-
Thông tin
-
Quiz
Giáo trình ôn tập - Chủ nghĩa xã hội khoa học | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Tư tưởng XHCN là tư tưởng về một xã hội dựa trên chế độ công hữu về tưliệu sản xuất vì một xã hội mà trong đó mọi người đều có việc làm, đều đượclao động, trong đó mọi người đều được bình đẳng và tự do. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Chủ nghĩa xã hội khoa học (K10) 16 tài liệu
Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh 228 tài liệu
Giáo trình ôn tập - Chủ nghĩa xã hội khoa học | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Tư tưởng XHCN là tư tưởng về một xã hội dựa trên chế độ công hữu về tưliệu sản xuất vì một xã hội mà trong đó mọi người đều có việc làm, đều đượclao động, trong đó mọi người đều được bình đẳng và tự do. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học (K10) 16 tài liệu
Trường: Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh 228 tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh
Preview text:
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC CHƯƠNG I
NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Sơ lược về lịch sử phát triển của tư tưởng XHCN.
Tư tưởng XHCN là tư tưởng về một xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất vì một xã hội mà trong đó mọi người đều có việc làm, đều được
lao động, trong đó mọi người đều được bình đẳng và tự do.
Tư tưởng XHCN ra đời khi trong xã hội chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
làm cho xã hội phân rã thành các giai cấp đối lập nhau đó là giai cấp thống
trị và giai cấp bị trị. Khi đó, trong ý thức XH hình thành các tư tưởng phản
ánh sự đối lập về mặt lợi ích giữa các giai cấp.
Tư tưởng XHCN gắn liền với giai cấp bị trị phản ánh sự phản kháng của giai
cấp bị trị đối với XH đương thời, phản ánh nhu cầu và mơ ước của giai cấp
bị trị về một XH bình đẳng, tự do.
Tư tưởng XHCN phát triển giữa qua các nấc thang từ thấp đến cao: CNXH
sơ khai CNXH không tưởng CNXH không tưởng phê phán CNXH khoa học. CNXH sơ khai.
Ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ, tồn tại dưới dạng những ươc mơ người
nô lệ được quay trở lại XH công xã nguyên thủy, ở đó không có sự phân chia
giai cấp, ở đó mọi người đều được bình đẳng. CNXH không tưởng.
Ra đời và phát triển trong giai đoạn thế kỷ 15 đến thế kỷ 18. CNTB hình
thành và hình thành giai cấp tư sản và vô sản, giai cấp tư sản tìm cách thiết
lập vị trí thống trị của mình do lợi ích đối lập nhau tất yếu dẫn đến mâu
thuẫn giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mâu thuẫn ngày càng trở nên gay
gắt. Trong điều kiện lịch sử mới đó, tư tưởng XHCN phát triển lên một nấc
thang cao mới đó là CNXH không tưởng, gắn liền với các tác giả và các tác
phẩm điển hình: Tômát Morơ, Campanella, Giăng Mêliê, Babớp…
Luận điểm chung: Coi chế độ sở hữu tư hữu là nguồn gốc của bất bình
đẳng Đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư hữu.
CNXH không tưởng phê phán.
Ra đời và phát triển vào giai đoạn thế kỷ 18 đến thế kỷ 19. Đây là giai đoạn
phương thức TBCN đạt mức hoàn thiện, giai cấp tư sản đã xác định được địa
vị thống trị của mình, giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị
độc lập, cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã trở
nên phổ biến. Trong điều kiện lịch sử đó, tư tưởng XHCN đã phát triển lên
một nấc thang mới đó là CNXH không tưởng phê phán.
Đại biểu điển hình: Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen…
Nội dung cơ bản của CNXH không tưởng phê phán: Phê phán xã hội tư bản,
đề xuất một số nguyên lý của xã hội tương lai, cụ thể:
+) Xã hội tồn tại trên nguyên lý sản xuất.
+) Sản xuất được quản lý một cách có kế hoạch.
+) Nguyên tắc phân phối theo lao động là nguyên tắc cơ bản. +) Nguyên tắc khác.
Hạn chế của CNXH không tưởng phê phán:
+) Chưa chỉ ra được bản chất thực sự của CNTB.
+) Chưa chỉ ra được con đường và phương thức thực hiện sự chuyển biến từ CNTB lên CNXH.
+) Chưa xác định được lực lượng thực hiện sự chuyển biến đó. CNXH khoa học.
Đây là nấc thang phát triển cao nhất của tư tưởng XHCN, CNXH khoa học
nghiên cứu bản chất, con đường và phương thức thực hiện sự chuyển biến đó.
Điều kiện ra đời của CNXH khoa học.
Điều kiện kinh tế - xã hội ra đời của CNXH khoa học.
Vào khoảng những năm 40 của thế kỷ 19, phương thức sản xuất của TBCN
đã phát triển tới mức hoàn thiện, giai cấp tư sản đã xác lập được địa vị thống
trị của mình, giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Do
lợi ích đối lập nhau tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản ngày càng trở nên phổ biến và rộng khắp. Cụ thể:
+) Phong trào Hiến chương Anh.
+) Đấu tranh của công nhân dệt Đức.
+ Đặc biệt: Cuộc đấu tranh của công nhân dệt Pháp (1831 - 1834).
Nếu như cuộc đấu tranh giai cấp của công nhân dệt Pháp năm 1831 “Việc làm
hay là chết” thì cuộc đấu tranh giai cấp 1834 đã có một chất lượng mới và mang
ý nghĩa chính trị rõ rệt “Cộng hòa hay là chết”.
Kết luận: Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản ở giai đoạn này cho
thấy trình độ nhận thức của giai cấp vô sản đã được nâng cao rõ rệt. Do đó, đòi
hỏi phải có một lý luận khoa học dẫn dắt. Đó chính là điều kiện kinh tế - xã hội
ra đời của CNXH khoa học.
Tiên đề KHTN và KH lý luận. b.1. Tiên đề KHTN:
Vào những năm 40 của thế kỷ 19, KHTN đạt được nhiều thành tựu vĩ đại,
những thành tựu KHTN một mặt là cơ sở cho sự phát triển của tư duy biện
chứng, mặt khác là sự chứng minh cho tính đúng đắn của tư duy biện chứng. Các thành tựu:
+) Thuyết tiến hóa của Đác – uyn Chứng minh tính đúng đắn nguyên lý phát
triển của tư duy biện chứng.
+) Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Chứng minh cho tính đúng
đắn về mối liên hệ phổ biến của tư duy biện chứng.
+) Thuyết tế bào (1843) Chứng minh cho nguyên lý về sự thống nhất vật chất của thế giới.
b.2. Tiên đề lý luận:
Triết học cổ điển Đức:
Các đại biểu điển hình:Hêghen, Phoiơbắc… Hêghen:
+) Có công lao xây dựng phép biện chứng thành một hệ thống khá hoàn chỉnh
tuy là phép biện chứng duy tâm. Mác kế thừa phép biện chứng của Hêghen, cải
tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen để duy trì phép biện chứng khoa học. Phoiơbắc:
+) Đã xây dựng thế giới quan duy vật lên một chất lượng cao mới. Ông có công
lao giải phóng các nhà Triết học đương thời thoát khỏi CN duy tâm của Hêghen
trong đó có cả C.Mác và Ăng – ghen. Mác và Ăng – ghen nồng nhiệt đón nhận
CN duy vật của Phoiơbắc. Tuy nhiên, Mác cũng đã nhận ra hạn chế trong Triết
học của Phoiơbắc đó là CN duy vật siêu hình.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh:
Các đại biểu điển hình: A.Smith, D. Ricardo…
Các học thuyết về lao động và học thuyết giá trị hàng hóa là nền tảng lý luận
cơ bản cho sự ra đời của Kinh tế chính trị học Mác xít trong học thuyết của
mình. Các nhà KTCT học cổ điển Anh khẳng định giá trị sử dụng không
phải là cơ sở trao đổi hàng hóa tuy rằng nó là tiền đề của trao đổi, cơ sở trao
đổi của hàng hóa chính là lao động ẩn giấu bên trong các hàng hóa đó. Sự
khẳng định này chính là nền tảng ra đời học thuyết giá trị của Mác.
CNXH không tưởng phê phán:
Các đại biểu tiêu biểu: Xanh Ximông, Ôoen, Phuriê…
Là nguồn gốc trực tiếp ra đời của CNXH khoa học. CNXH không tưởng phê
phán đã phê phán gay gắt CNTB và đã chỉ ra được một số nguyên lý có giá
trị ở tương lai. Tuy nhiên, CNXH không tưởng phê phán chưa xác định được
bản chất thật sự của CNTB, chưa xác định được con người của sự chuyển
biến từ CNTB sang CNXH và CNCS, chưa xác định được lực lượng xã hội
có khả năng thực hiện được sự chuyển biến đó.
Vai trò của Mác và Ăng – ghen.
c.1. Qúa trình chuyển biến lập trường Triết học của Mác và Ăng – ghen:
Ở giai đoạn đầu nghiên cứu khoa học, Mác và Ăng – ghen đi theo trường
phái duy tâm của Hêghen, các ông gia nhập nhóm Hêghen trẻ.
Quá trình chuyển biến lập trường Triết học chính trị của Mác và Ăng – ghen
diễn ra trong giai đoạn 1844 – 1848.
Tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự chuyển biến của Mác là tác phẩm góp phần
phê phán Triết học pháp quyền của Hêghen (1843 – 1844). Trong tác phẩm
này, Mác đã thể hiện sự đối lập với Hêghen khi giải thích nguồn gốc ra đời
của Nhà nước. Nếu như Hêghen giải thích nguồn gốc ra đời của Nhà nước từ
ý niệm tuyệt đối thì Mác giải thích nguồn gốc ra đời của Nhà nước từ cơ sở
kinh tế, từ những xung đột hiện thực của đời sống xã hội.
Sự chuyển biến của Mác về lập trường Triết học và lập trường Chính trị
được thể hiện trong tác phẩm “ Bản thảo Kinh tế - Chính trị” (1844). Tác
phẩm này thể hiện sự chuyển biến dứt khoát của Mác từ lập trường duy tâm
sang lập trường duy vật, từ lập trường chính trị Dân chủ cách mạng sang lập
trường Cộng sản chủ nghĩa.
Trong tác phẩm này, Mác chỉ ra rằng: “Lao động bị tha hóa chính là nguồn
gốc hình thức sở hữu tư hữu về tư liệu sản xuất. Đến lượt mình, sở hữu tư
liệu sản xuất là đòn bẩy thúc đẩy quá trình tha hóa của lao động. Qúa trình
tha hóa của lao động được đẩy đến cùng cực trong xã hội tư bản với biểu
hiện sức lao động là hàng hóa. Qúa trình tha hóa của lao động tất yếu dẫn
đến quá trình tha hóa của con người và xã hội. Do đó, tất yếu dẫn đến sự
thay đổi CNTB thành CNXH và CNCS”.
Sự chuyển biến của Ăng – ghen được thể hiện qua tác phẩm “Khảo lược
khoa Kinh tế Chính trị”. Trong tác phẩm này, Ăng - ghen chỉ ra rằng: “Nền
tảng tồn tại của toàn bộ xã hội tư bản là chế độ sở hữu tư hữu về tư liệu sản
xuất”. Sự khẳng định đó cho thấy Ăng – ghen đã có sự biến chuyển mạnh mẽ
từ lập trường Triết học duy tâm sang duy vật, từ lập trường Chính trị Dân
chủ cách mạng sang lập trường Chính trị Cộng sản chủ nghĩa.
Qúa trình hoàn thiện và phát triển lập trường Triết học và lập trường Chính
trị của Mác và Ăng – ghen được thể hiện rõ rệt ở các tác phẩm sau:
Hệ tư tưởng Đức (1846)
Trong tác phẩm này, Mác và Ăng – ghen đã trình bày các nguyên lý của chủ
nghĩa duy vật lịch sử một cách hệ thống và trình bày một số nguyên lý cơ
bản của CNXH khoa học và đưa ra dự báo về mô hình CNXH tương lai. Có
thể khẳng định “Hệ tư tưởng Đức” là sự chín muồi đầu tiên của CN Mác.
Tuyên ngôn độc lập của Đảng Cộng sản (1848)
Đánh dấu sự chín muồi của CN Mác với tư cách là 3 bộ phận cấu thành:
Triết học + KTCT + CNXH khoa học.
c.2. Ba phát kiến vĩ đại:
Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử tạo ra một
cuộc cách mạng trong sự phát triển của tư duy Triết học. Lần đầu tiên trong
lịch sử Triết học, chủ nghĩa duy vật không chỉ bao quát lĩnh vực tự nhien mà
còn bao quát cả lĩnh vực xã hội con người. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ
ra sự vận động và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là một
quá trình lịch sử tự nhiên, chỉ ra sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội TBCN
bằng hình thái kinh tế - xã hội CSCN là một quá trình tất yếu khách quan.
Học thuyết giá trị thặng dư: Chỉ ra bản chất của nền tư bản và bóc lột giá trị
thặng dư, sự giàu có của xã hội tư bản là dựa trên cơ sở bóc lột giá trị thặng
dư do người công nhân sáng tạo ra. Giai cấp các nhà tư bản càng giàu có thì
,giai cấp công nhân càng bị bần cùng hóa, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và
giai cấp công nhân tất yếu dẫn tới sự xóa bỏ xã hội tư bản để được thay thế
bằng XHCN và xã hội CSCN. Đó là những nội dung tinh tú nhất.
Học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Việc phát hiện ra sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã giúp Mác và Ăng – ghen khắc phục
một cách triệt để những hạn chế của CNXH không tưởng phê phán để từ đó xây dựng CNXH khoa học.
c.3. Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”:
Đây là tác phẩm kinh điển của CNXH khoa học. Tác phẩm đánh dấu sự ra đời của CNXH khoa học.
Những nội dung cơ bản của CNXH khoa học được trình bày trong “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” đó là:
+) Cuộc đấu tranh giai cấp đã phát triển tới giai đoạn mà ở đó giai cấp công
nhân muốn giải phóng mình thì đồng thởi phải giải phóng luôn cả xã hội. Để
thực hiện sứ mệnh lịch sử đó thì giai cấp công nhân phải sáng lập ra được Đảng
Cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản xuất phát từ nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
+) Sự diệt vong của CNTB và sự ra đời của CNXH là tất yếu như nhau.
+) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan tồn tại
của giai cấp công nhân.
+) Để thực hiện sứ mệnh lịch sử thì giai cấp công nhân phải liên kết với các giai
cấp nông dân và các tầng lớp tiến bộ khác. Sự liên minh này là quy luật khách
quan của XHCN và cách mạng phải được thực hiện một cách liên tục.
Các giai đoạn phát triển của CNXH khoa học.
Sự phát triển của Mác và Ăng – ghen đối với CNXH khoa học. Giai đoạn 1848- 1871.
Mác và Ăng – ghen phát triển nhiều nội dung quan trọng cho CNXH khoa học.
+) Tư tưởng về đập tan Nhà nước tư sản và thiết lập nền chuyên chính vô sản.
+) Tư tưởng về cách mạng không ngừng.
+) Tư tưởng về liên minh công – nông quy luật của CNXH khoa học.
Trong giai đoạn này, tác phẩm quan trọng nhất của Mác là “Bộ Tư bản”.
Lênin nhận xét: “Trước khi Bộ Tư bản ra đời thì chủ nghĩa duy vật lịch sử
mới chỉ là một giả thuyết, với sự ra đời của Bộ Tư bản nó đã được chứng
minh một cách khoa học, Bộ Tư bản là tác phẩm cơ bản và chủ yếu trình bày CNXH khoa học”.
Giai đoạn 1871 – 1895 (sau công xã Paris).
Mác và Ăng – ghen phát triển toàn diện CNXH khoa học.
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, trình bày quá trình phát triển của CNXH
từ không tưởng tới khoa học và xác định mục tiêu của CNXH khoa học.
CNXH khoa học có nhiệm vụ làm sáng tỏ bản chất của quá trình chuyển biến
từ CNTB lên CNXH và CNCS, xác định con đường của sự chuyển biến đó,
làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giúp giai cấp công nhân
nhận thức rõ được sứ mệnh lịch sử của mình để thực hiện sự chuyển biến từ
CNTB lên CNXH và CNCS, đồng thời Mác và Ăng – ghen cũng khẳng định
không được biến những lý luận của CNXH thành giáo điều, cứng nhắc mà
phải liên tục phát triển nó theo yêu cầu của diễn tiến mới trong đời sống xã hội.
Sự phát triển CNXH khoa học của Lênin.
Giai đoạn trước Cách mạng tháng 10.
Lênin phát triển nhiều nội dung cho CNXH khoa học, tập trung ở những vấn đề cơ bản sau:
+) Lênin phát triển nhiều nội dung cho lý luận cách mạng XHCN:
Tư tưởng về tình thế cách mạng và thời cơ cách mạng.
Tư tưởng về phương pháp làm cách mạng.
Tư tưởng về làm cách mạng không ngừng.
Đặc biệt, phân tích điều kiện mới của đời sống xã hội, Lênin chỉ ra rằng
cách mạng XHCN có thể thành công ở một nước là mắt khâu yếu nhất
của sợi dây chuyền cách mạng XHCN.
Lênin phát triển một cách toàn diện về lý luận chuyên chính vô sản. Lần đầu
tiên Lênin đưa ra phạm trù Hệ thống chuyên chính vô sản bao gôm 3 thành tốt: Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý. Công đoàn.
Tiến hành cuộc CMT10 thành công cùng giai cấp vô sản.
Giai đoạn sau Cách mạng tháng 10.
Dựa trên cơ sở thành công của cách mạng XHCN, Lênin đã phát triển nhiều
nội dung mới cho CNXH khoa học.
+) Lý luận về xây dựng Nhà nước kiểu mới.
+) Lý luận về thời kỳ quá độ.
+) Lý luận về dân chủ XHCN.
+) Đặc biệt, đóng góp của Lênin được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng
XHCN ở nước Nga”. Trong đó, Lênin chỉ ra rằng:
Giữa CNTB và CNXH tất yếu phải tồn tại một thời kỳ quá độ.
Quốc hiệu hóa các tư liệu sản xuất cơ bản.
Giữ vững chính quyền Xô Viết.
Phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Tiến hành cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực văn hóa.
Một số nội dung cơ bản khác.
Đối tượng, phương pháp, chức năng của CNXH khoa học.
Đối tượng nghiên cứu của CNXH khoa học.
CNXH khoa học là sự tiếp nối logic của Triết học và KTCT học Mác – xít,
nếu như Triết học và KTCT học nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của quá
trình chuyển biến từ CNTB lên CNXH và CNCS thì CNXH khoa học nghiên
cứu con đường của sự chuyển biến đó. CNXH khoa học chỉ ra con đường
của sự chuyển biến từ CNTB lên CNXH và CNCS là cuộc đấu tranh cách
mạng của giai cấp công nhận cùng với quần chúng nhân dân lao động dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
CNXH khoa học nghiên cứu trực tiếp sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân. Nó nghiên cứu điều kiện, con đường, hình thức và phương thức để giai
cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.
Tóm lại, CNXH khoa học là khoa học nghiên cứu các quy luật mang tính
chất chính trị - xã hội của sự ra đời, hình thành và phát triển của hình thái
kinh tế xã hội Cộng sản chủ nghĩa, nghiên cứu điều kiện, con người, hình
thức và phương thức để giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh của mình
nhằm chuyển hướng hình thái xã hội TBCN lên xã hội CSCN.
Phương pháp nghiên cứu của CNXH khoa học.
Phương pháp luận của CN duy vật biện chứng và CN duy vật lịch sử.
Đây là phương pháp luận chung nhất của CNXH khoa học.
Chỉ bằng phương pháp luận của CN duy vật biện chứng và CN duy vật lịch
sử, CNXH khoa học mới có thể làm rõ được bản chất của quá trình chuyển
biến từ CNTB lên CNXH và CNCS, làm sáng tỏ được sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân, làm sáng tỏ các phạm trù khác của CNXH khoa học.
Các phương pháp đặc thù.
Phương pháp kết hợp giữa logic và lịch sử:
Phương pháp lịch sử là phương pháp tái tạo lại 1 cách sinh động đối tượng
nghiên cứu trong tính trật tự của không gian và thời gian.
Phương pháp logic là phương pháp gạt bỏ các hiện tượng ngẫu nhiên không
cơ bản để xác định cái tất yếu bản chất của đối tượng nghiên cứu.
Nội dung của phương pháp:
+ Lịch sử bắt đầu từ đâu: hàng hóa và sản xuất hàng hóa.
+ Cái logic uốn nắn cái lịch sử có nghĩa là nó không chạy theo cái lịch sử.
Nó có vai trò chi phối cái lịch sử.
+ Ở những cái lịch sử điển hình thì cái logic bộc lộ ra đầy đủ nhất.
Phương pháp khảo sát và phân tích chính trị xã hội gắn với điều kiện lịch sử cụ thể.
Cơ sở lý luận của phương pháp:
+ Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
+ Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, ý thức xã hội bao giờ cũng mang tính giai cấp.
+ Trong xã hội hiện nay thì hình thái ý thức xã hội chính trị giữ vai trò chi
phối các hình thái ý thức xã hội khác. Nội dung:
+ Khi phân tích chính trị - xã hội phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, phải
xác định được các hệ chính trị tư tưởng cơ bản của hoàn cảnh lịch sử cụ thể
xã hội ấy, xác định được mức độ ảnh hưởng của các hệ chính trị cơ bản đến vấn đề nghiên cứu.
+ Phải xác lập được tính nhạy bén chính trị trong sự phân tích bởi đằng sau
bất cứ hiện thực xã hội nào đều ẩn chứa mục tiêu chính trị.
+ Phải xác lập được bản lĩnh chính trị trong phân tích, tránh sự dao động.
Phương pháp tổng kết lý luận từ thực tiễn. Cơ sở lý luận:
+ Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích, là tiêu chuẩn của lý luận.
+ Lý luận là kim chỉ nam cho hành động thực tiễn. Nội dung:
+ Khi tổng hợp thực tiễn phải rút ra được các quy luật và các quy luật hoạt động thực tiễn.
+ Khi áp dụng lý luận vào thực tiễn phải tính tới những đặc điểm đặc thù từ
đó để xác định cách thức vận dụng, chỉ có như vậy thì lý luận mới phát huy
tác dụng trong hoạt động thực tiễn.
+ Phải liên tục phát triển lý luận theo những điều kiện mới, tránh giáo điều, máy móc.
Ngoài các phương pháp đặc thù cơ bản trên thì CNXH khoa học còn sử dụng một số
phương pháp khác đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
thống kê, phương pháp điều tra xã hội học…
Chức năng và nhiệm vụ của CNXH khoa học,
Chức năng và nhiệm vụ nhận thức.
Chức năng và nhiệm vụ định hướng.
Chức năng và nhiệm vụ giáo dục.
Chức năng và nhiệm vụ bảo vệ. CHƯƠNG II
SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
Khái niệm giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân trong các nước TBCN.
Phương thức lao động: Là những người trực tiếp hay gián tiếp vận hành các
công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng tiên tiến, tính chất xã
hội hóa ngày càng nâng cao
phân biệt người công nhân với thợ thủ công. Thợ thủ công thì sử dụng các
công cụ sản xuất của mình còn người công nhân phục vụ máy móc trong các
doanh nghiệp tư bản. Trong quá trình phát triển của nền sản xuất tư bản thì
các giai cấp khác xác định tiêu vong và chuyển hóa giai cấp công nhân
không ngừng lớn mạnh và quy mô.
Địa vị trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN: Trong hệ thống TBCN, người
công nhân bị tước đoạt TLSX cơ bản. Do đó, họ phải bán sức lao động cho
nhà tư bản và bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư. Ăng – ghen khẳng
định: “Giai cấp công nhân là 1 giai cấp mà cuộc sống của họ hoàn toàn phụ
thuộc vào bán sức lao động chứ không bằng lợi tức của bất cứ tư bản nào.
Cuộc sống của họ phụ thuộc vào số cầu về lao động và tìm kiếm được việc
làm trên thị trường. Họ chỉ có được việc làm khi việc làm của họ tăng thêm
tư bản cho nhà tư bản”.
Giai cấp công nhân trong xã hội hiện đại.
Trong xã hội hiện đại, giai cấp công nhân có 2 biểu hiện mới:
+ Được tri thức hóa: Những đặc điểm mới này của giai cấp công nhân làm
xuất hiện những luận điểm hoài nghi về lý luận của Mác. Thực chất của vấn
đề là ở chỗ trình độ nhận thức của người công nhân không làm thay đổi bản
chất của người công nhân, xét về mặt bản chất người công nhân vẫn là người
làm thuê cho người tư bản và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư.
+ Có xu hướng tư bản hóa: Trong xã hội tư bản hiện đại, có 1 số người xuất
hiện từ công nhân sau đó trở thành nhà tư bản. Mặt khác trong xã hội hiện
đại, 1 số người công nhân có cổ phần trong xã doanh nghiệp tư bản xong tỉ
trọng đó là rất nhỏ so với toàn bộ giai cấp công nhân. Về căn bản người công
nhân trong xã hội hiện đại vẫn là người làm thuê và bị bốc lột giá trị thặng dư.
Giai cấp công nhân trong các nước XHCN.
Phương thức lao động: Là những người trực tiếp hay gián tiếp vận hành các
công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và có tính xã hội hóa cao.
Địa vị trong hệ thống QHSX: Là những người chủ sở hữu của TLSX, là chủ
thể của quá trình sản xuất, tuy nhiên trong thời kỳ quá độ lên CNXH nền
kinh tế có cấu trúc nhiều thành phần. Do đó, vẫn tồn tại một bộ phận công
nhân làm việc cho các doanh nghiệp tư bản. Ở đó, họ vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư.
Như vậy, giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định hình thành và phát triển
cùng với nền sản xuất công nghiệp hiện đại và có tính chất xã hội hóa ngày càng cao,
là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là lực lượng chủ yếu của quá trình
chuyển biến từ CNTB lên CNXH và CNCS. Trong các nước TBCN, giai cấp công
nhân là những người không hoặc về cơ bản không có TLSX, họ phải làm thuê và bị
bóc lột giá trị thặng dư. Trong các nước XHCN, giai cấp công nhân là chủ sở hữu của
TLSX, là chủ thể của quá trình sản xuất, giai cấp công nhân hợp tác cùng với nhân dân
lao động vì lợi ích chung của toàn bộ xã hội.
Nội dung và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Nội sung sứ mệnh lịch sử cuả giai cấp công nhân.
Nội dung tổng quát.
Xóa bỏ xã hội TBCN, xây dựng XHCN, giải phóng XH khỏi sự áp bức bóc
lột, tạo điều kiện cho con người phát triển một cách toàn diện.
Mác – Ăng ghen cho rằng để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân phải trải qua 2 bước:
+ Giai cấp công nhân tiến hành cách mạng chính trị để giành lấy chính
quyền và thiết lập quyền chính trị trong xã hội.
+ Giai cấp công nhân sử dụng quyền thống trị của mình để đoạt lấy toàn bộ
tư bản, từng bước tập trung TLSX vào tay Nhà nước để tiến hành xây dựng XHCN và XHCS chủ nghĩa.
2 bước trên có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bước 1 là tiền đề của bước 2, bước 2
là nội dung cơ bản của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nội dung cụ thể. Nội dung kinh tế:
Xây dựng được lực lượng sản xuất hiện đại nhằm tạo ra được năng suất lao
động cao hơn CNTB bởi như Mác – Ăng ghen khẳng định: “Năng suất lao
động là nhân tố quyết định cuối cùng cho một trật tự xã hội mới”.
Xây dựng quan hệ sản xuất trên chế độ công hữu về TLSX.
+ Lực lượng sản xuất càng phát triển thì có tính chất xã hội hóa càng cao.
Tính chất xã hội hóa của LLSX thì đòi hỏi QHSX phải dựa trên chế độ công
hữu về TLSX. Chế độ công hữu về TLSX 1 mặt phù hợp với tính xã hội hóa
của LLSX, từ đó tạo ra động lực cho sản xuất phát triển.
+ Mặt khác, chế độ công hữu về TLSX phù hợp với bản chất của giai cấp
công nhân, là người đại biểu cho lợi ích chung của toàn bộ XH.
Vì các nước đưa lên CNXH xuất phát từ một tiền đề kinh tế phát triển thấp.
Do đó, để có LLSX hiện đại thì phải tiến hành quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quy luật phổ biến trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Nội dung chính trị:
Giai cấp công nhân cùng nông dân tiến hành lập lại chính trị nhằm giành lấy
chính quyền Nhà nước vào tay mình để thiết lập Nhà nước kiểu mới mang
bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng nền dân chủ XHCN để thực hiện
mục tiêu bình đẳng và tiến bộ XH.
Nội dung văn hóa tư tưởng:
Xây dựng củng cố phát triển ý thức hệ tiên tiến cách mạng, đó là chủ nghĩa
Mác – Lênin, đấu tranh với những tàn dư của xã hội cũ.
Xây dựng hệ chính trị mới: dân chủ, công bằng, bình đẳng, tự do. Hệ giá trị
thể hiện bản chất của chế độ XHCN.
Xây dựng con người mới XHCN.
Đặc điểm sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân xuất phát từ tiền đề kinh
tế là sản xuất xã hội hóa.
Sản xuất xã hội hóa một mặt thúc đẩy phát triển mâu thuẫn cơ bản của
phương thức sản xuất TBCN là mâu thuẫn giữa LLSX có tính chất xã hội
hóa ngày càng cao và QHSX TBCN dựa trên chế độ tư hữu về TLSX dẫn
tới tất yếu sự thay thế xã hội TBCN bằng hình thái xã hội CSCN.
Bản chất xã hội hóa sinh ra giai cấp công nhân và rèn luyện giai cấp công
nhân trở thành chủ thể để thực hiện sứ mệnh lịch sử xóa bỏ CNTB.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng
của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
Sự thống nhất căn bản về mặt lợi ích giữa giai cấp công nhân và đông đảo
quần chúng nhân dân lao động.
Giai cấp công nhân là giai cấp bị bóc lột cuối cùng trong lịch sử, nó chỉ được
giải phóng khi mọi hình thức áp bức bóc lột bị xóa bỏ.
Nội dung cơ bản nhất của sử mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xây
dựng thành công XHCN và XH CSCN. Đó là xã hội chấm dứt chế độ người bóc lột.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là cuộc cách mạng triệt để nhất.
Các cuộc CMXH trước chỉ là sự thay thế hình thức tư hữu này bằng hình
thức tư hữu khác, hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác. Còn
cách mạng XHCN do giai cấp công nhân lãng đạo có mục tiêu xóa bỏ chế độ
tư hữu để thiết lập chế độ công hữu tức là xóa bỏ tận gốc cơ sở kinh tế sinh
ra áp bức bóc lột, vì thế nó là cuộc CM triệt để nhất.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là cuộc cách mạng toàn diện nhất.
Các cuộc CMXH trước thì chỉ là cuộc cách mạng chính trị, do đó nó chấm
dứt sau khi giành được chính quyền, còn cách mạng XHCN giành được
chính quyền mới chỉ là bước đầu, sau đó nó đứng trước một nhiệm vụ cơ bản
là xây dựng thành công XHCN và XH CSCN, bởi vậy CM XHCN được tiến
hành trên mọi phương diện của đời sống xã hội, nó là cuộc CMXH toàn diện nhất.
Nội dung và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Địa vị kinh tế của giai cấp công nhân:
+ Trong phương thức sản xuất TBCN thì giai cấp côn nhân là người đại biểu
cho lực lượng sản xuất tiên tiến ngày càng cao. Do đó, giai cấp công nhân là
lực lượng cơ bản có tính chất quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất TBCN,
chuyển giai cấp “tự nó” thành giai cấp “vì nó”. Giai cấp công nhân là đại
diện tiêu biểu cho quá trình tiến hóa của quá trình lịch sử.
+ Trong phương thức sản xuất TBCN, giai cấp công nhân có lợi ích đối lập
trực tiếp với giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Giai
cấp công nhân chỉ có thể giải phóng mình bằng việc giái phóng toàn bộ xã
hội khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột.
Địa vị chính trị - xã hội của giai cấp công nhân:
+ Giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong cách mạng nhất. Trong phương
thức sản xuất TBCN thì giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho phương
thức sản xuất mới. Theo học thuyết hình thái KT-XH của Mác thì phương
thức sản xuất quyết định nên tính chất kết cấu cảu mỗi hình thái KT-XH,
quyết định sự vận động và thay thế lẫn nhau của các hình thái KT-XH. Do
đó, lịch sử phát triển của XH là lịch sử KH phương thức sản xuất kinh tế tiếp
theo với tư cách là đại biểu cho phương thức sản xuất mới. Giai cấp công
nhân là lực lượng tiên phong cách mạng nhất trong sản xuất TBCN.
+ Giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để nhất.Trong phương
thức sản xuất TBCN, giai cấp công nhân là giai cấp không có TLSX, cuộc
sống của họ hoàn toàn phụ thuộc vào bán sức lao động và bị bóc lột giá trị
thặng dư. Giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng mình bằng việc giải
phóng xã hội thoát khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột. Do đó, nó là giai cấp
có tinh thần cách mạng triệt đổ nhất.
+ Giai cấp công nhân có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất: giai cấp công nhân
là con đẻ trực tiếp của nền sản xuất CN, được nền sản xuất CN rèn luyện. Do
đó, nó có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất.
+ Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế. Mục đích của tư bản là theo đuổi
giá trị thặng dư tối đa. Để thực hiện mục đích đó, nhà tư bản phải không
ngừng mở rộng sản xuất. Do đó, tư bản không chỉ tồn tại trong phạm vi quốc
gia mà không ngừng vươn ra phạm vi thế giới.
Lênin khẳng định: “Tư bản là một lực lượng quốc tế, muốn thắng nó phải có liên minh
quốc tế. Đó là cơ sở khách quan quy định bản chất quốc tế của giai cấp công nhân”.
Các điều kiện chủ quan quyết định thực hiện sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân. Trình độ nhân thức:
+ Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải được nâng
cao trình độ lý luận, phải được giác ngộ CN Mác – Lênin để nhận thức rõ sứ
mệnh lịch sử của mình.
+ Mặt khác, trong bối cảnh của cuộc cách mạng chủ nghĩa đang diễn ra
mạnh mẽ thì trình độ KHKT của giai cấp công nhân cũng phải được nâng
cao rõ rệt, chỉ có như vậy giai cấp công nhân mới là người đại biểu của lực
lượng sản xuất tiên tiến mới có khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình.
Vai trò của Đảng Cộng sản: Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân được quy định một cách khách quan để biến khả năng khách quan
thành hiện thực thì giai cấp công nhan phải tạo ra được một đội ngũ tiên
phong đó là Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân nằm
trong thể thống nhất biện chứng, Đảng Cộng sản được sinh ra từ sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân và là nhân tốt quyết định giai cấp công nhân
hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình.
Liên minh giữa giai cấp công nhân và các tầng lớp tiến bộ trong xã hội. Để
thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải liên
minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp tiến bộ xã hội khác. Khối liên
minh này phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là nguyên
tắc cơ bản để giai cấp công nhân có thể thực hiện được thành công sứ mệnh lịch sử của mình.
Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
hiện nay (SV tự nghiên cứu).
Nội dung sứ mệnh lịch sử của công nhân Việt Nam (SV tự nghiên cứu). CHƯƠNG III
CNXH VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH
Hình thái KT-XH CSCN ra đời là một tất yếu.
Quan điểm của các nhà kinh điển XHCN.
Quan niệm của Mác và Ăng – ghen về CNXH:
Học thuyết hình thái KTXH của Mác khẳng định: “Lịch sử phát triển của xã
hội loài người là lịch sử qua các hình thái KTXH nối tiếp nhau từ thấp đến cao”.
Tất cả những gì thay thế thông qua quy luật phủ định biện chứng.
Do đó, hình thái KTXH có những đặc điểm cơ bản sau đây:
+ Lực lượng sản xuất là lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất dựa
trên chế độ công hữu về TLSX. Kiến trúc thượng tầng có tính xã hội hóa
cao. Sự thay thế lẫn nhau của các hình thái KTXH thông qua các cuộc cách
mạng xã hội. Sự thay thế hình thái KTXH TBCN bằng hình thái KTXH
CSCN thông qua cách mạng XHCN.
+ Phân tích sâu vào hình thái KTXH CSCN, Mác chỉ ra 2 giai đoạn phát triển của nó như sau:
Giai đoạn thấp: là giai đoạn hình thái KTXH CSCN chưa tồn tại trên
cơ sở của chính nó. Do đó, mọi mặt của nó vẫn còn mang dấu vết tàn
dư của xã hội cũ mà nó làm ra. Giai đoạn thấp có vai trò xây dựng cơ
sở vật chất có giai đoạn cao.
Giai đoạn cao là giai đoạn mà hình thái KTXH CSCN tồn tại trên cơ sở của chính nó.
Quan niệm của Lênin:
Vận dụng học thuyết hình thái KTXH của Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
Lênin chia sự phát triển của hình thái KTXH CSCN thành 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: “Cơn đau đẻ kéo dài” – đây chính là thời kỳ quá đọ, là giai
đoạn đầu của hình thái KTXH CSCN. Đây là giai đoạn phát triển cao của XHCN. Đây chính là CNCS.
Tóm lại, có thể phân chia hình thái KTXH thành 2 giai đoạn: một giai đoạn là giai
đoạn xây dựng CNXH, trong giai đoạn này chia 2 thời kỳ đó là thời kỳ quá độ từ
CNTB lên CNXH và thời kỳ xây dựng CNXH phát triển.
Điều kiện ra đời của CNXH.
Nghiên cứu hình thái KTXH TBCN, Mác chỉ ra các quy luật vận động nội
tại của nó. Mác thừa nhận vai trò to lớn của CNTB đối với tiến trình phát
triển của lịch sử. Mác khẳng định: “Trong vòng 100 năm phát triển, CNTB
đã tạo ra được một số lượng LLSX hơn cả lịch sử loài người trước đó. Sự
phát triển của LLSX có tính chất xã hội hóa ngày càng cao. Do đó, mâu
thuẫn với quan hệ sản xuất TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về
TLSX. Đây chính là mâu thuẫn cơ bản quy định sự vận động, phát triển của
hình thái KTXH TBCN. Mâu thuẫn cơ bản này bộc lộ về mặt xã hội thành
mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản là người đại biểu của LLSX có tính chất xã
hội hóa và giai cấp tư sản – người đại diện của QHSX dựa trên chế độ chiếm
hữu tư nhân do lợi ích giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đối lập nhau
cho nên tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp.
Trong cuộc đấu tranh giai cấp, giai cấp vô sản không ngừng trưởng thành. Sự
trưởng thành vượt bậc của giai cấp vô sản đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng
sản. Sự lãng đạo của Đảng Cộng sản đối với cuộc đấu tranh giai cấp của giai
cấp vô sản tất yếu dẫn đến CM XHCN. Qua CM XHCN, CNTB bị xóa bỏ và
CNXH ra đời. CM XHCN là cuộc cách mạng xã hội triệt để nhất, nó có mục
tiêu cuối cung là xây dựng xã hội CSCN. Do đó, sự ra đời của CNXH và quá
trình xây dựng CNXH vẫn là nội dung của cách mạng XHCN.
Các đặc trưng của CNXH.
Cơ sở vật chất của CNXH.
CNXH dựa trên nền sản xuất hiện đại với tư cách là sự phủ định biện chứng
CNTB, cơ sở vật chất của CNXH cao hơn cơ sở vật chất của CNTB. Quan hệ sản xuất XHCN:
+ CNXH dựa trên chế độ công hữu về TLSX. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản”, Mác nhấn mạnh sau khi giành được chính quyền, giai
cấp công nhân sử dụng quyền thống trị của mình từng bước tập trung toàn bộ
TLSX vào tay Nhà nước. Như vậy, đến CNXH thì quan hệ sản xuất XHCN
mới được hình thành một cách đầy đủ. Khi đó, chế độ sở hữu công hữu có 2
hình thức tồn tại cơ bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
+ Tỏ chức sản xuất và kỷ luật lao động: Đến CNXH, khi chế độ công hữu
được hình thành một cách đầy đủ sẽ hình thành sự thống nhất lợi ích cá nhân
và lợi ích xã hội. Khi đó, sản xuất được tổ chức một cách có kế hoạch khoa
học và chặt chẽ dựa trên tinh thần tự giác của người lao động.
+ Phương thức phân phối sản phẩm: Nguyên tắc phân phối theo lao động là
nguyên tắc cơ bản của CNXH, nguyên tắc này phù hợp với trình độ phát
triển của CNXH và dần xác lập sự công bằng, bình đẳng theo mục tiêu CNXH.
Kiến trúc thượng tầng XHCN:
+ Nhà nước XHCN là Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân và có
tính nhân dân rộng rãi. Nhà nước XHCN là cơ quan quyền lực của giai cấp
công nhân, giai cấp vô saen được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước XHCN là điều kiện tiên
quyết đảm bảo cho Nhà nước XHCN mang bản chất của giai cấp công nhân,
đảm bảo cho Nhà nước XHCN là của dân, do dân, vì dân, là đại biểu cho lợi
ích chung của toàn bộ xã hội.
+ Các quan hệ thượng tầng kiến trúc: CNXH có mục tiêu xây dựng và xác
lập quan hệ về dân chủ, công bằng, bình đẳng và tự do theo mục tiêu của
CNXH và tạo điều kiện cho con người phát triển một cách toàn diện.
Thời kỳ quá độ lên CNXH.
Sự tồn tại tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Giữa CNTB và CNXH là hai xã hội khác nhau về chất. CNTB dựa trên chế
độ chiếm hữu tư nhân về TLSX còn CNXH dựa trên chế độ công hữu về
TLSX. Do đó, để chuyển biến từ CNTB lên CNXH thì tất yếu đòi hỏi phái
có một thời kỳ quá độ cho sự chuyển hóa chất cũ thành chất mới. Các Mác
khằng định: “Giữa CNTB và CNXH, tất yếu đòi hỏi phải có một thời kỳ quá
độ”. Lênin cũng khẳng định: “Về mặt lý luận không còn nghi ngờ gì nữa,
giữa CNTB và CNXH tất yếu phải có một thời kỳ quá độ cho sự chuyển hóa
từ xã hội này sang xã hội khác”.
CNXH với tư cách là sự phủ định biện chứng của CNTB nên CNXH có một
nền sản xuất cao hơn CNTB. CNTB đã tạo ra được một cơ sở vật chất hiện
đại xong đó chưa phải là cơ sở vật chất của CNXH. Do đó, cần phải có một
thời kỳ quá độ để chuyển biến cơ sở vật chất của CNTB thành cơ sở vật chất
của CNXH. Mặt khác, với các nước đi lên CNXH từ một tiền đề phát triển
thấp thì đòi hỏi phải có một thời kỳ quá độ để tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.
CNTB đã tạo ra được nhiều quan hệ sản xuất tiên tiến: dân chủ, bình đẳng,
tự do,… Tuy nhiên những quan hệ xã hội của CNTB cho dù phát triển tới
đâu chúng vẫn chỉ là hình thức phản ánh quan hệ sản xuất TBCN dựa trên
chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX. Do đs, đòi hỏi phải có một thời kỳ quá
độ về xây dựng các quan hệ xã hội XHCN, đó là các QHXH với một chất
lượng mới so với các QHXH TBCN.
Những đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH. Kinh tế.
Thời kỳ quá độ có cơ cấu kinh tế nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức
sở hữu khác nhau với các kiểu tổ chức sản xuất một cách đa dạng và nhiều
phương thức phân phối sản phẩm khác nhau.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ thì thành phần
kinh tế XHCN ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Việc xác lập vai trò chủ đạo
của thành phần kinh tế XHCN là do các qua luật khách quan quy định mà
không phải do các yếu tố chủ quan quy định. Chính trị.
Khẳng định: “Thực chất của thời kỳ quá độ về mặt chính trị vẫn là tiếp tục
cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trong điều
kiện mới với nội dung mới và hình thức mới”.
+ Điều kiện mới: Giai cấp vô sản đã trở thành người chủ của xã hội.
+ Nội dung mới: Trong thời kỳ quá độ cuộc đấu trang giai cấp giữa giai cấp
vô sản và tư sản có nội dung quan trọng nhất là nội dung kinh tế. Trong tất
cả các quan hệ kinh tế phức tạp, Mác quy về QHSX.
+ Hình thức mới: Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ có hình thức chủ
đạo là hình thức hòa bình. Tư tưởng.
Trong thời kỳ quá độ, tồn tại nhiều loại tư tưởng khác nhau, chúng đấu tranh
với nhau để khẳng định bản thân mình. Văn hóa.
Trong thời kỳ quá độ, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản xây dựng nền văn hóa mới XHCN trên cơ sở kế thừa các tinh hoa văn
hóa của dân tộc, tiếp thu giá trị văn hóa thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh
thần ngày càng cao của quần chúng nhân dân lao động. Xã hội.
Do trong thời kỳ quá độ cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, do đó, cơ cấu xã
hội bao gồm nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp. Các giai cấp vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau.
Ngoài ra, trong thời kỳ quá độ, do trình độ phát triển chưa cao, còn tồn tại
nhiều sự chệnh lệch ở nhiều phương diện như: thành thị >< nông thông, lao
động trí óc >< lao động chân tay. CHƯƠNG IV
DÂN CHỦ XHCN VÀ NHÀ NƯỚC XHCN
Phạm trù dân chủ và dân chủ XHCN. Dân chủ.
Sự ra đời và phát triển của dân chủ.
Người nguyên thủy đã biết tổ chức xã hội theo hình thức cộng đồng như thị
tộc, bộ lạc. Mọi người đều bình đẳng, tham gia vào mọi hoạt động cộng
đồng. Đó chính là hình thức dân chủ sơ khai.
Khi LLSX đã phát triển đến một trình độ mới làm xuất hiện chế độ sở hữu tư
hữu về TLSX, dẫn tới sự tan rã của hình thái kinh tế xã hội Cộng sản
Nguyên thủy, ra đời hình thức kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ. Theo đó ra đời
chế độ dân chủ - chủ nô gắn liền với Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Lần đầu tiên
trong lịch sử tồn tại khái niệm “dân chủ”. Tuy nhiên, khái niệm dân trong
Nhà nước chủ nô chỉ bao gồm các tầng lớp sau đây: + Giai cấp chủ nô. + Giai cấp quý tộc. + Tầng lớp tăng lữ. + Tầng lớp trí thức. + Những người tự do.
Như vậy, dân chủ trong xã hội chiếm hữu nô lệ thực chất chỉ là dân chủ của giai cấp tư hữu.
Khi xã hội chiếm hữu nô lệ tan rã, được thay thế bằng xã hội phong kiến thì
chế độ dân chủ chủ nô cũng bị tan rã, được thay thế bằng chế độ chuyên chế phong kiến độc quyền.
Vào cuối thế kỷ 14 – đầu thế kỳ 15, xã hội phong kiến tan rã, được thay thế
bằng chế độ tư bản, theo đó chế độ dân chủ tư sản ra đời, chế độ dân chủ tư
sản là 1 bước tiến trong lịch sử phát triển của xã hội loài người với những giá
trị nổi bật đó là dân chủ, bình đẳng, tự do. Tuy nhiên, chế độ tư bản dựa trên
chế độ sở hữu tư hữu về TLSX. Do đó, thực chất của dân chủ tư sản vẫn chỉ
là dân chủ của giai cấp tư hữu.
Khi CMT10 Nga thành công (1917), CNXH ra đời, theo đó ra đời dân chủ
XHCN. Dân chủ XHCN là một bước phát triển mới về chất so với dân chủ
tư sản. Lần đầu tiên trong lịch sử xã hội, quyền lực thuộc về đại bộ phận
quần chúng nhân dân lao động.
Như vậy, với tư cách là một phạm trù chính trị, tồn tại dưới các hình thái tồn tại của Nhà nước.
Với tư cách là một Nhà nước, tồn tại dưới các hình thức: + Dân chủ chủ nô. + Dân chủ tư sản. + Dân chủ XHCN.
Quan niệm của CN Mác – Lênin về dân chủ.
Dân chủ là nhu cầu khách quan của con người, với tư cách là quyền lực của
nhân dân, dân chủ là kết quả đấu tranh lâu dài của quần chúng nhân dân
chống lại áp bức, bất công.
Trong xã hội có sự phân chia giai cấp, dân chủ gắn liền với hình thức Nhà
nước, gắn liền với giai cấp tư hữu, không có dân chủ phi giai cấp.
Với tư cách là một phạm trù giá trị, dân chủ phản ánh sự phát triển của cá nhân và xã hội.
Như vậy, với tư cách là một phạm trù giá trị, dân chủ phản ánh quyền cơ bản của con
người. Với tư cách là một phạm trù chính trị, dân chủ gắn liền với hình thái Nhà nước.
Với tư cách là một phạm trù lịch sử, dân chủ phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
ở từng giai đoạn phát triển của xã hội. Dân chủ XHCN.
Sự ra đời và phát triển của dân chủ XHCN.
Cách mạng XHCN thành công là sự ra đời của xã hội XHCN, theo đó là sự
ra đời của dân chủ XHCN. Sự ra đời của dân chủ XHCN là một bước phát
triển về chất trong lịch sử phát triển của dân chủ. Lần đầu tiên quyền lực
thuộc về đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động.
Sự ra đời của dân chủ XHCN là một quá trình đi từ chưa hoàn thiện tới hoàn
thiện hơn, cách mạng XHCN đã tạo ra tiền đề cho việc giải phóng con người.
Nhờ đó lôi kéo đông đảo nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng nền dân
chủ mới – dân chủ XHCN.
Nguyên tắc cơ bản của dân chủ XHCN là không ngừng mở rộng dân chủ.
Dân chủ XHCN ngày càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng đi tới chỗ tự tiêu
vong. Mục đích sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xây dựng thành
công xã hội XHCN và xã hội CSCN. Đó là xã hội không còn sự phân chia
giai cấp, không còn có mâu thuẫn giai cấp tức là xã hội không còn cơ sở cho