



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 55840549
NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG – LÊ THỊ TUỆ KHANH
ĐỖ THỊ NHỰ – PHẠM ANH TUẤN
Chủ biên: LÊ THỊ TUỆ KHANH
NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ
NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI lOMoAR cPSD| 55840549 HÀ NỘI - 2009
LỜI NÓI ĐẦU
Thống kê là một công cụ không thể thiếu được trong quá trình quản lý kinh tế – xã hội.
Nó góp phần thu thập, xử lý, phân tích các số liệu thống kê nhằm giúp nhà quản lý nhận thức
và có biện pháp cải tạo hiện tượng kinh tế - xã hội.
Vì vậy, nguyên lý thống kê là môn học cơ sở của sinh viên thuộc tất cả các chuyên
ngành kinh tế – xã hội, quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán…
Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập của giáo viên và sinh viên; cũng
như nhu cầu tham khảo của các nhà quản lý đang làm công tác thực tế, Bộ môn Cơ sở kinh tế
và quản lý Trường Đại học Giao thông vận tải tổ chức biên soạn giáo trình Nguyên lý thống kê.
Giáo trình này được biên soạn với định hướng ứng dụng trong kinh tế và quản trị theo xu hướng hội nhập quốc tế.
Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm và nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu, giáo trình
biên soạn lần này đã có nhiều sửa đổi và bổ sung để đáp ứng nhu cầu đặt ra.
Giáo trình này do ThS. GVC Lê Thị Tuệ Khanh chủ biên. Tham gia biên soạn gồm có:
- TS. GV Nguyễn Thị Bích Hằng biên soạn chương 5, 6.
- ThS. GVC Lê Thị Tuệ Khanh biên soạn chương 7, 8, 9, 10.
- ThS. GV Đỗ Thị Nhự biên soạn chương 3, 4.
- KS. GV Phạm Anh Tuấn biên soạn chương 1, 2.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất
định, tập thể tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để lần biên soạn sau được hoàn thiện hơn.
Tập thể tác giả 1 lOMoAR cPSD| 55840549 CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC
I. Bản chất thống kê học
Thống kê học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân
tích các con số (mặt lượng) của hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất, tính quy luật vốn có
của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể.
Thống kê học không nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…) mà nó
chỉ nghiên cứu các hiện tượng kinh tế – xã hội. Đó là: -
Các hiện tượng về nguồn tài nguyên, môi trường, của cải tích luỹ của đất nước, của một vùng. -
Các hiện tượng về sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng sản phẩm. -
Các hiện tượng về dân số, nguồn lao động. -
Các hiện tượng về đời sống vật chất, văn hoá dân cư. -
Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị – xã hội.
Thống kê học nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất,
tức là nó phải nói rõ bằng số liệu về quy mô, kết cấu, trình độ phát triển, trình độ phổ biến, bản
chất và tính quy luật của hiện tượng.
Hiện tượng kinh tế – xã hội mà thống kê học nghiên cứu phải là hiện tượng số lớn, bởi vì
mặt lượng của hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều nhân tố, đồng thời mức độ và
phương hướng tác động của từng nhân tố lên các hiện tượng cá biệt là khác nhau. Do đó người
ta phải nghiên cứu số lớn các hiện tượng thì bản chất và tính quy luật của hiện tượng mới được thể hiện rõ.
Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra bản chất chung của
hiện tượng mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất. Ngược
lại, khi nghiên cứu trên một số lớn các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt
tiêu nhau và khi đó, bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mới được bộc lộ rõ.
Ví dụ: Nghiên cứu tình hình sinh đẻ trong một tổng thể dân cư, ta thấy có nhiều cặp vợ
chồng sinh toàn con trai, ngược lại cũng có nhiều gia đình chỉ có con gái. Nếu nghiên cứu trên
một số ít gia đình, có thể thấy số bé trai được sinh ra nhiều hơn số bé gái hoặc ngược lại. Nhưng
khi nghiên cứu trong cả tổng thể dân cư, với một số lớn cặp vợ chồng, những trường hợp gia
đình sinh toàn con trai sẽ bị bù trừ bởi những gia đình sinh toàn con gái. Khi đó, quy luật tự 2 lOMoAR cPSD| 55840549
nhiên: số bé trai và số bé gái sinh ra xấp xỉ bằng nhau theo tỉ lệ khoảng 103 – 104 bé trai trên
100 bé gái mới được bộc lộ rõ.
Khi thống kê các hiện tượng kinh tế – xã hội người ta phải gắn liền với thời gian, địa điểm
cụ thể bởi vì trong những điều kiện thời gian và không gian khác nhau thì đặc điểm về chất và
lượng cũng khác nhau do hiện tượng kinh tế – xã hội luôn biến động theo thời gian và không gian.
Ví dụ: Trình độ khoa học kỹ thuật là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất lao động của người công nhân, nhưng nó ảnh hưởng rất khác nhau đối với các doanh
nghiệp, với từng phân xưởng trong một doanh nghiệp hay ảnh hưởng khác nhau giữa các giai
đoạn, các thời kỳ… Vì vậy, các con số về năng suất lao động của người công nhân trong từng
doanh nghiệp, từng phân xưởng, từng thời kỳ cũng khác nhau.
II. Các khái niệm thƣờng dùng trong thống kê
1. Tổng thể thống kê (tổng thể) a) Khái niệm
Tổng thể thống kê là một khái niệm quan trọng của thống kê học, nó giúp ta xác định rõ
phạm vi của hiện tượng cần nghiên cứu.
Tổng thể thống kê là hiện tượng kinh tế – xã hội số lớn, gồm các đơn vị (phần tử, hiện tượng
cá biệt) cấu thành nên hiện tượng cần được quan sát và phân tích mặt lượng của chúng, để tìm
ra quy luật và bản chất vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể.
Tổng thể thống kê bao gồm các đơn vị, phần tử hay hiện tượng cá biệt. Các đơn vị này phải
có một hoặc một số đặc điểm chung nhằm thỏa mãn mục đích nghiên cứu.
Như vậy, thực chất của việc xác định tổng thể là xác định đơn vị tổng thể. Ví dụ:
✓ Muốn nghiên cứu thu nhập trung bình của một hộ gia đình ở thành phố Hà Nội thì tổng
thể sẽ là tổng số hộ gia đình của thành phố Hà Nội.
✓ Muốn tính chiều cao trung bình của sinh viên nam trường Đại học Giao thông vận tải
thì tổng thể sẽ là toàn bộ nam sinh viên trường Đại học Giao thông vận tải. b) Phân loại
- Tổng thể bộc lộ (tổng thể trực quan): là tổng thể có các đơn vị cấu thành có thể nhận
thấy được bằng trực quan. 3 lOMoAR cPSD| 55840549
Ví dụ: Tổng thể sinh viên của một trường, số nhân khẩu của một địa phương… năm 2007
- Tổng thể tiềm ẩn: là những tổng thể có các đơn vị cấu thành không thể nhận thấy được
bằng trực quan, ranh giới của tổng thể không rõ ràng. Loại này gặp nhiều khi người ta nghiên
cứu các hiện tượng xã hội trong các lĩnh vực văn hóa, thể thao, tâm lý xã hội…
Ví dụ: Tổng số người ham thích thể thao, tổng số người mê tín dị đoan… trong thành phố Hà Nội.
- Tổng thể đồng chất: là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau về một số đặc điểm chủ
yếu có liên quan đến mục đích nghiên cứu.
- Tổng thể không đồng chất: là tổng thể bao gồm các đơn vị có nhiều đặc điểm chủ yếu
khác nhau có liên quan đến mục đích nghiên cứu.
Sự phân loại tổng thể đồng chất và không đồng chất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
xác định tính đại diện của các số liệu thống kê tính được. Các số liệu này chỉ có ý nghĩa, đảm
bảo tính đại diện khi được tính ra từ một tổng thể đồng chất. Nếu chúng được tính ra từ một
tổng thể không đồng chất thì ý nghĩa, tính đại diện của chúng cho tổng thể giảm đi rất nhiều,
thậm chí không sử dụng được.
Ví dụ: Khi nghiên cứu về thu nhập, ta thường sử dụng số liệu thống kê là “thu nhập trung
bình”. Tuy nhiên, thu nhập trung bình chỉ có ý nghĩa và cũng chỉ đảm bảo tính đại diện khi
được tính ra từ một tổng thể bao gồm những người có cùng chung những điều kiện làm việc,
tính chất công việc, như những người nông dân, những thương nhân… Nếu ta trộn cả nông dân
và thương nhân lại với nhau, thì ý nghĩa, tính đại diện của “thu nhập trung bình” đã giảm đi rất nhiều.
Tính đồng chất của tổng thể chỉ mang tính tương đối, tùy theo mục đích nghiên cứu. Có
thể theo mục đích nghiên cứu này thì tổng thể là đồng chất nhưng theo mục đích nghiên cứu
khác thì tổng thể lại không còn đồng chất nữa
Ví dụ: Nếu mục đích nghiên cứu là tìm hiểu về hiệu quả sử dụng vốn của các doanh
nghiệp vận tải ô tô trên địa bàn Hà Nội thì tổng thể các doanh nghiệp vận tải ô tô ở Hà Nội là
tổng thể đồng chất, tổng thể tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội là tổng thể không đồng
chất. Nhưng nếu mục đích nghiên cứu là tìm hiểu về hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hà Nội thì tổng thể những doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
lại là tổng thể đồng chất.
- Tổng thể chung: là tổng thể bao gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi nghiên cứu.
- Tổng thể bộ phận: là tổng thể chỉ bao gồm một số bộ phận đơn vị trong tổng thể chung
được đưa ra nghiên cứu. 4 lOMoAR cPSD| 55840549
Ví dụ: Tổng thể sinh viên trường Đại học Giao thông vận tải là tổng thể chung, tổng thể
sinh viên khoa Vận tải – Kinh tế là tổng thể bộ phận.
2. Đơn vị tổng thể
Đơn vị tổng thể là những đơn vị cá biệt (người, vật, phần tử, hiện tượng cá biệt) có cùng
một hay một số đặc điểm chung được chọn ra để hình thành nên tổng thể thống kê.
Việc lựa chọn đơn vị tổng thể phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Đơn vị tổng thể là căn
cứ để xác định phương pháp điều tra.
Ví dụ: Khi cần nghiên cứu tình trạng sức khỏe của người lao động trong một doanh nghiệp
vận tải thì đơn vị tổng thể là từng người lao động trong doanh nghiệp đó. Khi cần nghiên cứu
tình trạng sức khỏe của lao động trực tiếp của một doanh nghiệp vận tải thì đơn vị tổng thể là
từng công nhân lao động trực tiếp của doanh nghiệp đó.
3. Tiêu thức thống kê (tiêu thức) a) Khái niệm
Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau. Trong nghiên cứu thống kê, người
ta chỉ chọn ra một số đặc điểm nghiên cứu. Các đặc điểm này được gọi là tiêu thức thống kê.
Như vậy, tiêu thức thống kê là một khái niệm chỉ đặc điểm được chọn ra để nghiên cứu của
các đơn vị tổng thể. Ví dụ:
✓ Khi nghiên cứu nhân khẩu, mỗi nhân khẩu có các tiêu thức như: giới tính, độ tuổi, trình
độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, …
✓ Khi nghiên cứu các doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có các tiêu thức như: số lượng
công nhân, vốn cố định, vốn lưu động, giá trị tổng sản lượng, … b) Phân loại
Tuỳ theo cách biểu hiện, tiêu thức thống kê được chia thành hai loại:
- Tiêu thức số lượng: là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng các con số. Đây là những
con số được xác định bằng việc cân, đong, đo, đếm từ từng đơn vị tổng thể.
Ví dụ: Tuổi, chiều cao, trọng lượng của con người, năng suất lao động của công nhân, …
Các trị số cụ thể của tiêu thức số lượng gọi là lượng biến. Lượng biến là cơ sở để thực hiện các phép tính thống kê. 5 lOMoAR cPSD| 55840549
Ví dụ: Lượng biến của tiêu thức tuổi là 19 tuổi, 20 tuổi, 22 tuổi…
- Tiêu thức thuộc tính: là loại tiêu thức không được biểu hiện trực tiếp bằng con số, mà
các biểu hiện của nó được dùng để phản ánh loại hình hay tính chất của các đơn vị tổng thể.
Ví dụ: giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo, thành phần kinh tế, …
Các tiêu thức số lượng hay tiêu thức thuộc tính chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên
cùng một đơn vị tổng thể được gọi là tiêu thức thay phiên.
Ví dụ: Tiêu thức giới tính chỉ có hai biểu hiện là nam và nữ
Đối với tiêu thức có nhiều biểu hịên ta có thể chuyển thành tiêu thức thay phiên bằng cách
rút gọn thành hai biểu hiện. Ví dụ:
✓ Số sản phẩm đạt chất lượng và không đạt chất lượng ✓
Số sinh viên thi đạt vòng đầu và không đạt vòng đầu
4. Chỉ tiêu thống kê (chỉ tiêu) a) Khái niệm
Để biểu hiện rõ bản chất, quy luật của hiện tượng, thống kê phải tổng hợp các đặc điểm về
lượng thành những con số của một hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian, không gian cụ
thể. Ta gọi đó là chỉ tiêu thống kê.
Như vậy, chỉ tiêu thống kê là khái niệm biểu hiện một cách tổng hợp đặc điểm về mặt lượng
trong sự thống nhất về mặt chất của tổng thể thống kê trong thời gian và không gian cụ thể.
Ví dụ: Tổng sản lượng, tổng doanh thu, năng suất lao động bình quân của công nhân, …
của một doanh nghiệp vận tải trong một năm.
Chỉ tiêu thống kê được biểu hiện ở hai mặt:
- Mặt khái niệm: bao gồm tên gọi, định nghĩa và nội dung của chỉ tiêu thống kê.
- Mặt con số: bao gồm trị số và đơn vị tính của chỉ tiêu thống kê. b) Phân loại
- Chỉ tiêu số lượng: là những chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của tổng thể nghiên cứu.
Ví dụ: số nhân khẩu, số doanh nghiệp, vốn cố định, vốn lưu động của doanh nghiệp, tổng
sản phẩm quốc nội (GDP), số sinh viên đại học … 6 lOMoAR cPSD| 55840549
- Chỉ tiêu chất lượng: là những chỉ tiêu biểu hiện tính chất, trình độ phổ biến và mối quan
hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nghiên cứu.
Ví dụ: giá thành đơn vị sản phẩm, biểu hiện quan hệ so sánh giữa tổng chi phí sản xuất và
số lượng sản phẩm sản xuất ra, đồng thời nó phản ánh tính chất phổ biến về mức chi phí cho
một đơn vị sản phẩm đã được sản xuất ra.
Các chỉ tiêu chất lượng mang ý nghĩa phân tích, trị số của nó được xác định chủ yếu từ việc
so sánh giữa các chỉ tiêu khối lượng. 7 lOMoAR cPSD| 55840549 CHƢƠNG 2
QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ
I. Hoạt động thống kê và quá trình nghiên cứu thống kê
Mục đích của một cuộc nghiên cứu thống kê là thu thập những thông tin định lượng về hiện
tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Trên cơ sở đó người ta tìm ra
bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng. Tờt cả các công việc đó được gọi là hoạt động thống kê.
Ở Việt Nam, hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các
thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế – xã hội trong điều kiện
thời gian và không gian cụ thể do các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân tiến hành. Hoạt
động này được điều chỉnh bởi Luật Thống kê.
Hoạt động thống kê nhà nước Việt Nam phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính trung thực, khách quan, đầy đủ, chính xác, kịp thời.
- Đảm bảo tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê.
- Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, đơn vị đo lường, niên độ thống kê
và tính so sánh quốc tế.
- Không trùng lặp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê.
- Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kê.
- Đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã
được công bố công khai.
- Những thông tin thống kê về từng tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng cho mục đích tổng hợp thống kê.
Ngoài ra, Luật Thống kê còn quy định các hành vi bị cấm trong hoạt động thống kê là:
- Không thực hiện hoặc cản trở việc thực hiện chế độ báo cáo, điều tra thống kê.
- Tự thực hiện hoặc ép buộc người khác khai man, thông báo sai thông tin, tiết lộ thông tin sai quy định.
- Thực hiện các hoạt động thống kê trái pháp luật.
Các hoạt động thống kê đều phải trải qua một quá trình gồm nhiều giai đoạn, bước công
việc kế tiếp nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau. Có thể khái quát quá trình này qua sơ đồ sau: 1 lOMoAR cPSD| 55840549 Phân tích và d ự báo Đ i ề u tra th ố ng kê
T ổ ng h ợ p th ố ng kê th ố ng kê ( Thu th ậ p thông tin ( X ử lý thông tin) Di ( ễ n gi ả i, phân tích thông tin)
Hình 1.1 – Sơ đồ quá trình nghiên cứu thống kê
II. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
1. Những căn cứ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê
- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu: vì nó quyết định nhu cầu thông tin về mặt nào của hiện tượng.
- Căn cứ vào tính chất và đặc điểm của hiện tượng cần nghiên cứu: hiện tượng nghiên cứu
càng phức tạp thì hệ thống chỉ tiêu càng nhiều và ngược lại.
- Căn cứ vào khả năng nhân lực, vật lực cho phép có thể tiến hành thu thập, tổng hợp các
chỉ tiêu do đó hệ thống chỉ tiêu không nên quá nhiều nhưng vẫn phải đáp ứng được mục đích nghiên cứu.
2. Các yêu cầu khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu
- Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu được mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt của
hiện tượng nghiên cứu và phải phản ánh được mục đích nghiên cứu.
- Hệ thống chỉ tiêu phải có chỉ tiêu mang tính chất chung, phải có chỉ tiêu mang tính chất bộ phận.
- Phải đảm bảo thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán của chỉ tiêu thống kê.
III. Điều tra thống kê 1. Khái niệm
Sau khi đã xác định xong hệ thống chỉ tiêu cần phải thu thập thông tin của từng đơn vị tổng
thể để có thể tính toán được trị số của các chỉ tiêu đó. Đây là giai đoạn điều tra thống kê.
Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học với một kế hoạch thống nhất việc thu
thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện về thời gian và
không gian cụ thể dựa trên hệ thống chỉ tiêu đã được xác định trước. 2 lOMoAR cPSD| 55840549
Ví dụ: Khi nghiên cứu tình hình dân số phải tổ chức thu thập số liệu về số dân, giới tính,
nghề nghiệp, thu nhập của từng hộ gia đình, …
Đối tượng của thống kê thường là những hiện tượng số lớn phức tạp bao gồm nhiều đơn vị,
phần tử khác nhau. Mặt khác, các hiện tượng này luôn biến động theo thời gian và không gian.
Do sự đa dạng, phong phú và phức tạp của đối tượng nghiên cứu nên muốn đáp ứng được mục
đích nghiên cứu đã được định trước đòi hỏi công tác điều tra thống kê phải được tổ chức một
cách khoa học, có kế hoạch tập trung, thống nhất, có chuẩn bị chu đáo theo những nguyên tắc khoa học nhất định. 2. Ý nghĩa
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết cho việc
nghiên cứu, người ta thường gọi đây là những thông tin sơ cấp hay nguồn tài liệu ban đầu. Đây
là giai đoạn khởi đầu rất quan trọng. Trong giai đoạn này các thông tin, số liệu được thu thập
một cách trung thực, khách quan, đầy đủ và kịp thời, tạo điều kiện để thực hiện tốt các giai đoạn
tổng hợp và phân tích thống kê. 3. Yêu cầu
- Tính chính xác: số liệu điều tra thu thập được phải phản ánh chính xác, trung thực tình
hình thực tế khách quan, không được ghi sai, tuỳ ý thêm bớt. Đây là yêu cầu cơ bản nhất của điều tra thống kê.
- Tính kịp thời: các tài liệu điều tra thống kê phải nhạy bén với tình hình thực tế và phản
ánh được số liệu mà lãnh đạo quan tâm.
- Tính đầy đủ: đó là việc thu thập số liệu phải theo đúng nội dung điều tra, không bỏ sót
một đơn vị nào, một đặc điểm nào theo kế hoạch đã đề ra. 4. Các hình thức tổ chức điều tra thống kê
a) Báo cáo thống kê định kỳ
Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra thống kê thường xuyên, có định kỳ
theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo thống nhất đã được quy định từ trước.
Nhờ có tài liệu báo cáo thống kê định kỳ mà số liệu được phản ánh một cách có hệ thống,
giúp cho lãnh đạo có thể thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện những
khâu còn yếu để có biện pháp chỉ đạo kịp thời. 3 lOMoAR cPSD| 55840549
Đây là một hình thức thu thập số liệu dựa vào các biểu mẫu báo cáo thống kê được lập sẵn.
Theo đó, các đơn vị báo cáo ghi số liệu vào biểu mẫu và gửi lên cấp trên theo định kỳ hàng tháng, quý, năm…
b) Điều tra chuyên môn
Khác với báo cáo thống kê định kỳ, điều tra chuyên môn chỉ được tổ chức khi có nhu cầu.
Đây là hình thức tổ chức điều tra thống kê không thường xuyên, được tiến hành theo kế hoạch
và phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra theo những nhu cầu và mục đích nhất định.
Ví dụ: Điều tra hộ nghèo trên phạm vi toàn quốc; nhu cầu tiêu dùng sản phẩm A tại các tỉnh phía Bắc…
Đối tượng của điều tra chuyên môn là những hiện tượng mà báo cáo thống kê định kỳ chưa
phản ánh được đầy đủ, đồng thời nó dùng để kiểm tra chất lượng của báo cáo thống kê định kỳ
5. Các loại điều tra thống kê
a) Căn cứ vào yếu tố thời gian
- Điều tra thường xuyên: là việc tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện
tượng nghiên cứu một cách liên tục, có hệ thống, gắn liền với sự phát sinh, phát triển của hiện tượng.
Ví dụ: việc tổ chức chấm công lao động, theo dõi số công nhân đi làm hàng ngày tại các
doanh nghiệp, việc ghi chép số sản phẩm nhập, xuất kho hàng ngày tại các kho hàng…
Điều tra thường xuyên là cơ sở lập các báo cáo thống kê định kỳ, là công cụ theo dõi tình
hình thực hiện kế hoạch, tình hình phát triển của hiện tượng theo thời gian.
- Điều tra không thường xuyên: là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện
tượng một cách không liên tục, không gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng,
thông thường tài liệu này chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng vào một thời điểm nhất định.
Ví dụ: Tổng điều tra dân số, các cuộc điều tra nghiên cứu thị trường…
Các cuộc điều tra không thường xuyên thường được tiến hành với mục đích, nội dung, phạm
vi, đối tượng và phương pháp điều tra không giống nhau. Hình thức chủ yếu của điều tra không
thường xuyên là các cuộc điều tra chuyên môn.
b) Căn cứ vào phạm vi điều tra
- Điều tra toàn bộ: là tiến hành thu thập tài liệu ban đầu trên toàn thể các đơn vị thuộc đối
tượng điều tra, không loại trừ bất cứ đơn vị nào. 4 lOMoAR cPSD| 55840549
Ví dụ: Tổng điều tra dân số; tổng điều tra tồn kho vật tư, hàng hoá; điều tra tất cả các chợ
trên địa bàn Hà Nội…
+ Ưu điểm: điều tra toàn bộ là nguồn cung cấp tài liệu đầy đủ nhất cho các nghiên cứu thống
kê. Do tài liệu được thu thập trên toàn bộ các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu, nên nó vừa là
cơ sở để tính được các chỉ tiêu tổng hợp cho cả tổng thể, lại vừa cung cấp số liệu chi tiết cho từng đơn vị.
+ Nhược điểm: với những hiện tượng lớn và phức tạp, điều tra toàn bộ đòi hỏi chi phí rất
lớn, tốn kém nhân lực và thời gian. Vì vậy không thể áp dụng điều tra toàn bộ cho tất cả các
trường hợp nghiên cứu thống kê.
- Điều tra không toàn bộ: là tiến hành thu thập tài liệu ban đầu trên một số đơn vị được
chọn ra trong toàn bộ các đơn vị thuộc đối tượng điều tra.
+ Ưu điểm: do chỉ tiến hành điều tra trên một số đơn vị của hiện tượng nghiên cứu nên điều
tra không toàn bộ có thể rút ngắn được thời gian, tiết kiệm công sức, chi phí. Đặc biệt, loại điều
tra này vừa có điều kiện mở rộng nội dung điều tra, thu thập số liệu chi tiết trên nhiều mặt của
hiện tượng, vừa có thể kiểm tra, đánh giá độ chính xác của số liệu thu được một cách thuận lợi.
+ Nhược điểm: điều tra không toàn bộ luôn tồn tại sai số do chỉ dựa trên cơ sở số liệu của
một số ít đơn vị để kết luận cho toàn bộ tổng thể nghiên cứu.
Căn cứ vào phương pháp lựa chọn các đơn vị để điều tra, điều tra không toàn bộ được chia làm 3 loại:
* Điều tra chọn mẫu: là loại điều tra không toàn bộ trong đó người ta chọn ra một số đơn
vị nhất định trong tổng thể để điều tra, sau đó dùng kết quả thu thập được để tính toán, suy rộng
thành đặc điểm của tổng thể.
* Điều tra trọng điểm: là loại điều tra không toàn bộ trong đó chỉ điều tra ở bộ phận chủ
yếu nhất trong toàn bộ tổng thể nghiên cứu, kết quả điều tra cho thấy tình hình cơ bản của hiện
tượng, không dùng suy rộng ra đặc điểm chung của tổng thể.
Hình thức điều tra này thích hợp với đối tượng có từng bộ phận tương đối tập trung, bộ
phận này chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ tổng thể.
Ví dụ: khi cần nắm nhanh tình hình cơ bản về sản xuất chè hay cà phê của nước ta, ta có thể
chỉ tiến hành điều tra về sản xuất chè ở Thái Nguyên và cà phê ở Tây Nguyên nhưng không
dùng kết quả này để suy rộng cho cả nước.
* Điều tra chuyên đề (điều tra đơn vị cá biệt): là loại điều tra không toàn bộ, trong đó chỉ
tiến hành điều tra một hoặc một số rất ít đơn vị của tổng thể, nhưng lại đi sâu vào nghiên cứu
chi tiết nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để chỉ đạo phong trào. Tài liệu thu được trong 5 lOMoAR cPSD| 55840549
điều tra chuyên đề không dùng để suy rộng hoặc làm căn cứ đánh giá tình hình cơ bản của hiện
tượng nghiên cứu.
Loại điều tra này thường dùng để nghiên cứu đơn vị tiên tiến hoặc các đơn vị lạc hậu
Ví dụ: Điều tra một số ít sinh viên có kết quả học tập xuất sắc để tìm phương pháp học tập
hiệu quả; điều tra một số ít sinh viên có kết quả học tập kém để tìm nguyên nhân khắc phục.
6. Các phƣơng pháp thu thập tài liệu điều tra thống kê
Để thu thập thông tin trong điều tra thống kê, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp
khác nhau. Tuỳ theo điều kiện thực tế về đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, khả năng tài
chính, thời gian, kinh nghiệm, trình độ của người tổ chức và điều tra viên… để người ta lựa
chọn phương pháp thu thập tài liệu điều tra thích hợp.
a) Phương pháp đăng ký trực tiếp
Đăng ký trực tiếp là phương pháp ghi chép tài liệu ban đầu mà nhân viên điều tra phải tiếp
xúc với đối tượng điều tra, trực tiếp tiến hành cân, đong, đo, đếm và ghi chép tài liệu vào phiếu điều tra.
Ví dụ: Thống kê vật liệu tồn kho, kiểm kê tài sản cố định
Phương pháp này cho kết quả chính xác cao nhưng lại đòi hỏi nhiều nhân lực và thời gian.
b) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là phương pháp ghi chép tài liệu ban đầu mà nhân viên điều tra thu thập được
qua sự trả lời của đối tượng điều tra
Căn cứ vào tính chất của sự tiếp xúc giữa người hỏi và người trả lời, ta phân biệt hai loại:
phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp.
- Phỏng vấn trực tiếp (phái viên điều tra): nhân viên điều tra được cử đến tận địa điểm
điều tra, gặp đối tượng điều tra, đặt câu hỏi, nghe trả lời và ghi số liệu vào phiếu điều tra.
Phương pháp này chính xác nhưng cũng tốn nhiều công sức, thời gian, chi phí.
- Phỏng vấn gián tiếp: bao gồm
+ Phương pháp tự ghi báo: đối tượng được điều tra sau khi nghe hướng dẫn tự mình ghi số
liệu vào phiếu điều tra rồi nộp cho cơ quan điều tra
Ví dụ: Trong điều tra thu nhập của hộ gia đình, nhân viên điều tra gặp đại diện hộ gia đình
trao phiếu điều tra, giải thích ý nghĩa điều tra, cách trả lời… Đại diện hộ gia đình xác định các
dữ liệu cần thiết và tự ghi vào phiếu điều tra, rồi gửi cho nhân viên điều tra. 6 lOMoAR cPSD| 55840549
+ Phương pháp gửi thư (thông tấn): cơ quan điều tra và đối tượng được điều tra không trực
tiếp gặp nhau mà chỉ trao đổi tài liệu hướng dẫn và phiếu điều tra bằng cách thông qua bưu điện.
Ví dụ: Trong điều tra về tình hình việc làm của sinh viên ra trường, nhân viên điều tra có
thể gửi bản câu hỏi qua đường bưu điện đến địa chỉ của sinh viên đã tốt nghiệp để thu thập dữ
liệu về tính chất công việc, khu vực kinh tế đang làm việc, lĩnh vực hoạt động, thu nhập… Cựu
sinh viên sau khi trả lời xong sẽ gửi qua đường bưu điện đến cơ quan điều tra.
Đặc điểm cơ bản của phương pháp phỏng vấn gián tiếp là người hỏi và người trả lời không
trực tiếp gặp nhau. Quá trình hỏi - đáp diễn ra thông qua một vật trung gian là phiếu điều tra.
Muốn nâng cao chất lượng các thông tin thu được cần chú ý đến một số điều kiện cơ bản: ➢
Người được hỏi phải có trình độ văn hoá cao ➢
Phiếu điều tra phải ngắn gọn ➢
Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời ➢
Phải thiết lập được một mạng lưới phân phát và thu hồi phiếu điều tra hợp lý,
không để bị thất lạc phiếu
+ Ưu điểm: dễ tổ chức, tiết kiệm chi phí và điều tra viên
+ Nhược điểm: khó có thể kiểm tra, đánh giá được độ chuẩn xác của các câu trả lời, tỷ lệ
thu hồi phiếu trong nhiều trường hợp là không cao, nội dung điều tra bị hạn chế. Phương pháp
này cũng chỉ có thể sử dụng được trong điều kiện trình độ dân trí cao.
Ví dụ: Dùng trong trường hợp khi các công ty muốn tìm hiểu sự đánh giá, tâm lý tiêu dùng
của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của họ. Để có được tỷ lệ trả lời cao, họ cần áp dụng
các biện pháp khuyến khích vật chất.
c) Phương pháp đăng ký qua chứng từ sổ sách
Đăng ký qua chứng từ sổ sách là phương pháp thu thập số liệu căn cứ vào chứng từ sổ sách
đã được ghi chép một cách có hệ thống
Ví dụ: Trong điều tra về biến động dân số của một địa phương, nhân viên điều tra có thể thu
thập tài liệu qua sổ sách theo dõi nhân khẩu của cơ quan địa phương về số sinh, tử, chuyển đi, chuyển đến…
7. Sai số trong điều tra thống kê 7 lOMoAR cPSD| 55840549 a) Khái niệm
Các cuộc điều tra thống kê, dù có cố gắng làm thật tốt vẫn thường gặp những trường hợp
mà số liệu điều tra không trùng khớp với số liệu thực tế của hiện tượng nghiên cứu. Người ta gọi là sai số.
Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa trị số của tiêu thức thống kê mà ta thu
thập được so với trị số thực của tiêu thức đó.
b) Nguyên nhân gây ra sai số
Căn cứ vào tích chất của các sai số, ta có thể phân biệt 2 loại: sai số do đăng ký và sai số do tính chất đại biểu.
- Sai số do đăng ký: là loại sai số phát sinh do xác định và ghi chép dữ liệu không chính xác.
Các nguyên nhân dẫn đến loại sai số này:
+ Do vô tình ghi sai (có thể do cả nhân viên điều tra và đối tượng điều tra như : nhân viên
điều tra không cẩn thận, không hiểu câu hỏi dẫn đến trả lời sai, trả lời sai do vô trách nhiệm…)
+ Do cố ý ghi sai vì mục đích nào đó
+ Do dụng cụ đo lường không chính xác
+ Do tỷ lệ không trả lời cao
Nếu phân chia chi tiết hơn, ta có thể chia loại sai số này thành hai loại:
+ Sai số ngẫu nhiên: là những sai số phát sinh một cách tình cờ, không có chủ ý, không có
bất kỳ một sự sắp đặt trước nào của nhân viên điều tra. Loại này chịu sự chi phối của quy luật
số lớn, tức là nếu ta điều tra càng nhiều đơn vị, các sai lệch ngẫu nhiên sẽ có khả năng bù trừ,
triệt tiêu nhau làm cho sai số trung bình càng nhỏ.
+ Sai số hệ thống: là sai số phát sinh có chủ ý thường xảy ra do chủ ý của nhân viên điều
tra, người trả lời hoặc sai số một cách có hệ thống do dụng cụ đo lường sai… Loại sai số này
không chịu sự chi phối của quy luật số lớn, nên điều tra càng nhiều, khả năng sai số sẽ càng lớn.
- Sai số do tính chất đại biểu: là loại sai số xảy ra trong điều tra chọn mẫu, do số lượng tổng
thể mẫu rất ít so với tổng thể chung nên luôn có sai số khi suy rộng kết quả cho tổng thể.
c) Các biện pháp làm giảm sai số trong điều tra thống kê
- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của việc điều tra để nhân viên điều tra và đối tượng điều
tra thấy được tầm quan trọng của việc điều tra để họ có trách nhiệm trong việc cung cấp và ghi chép thông tin. 8 lOMoAR cPSD| 55840549
- Bồi dưỡng, lựa chọn nhân viên điều tra có đủ năng lực trình độ, đồng thời có biện pháp
cưỡng chế đối với nhân viên điều tra cố tình ghi chép sai.
- Căn chỉnh chính xác dụng cụ đo lường.
- Đặt câu hỏi chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu.
- Để tỷ lệ trả lời cao cần có những biện pháp kích thích đối tượng điều tra như kèm quà tặng …
- Đối với sai số do tính chất đại biểu có thể tăng kích thước mẫu (số lượng đối tượng được chọn ra để điều tra).
8. Xây dựng phƣơng án điều tra
Phương án điều tra là văn kiện hướng dẫn việc thực hiện điều tra. Trong đó xác định rõ các
bước tiến hành, các vấn đề cần giải quyết trong toàn bộ quá trình điều tra thống kê.
Phương án điều tra bao gồm các nội dung sau:
a) Xác định mục đích điều tra
Bất kỳ một hiện tượng kinh tế, xã hội nào cũng đều có thể được quan sát và nghiên cứu từ
nhiều khía cạnh. Vì vậy trước khi tiến hành điều tra thống kê, cần xác định rõ xem cuộc điều
tra này nhằm tìm hiểu những vấn đề gì, phục vụ yêu cầu nghiên cứu nào. Đó chính là mục đích của điều tra thống kê
Mục đích điều tra là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đối tượng điều tra, đơn
vị điều tra, mục đích điều tra. Từ đó có cơ sở để thu thập số liệu ban đầu chính xác.
b) Xác định đối tượng điều tra và đơn vị điều tra
Đối tượng điều tra là những đơn vị tổng thể được chọn ra để thu thập số liệu.
Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, người ta phải dựa vào muc đích điều tra để nêu
lên những tiêu chuẩn cho các đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu.
Đơn vị điều tra là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, nhân viên điều tra cần đến đó để thu
thập số liệu trong mỗi cuộc điều tra. Như vậy, việc xác định đối tượng điều tralaf xác định điều
tra ai, điều tra cái gì? Còn việc xác định đơn vị điều tra là xem việc điều tra tiến hành ở đâu, ở bộ phận nào?
Ví dụ : Trong cuộc điều tra nghiên cứu tình hình giảng dạy, học tập ở các trường Đại học
công lập của cả nước thì đối tượng điều tra và đơn vị điều tra đều là các trường Đại học công
lập trên phạm vi cả nước. Trong cuộc tổng điều tra dân số thì đối tượng điều tra là từng nhân
khẩu, đơn vị điều tra là hộ gia đình. 9 lOMoAR cPSD| 55840549
c) Xác định nội dung điều tra và thành lập phiếu điều tra
Nội dung điều tra là toàn bộ các đặc điểm cơ bản (tiêu thức) của từng đối tượng điều tra mà
ta cần thu thập. Các đặc điểm này được biểu hiện bằng các câu hỏi và được ghi trong phiếu điều tra.
Việc xác định nội dung điều tra cần căn cứ vào các yếu tố sau :
- Mục đích điều tra : vì mục đích điều tra quyết định nhu cầu thông tin cần điều tra. Mục
đích càng nhiều thì nội dung điều tra phải rộng, số tiêu thức càng lớn.
- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu : vì hiện tượng nghiên cứu luôn biến động theo
thời gian và không gian, do đó biểu hiện của chúng sẽ thay đổi. Vì vậy việc lựa chọn tiêu thức
nghiên cứu cũng phải khác nhau.
- Điều kiện về tài chính, thời gian, trình độ tổ chức điều tra của cơ quan điều tra thống kê:
vì các điều kiện này quyết định đến khả năng thực hiện và tính chính xác của số liệu điều tra thống kê.
Phiếu điều tra là tập hợp các câu hỏi về nội dung điều tra, được sắp xếp theo một trật tự nhất
định. Tùy theo mục đích nghiên cứu, mỗi cuộc điều tra có thể có một hoặc nhiều phiếu điều tra.
Ngoài ra, người ta còn ban hành bản giải thích cách ghi phiếu điều tra (kèm theo phiếu điều
tra) nhằm giúp nhân viên điều tra và đối tượng điều tra hiểu thống nhất câu hỏi.
d) Chọn thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra
Thời điểm điều tra là mốc thời gian được quy định thống nhất mà cuộc điều tra phải thu
thập số liệu thông tin về hiện tượng tại thời điểm đó.
Thời kỳ điều tra là khoảng thời gian (tuần, tháng, quý, năm) được quy định để thu thập số
liệu, thông tin của hiện tượng được tích lũy trong cả thời kỳ đó.
Thời hạn điều tra là khoảng thời gian quy định dành cho việc thực hiện nhiệm vụ thu thập
số liệu. Thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc quy mô, độ phức tạp, nội dung cuộc điều tra.
Tuy nhiên nó không nên cách quá xa so với thời điểm điều tra vì ảnh hưởng đến độ chính xác của thông tin.
e) Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra
Kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra quy định từng bước công việc phải tiến hành trong
quá trình điều tra. Kế hoạch này càng chi tiết, rõ ràng, cụ thể thì quá trình điều tra càng thực
thi, chất lượng điều tra càng cao.
Kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra gồm các bước công việc sau : 10 lOMoAR cPSD| 55840549 -
Thành lập Ban chỉ đạo điều tra và quy định nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan điều tra các cấp. -
Phân chia khu vực và địa bàn điều tra -
Chuẩn bị lực lượng nhân viên điều tra gồm: xác định số lượng nhân viên điều
tra, tập huấn, phân công trách nhiệm, địa bàn phụ trách cho nhân viên điều tra. - Lựa chọn
phương pháp điều tra thích hợp - Xây dựng các bước tiến hành điều tra. -
Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác -
Tổ chức hội nghị chuẩn bị -
Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm -
Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của điều tra cho đối tượng điều tra.
IV. Tổng hợp thống kê 1. Khái niệm
Quá trình điều tra thống kê đã thu thập được những tài liệu về từng đơn vị tổng thể theo các
tiêu thức nghiên cứu. Những tài liệu này mới chỉ phản ánh đặc trưng của từng đơn vị tổng thể.
Do vậy, muốn nhận thức được đặc trưng của tổng thể, người ta phải tiến hành quá trình tổng hợp thống kê.
Tổng hợp thống kê là sự tập trung, chỉnh lý, hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu
ban đầu thu thập được trong điều tra thống kê. 2. Ý nghĩa
Tổng hợp thống kê là giai đoạn thứ hai của quá trình nghiên cứu thống kê. Nó có ý nghĩa
lớn đối với kết quả nghiên cứu thống kê vì đặc trưng của tổng thể là căn cứ để phân tích và dự đoán thống kê. 3. Nhiệm vụ
Tổng hợp thống kê có nhiệm vụ làm cho đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước
đầu chuyển thành đặc trưng chung của tổng thể, làm biểu hiện riêng của tiêu thức nghiên cứu
chuyển thành đặc điểm chung của tổng thể.
Tổng hợp thống kê là một công tác phức tạp bao gồm các công việc như phân tổ thống kê,
xác định các chỉ tiêu thống kê của tổng thể và từng tổ, lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tổng hợp
thống kê và trình bày kết quả tổng hợp thống kê và bảng thống kê và đồ thị thống kê. 4. Những
vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê 11