp tục phát
triển trở thành một trong những ngành chính. Cây trồng quan trọng và chủ yếu là cây lúa.
-Đời sống vật chất phát triển kéo theo sự phát triển của đời sống tinh thần. Đồ trang sức
được chế tác trên nhiều vật liệu phong phú như đá, vỏ ốc, đất nung, vỏ trai... và nhiều thể
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 2
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
loại khác như vòng trai, vòng cổ khuyên tai. Điều này chứng tỏ nghề thủ công đã rất phát triển.
- Ngoài việc chế tạo công cụ lao động, dụng cụ gia đình, đồ trang sức, đồ gốm, con
người thời kì này còn biết dệt vải.
- Trong các ngôi mộ cổ, chúng ta tìm được nhiều xương sọ và các xương khác được tô
màu đỏ cùng các vật dụng, dụng cụ lao động. Điều đó cho thấy trong tư duy của người
nguyên thủy đã hình thành quan niệm về một giới khác tồn tại chỉ khi con người đã từ giã
cuộc sống, ở thế giới đó, con người vẫn làm ăn, sinh sống, lao động như thế giới hiện tại.
- Thời kì đồ đá mới là giai đoạn cuối của thời kì nguyên thủy. Tư duy của con người ngày
càng phát triển phong phú hơn. Bàn tay ngày càng khéo léo hơn. Phân công lao động
trong các bộ lạc đã ngày càng rõ ràng, cụ thể và chuyên môn hóa hơn. Đời sống ổn định
và lâu dài hơn. Tất cả những điều đó là sự chuẩn bị cho sự ra đời một chế độ xã hội mới
với sự hình thành nhà nước ở giai đoạn sơ khai nhất.
II.Quá trình phát triển của mỹ thuật nguyên thủy
- Thời kỳ nguyên thủy có lẽ là thời kỳ dài nhất trong lịch sử phát triển của xã hội loài
người. Đồng thời sự phát triển của xã hội cũng chạm chạp nhất. Mặc dù vậy cùng với sự
nhích dần chậm chạp ấy, con người cũng dần tiến tới một đời sống thẫm mỹ. Cùng với
lao động, với cái có ích, cái đẹp cũng dần xuất hiện. Trải qua một thời gian lâu dài, đến
thời kỳ đồ đá giữa con người thời nguyên thủy đã bắt đầu tạo ra nhũng hình khắc đầu
tiên, mở đầu cho một nền mĩ thuật phát triển sau này.
1.Mĩ thuật thời kỳ đồ đá giữa (cách ngày nay khoảng một vạn năm)
Trong lịch sử mĩ thuât thế giới, đến cuối thời kỳ đồ đá cũ đã bắt đầu xuất hiện những dấu
vết đầu tiên về nghệ thuật tạo hình.
- Ở Việt Nam, thời kỳ đồ đá cũ với văn hóa Sơn Vi, ta tìm được chủ yếu là hòn ghè và các công cụ chặt.
- Sang văn hóa Hòa Bình chúng ta mới tìm được những dấu hiệu mỹ thuật đầu tiên. Thuật
ngữ văn hóa Hòa Bình chỉ chung văn hóa của cả vùng Đông Nam Á. Văn hóa Hòa Bình
được xếp vào thời kì đồ đá giữa và dần dần phát triển sang thời đồ đá mới.
- Những dấu hiệu mĩ thuật đầu tiên mặc dù chỉ là những hình khắc đơn giản về nội dung
và bằng trình độ tạo hình sơ khai nhưng sự xuất hiện đó đã khắng định sự ra đời nền nghệ
thuật tạo hình của người Việt cổ.
- Thời kì này con người vẫn ở trong hang động. Nghệ thuật văn hóa Hòa Bình cũng chính
là nghệ thuật hang động. Ở hang động Lam Gan (Hòa Bình), người ta tìm được mũi dùi
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 3
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
làm từ xương thú. Trên mũi dùi có khắc hình sáu cái lá mọc so le nhau đan thành hình
ngọn cây. Mặc dù rất nhỏ nhưng hình lá được khắc rõ và chi tiết. Bốn trong sáu chiếc lá
còn khắc cả đường gân song song.
- Những hình khắc trong hang Đồng Nội thuộc xã ĐồngTâm-huyện Lạc Thủy-Tỉnh Hòa
Bình, do nhà khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani (1866 – 1943) tìm thấy là nhũng
tác phẩm hoàn thiện và độc lập hơn, chứng tỏ sự phát triển thêm một bước của mĩ thuật nguyên thủy.
- Trên vách đá của lối đi vào hang Đồng Nội, có bốn hình khắc với nét sâu và to, trong đó
có ba hình mặt người và một hình mặt thú.
Mặt người ở phía ngoài cùng chỉ còn một nửa. Ba hình khắc mặt người được sắp xếp thành một nhóm.
Mặt giữa to nhất với kích thước cao 31cm, rộng 34cm. Các nét chi tiết mắt, mũi, miệng
rõ ràng, cân đối. Nét khắc dứt khoát, khỏe. Khuôn mặt vuông vứt, đôi mày đậm gợi cho
người xem cảm giác đây là chân dung một người đàn ông.
Người phía trong cao 13cm, rộng 18cm, nét khắc mỏng và mềm hơn. Nét cong của
khuôn mặt thể hiện rõ khuôn mặt tròn trịa và nữ tính hơn, các chi tiết mắt mũi miệng ở
gần nhau. Trên đầu của cả ba hình khắc đều có hình gần giống chữ Y, gợi cho ta liên
tưởng tới hình sừng thú. Có nhiều giả thuyết về hình này, song tập trung có 2 giả thuyết:
Đây là cách hóa trang để lại gần các con thú. Đồng thời cũng có thể là một nghi lễ gắn
với hình thức thờ phụng của người Việt cổ.
Nhóm hình khắc mặt thú có kích thước to nhất cao 57cm, rộng 51cm. Miệng rộng, mắt
tròn, cánh mũi to và có sừng. Dưới miệng các nghệ nhân còn khắc hai rãnh dọc tạo sự cân bằng cho bố cục.
- Bốn hình khắc ở hang Đồng Nội chứng tỏ tư duy hình tượng và nghệ thuật của người
Việt thời nguyên thủy đã tiến thêm một bước. Từ những hình đơn giản, độc lập đã tiến
đến một bố cục có ý thức. Mặt khác, trong các hình khắc đã bộc lộ khả năng quan sát và
thể hiện tỷ lệ mặt người, thú tương đối cân đối và hoàn thiện. Ngoài ra còn thể hiện tài
năng khéo léo của bàn tay qua nét khắc thoáng đạt và phong phú về độ sâu, độ to nhỏ,
cứng cáp hoặc mềm mại.
- Vòng đeo bằng vỏ sò, vỏ ốc là chất liệu quen thuộc để tạo ra đồ trang sức của một bộ
phận người Việt cổ cư trú trên sông hay ven biển. Những vỏ ốc biển đẹp được người
nghệ thời xưa tách làm hai nửa, xâu dây xuyên qua miệng của những vỏ ốc tạo thành
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 4
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
những chuỗi vòng lấp lánh để đeo vào cổ và đeo tay.
- Ở thời kì ban đầu các công cụ thô sơ chưa có tính nghệ thuật dần dần phân hóa được
dùng đa chức năng: rìu, nạo, mũi nhọn, cối, dao đá. Mảnh tước tra vào cán gỗ tạo thành
dụng cụ mới, có công năng mới, tạo thành cuộc cách mạng đầu tiên của người nguyên
thủy. Trong việc gia công làm những vật dụng phục vụ đời sống săn bắt, hái lượm, có
một bước chuyển biến dài từ công cụ tiện dụng đến công cụ vừa tiện vừa đẹp, tiến tới
thoát ly hoàn toàn, biến vật dụng thành vật trang trí, không nhằm mục đích sử dụng vật
chất nào cả. Đồ trang trí có xu hướng trở thành tác phẩm độc lập, mang tính thẩm mỹ,
gắn liền với tổ chức phương tiện sống, mở rộng nhiều chiều đến phân hóa đa dạng.
2.Mỹ thuật ở thời kì đồ đá mới (Cách ngày nay khoảng 5000 năm)
- Ở Việt Nam thời kì đồ đá mới để lại dấu vết của nhiều nền văn hóa: VH Bắc Sơn, VH
Quỳnh Lưu, VH Bàu Tró, VH Hạ Long. Cuối thời kì đồ đá mới, trên toàn bộ nước ta đã
tụ cư nhiều nhóm bộ lạc trồng lúa. Họ có kĩ thuật chế tác đồ đá, đồ gốm tương tự như
nhau. Trên cơ sở đó, nghệ thuật tạo hình cũng phát triển ở nhiều nơi khác nhau, từ miền
núi đến miền biển, đồng bằng.
- Ở thời kì này, người nguyên thủy đã biết làm đồ gốm. Dấu vết về đồ gốm được tìm thấy
ở nhiều nơi như Quỳnh Văn (Nghệ An), Bàu Tró (Quảng Bình), hang Mai Pha (Lạng
Sơn), hang Minh Cầm (Quảng Bình).
- Gốm của các nền văn hóa khác nhau có nhiều kiểu dáng đa dạng phong phú. Gốm Bắc
Sơn, miệng loe, đáy tròn, có hoa văn đơn giản như gạch chéo, răng lược, sóng. Gốm Bàu
Tró có nhiều kiểu dáng, miệng có tai để nhắc, nhiều đồ gốm được tô thổ hoàng đỏ ở cổ và
miệng. Gốm Hoa Lộc là loại gốm lạ kiểu trong nghệ thuật Việt Nam, đạt thành tựu đáng
kể của nghệ thuật trang trí hình học. Đồ vật nào cũng được trang trí hoa văn. Hình dáng
càng phức tạp, hoa văn càng phức tạp. Người nguyên thủy dùng những lược trang trí
bằng đất nung, xương, ngà voi để tạo nên hoa văn. Có 18 loại hoa văn:
- Ở thời kì đồ đá mới, ngoài khả năng tạo hình và trang trí, người nguyên thủy đã biết
dùng màu sắc, nhất là màu đỏ thổ hoàng. Những vỏ ốc, rìu đá tô màu đỏ là những vật
chôn theo cho người chết.
Thế giới tìm được rất nhiều hình vẽ trên các hang động tiền sử. Ở Việt Nam, Đến ngày
nay, các nhà khảo cổ học vẫn chưa tìm được những hình vẽ chứng tỏ sự có mặt của một
nền hội họa, nhưng về nghệ thuật chạm khắc thì lại thấy khá nhiều, chủ yếu là chạm khắc
trên đất, đá. Ví dụ hình chạm khắc trên những viên đá cuội ở Đông Ky (Thái Nguyên),
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 5
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
có kích thước dài khoảng 10cm. Trên đá cuội có hình khắc ở cả 2 mặt. Mặt này là những
hình hình học, chủ yếu là hình vuông được sắp xếp như một mặt người vẽ theo kiểu kỉ hà.
Mặt kia là chân dung người đã có chi tiết mắt, mũi, miệng, được tạo bởi những chấm chấm.
Hoặc tác phẩm thể hiện tính trang trí và tượng trưng như tác phẩm bằng đất sét
vàng(10x4x0.7cm) tìm thấy ở Nghinh Tắc-Thái Nguyên. Bố cục trên bề mặt được chia
làm 2 phần, phía ngoài là 15 nhóm khắc vạch được sắp xếp chung quanh. Mỗi nhóm có 3
hoặc 4 vạch khắc. Bên trong được bố trí thành 8 đường song song. Mỗi đường được tạo
nên bởi những hình giống chữ V liên tiếp. Nhìn vào tác phẩm này có thể liên tưởng đến
một khu vườn, một mảnh ruộng với những hàng cây đều đặn và hàng rào xung quanh.
Tuy vậy, mọi sự áp đặt, so sánh đều không chính xác, đôi khi làm giảm giá trị của nghệ
thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng tác phẩm đã thể hiện được khả năng tạo hình,
trang trí của người nguyên thủy.
III. Đặc điểm của mĩ thuật nguyên thủy Việt Nam
1. Đặc điểm loại hình nghệ thuật
- Trong giai đoạn sơ khai của mĩ thuật, chúng ta mới tìm được một số tác phẩm nghệ
thuật chạm khắc trên chất liệu đá, xương thú, đất.
- Chưa có nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc tượng tròn.
- Cuối thời kì đồ đá mới, nghệ thuật đồ gốm và trang trí trên đồ gốm phát triển, để lại
nhiều hoa văn đơn giản nhưng phong phú về thể loại.
2. Đặc điểm đề tài, nội dung.
- Hình chạm khắc chủ yếu đi vào đề tài chân dung con người hoặc khái quát hình tượng đầu thú.
- Một số hình tượng mang tính trang trí và tượng trưng đề cập tới đề tài lá cây, thiên nhiên.
Họa tiết trang trí phong phú, song đều bắt nguồn từ hiện thực sinh động của cuộc sống:
dấu nan đan, vân tay, sóng nước, vặn thừng, răng lược, ô quả trám, hình hoa thị, khắc vạch...
3. Đặc điểm cách thể hiện
- Các nghệ nhân nguyên thủy đã bộc lộ khả năng quan sát, thể hiện đặc điểm đặc trưng
của một số sự vật, hình tượng.
- Tỉ lệ tương đối cân đối. Ở một số hình còn thể hiện ý thức về bố cục. Lúc đầu là những
hình đơn lẻ, riêng biệt. Dần dần xuất hiện một số tác phẩm chạm khắc hoàn thiện.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 6
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Ngoài khả năng vẽ hình, các nghệ nhân nguyên thủy còn bắt đầu tìm cách sử dụng màu
để vẽ hoặc nhuộm trên các bình gốm, vỏ ốc, những vật thiêng dành cho người chết.
- Các hoa văn trang trí thể hiện khả năng khái quát và cách điệu của người nguyên thủy
từ những quan sát chính xác trong cuộc sống.
* Với một số ít tác phẩm còn giữ được đến ngày nay của mĩ thuật nguyên thủy cho chúng
ta tìm hiểu những bước đi chập chững đầu tiên của tổ tiên ta. Mặc dù rấ ít tác phẩm song
cũng đủ để khẳng định sự hình thành và phát triển một đời sống thẩm mĩ vào cuối thời đồ
đá. Những tác phẩm chạm khắc đều thể hiện rất đơn giản, song đó chính là sự bộc lộ
những nhận thức, cảm nhận về thế giới xung quanh của người Việt cổ. Hơn nữa còn
chứng tỏ khả năng quan sát thực tế, chính xác, khả năng tư duy hình tượng và sự khéo léo
của đôi bàn tay khi biểu hiện sự cảm nhận đó lên nhiều chất liệu: đất đá, xương thú, ngà voi…
Tất cả những yếu tố đó tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tuy còn rất vụng về trong cách
biểu hiện song lại rất chân thực, đường nét phong phú sinh động thể hiện cảm xúc trong
sáng, tinh khiết của con người thời kì này. Mặc dù rất lâu sau khi xã hội hình thành,
những dấu vết nghệ thuật mới xuấ hiện, nhưng những hoạt động sáng tạo này đã đặt nên
những viên gạch đầu tiên để tạo nên nền móng cho nghệ thuật tạo hình dân tộc sau này
tiếp tục phát triển và đạt được những thành công đáng kể.
PHẦN II. MĨ THUẬT VIỆT NAM THỜI KÌ DỰNG NƯỚC
I. Các giai đoạn phát triển của văn hóa thời đại dựng nước
Trải qua một thời gian lao động lâu dài, các tộc người nguyên thủy ngày càng phát triển
đông đúc hơn. Trình độ canh tác và chế tác đồ đá, đồ gốm đạt trình độ cao. Lao động và
sáng tạo đã giúp các bộ tộc nguyên thủy Việt Nam phát triển trên một địa bàn khá rộng
và thống nhất. Theo quy luật phát triển, thời nguyên thủy dù rất chậm chạp song cũng
phải kết thúc, nhường chỗ cho thời kì văn minh khi hình thức nhà nước sơ khai nhất ra
đời ở VN. Đó là thời kì của nền văn minh sông Hồng hay còn gọi là nền văn minh Văn
Lang, Âu Lạc, bắt đầu từ thời đại đồ đồng thau với sự ra đời nhà nước Văn Lang đến sơ
kì đồ sắt với nhà nước Âu Lạc do An Dương Vương đứng đầu.
Các nhà sử học, khảo cổ học đều thống nhất chia thời đại dựng nước ra làm 4 giai đoạn
tương đương với 4 nền văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn. Các di
chỉ văn hóa thời đại dựng nước được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước ta như: Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ
An, Yên Bái, Hải Dương, Quảng Bình...
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 7
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 1. Văn hóa Phùng Nguyên
Văn hóa Phùng Nguyên Thuộc Lâm Thao-Phú Thọ, xuất hiện vào nửa đầu thiên niên
kỉ II trCN. Đây là sơ kì thời đại đồng thau, các vật dụng tìm thấy chủ yếu ở Hà Tây, Hà Bắc, Phú Thọ.
- Công cụ đá tìm được phong phú về loại hình, số lượng, kĩ thuật trau chuốt tinh vi,
ngoài ra còn tìm được nhiều đồ trang sức.
- Đồ gốm mịn, độ nung cao chứng tỏ kĩ thuật làm đất tiến bộ. Loại hình gốm đa dạng,
độc đáo về phong cách tạo hình.
- Ngoài đồ đá và đồ gốm còn tìm thấy xỉ đồng và mảnh đồng thau. Điều này chứng tỏ bắt
đầu có mầm mống của kĩ thuật luyện kim và kĩ thuật đúc đồng là kĩ thuật bản địa, không
phải du nhập từ Trung Quốc và các nước khác. Con người thời Phùng Nguyên một mặt
tiếp thu truyền thống của thời kì trước, mặt khác tiếp tục sáng tạo và tìm ra nhiều kĩ thuật
mới, thể hiện nguồn gốc bản địa rõ ràng. 2. Văn hóa Đồng Đậu
- Văn hóa Đồng Đậu có niên đại thuộc nửa sau thiên niên kỉ II trCN. Di chỉ Đồng Đậu
thuộc xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, được phát hiện năm 1964, thuộc
trung kì thời đại đồng thau.
- Công cụ đá vẫn chiếm đa số, kết hợp với công cụ đồng.
- Gốm Đồng Đậu có độ nung cao hơn thời Phùng Nguyên.
- Ở thời kì này còn tìm được nhiều tượng súc vật nhỏ, mũi tên đồng, rìu đồng, mũi lao, khuôn đúc mũi tên.
- Càng về sau, kĩ thuật đúc càng tinh xảo và phát triển hơn. 3. Văn hóa Gò Mun
Văn hóa Gò Mun tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỉ I trCN, thuộc Phong Châu-Phú Thọ.
Giai đoạn này kĩ thuật luyện kim đã phát triển, công cụ bằng đồng là chủ yếu. Thời kì Gò
Mun chính là hậu thời kì đồng thau. Ngoài mũi tên đồng, lưỡi liềm đồng, chúng ta còn
tìm được những lưỡi câu đồng nhỏ chứng tỏ kĩ thuật đúc đồng đã đạt trình độ cao. 4. Văn hóa Đông Sơn
- Văn hóa Đông Sơn thuộc Thanh Hóa và một số địa phương khác trên cả nước, có niên
đại cách ngày nay khoảng 2800 đến 2000 năm.
- Ở thời kì này, kĩ thuật đúc đồng, luyện kim đã đạt trình độ tinh xảo, điêu luyện. Đó là lí
do khiến nhiều nhà khảo cổ học nước ngoài muốn phủ định tài năng sáng tạo của tổ tiên
ta thời Đông Sơn. Ngoài những công cụ, vũ khí, đồ trang sức bằng đồng, hiện vật cổ nổi
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 8
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
tiếng thời Đông Sơn chính là những chiếc trống đồng, thau đồng được tìm thấy ở nhiều
nơi từ Thanh Hóa đến Yên Bái, Lào Cai. Điều này chứng tỏ sự thống nhất về phong cách
mĩ thuật của người Việt cổ thời Đông Sơn khẳng định sự tồn tại, phát triển kế tiếp, liên
tục của nền mĩ thuật VN suốt từ thời đại đồ đá đến thời đại đồ đồng. Cùng với đồ đồng,
thời kì này con người đã tìm được sắt. Giai đoạn Đông Sơn là thời kì đầu của thời đại đồ sắt.
II. Sự phát triển của mĩ thuật thời đại dựng nước
1. Nghệ thuật kiến trúc
- Dưới thời Hùng Vương, các nước Văn Lang được chia làm 15 bộ, dưới mỗi bộ là các
công xã nông dân. Mỗi công xã đều có trung tâm hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Như vậy
một nền kiến trúc sơ khai nhất đã được hình thành ở thời kì này. Tuy các kiến trúc không
còn tồn tại hay để lại dấu vết, song ít nhất nó cũng tồn tại trong sử sách. Trên trống đồng
Đông Sơn, các nghệ nhân đã khắc họa những hình ảnh cho chúng ta hiểu về cuộc sống
sinh hoạt, vui chơi, lễ hội của cư dân thời Đông Sơn. Nhà sàn có 2 kiểu:
Kiểu 1: Mái cong võng xuống, hai bên đầu mái được trang trí hình một hoặc hai con chim cách điệu.
Kiểu 2: Mái tròn, cuộn hai đầu mái là 2 hình tròn đồng tâm, sàn thấp. Toàn bộ khối nhà
bố trí trong hình thang cân đối. Mặt ngoài nhà phủ kín hoa văn trang trí, hình tròn tiếp
tuyến, hình tròn có chấm ở giữa, hoa văn gạch chéo. Kiến trúc thành Cổ Loa
- Trong lịch sử dựng nước, kinh đô Văn Lang ở miền Lâm Thao (Bạch Hạc-Phú Thọ).
Năm 208 trCN, nhà nước Âu Lạc ra đời, Thục Phán tự xưng là An Dương Vương, và
quyết định chọn Cổ Loa (Đông Anh-Hà Nội) để xây dựng kinh đô Âu Lạc. Những dấu
vết còn lại ngày nay ở Cổ loa đã được trùng tu vào đời Ngô Vương và các đời tiếp theo.
- Cổ Loa nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, và là đầu mối của các hệ thống giao thông đường thủy.
- Cổ Loa là kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào
khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của Nhà nước dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10
sau Công nguyên. Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi
giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng
đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 9
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hoàng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch
nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng,
nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình.
Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận
lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy. Đó là vị trí nối liền mạng lưới
đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai
mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam.
- Cổ Loa được xây dựng gồm 3 vòng thành, tổng chiều dài khoảng 16km, vòng ngoài
cùng khoảng 8km, vòng thứ hai khoảng 6.5km, vòng trong cùng hình chữ nhật với chu vi
khoảng 1.6km. Phía ngoài các vòng thành đều có hào sâu, rộng bao quanh. Ở đây vừa là
kinh đô, vừa là thành lũy thuận lợi cho cả bộ binh và thủy quân của quốc gia Âu Lạc
chống ngoại xâm. Với thành Cổ Loa kiên cố, quân và dân ta đã lập được nhiều chiến
công, chiến thắng quân Triệu bảo vệ nền độc lập của đất nước cho đến trước năm 179 trCN
2. Nghệ thuật điêu khắc
Tượng người bằng đá (Văn Điển-Hà Nội)
Năm 1966, viện bảo tàng lịch sử đã tổ chức khai quật di chỉ Văn Điển, ở đây, các nhà
khảo cổ đã tìm được một pho tượng người bằng đá, kích thước nhỏ. Toàn bộ tượng được
tạo ra từ một khối, tượng bằng đá, kích thước nhỏ, hiện chỉ cao 3.6cm. Tay thì hầu như
không có, đầu và mình trên một đường trục thẳng, hai chân khép lại đưa về phía trước.
Đầu, thân, mông tương đối hài hòa về tỉ lệ. Đầu, mặt được chú ý diễn tả. Mặt được mài
vát hai bên gò má, nổi cao phần mũi. Chi tiết giới tính nam được nhấn mạnh.
Bức tượng được các nhà chuyên môn đánh giá cao, thể hiện trình độ làm tượng tròn của con người thời kì này.
Tuy nhiên, so với nghệ thuật thế giới, pho tượng người đá Văn Điển xuất hiện muộn hơn
nhiều. Trong thời nguyên thủy trên thế giới đã tìm được nhiều tượng phụ nữ. Cùng thời
kì đó, nghệ thuật điêu khắc ở Việt Nam chưa phát triển, chúng ta chỉ tìm được một số
hình khắc trên đất, đá, xương.
Tượng người thổi khèn trên cán muôi Việt Khê-Hải Phòng.
Năm 1961, với việc phát hiện di chỉ khảo cổ ở Việt Khê, Hải Phòng, nhiều hiện vật
quí gía đã được tìm thấy. Chiếc muôi bằng đồng có kích thước 17.8cm, được tạo dáng
thanh thoát, cân đối, mềm mại với cán muôi mảnh, cong cuộn tạo thành những vòng tròn
đồng tâm ở điểm kết thúc.Tuy vậy, sự cân đối còn được hoàn thiện hơn khi các nghệ
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 10
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
nhân thời kì này đặt trên cán muôi đặt một pho tượng nhỏ, đó là tượng một người đàn
ông ngồi thổi khèn. Một đầu khèn đặt trên chân, đầu kia tựa vào vòng tròn ở cán muôi.
Tượng tuy nhỏ song được diễn tả khá chi tiết. Tượng ngồi với tỉ lệ khá cân đối, tóc búi
cao, khối mặt được diễn tả kĩ, biểu hiện đặc điểm của người Việt Cổ. Tượng được gắn
với chiếc muôi vừa là một phần hữu cơ không thể tách rời, vừa là tác phẩm nghệ thuật
trang trí cho chiếc muôi đẹp hơn, hoàn thiện và cân đối hơn.
Tượng người trên cán dao
Dao găm bằng đồng là một thứ vũ khí rất thông dụng thời Đông Sơn và luôn gắn bó
với con người. Một số dao găm đều có phần cán là một phụ nữ. Cán dao có kích thước
chiếm 1/3 tổng chiều dài của dao, do vậy kích thước của nó không lớn lắm.Dù vậy các
pho tượng đều được diễn tả rất công phu, chi tiết với nhiều kiểu dáng khác nhau.
Vì tượng là cán dao, do đó phải có bố cục hình dáng phù hợp với chức năng của nó và dễ
sử dụng. Các pho tượng đều tạo dáng đứng thẳng, tay chống nạng. Các chi tiết mắt, mũi,
miệng, đầu tóc, đồ trang sức như vòng tay, vòng tai và các hoa văn trang trí trên áo, váy
được thể hiện rất kĩ, tỉ mỉ, chi tiết. Tỉ lệ phần đầu lớn, nhưng đặt trong tổng thể con dao
găm thì lại rất cân đối, hợp lí. Nghệ thuật điêu khắc đã tiến bộ hơn so với thời kì trước,
nhưng chưa phải là loại hình nghệ thuật độc lập, mà vẫn chỉ là một phần của công cụ, vận dụng mang tính chất trang trí.
Tượng người quỳ làm chân đèn
Người quỳ đội đèn, hai tay bưng đĩa dầu, vai và khuỷu tay chìa ra nhiều nhánh, trên
nhánh cũng có những đĩa dầu như ở tay. Tác phẩm được tìm thấy ở Lạch Trường-Thanh Hóa
Tượng người cõng nhau nhảy múa
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, chăm chỉ và rất yêu âm nhạc, thể hiện qua tác
phẩm tượng người cõng nhau nhảy múa tìm được ở Đông Sơn-Thanh Hóa. Tượng cao
8.8cm, bố cục hình, đường nét phong phú và sinh động. Tóc, khuyên tai, được cường
điệu về tỉ lệ nhưng tạo sự hài hòa, cân đối, hợp lí cho bố cục của nhóm tượng.
Tượng trên nắp thạp Đào Thịnh
- Nhiều thạp đồng khi khai quật đều thấy có đựng nhiều đồ trang sức, dụng cụ và cả hài
cốt. Vì vậy theo nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng thạp đồng nếu không phải là một
hình thức quan tài thì cũng là đồ đựng chôn theo cho người mất.
- Ngoài ra trên nắp thạp đồng Đào Thịnh còn bắt gặp 4 cặp tượng người nam nữ đang
giao hoan được bố trí đối xứng. Kích thước các cặp tượng nhỏ, lối tạo hình đơn giản, cụ
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 11
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
thể nhưng với nội dung độc đáo, mang ý nghĩa lớn lao. Phải chăng đó là mong muốn
được tái sinh của con người? Mặt khác nó cũng bộc lộ một qui luật, ở nơi kết thúc của
một cuộc đời, lại cũng chính là nơi bắt đầu một kiếp người khác. Phải chăng điều đó cũng
sẽ giúp con người dễ dàng vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống, kể cả trở ngại lớn nhất là cái chết.
Ngày nay quan niệm đó vẫn còn được duy trì trong đời sống của người Tây Nguyên. Ở
nhà mồ Tây Nguyên ta vẫn bắt gặp những pho tượng nam nữ như trên nắp thạp Đào
Thịnh ngày xưa, điều này góp phần thể hiện quan niệm tín ngưỡng của người Việt.
Cùng với tượng về con người, chúng ta còn tìm được những pho tượng các con vật
như gà trống, tượng cóc, hổ, chim, cá.
Những tác phẩm mĩ thuật phản ánh văn minh lúa nước thời Đông Sơn: - Cóc:
Theo thống kê của viện khảo cổ học 1995, có 80 tượng cóc. Do đặc tính tự nhiên, cóc rất
nhạy cảm với thời tiết, mỗi lần cóc nghiến răng thì mưa rơi. Cóc có mặt hầu hết trên
trống đồng, nắp thạp, họ coi đó là biểu tượng của tâm linh, mưa thuận gió hòa, biểu
tượng của thần nông nghiệp. - Thú nuôi:
Chó: Con thú được thuần dưỡng, giữ nhà, săn thú. giống vật tinh khôn và gần giũ với con người.
Một số dân tộc ở Việt Nam rất tôn thờ con chó và xem như vật tổ: Cơ Tu, Dao.
Bò, trâu: Hiền lành, chăm chỉ. Gắn với đời sống cộng đồng, gắn với đời sống người nông
dân, đồng thời gắn với văn minh lúa nước. Trâu bò cày cấy, tải đồ.
Con vật tình nghĩa, thủy chung, dũng mãnh.
Chim lạc: Thể hiện tâm linh của người Việt, biểu hiện của Totemisme.
Bồ nông: Luôn đi sau luống cày của người dân để ăn giun, biểu hiện gía trị nhân văn đối
với văn minh lúa nước, biểu hiện tinh thần văn hóa Đông Sơn.
Gà: Gà trống ở Vinh Quang-Hà Tây: chú trọng chi tiết mào gà, đuôi gà, toàn bộ hình gà
được cách điệu với đường nét cong, mềm mại, tạo dáng thanh mảnh.
Gà gáy báo sáng, xua tan đêm tối, người ta tin rằng gà có công năng xua đuổi ma quỷ.
Gà gáy gọi người thức dậy ra đồng Các vật dụng trong đời sống và vũ khí
- Lưỡi cày, thuổng, cuốc, mai, đục, bẹt, nạo, dùi, dao khắc, rìu…Công cụ gắn liền với
sản xuất nông nghiệp, được tạo dáng phù hợp với chức năng sử dụng.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 12
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Vũ khí đa dạng và độc đáo về kiểu dáng: rìu chiến, kiếm ngắn, giáo, dao găm lưỡi tre,
áo giáp có hộ tâm kính che ngực, mũi tên cánh én.
- Đồ trang sức đa dạng và phong phú.
Trang sức ở tai, tay, chân, cổ, thắt lưng.
Đồ trang sức có gắn nhạc(gắn liền với âm nhạc và ca múa)
3. Nghệ thuật chạm khắc trang trí.
- Trong những hiện vật tìm thấy ở Đông Sơn, tiêu biểu nhất là những chiếc trống đồng.
Đây là một loại nhạc cụ thường được dùng trong các lễ hội, các cuộc tế lễ, ca múa. Trống
đồng còn là một tác phẩm mĩ thuật độc đáo của dân tộc ta. Ở đó có vẻ đẹp về hình dáng,
tỉ lệ và các hình hoa văn trang trí được cách điệu cao, phong phú về thể loại.
- Trống được cấu tạo gồm 3 phần chính: mặt trống tròn, tang trống phình, phần thân thon
và chân hơi choãi tạo dáng vững chải cho trống đồng. Mặt khác với cấu tạo như vậy trống
sẽ có âm thanh vang xa và có sự cộng hưởng âm thanh. Trên mặt và thân trống được
trang trí hoa văn cách điệu cao, phong phú về thể loại. Qua đó thể hiện cuộc sống làm ăn,
vui chơi, lễ hội, cách ăn mặc, trang phục...
Trang trí trên trống đồng Ngọc Lũ(Hà Nam)
Phần mặt trống thường được trang trí bằng nhiều hoa văn phong phú. Trong cùng là
ngôi sao có nhiều cánh, khoảng 14 đến 16 cánh, đây là biểu tượng mặt trời, khoảng trống
giữa các cánh sao là hoa văn lông công. Từ trung tâm tỏa ra các hoa văn hình học như:
hoa văn hình tròn tiếp tuyến, hoa văn chữ S gấp khúc. Ba vành hoa văn diễn tả hoạt động
của con người, chim, thú, nối nhau chuyển động theo hướng ngược chiều kim đồng hồ.
Ngoài cùng được lặp lại 5,6 vành hoa văn hình học bố trí cân đối.
Do kĩ thuật khắc khi làm khuôn đúc nên khi đổ đồng đã tạo ra độ cao thấp cho các hình
tượng. Điều này đã tạo ra mảng sáng tối đậm nhạt phong phú cho toàn bộ hình trang trí mặt trống.
Hoa văn về con người diễn tả nhiều hoạt động sinh hoạt như nhảy múa, lễ hội, giã
gạo, chèo thuyền, chơi trồng nụ trồng hoa. Con người và muôn thú được diễn tả theo
hướng nhìn nghiêng, cánh chim, mắt chim diễn tả theo hướng chính diện. Tất cả tạo nên
những mô típ trang trí đơn giản sinh động và cách điệu cao. Những hình trang trí này
giúp người đời sau hiểu được lịch sử xã hội đương thời.
Hình tượng mặt trời đặt ở trọng tâm thể hiện sự quan tâm của mặt trời đối với các dân tộc trồng lúa nước.
Phần tang trống và thân trống trang trí thưa hơn và cũng đơn giản hơn. Hình người,
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 13
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
hình chim vẫn chuyển động theo chiều như trên mặt trống, thể hiện chủ yếu bằng kĩ thuật
khắc chìm nhưng cũng có chỗ hình nổi, xen kẽ hài hòa cân đối. Ngoài hình người, chim,
hươu còn có hình cá sấu (giao long), cá, hình thuyền... Vũ khí, trang sức Hoa văn trên đồ gốm
Bàn xoay được sử dụng để làm gốm. Gốm thời kì này phong phú về hình dáng, nung
trong lò chuyên dụng tạo ra loại gốm có xương cứng, bề mặt mịn màng hơn. Đồ gốm đa
dạng về kiểu dáng, thống nhất ở cấu trúc ba phần: miệng rộng, thân thon, chân doãng để
tạo đế vững chải cho đồ dùng.
Phần lớn các hoa văn đều được bố cục thành các dải băng ngang. Tất cả đều được gợi từ
những hình mẫu có sẵn trong tự nhiên, nhưng được cách điệu hoặc đơn giản và mang trình độ thẩm mĩ cao.
III. Đặc điểm của mĩ thuật thời đại dựng nước • Tóm lại:
- Mặc dù số lượng không nhiều, không hoành tráng như nghệ thuật tạo hình thế giới cùng
thời đại nhưng các tác phẩm điêu khắc, hoa văn trang trí trên trống đồng, đồ gốm là
những tư liệu quý giá khẳng định sự tồn tại và bước đầu phát triển một nền nghệ thuật tạo
hình của người Việt cổ. Nền nghệ thuật mang đậm đà màu sắc bản địa đang dần được
hình thành. Nền nghệ thuật đó phần nào phản ánh được những phong tục, sinh hoạt lao
động, làm ăn vui chơi, lễ hội của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
- Nền nghệ thuật ĐS đậm đà màu sắc bản địa, phản ánh phong tục, sinh hoạt lao động,
làm ăn vui chơi, lễ hội của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước.
- Đồ đồng thời ĐS phát triển rực rỡ với nhiều thể loại, đặc biệt là trống đồng, thạp đồng,
hoa văn thú vật, sinh hoạt con người, hoa văn hình học.
- Thủ pháp nghệ thuật miêu tả theo hướng nhìn nghiêng
- Văn hóa lúa nước phát triển, thực phẩm dồi dào, có dự trữ dẫn đến phân cấp xã hội người Việt cổ
- Kĩ thuật đồng thau mà đỉnh cao là trống đồng
- Kĩ thuật quân sự mà đỉnh cao là thành Cổ Loa.
- Sự tổ chức cộng đồng hoàn chỉnh theo phương thức xã thôn tự trị mà đỉnh cao là sự
thành lập nhà nước Văn Lang.
Nền mĩ thuật thời kì này tạo nền móng, cơ sở cho một nền mĩ thuật dân tộc ngày càng
được hoàn thiện trong các giai đoạn sau.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 14
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CHƯƠNG II: MĨ THUẬT THỜI KÌ PHONG KIẾN DÂN TỘC ĐỘC LẬP
PHẦN I: MĨ THUẬT THỜI LÝ(1009-1225)
I. Khái quát về xã hội thời Lý(1009-1225)
- Ngày 2 tháng 11 năm Kỉ Dậu (21/11/1009), được các thế lực phật giáo, đứng đầu là sư
Vạn Hạnh và các triều thần ủng hộ, Lý Công Uẩn(Lý Thái Tổ 970-1028) lên ngôi hoàng
đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên. 1010, Lý Công Uẩn rời Hoa Lư ra Đại La, đổi tên thành là Thăng Long.
- Nhà vua có nhiều chính sách tích cực phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống của cư
dân dần dần được ổn định, tạo cơ sở vật chất cho nhà nước trung ương tập quyền.
- Các hoạt động thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển như dệt vải lụa, đồ gốm,
đúc đồng, khai thác vàng, nghề in, nghề khắc gỗ. Thương nghiệp mở rộng buôn bán cả nội, ngoại thương.
- Nhà vua chú trọng đến việc chọn lựa nhân tài, xây dựng miếu thờ Khổng Tử, mở Quốc
Tử Giám, mở các khoa thi.
- Hoạt động lập pháp của nhà nước bắt đầu phát triển, ban hành bộ Hình Thư, đây được
coi là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Tuy nhiên luật này chủ yếu bảo vệ quyền
lợi cho nhà nước phong kiến, quan lại, quý tộc, phân biệt đẳng cấp xã hội...và hiệu lực của nó còn hạn chế.
- Tín ngưỡng dân gian với các tục lệ thờ cúng vẫn được duy trì và ăn sâu trong nếp nghĩ của người dân.
- Phật giáo được phát triển và có ảnh hưởng lớn trong nhân dân, quý tộc. Nhiều công
trình kiến trúc chùa tháp được xây dựng phục vụ cho nhu cầu tôn giáo. Phật giáo chiếm
vị trí độc tôn, với tư tưởng từ bi bác ái chinh phục đông đảo nhân dân.Phật giáo được xem như là quốc đạo.
Tất cả mọi điều kiện xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của mĩ thuật thời Lý.
Sự phát triển và ổn định của kinh tế, chính trị là điều kiện quan trọng cho nhiều công
trình kiến trúc được xây dựng, các tác phẩm điêu khắc, hội họa được sáng tác.
II. Các loại hình nghệ thuật
1. Nghệ thuật kiến trúc
Kiến trúc phát triển mạnh ở cả hai thể loại: kiến trúc tôn giáo và kiến trúc thế tục. Kiến
trúc thế tục đáng chú ý là những công trình kiến trúc thuộc về cung đình. a. Thành Thăng Long
- Thành Thăng Long được xây dựng từ mùa thu 1010 đến muà xuân 1011. Thăng Long
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 15
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
được giới hạn bởi 3 con sông: sông Hồng, sông Tô và sông Kim Ngưu. Chính điện của
đời Lý Thái Tổ được dựng trên núi, đến nay thì còn lại dấu vết của thềm bậc cửa điện Kính Thiên.
- Kinh thành được chia làm 2 khu chính: khu hoàng thành và khu dân cư sinh sống làm
ăn. Thành gồm 2 vòng dài khoảng 25 km. Trong hoàng thành, nhà nước cho xây dựng
nhiều cung điện, lầu gác như điện Càn Nguyên, điện Giảng Võ, Phụng Thiên, cung Thúy
Hoa, Long Thụy, Nghinh Xuân, Uy Viễn. Trong kinh thành còn xây dựng nhiều ngôi
chùa như: Vạn Tuế, Chân Giáo, ....dành cho vua và hoàng hậu, cung tần đến lễ Phật. Để
bảo vệ các công trình trên, năm 1029, vua cho xây dựng một dải tường bao quanh gọi là
Long Thành. Từ đó mở ra 4 cửa 4 hướng: Bắc, Nam, Đông, Tây. Ngoài hoàng thành
cũng chia làm 4 hướng. Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo bố cục cân xứng,
đăng đối và tất cả đều quy tụ vào điểm giữa, điểm trung tâm. Về mặt địa lý, Thăng Long
là trung tâm của đất nước, giao thông thủy bộ đều dễ dàng, thuận lợi, xây dựng trên mảnh
đất hợp với phong thủy.
Kinh thành Thăng Long: Là quần thể kiến trúc lớn với hai vòng thành bao bọc lấy nhau.
Vòng ngoài là Đại La Thành(kinh thành),vòng trong là cung thành(hoàng thành).Tổ chức
theo kiểu vòng thành bao bọc nhau lần đầu tiên xuất hiện trong kiến trúc thành Việt Nam.
Hoàng thành là nơi ở, làm việc của vua chúa gồm nhiều cung điện như: điện Càn
Nguyên, điện Tập Hiền, điện Giảng Võ, điện Trường Xuân...
Thành có tính chất phòng thủ không cao như Hoa Lư, nhưng là đầu mối thông thương
của đồng bằng Bắc Bộ, kề sát sông Hồng với 61 phường thợ đông đúc.
Đại La thành: là vòng tường thành ngoài cùng, khép kín, dựa theo thế tự nhiên mà xây
đắp, đóng vai trò là một đê quai chống lũ lụt, là nơi dân cư sinh sống làm ăn.
Cung thành (khu hoàng thành), là tường thành bao quanh khu vực cung điện, bảo vệ các
cơ quan đầu não của nhà nước, họ hàng nhà vua
1029, xây dựng Long Thành bao bọc nơi làm việc chính cuả nhà vua, triều đình và một số điện khác. b. Kiến trúc chùa tháp
Kiến trúc chùa tháp thời nhà Lý phát triển cực thịnh. Trong mỗi ngôi chùa, kiến trúc thể
hiện sự hài hoà tạo nên không khí của tâm linh. Chùa tháp là cơ sở hoạt dộng truyền bá
Phật giáo, thờ thần, thờ tam giáo ( Phật, Lão, Khổng ).
- Chùa thời Lý được phân chia 3 loại, Đại danh lam ( Phật Tích, Chương Sơn ), Trung danh lam, Tiểu danh lam.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 16
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Chùa thời lý thường được dựng ở giữa đồng bằng hoặc chân núi, gần sông, ao, mặt
chính thường quay về hướng Nam ( để nghe tâu bày của thiên hạ )
*Chùa Một Cột (Diên Hựu)
Chùa Diên Hựu được xây dựng năm 1049, gồm ngôi chùa và đài Liên Hoa, xây giữa
hồ vuông Linh Chiểu. Vòng quanh hồ là dãy hành lang, phía ngoài là ao Bách Trì, mỗi
bên đều bắc cầu vồng đi vào. Chùa xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông mong
được kéo dài tuổi thọ.
Năm 1080, chuông chùa Một Cột được đúc và có tên là chuông Quy Điền
Năm 1100, chùa được mở rộng thêm về quy mô.
Năm 1954, Pháp cho nổ mìn phá hủy đài Liên Hoa, chính phủ ta đã cho làm lại và hoàn thành năm 1955.
Chùa Một Cột ngày nay là ngôi chùa hình vuông, mỗi chiều 3m, được dựng
trên cây cột có đường kính 1.2m, cao 4m. Chùa Một Cột là công trình kiến trúc độc
đáo của dân tộc ta, chứng tỏ sự sáng tạo trong nghệ thuật kiến trúc, xứng đáng là một
trong nhiều tác phẩm tiêu biểu cho Thăng Long-Hà Nội.
* Chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự-xã Phượng Hoàng-huyện Tiên Sơn-tỉnh Bắc Ninh)
Chùa được xây dựng vào năm 1057, chuà cổ nay không còn. Chùa được dựng dưới
chân núi Phật Tích. Trên nền tầng 3 có 5 đôi tượng thú sắp thành hai hàng ngang đối
xứng nhau trước cửa chùa. Các tượng thú gồm: sư tử, voi, trâu, tê giác, ngựa.
Đến thế kỉ 12, chùa đã được dựng lại theo kiểu nội công ngoại quốc, song lại bị phá hủy
hoàn toàn vào năm 1947. Năm 1991, chùa được dựng lại và tồn tại đến ngày nay.
* Chùa Dạm (Nam Sơn-Quế Võ-Bắc Ninh)
Chùa còn có nhiều tên gọi khác như: Cảnh Long Đồng Khánh, chùa Thần Quang, được
xây dựng vào năm 1086 dưới triều Lý Nhân Tông. Đến nay vẫn còn dấu vết của 4 lớp
nền cao 117m, chiều ngang 65m. Trên lớp nền thứ 2 còn dấu vết của các ô đất có dựng
cột đá cao hơn 5m, có chạm rồng. Sau cột là giếng, cột và giếng là hai hình tượng có ý
nghĩa về mặt dân tộc học, đó là biểu tượng phồn thực, âm dương. Chùa Dạm hiện nay đã
được xây dựng lại trên nền cũ.
* Kiến trúc tháp thời Lý
Khi bắt đầu tiếp xúc với Phật giáo, nhân dân ta đã xây tháp để thờ Phật. Sau này chùa,
tháp được xây dựng tách riêng và cũng mang chức năng khác nhau.
Tháp được xây dựng ở sau hoặc ở những vị trí quan trọng trong chùa. Kiến trúc tháp
vuông bốn mặt, cao tầng, đây là một hình thức độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 17
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
với nhiều chức năng. Tháp có thể là nơi tưởng niệm, hành lễ tôn giáo và cũng có nhiều
nơi tháp chứa xá lị của các sư tăng.
Chiều cao tháp thường được tính bằng chu vi đáy. Tháp Chương Sơn cao khoảng 76m,
tháp chùa Phật Tích cao 34m, truyền thuyết về tháp Báo Thiên cao vài mươi trượng.
2. Nghệ thuật điêu khắc thời Lý
a. Tượng Phật và các loại tượng khác
*Tượng Phật chùa Phật Tích
Kích thước thật của tượng Phật không kể bệ là 1.85m, pho tượng gồm 2 phần: tượng
Phật và bệ tượng được làm bằng đá. Phần bệ tượng đá thô hơn, hạt đá nổi rõ hơn so với
đá làm tượng Phật. Tượng Phật mặt hơi cúi, miệng hơi mỉm cười, mặt trái xoan, mũi dọc
dừa, lông mày lá liễu, mắt lá dăm. Miệng nhỏ, môi nở dày, mọng, đầy sức sống. Thân
thẳng, mỏng, đường nét, khối khỏe, dứt khoát, kết hợp với sóng áo nổi cao, mềm mại, lan
tỏa gợi sự hài hòa, cân đối giữa các yếu tố tĩnh, động, cứng, mềm. Tất cả tạo cho pho
tượng có vẻ đẹp vừa hiện thực, sống động vừa sâu lắng, thần bí.
Pho tượng Phật chùa Phật Tích là tác phẩm quý giá của thời Lý để lại, tác phẩm đã thể
hiện Đức Phật theo tinh thần thẩm mỹ của người Việt. Tượng được biểu hiện là sự kết
hợp hài hòa giữa hai yếu tố tôn giáo và hiện thực. Ở tượng Phật chùa Phật Tích vừa có sự
nghiêm trang sâu lắng trầm tư, lại vừa phúc hậu sôi nổi, tươi mát tràn đầy sức sống.
*Một số pho tượng khác
Tượng người chim đánh trống: Pho tượng là sự kết hợp hài hòa và sự hợp lý của hai yếu
tố: con người và chim. Phần đầu, thân người và chiếc trống cơm trước ngực được gắn với
phần thân, cánh, chân và đuôi chim. Chân dung mang vẻ phúc hậu, tĩnh lặng rất quen
thuộc với người Việt.
Tượng sư tử ở chùa Bà Tấm- Gia Lâm-Hà Nội cao 1.1m, tượng con sấu trên bậc cửa
chùa Hương Lãng-Hải Hưng, tượng thú đặt trên tòa sen.
Ở tháp chùa Long Đọi-Nam Định còn 6 tượng Kim Cương gắn liền với tấm đá sau lưng.
Hình thức này gần giống với chạm nổi thời Hi Lạp. Khối nổi như tượng tròn, nhưng
không đứng độc lập mà gắn trên mặt phẳng đá liền thành một khối. b. Chạm nổi trang trí
- Các hình tượng hoa sen, hoa cúc, con rồng, sóng nước, nhạc công, vũ nữ là những
môtip chủ yếu trong chạm nổi trang trí của thời Lý. Các hoa văn trang trí thời Lý được
cách điệu cao và thường được sắp xếp thành các đồ án trang trí cụ thể trong hình tròn,
hình lá đề. Mật độ hoa văn trang trí dày đặc trên bề mặt, hình tượng thường nhỏ li ti,
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 18
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
đường nét mượt mà trau chuốt, trang trí tỉ mỉ, chi tiết.
- Hình tượng con người xuất hiện với đề tài dàn nhạc công trên mặt bên của đá kê chân
cột chùa Phật Tích. Các nhạc công chơi các nhạc cụ như trống, nhị, sáo, tam thập lục,
phách, đàn tì bà, đàn nguyệt, trống cơm, trong trang phục ngày hội, tóc búi cao, cài hoa
trang trí, vừa tấu nhạc vừa nhảy múa với hình dáng động. Khối nổi cao, tròn, chắc, đường
nét mềm mại, uyển chuyển.
- Hình tượng con rồng được trang trí trong kiến trúc và điêu khắc thuộc về Phật giáo và
cung đình. Rồng thời Lý mang đặc điểm riêng, thống nhất với phong cách chung của thời
đại. Toàn bộ con rồng được sắp xếp gồm nhiều hình tròn nối tiếp nhau, nhỏ dần về phía
đuôi. Các khúc uốn lượn nhịp nhàng, thoăn thoắt, đều đặn. Rồng mang đặc điểm thân rắn,
chân chim, bờm ngựa, đầu phảng phất một con vật trong thần thoại Ấn Độ. Rồng được
sắp xếp thành các môtip như: rồng ổ, rồng chầu, rồng đuổi, rồng đơn...
3. Nghệ thuật hội họa thời Lý
- Một số loại tranh được sáng tạo ở thời Lý như tranh trang trí gắn với kiến trúc, tranh
chân dung, tranh chữ, tranh bản đồ, tranh Phật giáo.
Sau khi xây dựng Văn Miếu, ngoài việc cho đắp tượng Khổng Tử để thờ phụng, nhà nước
còn vẽ bộ tranh “Thất thập nhị hiền”(Bảy mươi hai người học trò giỏi của Khổng Tử)
- Tranh tường về đề tài tôn giáo, thể hiện quan niệm nhân quả, khuyến thiện trừng ác theo
quan niệm nhà Phật. Tranh vẽ về các Phật tổ cũng có khá nhiều trên chất liệu như gỗ, vải, giấy.
- Tranh chữ là một kiểu chơi chữ, chữ Hán là chữ hình tượng do đó chữ viết cũng giống
vẽ tranh. Sử cũ ghi lại nhiều bức tranh chữ của các vua thời Lý như Lý Nhân Tông, Lý
Thánh Tông với chữ Phật cao một trượng sáu thước(5m). Vua Lý Anh Tông chủ biên
tranh bản đồ Đại Việt vẽ theo kiểu tranh phong cảnh đất nước như “Nam Bắc phiên giới địa lý”. 4. Gốm thời Lý
III. Đặc điểm mĩ thuật thời Lý
- Tính chất vương quyền nổi bật.
- Các công trình kiến trúc có quy mô lớn, nhất là kiến trúc thuộc về Phật giáo. Kiến trúc
hòa với thiên nhiên thành một tổng thể rộng lớn. Tháp có kích thước lớn hơn nhiều so với
chùa, có nhiều tầng và nhỏ dần về phía ngọn.
- Điêu khắc thời kì này gắn liền với kiến trúc, các hình tượng điêu khắc đều gắn liền với
thực tế thiên nhiên, con người sinh động. Vì vậy mĩ thuật thời Lý vừa mang tính tôn giáo,
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 19
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng
Lịch sử mĩ thuật Việt Nam
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
chính thống vừa mang tính hiện thực.
- Mĩ thuật thời Lý hướng tới sự mẫu mực, hoàn thiện trong đường nét, khối hình. Hoa
văn nhỏ, dày đặc. Hoa văn trang trí được cách điệu cao, sắp xếp trong bố cục hình tròn,
vuông, tạo thành những đồ án trang trí thống nhất về phong cách suốt hai trăm năm tồn tại của triều Lý.
- Về phong cách thể hiện, mĩ thuật thời Lý mang tính tôn giáo, chính thống nhiều hơn
tính dân gian, đồng thời còn kết hợp nhuần nhuyễn hai tính chất tôn giáo thần bí với tính vương quyền, quý tộc.
PHẦN II: MĨ THUẬT THỜI TRẦN(1226-1400)
I. Khái quát về xã hội thời Trần
Nhà Lý phát triển thịnh trị vào đời vua Lý Nhân Tông(1072-1127), sau đó bắt đầu đi
vào con đường suy yếu, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra góp phần làm lung lay ngai vàng nhà Lý.
Lý Huệ Tông không có con trai nên nhường ngôi cho con gái thứ là Chiêu Thánh (Lý
Chiêu Hoàng,7 tuổi). Vì vậy mọi điều hành trong triều đình đều nằm trong tay viên quan
điện tiền Trần Thủ Độ.
1226, dưới sự chỉ đạo của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng tuyên bố nhường ngôi cho
chồng là Trần Cảnh. Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Trần Thái Tông, triều Trần chính
thức được thành lập, thay thế cho nhà Lý trên vũ đài chính trị, nắm quyền điều hành đất
nước từ năm 1226 đến năm1400.
- Dưới triều Trần ý thức dân tộc ngày càng được khẳng định, bộ máy chính quyền được
xây dựng có hệ thống từ trung ương đến địa phương.
- Nho giáo tuy chưa phát triển mạnh bằng Phật giáo nhưng nhà nước cũng rất chú trọng
đến việc học hành, thi cử, chọn nho sĩ có tài. Nhiều nhân tài được đào tạo trong thời Trần
như: Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh...
Phật giáo vẫn được phát triển mạnh, ngày càng hòa hợp và gần gũi với đời sống nhân
gian, chùa tháp vẫn được xây dựng nhiều, tuy không có quy mô lớn như chùa thời Lý.
- Về kinh tế, nhà nước chú trọng những chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển.
Quân đội được tổ chức theo chế độ “Ngụ binh ư nông” để góp thêm lực lượng sản xuất
nông nghiệp. Kinh tế thành thị thịnh vượng kéo theo sự phát triển kinh tế hàng hóa, giao thông.
Từ năm1258 đến năm 1287, quân Mông Nguyên đã 3 lần đem quân sang đánh chiếm
Đại Việt song đều thất bại nặng nề, điều đó đã khẳng định truyền thống yêu nước và ý chí
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- 20
Giảng viên: Trần Thị Minh Hà - Trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng