-
Thông tin
-
Quiz
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1941 - 1945) | Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh
Cuộc đời hoạt động của Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó chính là Tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) 40 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1941 - 1945) | Tiểu luận Tư tưởng Hồ Chí Minh
Cuộc đời hoạt động của Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó chính là Tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (TTHCM) 40 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Tôi hát ngàn lời ca
Nồng nàn hơn nắng ban mai đẹp tình hơn cánh hoa mai
Hùng thiêng hơn núi sông dài Là một niềm tin!
Hồ Chí Minh - Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người
Là một niềm tin! Hồ Chí Minh.”
Đó là những lời ca da diết trong một sáng tác của nhạc sĩ Trần Kiết Tường viết
vềChủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta với tất cả lòng biết ơn và ca từ đẹp
nhất, luôn khiến người nghe phải bồi hồi xúc động. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh
hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của nhân loại - Người chiến
sĩ cộng sản quốc tế kiên cường - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta,
Nhà nước ta. Cuộc đời hoạt động của Người đã để lại cho chúng ta và các thế hệ
mai sau một di sản tinh thần vô giá, đó chính là Tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đảng
ta khẳng định “chủ nghĩa Mác - Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam”. Quá trình
hình thành và phát triển tư tưởng của Người gắn liền với các hoạt động trong suốt
cuộc đời của Hồ Chí Minh và trong tiến trình lịch sử Cách mạng Việt Nam. Đặc
biệt là hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo toàn dân
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1941 - 1945).
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, mở ra
một kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam. Thành công của cuộc Tổng 1
khởi nghĩa và sự sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có công lao vô
cùng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo tài ba của cách mạng Việt
Nam. Từ năm 1941 đến 1945, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, phong trào cách
mạng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt qua nhiều thử thách khó khăn để đi đến thắng lợi.
Từ những vấn đề trên, nghiên cứu hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ
1941 - 1945 góp phần làm sáng rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo; những cống hiến của
Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Với ý nghĩa lý luận
và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài “Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh trong việc lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, sáng lập
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1941 - 1945)” làm đề tài tiểu luận môn
Tiểu sử, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Góp phần làm sáng tỏ quá trình hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn
bị và lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 và sáng lập Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Từ đó, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm.
2.2. Nhiệm vụ
- Phân tích có hệ thống những chủ trương và sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh trong
giải quyết giải quyết vấn đề dân tộc và lãnh đạo phong trào cách mạng ở Việt Nam thời kỳ 1941-1945;
- Nhận xét và rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng để giải
quyết vấn đề dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là những chủ trương, biện pháp nhằm lãnh đạo
toàn Đảng toàn dân đi đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám; giành độc
lập cho dân tộc Việt Nam và sáng lập Nhà nước Dân chủ Cộng hòa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề dân tộc mà tiểu luận nghiên cứu là thuộc phạm trù dân tộc quốc gia,
không phải vấn đề dân tộc tộc người hay dân tộc thiểu số.
- Về mặt nội dung, tiểu luận tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, quan điểm, chủ
trương của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; nhận xét và rút
ra bài học kinh nghiệm trong thời kỳ 1941 - 1945.
- Không gian nghiên cứu là ở Việt Nam và phạm vi thời gian là thời kỳ 1941 -
1945 từ khi Hồ Chí Minh về nước đến khi lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chính quyền.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong tiểu luận là phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgic và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó. Ngoài ra, tiểu luận còn
sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,… để làm rõ nội dung tiểu luận đề cập. 3 NỘI DUNG
Chương 1: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong việc lãnh đạo
toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa (1941 - 1945)
1.1. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945
1.1.1. Khái quát tình hình thế giới và trong nước
Trước giai đoạn 1941-1945, tình hình thế giới diễn ra trong bối cảnh các cuộc xung
đột và khủng hoảng lớn, đặc biệt là hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918). Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) đã làm sâu sắc
thêm những mâu thuẫn giữa các nước đế quốc, dẫn đến việc lên cầm quyền của các
thế lực phát xít ở Đức, I-ta-lia, Nhật Bản,... Ngày 1/9/1939, Đức xâm lược Ba Lan,
vi phạm Hiệp ước Munich và các thỏa thuận quốc tế, điều này buộc Anh và Pháp
tuyên chiến với Đức, khởi đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai. Sự kiện xâm lược Ba
Lan chính là "giọt nước tràn ly" dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ.
Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, thực hiện chính sách thù địch đối với các lực
lượng tiến bộ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa.
Trong lúc này, Việt Nam vẫn nằm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, với các chính
sách đàn áp khắc nghiệt. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời lãnh
đạo các phong trào cách mạng. Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ
và trực tiếp đến Đông Dương và Việt Nam. Trong thực tế, ở Việt Nam và Đông
Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn. Chúng
phátxít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân,
tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 9/1940, Nhật 4
vượt biên giới Việt - Trung vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh chóng đầu hàng.
Pháp cấu kết với Nhật vơ vét, bóc lột nhân dân Việt Nam, nhân dân ta chịu cảnh
“thân một cổ hai trong nô lệ”. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta và đế quốc, phátxít Pháp -
Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
1.1.2. Khái quát hoạt động của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1941
Ngày 5-6-1911, từ bến Nhà Rồng (Sài Gòn) với tên gọi Văn Ba, Người xuống làm
thuê cho một hãng tàu buôn của Pháp để bắt đầu thực hiện quyết tâm và khát vọng
cứu nước, cứu dân. Người đi sang nước Pháp, sang Phương Tây để tìm hiểu vì sao
họ giàu mạnh và hiểu những gì ẩn giấu sau những từ tự do-bình đẳng-bác ái mà
thực dân Pháp rêu rao ở các nước thuộc địa.
Từ năm 1911 đến năm 1920, Người đã đi đến nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh và
rất nhiều thuộc địa của chủ nghĩa thực dân ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ;
hoà mình vào cuộc sống của công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao
động kiếm sống, vừa ra sức học tập, nâng cao vốn hiểu biết và tìm mọi cách để
hoạt động cách mạng. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội. Tháng 6-1919,
thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị
Vécxay (Pháp) bản Yêu sách của Nhân dân An Nam gồm 8 điểm. Vào mùa hè năm
1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp cận bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité).
Tháng 12/1920, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia
thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong
cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến
với chủ nghĩa cộng sản, “từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”. 5
Những năm 1921-1930 là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc ra sức tuyên truyền chủ nghĩa
Mác-Lênin và những quan điểm cách mạng của mình về trong nước. Nguyễn Ái
Quốc đã tham gia tích cực vào đời sống chính trị trong phong trào cộng sản quốc
tế: Dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân (1923); dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản
(1924); tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa (1922). Tại Mátxcơva, Người
vào học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Với kiến thức lý
luận và thực tiễn phong phú, Người viết nhiều bài báo đăng trên các tờ báo cách
mạng ở Nga, ở Pháp, như: Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp
chí cộng sản, Thư tín Quốc tế,... tố cáo tội ác của thực dân Pháp, thức tỉnh lòng yêu
nước của nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1925, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Mátxcơva - Liên Xô đến Quảng Châu – trung
tâm của cách mạng Trung Quốc lúc bấy giờ. Năm 1925, tại Quảng Châu (Trung
Quốc), Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – một tổ chức cách
mạng có khuynh hướng cộng sản; ra báo Thanh Niên để truyền bá chủ nghĩa Mác-
Lênin về trong nước, đồng thời mở các lớp huấn luyện cán bộ cho cách mạng Việt
Nam. Những bài viết của Người về sau được tập hợp và xuất bản thành cuốn sách
Đường Kách mệnh. Mùa Xuân năm 1930, tại Cửu Long (Hồng Kông, Trung
Quốc), Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước, thống
nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt thời kỳ bế tắc, khủng hoảng về
đường lối cứu nước, về lực lượng lãnh đạo đã kéo dài nhiều thập kỷ, mở ra “bước
ngoặt vô cùng quan trọng” trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Từ năm 1930 đến năm 1940, Người tham gia công tác của Quốc tế cộng sản ở
nước ngoài. Trong quá trình đó, Người đã bị bắt giam trong Nhà tù thực dân Anh ở
Hồng Kông (1931 -1933). Sau khi trở lại Matxcơva (Liên Xô) vào tháng 6/1933,
Nguyễn Ái Quốc vào học Trường Quốc tế Lênin. Tiếp đó, năm 1935, Người tham 6
dự Đại hội VII Quốc tế cộng sản. Vượt qua biết bao khó khăn, thử thách, trước sự
chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, sau khi Quốc tế cộng sản
“đồng ý” để Người về nước công tác, Hồ Chí Minh đã sớm rời Viện Nghiên cứu
các vấn đề dân tộc và thuộc địa (9-1938), bỏ lại bản luận án nghiên cứu sinh đang
viết dở. Người đáp xe lửa, rời Mátxcơva, đi về phương Đông. Cuối năm 1939,
Người đến Côn Minh – thủ phủ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), tìm cách liên lạc với
tổ chức Đảng, tìm đường về nước.
1.1.3. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
1.1.3.1. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trở về nước (1941)
Được sự đồng ý của Quốc tế Cộng sản, ngày 29-9-1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc
rời Mátxcơva với nhiệm vụ “đến Trung Quốc để công tác trong Đảng Cộng sản
Đông Dương”. Đây chính là cơ hội để Người tìm cách trở về nước. Tại Trung
Quốc, Nguyễn Ái Quốc vẫn tích cực hoạt động truyền đạt tinh thần các nghị quyết
của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt các chủ trương, chính sách trong thời kỳ Mặt trận
Dân chủ. Thông qua Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với
Chi bộ Vân Quý và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng tại Côn Minh do đồng chí
Phùng Chí Kiên phụ trách.
Trước hết là về thời điểm Hồ Chí Minh lựa chọn để trở về Tổ quốc là lúc tình hình
trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng. Sự kiện Chính phủ Pháp
đầu hàng phát xít Đức (tháng 6-1940) theo Người nhận định: “Là thời cơ thuận lợi
cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ.
Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Tình hình phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc ở trong nước đã phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh đấu tranh vũ
trang. Tháng 9-1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân Đông Dương chịu ách 7
áp bức “một cổ hai tròng” đã nổi dậy khởi nghĩa, như: khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam
Kỳ khởi nghĩa… Đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp đã đàn áp
dã man phong trào cách mạng. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị địch
bắt, nhiều đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng bị bắt, hệ thống
tổ chức đảng bị địch phá vỡ. Tình thế lúc đó buộc Đảng đã phải thành lập ra Ban
Trung ương lâm thời tại Hội nghị Trung ương vào tháng 11-1940 ở Đình Bảng, Bắc Ninh.
Tình hình bức thiết ở trong nước đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành
chính quyền đặt ra yêu cầu khách quan cần kíp phải củng cố lại hệ thống tổ chức
đảng từ Trung ương đến cơ sở để lãnh đạo trực tiếp các phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc. Trước tình hình đó, đồng chí Hoàng Văn Thụ đại diện của Ban
Thường vụ Trung ương Đảng được giao nhiệm vụ đi đón Lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc. Tháng 12-1940, đồng chí Hoàng Văn Thụ đã gặp Người tại Tĩnh Tây (Trung
Quốc), báo cáo với Người về công tác chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ
8. Trong thời gian chuẩn bị về nước, Người còn tổ chức một lớp huấn luyện chính
trị cho 40 thanh niên Cao Bằng yêu nước tại Nặm Quang, Ngàm Tảy (Trung
Quốc), làm hạt nhân cho việc xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương sau này.
Thực hiện kế hoạch đã định, Người cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn
Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp và được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đường
đã di chuyển xuống Nậm Quang ở sát biên giới Việt - Trung. Ngày 28-1-1941, sau
hành trình "Xa rời Tổ quốc đã hơn 30 năm. Đã mất bao nhiêu thời giờ và sức lực
tìm liên lạc mà không được. Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ”, Người đã “bước
chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Hồ
Chí Minh vô cùng cảm động". Từ đây, Người mở ra một chân trời mới trong việc
tiếp tục hành trình hiện thực hóa khát vọng độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc 8
cho nhân dân, dẫn tới những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đây là thời
khắc vô cùng trọng đại đối với lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự kiện đó đã đáp ứng
đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước, sự phát triển của tiến
trình lịch sử đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc Việt Nam và cả đối với
các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Về địa điểm đầu tiên Người trở về Tổ quốc, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua
mốc 108 (nay là cột mốc 675) biên giới Việt Nam - Trung Quốc về đến Pác Bó, xã
Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng - vùng đất “phên giậu” Đông Bắc của
Tổ quốc, là nơi hội tụ đủ cả “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để xây dựng căn cứ địa
cách mạng của cả nước. Bởi vì: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn
cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới,
lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát
triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được.
Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh
vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ”. Sự lựa chọn nơi
đặt chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc của Người đã thể hiện tầm nhìn mang tính
chiến lược, về nhận thức, đoán định được hiện tại và triển vọng tương lai của cách
mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
1.1.3.2. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (1941)
Những ngày đầu về nước, Người ở tại nhà ông Lý Quốc Súng (Máy Lỳ), dân tộc
Nùng, ở thôn Pác Bó - một cơ sở cách mạng. Từ ngày 8-2-1941, Người chuyển đến
hang Cốc Bó ở thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng để
sống và làm việc. Đến cuói tháng 3-1941, Người rời Pác Bó sang Khuổi Nậm do bị
địch lùng sục, gắt gao. Cuối tháng 4-1941, Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ cho
đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm tổ
chức thí điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng. 9
Chỉ 4 tháng sau khi về nước (từ ngày 10-5 đến ngày 19-5-1941), lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc đã lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, triệu tập Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương lần thứ 8 (khóa I) của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khuổi
Nậm, Pác Bó, Cao Bằng. Tham gia Hội nghị có Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh,
Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt cùng một số đại biểu của Xứ
ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và đại biểu tổ chức đảng hoạt động ở nước ngoài. Dưới sự
chủ trì của Người, Hội nghị đã kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu
ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức, Ban Thường vụ Trung ương, bầu đồng
chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương; trên cơ sở đó
kiện toàn các cấp bộ đảng từ Xứ ủy đến các cấp bộ đảng ở các địa phương - đây là
nhân tố hàng đầu quyết định đường hướng của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, Hội
nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết, hàng đầu của
cách mạng Việt Nam lúc này.
Vấn đề dân tộc được hội nghị thảo luận sâu sắc. Vấn đề đặt ra trong lúc này với các
dân tộc trên bán đảo Đông Dương là phải đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, trước
hết. Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình lúc đó, Hội nghị đã đưa ra nhận định
hết sức quan trọng và đúng đắn về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp:“Trong
lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của
quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc
giải phóng, không đòi lại được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng
những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ
phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, đòi hỏi Đảng ta phải tập hợp, đoàn kết được mọi
lực lượng trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc vào một mặt
trận dân tộc thống nhất. Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định
thành lập ở ba nước Đông Dương ba mặt trận riêng để tập hợp lực lượng giải quyết 10
nhiệm vụ cách mạng trong phạm vi của dân tộc mình. Ở Việt Nam, thành lập Mặt
trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, nhằm đoàn kết rộng rãi mọi
lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh. Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt
Minh ra đời, tập hợp các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già
trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, “cốt thực hiện hai điều
mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn
độc lập; 2. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Hội nghị nêu rõ: Khởi
nghĩa là nhiệm vụ trung tâm và quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ
của Mặt trận Việt Minh và sẽ là cờ của Tổ quốc khi giành được chính quyền.
Mặt trận Việt Minh đã trở thành biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàn
dân, của tư tưởng Hồ Chí Minh về Mặt trận dân tộc thống nhất và để lại cho Đảng
ta những bài học quý báu, được Đảng ta vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thành công và uy tín
của Việt Minh đó là thành công và uy tín của một Đảng đã thực sự hóa thân vào
Mặt trận, sống cùng Nhân dân để lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng; vừa đảm bảo
nguyên tắc Đảng lãnh đạo, vừa tôn trọng tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, khuyến
khích và tạo điều kiện để Mặt trận hoạt động có hiệu quả.
Ngày 6-6-1941, sau khi kết thúc Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc viết thư Kính cáo
đồng bào gửi các tầng lớp nhân dân cả nước, nêu lên tình cảnh khổ nhục của nhân
dân ta, ca ngợi những tấm gương oanh liệt của các bậc tiền bối trong cuộc đấu
tranh giành quyền độc lập tự do, kêu gọi nhân dân ta phải đoàn kết đấu tranh.
Trước, trong và sau thời gian họp Hội nghị Trung ương, từ giữa tháng 6 đến tháng
11-1941, Nguyễn Ái Quốc liên tục mở lớp huấn luyện cán bộ. Theo Người, muốn
cho cách mạng thành công vào năm 1945, công việc trước hết là phải gấp rút đào
tạo đội ngũ cán bộ chính trị và quân sự vững vàng. Đây không chỉ là công việc
trước mắt mà còn là công việc lâu dài của cách mạng nước ta. 11
Sự kiện Hồ Chí Minh Hồ trở về Tổ quốc (1-1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941) và thành lập Mặt
trận Việt Minh cho thấy tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ thiên tài, đã tạo ra bước
ngoặt to lớn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Trong những năm tháng
đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc,
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước với những hoạt động khẩn trương, tích cực và
đầy sáng tạo cùng với Trung ương Đảng đưa ra những quyết sách nhằm thúc đẩy
bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử.
Như một tờ báo nước ngoài đã nhận định về Người: “Con người đó đã đóng một
vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong vòng hơn 50 năm nay. Người đã làm lay
chuyển hệ thống thực dân. Người đã góp phần biến đổi bản đồ thế giới. Người đã
đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ”.
1.1.3.3. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tranh thủ sự ủng hộ của Quốc tế (1942-1944)
Tháng 4-1942, Nguyễn Ái Quốc cho chuyển cơ quan từ Pác Bó xuống khu Lam
Sơn (thuộc địa phận hai huyện Hòa An và Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) để cho
thuận tiện hơn về giao thông và cũng để tiếp tục chỉ đạo xây dựng Cao Bằng thành
căn cứ địa cách mạng của cả nước. Lúc này, phong trào Việt Minh đã lan rộng ra khắp tỉnh Cao Bằng.
Từ sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941, chiến tranh thế giới chuyển
biến. Sáng ngày 22/6/1941, Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Ở nước ta, phong trào
cứu quốc phát triển rộng rãi, thông suốt từ xã đến liên tỉnh, hoạt động du kích xuất hiện ở nhiều nơi.
Từ đầu năm 1942, quan hệ giữa nhà đương cục Trung Quốc với bộ phận Việt Minh
hải ngoại ở Hoa Nam trở nên căng thẳng do bọn Việt Quốc phá hoại. Vì thế, việc 12
tranh thủ Quốc dân Đảng Trung Hoa cho cuộc kháng chiến chống Nhật của Trung
Quốc và Việt Nam gặp nhiều bất lợi. Để giải quyết vấn đề trọng đại này nên “Hồ
Chí Minh có việc sang Trung Quốc”. Để chuẩn bị đi Trung Quốc, Người nói với
đồng chí Vũ Anh lấy đá mềm khắc cho Người hai con dấu: một con dấu của Việt
Nam độc lập đồng minh hội và một con dấu của Quốc tế phản xâm lược Việt Nam
phân hội. Ngày 13-8-1942, Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, sang Trung
Quốc. Nhưng không may, ngày 27-8-1942 Người bị chính quyền địa phương của
Tưởng Giới Thạch bắt giam hơn một năm, bị giải tới khoảng 30 nhà lao ở tỉnh
Quảng Tây. Người đã sống những ngày cực khổ, thân hình tiều tụy, nhưng chính
trong hoàn cảnh đó, Người đã viết tập thơ nổi tiếng "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký
trong tù) bằng chữ Hán. Tập thơ gồm hơn 100 bài, được ghi vào một cuốn sổ tay,
bìa màu xanh, kèm theo bốn câu thơ: "Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao".
Ngày 10-9-1943, Hồ Chí Minh được trả tự do. Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh ở lại
Liễu Châu một thời gian để một mặt tập luyện phục hồi sức khoẻ, mặt khác liên lạc
với những người Việt Nam yêu nước đang ở Liễu Châu, tìm cách liên lạc với Đảng
ta ở trong nước. Công việc hàng ngày của Người là rèn luyện thân thể, trồng cây,
đọc sách, vận động giác ngộ đồng bào Việt Kiều.
Trương Phát Khuê đã mời Người tham gia Ban trù bị Đại hội toàn quốc của Việt
Cách - Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Sau nhiều lần họp, hội nghị Ban trù bị
bế tắc vì không nhất trí về thời gian họp, số lượng đại biểu Việt Minh tham gia. Hồ
Chí Minh và Lê Tùng Sơn đã mở lối thoát bằng cách đưa ra sáng kiến họp hội nghị 13
đại biểu hải ngoại trước để thống nhất các lực lượng cách mạng Việt Nam ở ngoài
nước và để trù bị cho đại hội toàn quốc. Khoảng cuối tháng 3/1944, Hội nghị đại
biểu hải ngoại Việt Cách đã họp kín tại Liễu Châu, do Trương Phát Khuê chủ trì.
Hồ Chí Minh đã đọc hai bản báo cáo. Một là: Về phân hội quốc tế chống xâm lược
của Việt Nam. Hai là: Về đảng phái trong nước. Trương Phát Khuê theo dõi sát hội
nghị cho đến khi Hồ Chí Minh được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương hội
Việt Cách (vài tháng sau Hồ Chí Minh trở thành uỷ viên chính thức).
Đến ngày 9/8/1944, Trương Phát Khuê mới để cho Hồ Chí Minh hoàn toàn tự do,
chuẩn bị việc về nước. Trước khi về nước, Người đã dự thảo một bản kế hoạch
công tác và một số yêu cầu viện trợ cụ thể để đưa cho Trương Phát Khuê. Ngày
20/9/1944, Hồ Chí Minh đã cùng 18 cán bộ rời Liễu Châu, về Cao Bằng. Tại đây,
tháng 10/1944, Người viết Thư gửi đồng bào cả nước, nói rõ phe xâm lược gần đến
ngày bị tiêu diệt, các nước Đồng minh sắp giành được thắng lợi. Thời cơ giải
phóng dân tộc ta đang đến gần, chỉ trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian
gấp lắm rồi. Người kêu gọi đồng bào phải làm nhanh. Bức thư của Người được lan
truyền nhanh chóng trong cả nước.
1.1.3.4. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chuẩn bị về lực lượng cách mạng
Về việc chuẩn bị lực lượng cho cuộc cách mạng giải phóng, Hồ Chí Minh đã viết
tác phẩm đầu tiên về quân sự Cách đánh du kích (1941), giới thiệu kinh nghiệm
lịch sử và bước đầu nêu lên một số vấn đề về đường lối quân sự chuẩn bị cho cuộc
khởi nghĩa vũ trang. Cùng với việc chuẩn bị tài liệu cho huấn luyện, Hồ Chí Minh
cho mở lớp quân sự đầu tiên tại Pác Bó. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày
22/12/1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng
quân được thành tại tại núi Dền Sinh dãy Khau Giáng thuộc xã Tam Kim và Hoa
Thám, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, gồm 34 đội viên do đồng chí Võ
Nguyên Giáp chỉ huy. Được ủy nhiê ˆm thay mă ˆt đoàn thể thành lập đội và vạch rõ 14
nhiê ˆm vụ của đội đối với Tổ quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã khẳng định quyết
tâm của toàn thể các đội viên: “Chúng ta nêu cao tinh thần anh dũng hy sinh.
Chúng ta quyết tiến tới để làm tròn nhiê ˆm vụ. Bao nhiêu căm hờn của dân tộc, bao
nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ đợi một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyê ˆn
đem xương và máu ra làm công viê ˆc đó. Chúng ta sẽ vạch cho toàn dân con đường
sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy. Quân giải phóng sẽ tỏ
rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải
phóng của dân tộc”. Ngay sau khi thành lập, Đội đã gây được tiếng vang lớn, nhờ
chiến công xuất sắc, tiêu diệt gọn hai đồn giặc ở Phay Khắt (25/12/1944) và Nà
Ngần (26/12/1944). Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam
hùng mạnh, mang bản chất Bộ đội Cụ Hồ: “Trung với nước, Hiếu với dân. Nhiệm
vụ nào cũng hoàn thành. Khó khăn nào cũng vượt qua. Kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Như vậy, từ những “đội tự vệ” đầu tiên được tổ chức ở Nghệ Tĩnh những năm
1930 - 1931, từ một trung đội du kích quân (Cứu quốc quân) đầu tiên ra đời ở Bắc
Sơn cuối năm 1940 và từ một Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được
thành lập ở Cao Bằng cuối năm 1944, đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945,
Đảng ta đã chuẩn bị được một lực lượng vũ trang cách mạng khá đông và rộng rãi.
Cùng với sức mạnh áp đảo về chính trị, lực lượng vũ trang đã góp phần quan trọng
đưa sự nghiệp khởi nghĩa vũ trang của toàn dân đến thắng lợi.
Viê ˆc lãnh tụ Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị thành lập Đội Viê ˆt Nam tuyên truyền
giải phóng quân là dấu mốc lịch sử trọng đại của Quân đội nhân dân Viê ˆt Nam. Kết
tinh, kế thừa có tính nhất quán, sáng tạo tư tưởng, đường lối chủ trương xây dựng
lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng ta từ khi thành lập, Chỉ thị tuy ngắn gọn
nhưng đã nêu lên được những tư tưởng lớn về quân sự của Người, về đường lối
quân sự của Đảng ta trong vấn đề kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân, nguyên 15
tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng và hoạt động
của các thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp chính trị với quân sự của lực
lượng vũ trang, nguyên tắc chiến thuật, tác chiến, cách đánh của lực lượng vũ
trang, bí mật, bất ngờ, chủ động, mưu trí, linh hoạt…
1.1.3.5. Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nổ năm 1945
Năm 1945, tình hình thế giới ngày càng có nhiều biến chuyển quan trọng. Vào
tháng 2/1945, trước những chiều hướng phức tạp và chồng chéo nhau của các lực
lượng chính trị quốc tế trong vấn đề Đông Dương, trong đó là ý đồ đặt Đông
Dương dưới sự ủy trị quốc tế mà Mỹ và Trung Hoa giữ vai trò chủ yếu, lãnh tụ Hồ
Chí Minh quyết định đến Côn Minh. Để tranh thủ tình cảm của Mỹ đối với cách
mạng Vịêt Nam, Người dẫn theo cả Trung uý Shaw, viên phi công Mỹ này đã được
ta cứu thoát sau khi chiếc B25 của anh ta bị bắn rơi trên đất Cao Bằng.
Ngày 29/3, Hồ Chí Minh hội kiến với tướng Chenault, Tư lệnh Tập đoàn Không
quân Mỹ 14 tại Tổng hành dinh. Cũng trong cuộc gặp gỡ này, người Mỹ đã hứa sẽ
giúp đỡ vũ khí, thuốc men, điện đài và huấn luyện cho người của Việt Minh. Ngay
sau đó, Hồ Chí Minh rời Côn Minh đi Bách Sắc để tìm gặp Việt Nam cách mạng
đồng minh hội. Người lựa chọn một số chiến sĩ của các nhóm Việt Minh đang hoat
động tại đây để cùng Người về nước vào cuối tháng 4/1945.
Trong khoảng thời gian Người đi Trung Quốc, ở trong nước, Ngày 9/3/1945, phát
xít Nhật đã nổ súng đảo chính lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương.
Kẻ thù của cách mạng nước ta lúc này chỉ còn là phát xít Nhật. Ngày 12/3/1945,
Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động
của chúng ta”, phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước. Phong trào phá kho
thóc của Nhật, cứu đói không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang nội dung chính
trị. Sau ngày 9/3/1945, Việt Minh đã lãnh đạo quần chúng nổi dậy ở Hiệp Hòa 16
(Bắc Giang), Tiên Du (Bắc Ninh), Bần Yên Nhân (Hưng Yên). Ở Quảng Ngãi nổ
ra cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Ở Việt Bắc, Giải phóng quân và Cứu quốc quân đẩy
mạnh chiến tranh du kích, mở rộng căn cứ địa. Từ ngày 15 đến ngày 20/ 4/1945,
Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do Ban Thường vụ Trung ương triệu tập ở Hiệp Hòa
(Bắc Giang) "đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ cần kíp khác".
Theo đó, ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị vể tổ chức Ủy ban dân tộc
giải phóng các cấp. Ngày 15/5/1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
và Cứu quốc quân thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân.
Trước tình hình mới, để có điều kiện kịp thời chỉ đạo phong trào cách mạng đang
dâng cao trong cả nước, từ đầu tháng 5/1945, Hồ Chí Minh cho chuyển “đại bản
doanh” cách mạng từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) chuẩn bị cho
Tổng khởi nghĩa. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 4/6/1945, Tổng bộ
Việt Minh đã triệu tập hội nghị cán bộ, tuyên bố thành lập Khu giải phóng Việt
Bắc, trở thành căn cứ địa vững chắc để làm bàn đạp tiến lên giải phóng toàn quốc.
Khu giải phóng chính là hình ảnh của “nước Việt Nam mới” và là hình ảnh thu nhỏ
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirôsima (6/8), và Nagadaki (9/8), ngày
8/5/1945, chiến thắng của Liên Xô đã buộc phát xít Đức đầu hàng Đồng Minh.
Ngày 10 tháng 8 phe Đồng minh đã gửi công hàm yêu cầu Nhật Bản đầu hàng
không điều kiện. Ở châu Á, ngày 14-8-1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng
không điều kiện, quân Nhât ở Đông Dương rệu rã. Chớp “thời cơ chín muồi có
một không hai” ấy, ngày 12 tháng 8 nǎm 1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ
Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Theo đề
nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào ngày 13 đến
ngày 15 tháng 8 nǎm 1945. Hội nghị thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thành
lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ngay đêm hôm đó, Uỷ ban Chỉ huy lâm thời Khu 17
giải phóng đã hạ lệnh khởi nghĩa và phát đi “Quân lệnh số 1” kêu gọi đồng bào cả
nước đứng dậy tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 16/8,
Đại hội quốc dân tiến hành họp và phát động Tổng khởi nghĩa vũ trang, thông qua
10 chính sách lớn của Việt Minh, trong đó điểm đầu tiên là phải “giành chính
quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn
độc lập”; Đại hội quyết định Quốc Kỳ nền đỏ, sao vàng; chọn bài Tiến quân ca làm
Quốc ca và bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch. thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Quốc dân Đại hội Tân Trào là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Cách
mạng Việt Nam, phát động khởi nghĩa giành chính quyền một cách nhanh nhất,
khẩn trương nhất, để cả đất nước Việt Nam đứng lên tự làm chủ vận mệnh của
mình và đất nước mình. Thành công của Đại hội cho thấy sự sáng tạo độc đáo của
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư
tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng
hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận
nước bằng Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945. Theo đó, ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã viết thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa với lời hiệu triệu: "Hỡi đồng bào
yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến; toàn quốc đồng bào hãy
đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới
đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên!
Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên".
Sáng ngày 19/8/1945, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới
rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự
mít tinh. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến Quân Ca, đại biểu Ủy ban quân sự
Cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh. Cuộc mít tinh trở thành cuộc biểu tình 18
vũ trang tiến vào chiếm Phủ Khâm sai, trại lính bảo an và các cơ sở của Chính phủ
bù nhìn. Từ Hà Nội, làn sóng Cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu
tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi. Ngày 23/8 ở Huế, ngày 25/8 ở
Sài Gòn. Trong vòng hai tuần lễ từ ngày 14/8 đến ngày 28/8 cuộc tổng khởi nghĩa
của Nhân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn, lật nhào chế độ thuộc địa và phong kiến.
Cách mạng tháng Tám là sự kiện vĩ đại trong lịch sự dân tộc, đánh dấu bước tiến
nhảy vọt của Cách mạng Việt Nam. Đây là lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân
dân lao động giành được chính quyền trong cả nước, lần đầu tiên chế độ dân chủ
nhân dân ở Việt Nam ra đời. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối Cách mạng đúng đắn của Đảng ta: Độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp, Nhật; lật đổ
chế độ quân chủ chuyên chế, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời, phản ánh rõ nét tư duy, trí tuệ, bản lĩnh và sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong tình hình cụ thể của nước ta khi nhận thức, giải quyết hai vấn đề
dân tộc và dân chủ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
1.2. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945)
Sau khi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 23/8/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từ Chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội. Hồ Chí Minh nghỉ và làm
việc tại một ngôi nhà bí mật ở thôn Phú Gia (xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm)
trong 2 ngày, trước khi vào nội thành Hà Nội soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập
và chuẩn bị cho cuộc mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 19
Hôm sau, Hồ Chí Minh cảm ơn gia đình chủ nhà trước khi chuyển đến ngôi nhà 48
Hàng Ngang, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cửa hàng này mang
tên Phúc Lợi rộng 400m2, có 4 tầng của gia đình ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng
Thị Minh Hồ - một doanh nhân buôn bán tơ lụa nổi tiếng giàu có và yêu nước tại
đất Hà Thành và cũng là gia đình đã hiến 5.147 lượng vàng cho chính quyền cách mạng.
Tại đây, chiều 26/8, Hồ Chí Minh triệu tập và chủ toạ cuộc họp của Ban Thường
vụ Trung ương Đảng bàn việc mở rộng thành phần Ủy ban Dân tộc Giải phóng
chuẩn bị bản Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội để tuyên
bố thành lập chính thể mới.
Ngày 28/8/1945, tại cuộc họp của Ủy ban Dân tộc Giải phóng, một số ủy viên Việt
Minh tự nguyện rút khỏi Chính phủ để nhường chỗ cho các thành phần khác, có cả
những người đã từng tham gia trong chính quyền cũ. Hành động đó được Chủ tịch
Hồ Chí Minh đánh giá: “Đó là một cử chỉ vô tư tốt đẹp không ham chuộng địa vị,
đặt lợi ích của dân tộc, của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân”. Cũng tại
cuộc họp này, Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Chiều hôm đó, Người đưa bản thảo Tuyên ngôn Độc lập để các
thành viên Chính phủ xét duyệt và đề nghị duyệt kỹ vì “không phải chỉ để đồng
bào cả nước ta nghe, mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các
nước đồng minh nghe”. Cho đến tận ngày 31/8/1945, Người vẫn bổ sung một số
điểm mới để hoàn chỉnh Dự thảo. Bản Tuyên ngôn Độc lập với 1.120 chữ, được
sắp xếp trong 49 câu không chỉ là văn kiện lịch sử mở đầu của nước Việt Nam độc
lập mà còn là một văn kiện kết tinh khát vọng và trí tuệ của dân tộc Việt Nam
trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.
Vào lúc 14h00 ngày 2/9/1945, trên lễ đài tại vườn hoa Ba Đình, trước 50 vạn
người - khi đó dân số Hà Nội chưa đến 80 vạn người - thay mặt Chính phủ lâm 20