Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
Câu 1: Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến, điều kiện nào để Việt Nam
đàm phán thành công Hiệp định Paris?
Thắng lợi của quân và dân ta trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu
Thân năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, là “một sự choáng váng đối
với tất cả người Mỹ”. Chính trong tình hình đó, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Johnson
đã tuyên bố: Hy vọng đi tới hội nghị hòa bình với tinh thần “tìm kiếm một nền hòa bình trong danh dự”.
Tình hình thế giới trước ngày diễn ra cuộc hội đàm chính thức giữa ta và Mỹ hết
sức phức tạp. Sự đối đầu giữa 2 hệ thống xã hội trên thế giới, giữa 2 thái cực Liên Xô và
Mỹ rất sâu sắc và toàn diện, thể hiện ở cuộc chạy đua vũ trang, phát triển vũ khí hạt nhân.
Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhiều giới chính trị, kinh tế, xã hội ở các
nước đế quốc lo ngại chiến tranh khu vực phát triển thành chiến tranh thế giới.
Do đó, dư luận rộng rãi trên thế giới một mặt ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của
nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, mặt khác mong muốn Việt Nam ngồi
vào bàn thương lượng để giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hòa bình.
Trong khi đó, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như hệ thống xã hội chủ
nghĩa xuất hiện những mâu thuẫn bất đồng.
Đứng trước tình hình phức tạp trên, Đảng và Nhà nước ta phải phát huy tinh thần
độc lập và tự chủ, phối hợp chặt chẽ các hình thức đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại
giao; đồng thời tranh thủ đến mức cao nhất sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các
nước xã hội chủ nghĩa khác, cũng như sự ủng hộ tinh thần và vật chất của nhân dân thế
giới. Chúng ta quyết tâm giành những thắng lợi to lớn ở chiến trường, đồng thời giương
cao ngọn cờ hòa bình, thiện chí, phân hóa và cô lập đối phương.
Tóm lại, trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến, có nhiều yếu tố để Việt
Nam đàm phán thành công Hiệp định Paris như: sự chiến thắng của cuộc chiến Mậu
Thân; sự thống kết, đoàn kết của dân tộc; sự ủng hộ quốc tế;...
Câu 2: Chiến lược chiến tranh Mỹ khác gì với chiến tranh cục bộ trước đó?
Chiến tranh cục bộ là chiến lược chiến tranh hạn chế, chỉ sử dụng quân đội Sài
Gòn và quân đội đồng minh của Mỹ, trong đó quân đội Mỹ giữ vai trò hỗ trợ. Mục tiêu
của chiến tranh cục bộ là bình định miền Nam, ngăn chặn sự lan rộng của cách mạng,
buộc miền Bắc phải đàm phán theo những điều kiện của Mỹ.
Còn đối với Chiến lược chiến tranh của Mỹ sau 1965 là chiến lược chiến tranh
toàn diện, sử dụng cả sức mạnh quân sự và sức mạnh chính trị, kinh tế, ngoại giao. Mục
tiêu của chiến lược này là giành lại thế chủ động trên chiến trường, tiêu diệt lực lượng
cách mạng, buộc miền Bắc phải đầu hàng.
Cụ thể, những điểm khác biệt giữa hai chiến lược này là:
Về quy mô: Chiến lược chiến tranh toàn diện được triển khai với quy mô lớn hơn
nhiều so với chiến tranh cục bộ. Quân Mỹ đã đưa vào miền Nam hơn nửa triệu
quân, cùng với đó là hàng triệu tấn bom đạn.
Về phương thức tác chiến: Chiến lược chiến tranh toàn diện sử dụng phương thức
tác chiến trực tiếp, chủ động tấn công quân chủ lực của ta, đồng thời mở rộng chiến tranh ra miền Bắc.
Về mục tiêu: Chiến lược chiến tranh toàn diện có mục tiêu cao hơn, quyết liệt hơn
so với chiến tranh cục bộ. Mỹ muốn giành lại thế chủ động trên chiến trường, tiêu
diệt lực lượng cách mạng, buộc miền Bắc phải đầu hàng.
Chiến lược chiến tranh toàn diện của Mỹ đã thất bại hoàn toàn. Quân dân Việt
Nam đã anh dũng chiến đấu, giành thắng lợi trong nhiều trận đánh lớn, buộc Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam.
Câu 3: Điều gì làm nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện cuộc tổng tiến công?
Thứ nhất, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã vượt qua nhiều gian khổ hy sinh,
nêu cao quyết tâm tiến công địch, xây dựng được “thế trận lòng dân”, thế trận chiến tranh
nhân dân, trên khắp ba vùng chiến lược, tổ chức, bố trí hợp lý lực lượng chính trị và lực
lượng vũ trang ba thứ quân ở đô thị, vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi.
Đây còn là kết quả của một quá trình nắm bắt thực tiễn trên chiến trường và tình
hình nội bộ nước Mỹ, từ đó tính toán chọn lựa và tìm ra cách đánh Mỹ, cách thắng Mỹ
phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, của Đảng ta, của các cấp chỉ đạo, chỉ huy chiến
trường trong hoàn cảnh đối sánh lực lượng, vật chất chiến tranh giữa ta và địch có sự chênh lệch rất lớn.
Thứ hai, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã sớm phát hiện đúng chỗ sơ hở nhất
của địch khi chúng đang có đông quân nhất và kịp thời hạ quyết tâm chiến lược đánh vào
lúc bất ngờ nhất. Đó là đúng ngày Tết Mậu Thân, khi quân địch đang nghỉ và thiếu chuẩn
bị. Quy mô và phạm vi tiến công rất lớn nhưng cơ bản giữ được bí mật, bất ngờ và rất táo
bạo. Sử dụng lực lượng không nhiều, nhưng lại giành được thắng lợi rất lớn, gây được
chấn động mạnh, trên phạm vi rất rộng, cả trên chiến trường, trong nước Mỹ và trên thế giới.
Thứ ba, Đảng ta đã biết dựa chắc vào dân, biết khơi dậy, tổ chức và phát huy sức
mạnh đoàn kết, sức sáng tạo của nhân dân; phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, lấy ít
địch nhiều, lấy trí tuệ người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều
hành chiến tranh của Mỹ. Đồng thời, trong c uô n c Tổng tiến công và nổi dâ n y Tết Mậu Thân
1968 đã cho thấy sức mạnh của lòng tin, của cán bộ, quần chúng đối với Đảng, với Bộ
thống soái tối cao, cũng như ý thức chấp hành mệnh lệnh kiên quyết, triệt để của cán bộ,
chiến sĩ và tinh thần hy sinh xả thân cứu nước của bộ đội và nhân dân ta, nhất là lực lượng biệt động.
Câu 4: Yếu tố chiến thắng chiến tranh mùa xuân?
Yếu tố chiến thắng chiến tranh mùa xuân 1975 là sự kết hợp của nhiều yếu tố,
trong đó có thể kể đến những yếu tố chính sau:
- Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu, đường lối kháng chiến, lãnh đạo toàn dân
tộc đoàn kết, thống nhất, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, kết hợp đấu
tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, phát động phong trào đấu tranh của nhân dân
thế giới ủng hộ Việt Nam.
- Ý chí quyết tâm, tinh thần yêu nước, đoàn kết của toàn dân tộc, hân dân ta đã vượt
qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh xương máu để giành độc lập, thống nhất Tổ
quốc. Tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã được phát huy cao độ, tạo nên sức
mạnh to lớn để chiến thắng kẻ thù.
- Sức mạnh của quân đội và nhân dân Việt Nam, quân đội ta đã chiến đấu dũng
cảm, mưu trí, sáng tạo, lập nên nhiều chiến công vang dội, tiêu biểu như trận Điện
Biên Phủ, trận Buôn Ma Thuột, trận Huế - Đà Nẵng,... Nhân dân ta cũng đã tham
gia kháng chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc chiến.
- Sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới, nhân dân thế
giới đã lên án cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa của đế quốc Mỹ và ủng hộ
cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Sự ủng hộ này đã góp phần
quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố trên, quân và dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kết thúc 21 năm chiến đấu gian khổ, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Câu 5: Sự kiện ngày 30/4/1975 đó có ý nghĩa như thế nào?
Đối với dân tộc Việt Nam: Ngày 30/4/1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng
nước và giữ nước của dân tộc, là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất trong lịch sử đấu
tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Thắng lợi này đã kết thúc ách thống trị hơn một
thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta, giải phóng hoàn toàn miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã mở ra
thời kỳ phát triển mới cho đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân.
Đối với thế giới: Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đã làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, đập
tan cuộc phản công lớn nhất của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, góp phần làm suy yếu hệ
thống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, mở ra thời kỳ mới cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Câu 6: Sự thay đổi và phát triển của chiến thắng 1965 - 1975 có ảnh hưởng
như thế nào đến chiến lược sau này của nước ta không?
Chiến thắng 1965 - 1975 là một sự kiện lịch sử trọng đại, có ý nghĩa to lớn đối với
dân tộc Việt Nam và thế giới. Sự thay đổi và phát triển của chiến thắng này đã ảnh hưởng
sâu sắc đến chiến lược sau này của nước ta. Cụ thể, chiến thắng 1965 - 1975 đã giúp
chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu, đó là:
- Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đảng ta đã xác định rõ
mục tiêu, đường lối đổi mới, lãnh đạo toàn dân tộc đoàn kết, thống nhất, phát huy
sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, kết hợp đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quốc phòng, an ninh,...
- Ý chí quyết tâm, tinh thần yêu nước, đoàn kết của toàn dân tộc là nguồn sức mạnh
vô tận để chiến thắng kẻ thù. Toàn dân đánh Mỹ, chiến tranh nhân dân, toàn dân,
toàn diện, tạo ra sức mạnh tổng hợp của chiến tranh, đồng thời tiến hành hai chiến
lược cách mạng nhằm mục tiêu chủ yếu là giải phóng miền Nam.
- Sức mạnh của quân đội và nhân dân Việt Nam là yếu tố tiên quyết để giành thắng
lợi. Quân đội và nhân dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng, đồng cam cộng khổ,
vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hi sinh xương máu để giành thắng lợi. Quân đội
ta đã chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, lập nên nhiều chiến công vang dội,
tiêu biểu như trận Buôn Ma Thuột, trận Huế - Đà Nẵng,... Nhân dân ta cũng đã
tham gia kháng chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc chiến.
- Sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới là yếu tố quan
trọng góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Điều này đã tạo ra sức ép
quốc tế đối với đế quốc Mỹ. Sự lên án của nhân dân thế giới đã khiến đế quốc Mỹ
phải chịu nhiều sức ép, buộc phải rút quân khỏi Việt Nam. Sự ủng hộ này cũng đã
tạo nguồn động viên tinh thần to lớn cho quân và dân ta. Sự ủng hộ của nhân dân
thế giới đã tiếp thêm sức mạnh, ý chí quyết tâm cho quân và dân ta trong cuộc kháng chiến.
Chiến thắng 1965 - 1975 cũng đã khẳng định đường lối đối ngoại của Đảng ta là
đúng đắn, góp phần vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất
nước. Như vậy, chiến thắng 1965 - 1975 là một động lực quan trọng, góp phần vào thắng
lợi vẻ vang của nước ta.
Câu 7: Tại sao chiến thắng Tết Mậu Thân 1986 có ý nghĩa quyết định?
Chiến thắng Tết Mậu Thân 1896 có ý nghĩa quyết định bởi thắng lợi Tết Mậu
Thân của quân và dân ta đã thúc đẩy nhân dân Mỹ đấu tranh mạnh mẽ hơn với chính
quyền Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược, đưa con em của họ về nước. Nhân dân
yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên thế giới càng thấy rõ sức mạnh và tính tất thắng của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chính nghĩa của dân tộc ta, thấy rõ thất bại tất yếu
của đế quốc Mỹ và ngày càng ủng hộ, giúp đỡ nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này đánh dấu một bước phát triển mới về nghệ
thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, kết hợp tốt ba mũi giáp công là vũ trang, chính trị,
binh vận, giữa tiến công và nổi dậy - nổi dậy và tiến công giành quyền làm chủ của nhân
dân, hướng chính là mở mặt trận tiến công và vây ép địch ở thành thị, chủ yếu là các
thành phố lớn, đồng thời diệt ác phá kìm, phá rã bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở và làm
tan rã hàng ngũ của địch. Đây là phương châm chiến lược xuyên suốt quá trình đấu tranh
cách mạng, đã được phát huy nhuần nhuyễn, toàn diện trong cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Xuân Mậu Thân cũng như đến Đại thắng mùa Xuân 1975, giành thắng lợi hoàn toàn
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã trở thành biểu tượng của
tinh thần quyết chiến, quyết thắng, khí phách kiên cường, sức mạnh chiến tranh nhân dân
Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; đánh dấu bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ
thuật quân sự Việt Nam về tổ chức và phát động một cuộc tiến công đồng loạt trên khắp
chiến trường rộng lớn vào các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ.
Sau thắng lợi vĩ đại này, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã
chuyển sang giai đoạn cách mạng mới với những thời cơ, thuận lợi mới để thực hiện Di
chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thể hiện sức
mạnh vô song của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; để lại nhiều bài học kinh
nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là khát vọng “Không có gì quý hơn độc
lập, tự do”, là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự
chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược đấu tranh cách mạng; là
sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là tinh thần quyết chiến, quyết thắng, dám
đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại và tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng.
Câu 8: Tại sao nói Hiệp định Paris là kết quả của việc vừa đánh vừa đàm?
Có thể nói Hiệp định Paris là kết quả của việc vừa đánh vừa đàm bởi Hiệp định
Paris là kết quả của cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự trong suốt tiến trình cách mạng
1954 - 1973 từng bước đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ,
đặc biệt là kết quả trực tiếp của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Nếu không có
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thì Mỹ sẽ không chịu ngồi vào bàn
đàm phán tại Paris. Sau đòn tiến công của quân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson phải
tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc, gợi ý một giải pháp ngoại giao. Buộc phải ngồi vào
bàn đàm phán, nhưng Mỹ luôn tìm cách lảng tránh để kéo dài thời gian đồng thời triển
khai các thủ đoạn chiến tranh để gây sức ép. Năm 1971, sau thất bại của chiến dịch Lam
Sơn 719, phái đoàn Mỹ mới mềm dẻo hơn trong đàm phán. Trong thế trận đàm phán
giằng co quyết liệt, phá thế bế tắc của Hội nghị Paris, ngày 30/3/1972, quân đội Việt Nam
mở cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân - Hè. Thắng lợi của đợt tổng tiến công buộc
Mỹ phải quay lại Hội nghị toàn thể bốn bên vào ngày 13/7/1972. Ngày 20/10/1972, các
bên thống nhất được nội dung Hiệp định, dự định ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Tuy
nhiên, ngay sau khi Nixon trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai, phía Mỹ lại viện dẫn lý
do để trì hoãn việc ký Hiệp định. Khi đàm phán được nối lại vào ngày 20/11/1972, Mỹ
đòi sửa 69 điểm trong văn bản đã thỏa thuận, bao gồm nhiều vấn đề thực chất có tính
nguyên tắc mà phía Việt Nam không thể thỏa hiệp. Từ 18/12/1972, Mỹ triển khai chiến
dịch Linebacker II tấn công miền Bắc bằng B52 với mục tiêu hủy diệt tiềm lực kinh tế
quốc phòng của miền Bắc, trước hết là tàn phá Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, khu
gang thép Thái Nguyên… ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam,
buộc Việt Nam phải chấp nhận ký Hiệp định Paris theo các điều khoản sửa đổi của họ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là trận thắng quyết định, buộc Mỹ phải ký Hiệp
định Paris. Ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở
Việt Nam và bốn Nghị định thư liên quan được ký chính thức. Về cơ bản, Hiệp định mới
không khác nhiều so với văn bản ngày 20/10/1972. Việt Nam đã bảo vệ được các nguyên
tắc và nội dung cơ bản: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân trong 2 tháng, giữ nguyên
trạng về chính trị, Hội đồng hòa giải hòa hợp dân tộc 3 thành phần, hoàn toàn không đề
cập vấn đề quân đội miền Bắc. Vì vậy, Hiệp định Paris được ký kết trước hết nhờ sức
mạnh quân sự, khẳng định một chân lý Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết: “Thực lực là
cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” (Hồ Chí Minh 2000: 126).
Bên cạnh đó, hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao trong
suốt cuộc kháng chiến, là đỉnh cao của đấu tranh ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, đặc
biệt kể từ năm 1967, khi Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở mặt trận ngoại giao.
Vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất
khi Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc và đưa quân viễn chinh vào
chiến trường miền Nam, tháng 12/1965, Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Trung
ương 12, nhấn mạnh vai trò của đấu tranh ngoại giao những nhận định chưa đến thời
điểm mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm: “lúc này chưa có điều kiện chín muồi cho một
giải pháp chính trị về vấn đề Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam 2003: 623). Đến
tháng 1/1967, sau những thắng lợi của quân và dân hai miền, Hội nghị Trung ương Đảng
Lao động Việt Nam lần thứ 13 ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao,
chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, nhất trí
đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, quyết định “cần tiến công địch về ngoại giao”, đưa ngoại
giao trở thành một mặt trận đồng thời chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở
miền Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên
mặt trận ngoại giao: “Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà
chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn
thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc tế hiện nay với
tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan
trọng, tích cực và chủ động” (Đảng Cộng sản Việt Nam 2003b: 174). Với cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cục diện vừa đánh vừa đàm chính thức được mở
ra. Hiệp định Paris được ký kết là thành quả trực tiếp của cuộc đấu tranh trên bàn đàm
phán tại Hội nghị Paris. Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của Việt Nam, chưa
bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến
27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, với hơn 200 cuộc họp công khai, hàng
chục cuộc họp riêng cấp cao, khoảng 500 cuộc họp báo và 1000 cuộc phỏng vấn. Hội
nghị Paris bao gồm hai giai đoạn nối tiếp nhau: Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa và Mỹ từ 13/5/1968 đến 1/11/1968. Hội nghị 4 bên giữa Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ 25/1/1969
đến 27/1/1973. Vì vậy, “Hiệp định Paris là một thắng lợi quan trọng của nhân dân chúng
tôi trong cuộc chống Mỹ, cứu nước. Đối với chúng tôi những điều khoản của nó thỏa
đáng” như Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu trong bài trả lời phỏng vấn
Truyền hình Mỹ nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam (Phạm Văn Đồng 1986:
10), “là đỉnh cao của mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước” như nhận định của
Nguyễn Dy Niên - Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao (Nguyễn Dy Niên 2007: 50).
Hiệp định Paris được ký kết mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng Việt
Nam. Với việc Mỹ rút quân viễn chinh và quân các nước đồng minh, những lực lượng
chính trị và vũ trang Việt Nam vẫn ở nguyên miền Nam đã tạo ra so sánh lực lượng mới,
tạo thuận lợi cho việc đánh đổ chính quyền và quân đội Sài Gòn, hoàn thành giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. Đánh giá thắng lợi của Hiệp định Paris, trong “Lời kêu
gọi” ngày 28 - 01 - 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng Hòa khẳng định: “Với việc Hiệp định Paris được ký kết, cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi rất vẻ vang. Đây là thắng
lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân
tộc Việt Nam”. “Hiệp định Paris được ký kết là cơ sở chính trị và pháp lý đảm bảo các
quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, đảm bảo quyền tự quyết thiêng liêng của đồng bào
ta ở miền Nam. Thắng lợi này là cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi
mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước”.
Câu 9: Thắng lợi nào có ý nghĩa tạo nên thời thế cho Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn?
Thắng lợi có ý nghĩa quan trọng và mở ra thời thế tích cực cho Việt Nam trong
cuộc Chiến tranh Việt Nam là thắng lợi trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân năm
1968 bởi những yếu tố sau:
Một là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 khẳng định
đường lối lãnh đạo và chỉ đạo kháng chiến độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta.
Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh của Đảng ta thể hiện ở chỗ, không những chỉ ra thời cơ
chiến lược đã xuất hiện, mà còn quyết định tiến hành tổng tiến công và nổi dậy bằng
phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Đây là một phương thức tiến công, một
cách đánh mới đầy hiệu quả, chưa từng diễn ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho đế quốc Mỹ và
chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị động, bất ngờ. Với quyết định lịch sử này, Đảng đã
lãnh đạo quân và dân ta đánh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai bằng sức
mạnh tổng hợp của cả nước, nhằm vào toàn bộ mục tiêu hiểm yếu của địch trên toàn
chiến trường, ở thời điểm địch không ngờ tới là Tết Nguyên đán Mậu Thân, đồng thời,
vào đúng giai đoạn nhạy cảm nhất trong đời sống chính trị nước Mỹ - năm vận động bầu
cử tổng thống nhiệm kỳ mới... Đây là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo và kịp thời của
Đảng ta, thể hiện tư duy quân sự với đường lối lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến tài tình của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hai là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 làm lung lay
tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và
chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pa-ri.
Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, ta đã giáng một
đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, đập tan cố gắng
quân sự cao nhất của chúng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Thắng lợi oanh liệt
của quân và dân ta dẫn tới nguy cơ, lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội Mỹ bị đánh bại
trong phạm vi một cuộc chiến tranh cục bộ. Sự kiện này đã tác động trực tiếp đến đời
sống chính trị - tinh thần nước Mỹ, làm tăng thêm mâu thuẫn trong Quốc hội, Chính phủ
Mỹ, khiến cho làn sóng phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam của nhân dân Mỹ cùng
nhân dân tiến bộ trên thế giới dâng cao chưa từng thấy. Chính giới Mỹ thừa nhận “nước
Mỹ bị chia rẽ sâu sắc”, thực sự đã có “một cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ” mà
khởi điểm là sự kiện Xuân Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam Việt Nam.
Ba là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 đánh dấu bước
trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang cách mạng, nhất là về quy mô tác chiến và
nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng.
Về quy mô: Trước “Tết Mậu Thân”, lực lượng vũ trang cách mạng của ta trên
chiến trường miền Nam đã có những tiến bộ nhất định cả về lực lượng và hiệu suất tiêu
diệt địch. Ngay khi quân đội Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, lực lượng vũ trang Quân Giải
phóng chẳng những không bị động, lùi về phòng ngự, chống đỡ mà ngược lại, còn chủ
động tiến công một số đơn vị quân Mỹ nhằm tìm hiểu khả năng thực tế của chúng để tìm ra cách đánh phù hợp. Về nghệ thuật: Cuô n
c Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 được
thực hiện trong điều kiện lực lượng quân sự của địch đông với hơn một triệu tên, tiềm lực
chiến tranh dồi dào. Để đạt được mục tiêu chiến lược đánh bại dã tâm xâm lược của đế
quốc Mỹ, Đảng ta chủ trương sử dụng lực lượng vũ trang, binh lực và hỏa lực mạnh đánh
vào các binh đoàn chủ lực của địch, vào các thành phố, thị xã…, nhất là các thành phố
lớn, như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, tạo điều kiện cho hàng triệu quần chúng ở đô thị và các
vùng nông thôn bị tạm chiếm nổi dậy khởi nghĩa.
Bốn là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 thực sự là bước
chuẩn bị, tạo đà cho những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược tiếp theo mà đỉnh cao là cuộc
Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 là cuộc “động binh”,
huy động lực lượng lớn nhất của ta cho đến thời điểm diễn ra, để lại cho cách mạng Việt
Nam những bài học kinh nghiệm quý báu, liên quan đến toàn bộ quá trình hoạch định chủ
trương, chuẩn bị, cũng như chỉ đạo, điều hành hoạt động tiến công và nổi dậy trên quy
mô toàn miền Nam, tạo bước ngoặt cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
3. Tại sao Đại hội III của Đảng (9-1960) được xem là Đại hội hoàn chỉnh
đường lối chiến lược cách mạng hai miền Nam - Bắc?
Đại hội III của Đảng (9 - 1960) được xem là Đại hội hoàn chỉnh đường lối chiến
lược cách mạng hai miền Nam – Bắc vì Đại hội lần thứ III của Đảng đã hoàn chỉnh
đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, đường
lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở
hai miền: cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là
giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Đó chính là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội,
vừa phù hợp với miền Bắc vừa phù hợp với miền Nam, vừa phù hợp với cả nước
Việt Nam vừa phù hợp với tình hình quốc tế, nên đã phát huy và kết hợp được sức
mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh cả nước và sức mạnh của ba dòng
thác cách mạng trên thế giới, tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô
và Trung Quốc, do đó tạo ra được sức mạnh tổng hợp đề dân tộc ta đủ sức đánh
thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế, đường lối chung của Đảng còn là sự
thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong việc giải quyết những
vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam vừa phù hợp với
lợi ích của nhân loại và xu thế thời đại.
4. Tại sao nói cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm (1968) là
một chủ trương táo bạo và sáng tạo của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược
của giới cầm quyền Mỹ?
Có thể nói cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 là một chủ
trương táo bạo và sáng tạo của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ bởi:
Thứ nhất, Đảng ta đã sớm đánh giá đúng kẻ thù, có chủ trương, lựa chọn
phương pháp tác chiến phù hợp, lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968 thắng lợi. Với tầm nhìn xa trông rộng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm nhận thấy rằng: Ðương đầu với kẻ thù có tiềm lực và sức mạnh kinh
tế, quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần, chúng ta phải biết thắng từng bước và đánh
vào ý chí xâm lược của kẻ thù. Tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp dưới sự chỉ
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chủ trương chiến lược và quyết định mở
cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa trên toàn miền Nam. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 14 khóa III (tháng 1 năm 1968) chỉ rõ: “Trong quá trình tổng
công kích và tổng khởi nghĩa, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc: Tập trung lực
lượng quân sự và chính trị đến mức cao nhất, kiên quyết tiến công, liên tục tiến
công nhằm vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định, phải
tuyệt đối giữ cho được yếu tố bất ngờ, phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút
và không ngừng mở rộng thắng lợi, kiên quyết chống trả và bẻ gãy các cuộc phản
công của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất” .
Thứ hai, cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 ta thực hiện đồng loạt tiến
công kết hợp với nổi dậy ở nhiều thành phố, sử dụng lực lượng với quy mô lớn, kết
hợp cả đấu tranh quân sự và chính trị bất ngờ tiến công đồng loạt thẳng vào cơ
quan đầu não của địch, vào tận hậu phương, sào huyệt của chúng, nơi chúng cho là
an toàn nhất. Lần đầu tiên, Quân giải phóng miền Nam thực hiện việc “đưa chiến
tranh vào tận trung tâm các thành phố lớn”, nơi tập trung các cơ quan đầu não
trung ương và địa phương của chính quyền ngụy Sài Gòn, thực hiện đòn đánh
hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu của địch.
Thứ ba, tạo yếu tố bất ngờ về thời cơ, thời điểm tiến hành tiến công và nổi
dậy. Chọn thời cơ và thời khắc giao thừa Tết Nguyên Đán đồng loạt nổ súng mở
màn là nét đặc sắc của nghệ thuật tạo bất ngờ, bởi đây là lúc địch sơ hở và chủ
quan nhất. Cân nhắc, nghiên cứu và tính toán rất kỹ, cụ thể từng chi tiết, phong tục
tập quán Tết cổ truyền của dân tộc trên đất phương Nam, việc “điều binh, khiển
tướng” của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ nhiều năm trước đó, sau khi có sự
thống nhất giữa cơ quan chỉ đạo tối cao và chỉ huy các chiến trường, Bộ thống soái
quyết định chọn thời điểm Giao thừa là “giờ G” làm hiệu lệnh nổ súng mở màn
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.
Với sự tính toán mưu lược chu tất như vậy, nên khi ta tiến công, địch hoàn toàn
bị bất ngờ, không kịp đối phó. Ngay sau khi sự kiện Tết Mậu Thân diễn ra, giới chỉ
huy quân sự và học giả Mỹ cũng như phương Tây đã xác nhận: Vào những ngày
Tết Mậu Thân, các đơn vị của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một nửa quân
số, khiến cho Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng
phó. Từ thực tế đó, càng khẳng định: Việc chọn thời điểm Tết Nguyên Đán mở
cuộc Tổng tiến công có ý nghĩa chiến lược, góp phần tạo bất ngờ về thời gian, thời
điểm quan trọng làm nên thắng lợi của Xuân Mậu Thân 1968.
5. Hãy chứng minh Hiệp định Paris (27-1-1973) là kết quả của quá trình “vừa
đánh, vừa đàm” và là cơ hội lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi
đến thắng lợi hoàn toàn.
Trước hết, Hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự
trong suốt tiến trình cách mạng 1954 - 1973 từng bước đánh bại các chiến lược
chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đặc biệt là kết quả trực tiếp của chiến thắng
“Điện Biên Phủ trên không”. Nếu không có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân
Mậu Thân 1968 thì Mỹ sẽ không chịu ngồi vào bàn đàm phán tại Paris. Sau đòn
tiến công của quân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu
Thân 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson phải tuyên bố hạn
chế ném bom miền Bắc, gợi ý một giải pháp ngoại giao. Buộc phải ngồi vào bàn
đàm phán, nhưng Mỹ luôn tìm cách lảng tránh để kéo dài thời gian đồng thời triển
khai các thủ đoạn chiến tranh để gây sức ép. Năm 1971, sau thất bại của chiến dịch
Lam Sơn 719, phái đoàn Mỹ mới mềm dẻo hơn trong đàm phán. Trong thế trận
đàm phán giằng co quyết liệt, phá thế bế tắc của Hội nghị Paris, ngày 30/3/1972,
quân đội Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân - Hè. Thắng lợi của
đợt tổng tiến công buộc Mỹ phải quay lại Hội nghị toàn thể bốn bên vào ngày
13/7/1972. Ngày 20/10/1972, các bên thống nhất được nội dung Hiệp định, dự định
ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Tuy nhiên, ngay sau khi Nixon trúng cử Tổng
thống nhiệm kỳ thứ hai, phía Mỹ lại viện dẫn lý do để trì hoãn việc ký Hiệp định.
Khi đàm phán được nối lại vào ngày 20/11/1972, Mỹ đòi sửa 69 điểm trong văn
bản đã thỏa thuận, bao gồm nhiều vấn đề thực chất có tính nguyên tắc mà phía Việt
Nam không thể thỏa hiệp. Từ 18/12/1972, Mỹ triển khai chiến dịch Linebacker II
tấn công miền Bắc bằng B52 với mục tiêu hủy diệt tiềm lực kinh tế quốc phòng
của miền Bắc, trước hết là tàn phá Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng, khu gang
thép Thái Nguyên… ngăn cản sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam,
buộc Việt Nam phải chấp nhận ký Hiệp định Paris theo các điều khoản sửa đổi của
họ. Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là trận thắng quyết định, buộc Mỹ phải
ký Hiệp định Paris. Ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập
lại hòa bình ở Việt Nam và bốn Nghị định thư liên quan được ký chính thức. Về cơ
bản, Hiệp định mới không khác nhiều so với văn bản ngày 20/10/1972. Việt Nam
đã bảo vệ được các nguyên tắc và nội dung cơ bản: Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút
quân trong 2 tháng, giữ nguyên trạng về chính trị, Hội đồng hòa giải hòa hợp dân
tộc 3 thành phần, hoàn toàn không đề cập vấn đề quân đội miền Bắc. Vì vậy, Hiệp
định Paris được ký kết trước hết nhờ sức mạnh quân sự, khẳng định một chân lý
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái
tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” (Hồ Chí Minh 2000: 126).
Bên cạnh đó, hiệp định Paris là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao trong suốt
cuộc kháng chiến, là đỉnh cao của đấu tranh ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, đặc
biệt kể từ năm 1967, khi Đảng Lao động Việt Nam quyết định mở mặt trận ngoại
giao. Vào thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn
quyết liệt nhất khi Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc và đưa
quân viễn chinh vào chiến trường miền Nam, tháng 12/1965, Đảng Lao động Việt
Nam ra Nghị quyết Trung ương 12, nhấn mạnh vai trò của đấu tranh ngoại giao
những nhận định chưa đến thời điểm mở ra cục diện vừa đánh vừa đàm: “lúc này
chưa có điều kiện chín muồi cho một giải pháp chính trị về vấn đề Việt Nam”
(Đảng Cộng sản Việt Nam 2003: 623). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi của
quân và dân hai miền, Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 13
ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch,
phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, nhất trí đẩy mạnh đấu
tranh ngoại giao, quyết định “cần tiến công địch về ngoại giao”, đưa ngoại giao trở
thành một mặt trận đồng thời chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền
Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên
mặt trận ngoại giao: “Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái
mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao
không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình
quốc tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại
giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” (Đảng Cộng sản Việt Nam
2003b: 174). Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cục diện
vừa đánh vừa đàm chính thức được mở ra. Hiệp định Paris được ký kết là thành
quả trực tiếp của cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Trong lịch
sử đấu tranh chống ngoại xâm của Việt Nam, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào
kéo dài như tại Hội nghị Paris, từ 15/3/1968 đến 27/1/1973, cụ thể kéo dài 4 năm, 8
tháng, 14 ngày, với hơn 200 cuộc họp công khai, hàng chục cuộc họp riêng cấp
cao, khoảng 500 cuộc họp báo và 1000 cuộc phỏng vấn. Hội nghị Paris bao gồm
hai giai đoạn nối tiếp nhau: Hội nghị hai bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
Mỹ từ 13/5/1968 đến 1/11/1968. Hội nghị 4 bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ
25/1/1969 đến 27/1/1973. Vì vậy, “Hiệp định Paris là một thắng lợi quan trọng của
nhân dân chúng tôi trong cuộc chống Mỹ, cứu nước. Đối với chúng tôi những điều
khoản của nó thỏa đáng” như Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu trong
bài trả lời phỏng vấn Truyền hình Mỹ nhân kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam
(Phạm Văn Đồng 1986: 10), “là đỉnh cao của mặt trận ngoại giao thời kỳ chống
Mỹ cứu nước” như nhận định của Nguyễn Dy Niên - Nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại
giao (Nguyễn Dy Niên 2007: 50).
Hiệp định Paris được ký kết mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam.
Với việc Mỹ rút quân viễn chinh và quân các nước đồng minh, những lực lượng
chính trị và vũ trang Việt Nam vẫn ở nguyên miền Nam đã tạo ra so sánh lực lượng
mới, tạo thuận lợi cho việc đánh đổ chính quyền và quân đội Sài Gòn, hoàn thành
giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đánh giá thắng lợi của Hiệp định
Paris, trong “Lời kêu gọi” ngày 28 - 01 - 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa khẳng định: “Với việc Hiệp định
Paris được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã giành
được thắng lợi rất vẻ vang. Đây là thắng lợi rất to lớn của cuộc kháng chiến oanh
liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam”. “Hiệp định Paris
được ký kết là cơ sở chính trị và pháp lý đảm bảo các quyền dân tộc cơ bản của
nhân dân ta, đảm bảo quyền tự quyết thiêng liêng của đồng bào ta ở miền Nam.
Thắng lợi này là cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành thắng lợi mới, hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trong cả nước”.
“Vừa đánh vừa đàm” - phương châm chiến lược độc đáo dưới sự lãnh đạo của Đảng.
“Vừa đánh, vừa đàm” là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là nghệ thuật kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu
tranh ngoại giao, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược trên cả chiến
trường và trên bàn đàm phán.
“Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật “đánh” và “đàm” được
phát triển lên đỉnh cao, trở thành hoạt động song hành - “vừa đánh, vừa đàm”, “đánh” tạo
thế cho “đàm”, “đàm” khích lệ để tiếp tục “đánh”. Nghệ thuật đó được tiến hành một
cách chủ động trong suốt cuộc chiến tranh và kết hợp rất chặt chẽ, nhịp nhàng, khôn
khéo, đồng thời cũng vô cùng quyết liệt, tạo sức mạnh tổng hợp to lớn đánh bại đội quân
“lắm súng nhiều tiền” Mỹ cùng đồng minh của chúng trên chiến trường và tại bàn đàm phán.”
Tháng 1/1967, sau những thắng lợi của quân và dân hai miền, Hội nghị Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 13 ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh đấu tranh ngoại
giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta,
nhất trí đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, quyết định “cần tiến công địch về ngoại giao”,
đưa ngoại giao trở thành một mặt trận đồng thời chỉ rõ đấu tranh quân sự và đấu tranh
chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho
thắng lợi trên mặt trận ngoại giao: “Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị
những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao
không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường, mà trong tình hình quốc
tế hiện nay với tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một
vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”. Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu
Thân 1968, cục diện “vừa đánh, vừa đàm” chính thức được mở ra.
b. Đại thắng mùa Xuân 1975 - thành quả của phương châm chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”
“Đảng ta đã xác định và thực hiện phương châm chiến lược “vừa đánh vừa đàm” dựa
trên nghệ thuật kết hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao, đồng thời, dựa trên
cục diện tình hình và so sánh lực lượng cụ thể trên chiến trường lúc đó. Chúng ta không
thể giải quyết cuộc chiến tranh chỉ bằng quân sự vì Mỹ là một đế quốc hùng mạnh, có lực
lượng quân đội lớn và vũ khí tối tân, trong khi về so sánh sức mạnh, ta chưa có thế áp đảo.”
“Vừa đánh, vừa đàm” chính là phương châm thích hợp nhất để tiếp tục đẩy mạnh cuộc
cách mạng ở miền Nam và tạo điều kiện “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để rồi
đi tới thắng lợi cuối cùng “Bắc Nam sum họp” như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết
trong thơ chúc Tết Xuân Kỷ Dậu năm 1969.
Ta đã áp dụng chiến lược “vừa đánh, vừa đàm” với Mỹ trong 5 năm từ cuối 1968 đến
đầu 1973. Đầu năm 1971, Mỹ - ngụy thử sức với cuộc hành quân Lam Sơn 719 để chiếm
Sê Pôn, phá hủy đường Hồ Chí Minh và thử nghiệm công thức “bộ binh ngụy + hỏa lực +
hậu cần Mỹ”. Nhưng ta đã sẵn sàng và tiên đoán được, ta đã phản công Đường 9 - Nam
Lào có ý nghĩa chiến lược, đánh bại quân chủ lực ngụy và hỏa lực Mỹ, làm tan vỡ chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào cũng đã
chấm dứt quá trình Mỹ - ngụy tiến công ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn trên
chiến trường ba nước Đông Dương.
Ta đã tận dụng thời cơ khi Mỹ gặp khó khăn về chiến lược và chuẩn bị bầu cử tổng
thống Mỹ để tiến hành cuộc tiến công chiến lược 1972 trên khắp miền Nam. Ta đã đồng
loạt tấn công trên 3 hướng: Trị Thiên, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trong đó
hướng Trị Thiên là hướng chủ đạo.
Khi quân Ngụy bị ta đánh tan tác, Mỹ đã dùng binh lực không quân, hải quân tấn
công dữ dội ở cả miền Nam và miền Bắc, đồng thời dùng ngoại giao xảo quyệt và cuối
cùng dùng máy bay B52 tập kích Hà Nội, Hải Phòng nhằm giảm thiệt hại của Mỹ, ép ta
phải đồng ý với điều kiện của Mỹ trong đàm phán, kết thúc chiến tranh theo lợi ích của
Mỹ. Nhưng ta đã không sợ hãi trước sự điên cuồng của Mỹ, mà đã giành được thắng lợi
trên các chiến trường miền Nam năm 1972 và đặc biệt là thắng lợi của trận “Điện Biên
Phủ trên không” ở Hà Nội. Những thắng lợi này đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris để
chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ
thuộc khỏi miền Nam nước ta.
Sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ - ngụy vẫn không từ bỏ ý định chiếm đóng miền
Nam, mà đề ra kế hoạch ba năm (1973-1976) để lấy lại toàn bộ vùng giải phóng của ta,
nhằm tách miền Nam ra khỏi Việt Nam, biến nó thành một quốc gia riêng biệt, phụ thuộc
vào Mỹ. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã cố tình vi phạm Hiệp định, liên tục tiến hành
các cuộc hành quân xâm lược vùng giải phóng của ta.
Để đối phó với tình hình Mỹ - ngụy vi phạm Hiệp định Paris, Hội nghị Trung
ương 21 tháng 7/1973 đã quyết định con đường cách mạng của nhân dân miền Nam là
con đường bạo lực cách mạng, tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng là chủ động phản
công, chuẩn bị cho cuộc tiến công toàn diện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Theo Nghị quyết của Đảng, từ cuối năm 1973 đến năm 1974, quân và dân ta ở miền Nam
đã liên tục đánh bại quân Mỹ - ngụy trên các chiến trường, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ
và vùng ven Sài Gòn. Đặc biệt, cuối năm 1974, đầu năm 1975, quân ta đã giành được
chiến thắng lịch sử khi đánh chiếm thị xã Phước Long (6/1/1975), giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã diễn
ra trên toàn miền Nam, bắt đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên, tiến công vào thị xã Buôn
Mê Thuột vào ngày 10/3/1975. Trước tình hình thắng lớn tại Tây Nguyên, cuộc họp Bộ
Chính trị ngày 18/3/1975 đã quyết định giải phóng miền Nam trong năm 1975. Ngày
26/3/1975 thành phố Huế được giải phóng. Ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng.
Ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt đầu. Vào
11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên Dinh Độc Lập, Sài
Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 của quân dân ta đã toàn thắng.
Hiệp định Paris đã kết thúc quá trình “vừa đánh, vừa đàm” của quân đội ta. Quân và
dân Việt Nam đã thực hiện thắng lợi câu thơ của Bác “đánh cho Mỹ cút”, tạo điều kiện để
hai năm sau, với thắng lợi Đại thắng mùa Xuân 1975, quân và dân ta tiếp tục thực hiện
“đánh cho ngụy nhào”, hoàn thành trọn vẹn lời thơ chúc Tết cuối cùng của Bác:
“Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.