
Preview text:
Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình một quốc gia chủ động mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài, kết nối chặt chẽ hơn với thị trường khu vực và thế giới. Điều này được thực hiện thông qua việc tham gia các hiệp định, tổ chức kinh tế quốc tế, chấp nhận các quy tắc chung và từng bước dỡ bỏ các rào cản đối với thương mại và đầu tư. Nhờ đó, quốc gia có thể tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, thu hút nguồn lực từ nước ngoài như vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững.
Khái niệm: Là sự liên kết, giao lưu và hợp tác giữa nền kinh tế của một quốc gia với nền kinh tế các quốc gia khác hoặc các tổ chức kinh tế khu vực/toàn cầu.
Bản chất: Là quy luật tất yếu khách quan, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tự nguyện tham gia và chấp nhận các quy tắc chung.
Mục tiêu:
Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia, giải quyết các vấn đề kinh tế chung
.
Nội dung:
Cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan.
Tự do hóa thương mại dịch vụ, đầu tư, di chuyển lao động.
Điều chỉnh chính sách, công cụ thương mại phù hợp với thông lệ quốc tế.
Song phương: Giữa hai quốc gia (ví dụ: Hiệp định thương mại tự do song phương).
Khu vực: Giữa các nước trong một khu vực địa lý, văn hóa (ví dụ: APEC, ASEAN, EU).
Đa phương (Toàn cầu): Hướng tới toàn thế giới, tiêu biểu là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (WTO).
Cơ hội: Mở rộng thị trường, thu hút vốn (FDI), tiếp cận công nghệ mới, tạo việc làm, tăng năng lực cạnh tranh, giữ vững ổn định chính trị.
Thách thức: Tăng tính cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu, gia tăng phụ thuộc, bất bình đẳng, cần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế từ Đổi mới (1986), trở thành thành viên của nhiều tổ chức quan trọng (WTO, APEC, ASEAN,...), đạt nhiều thành tựu kinh tế.
Chủ trương nhất quán: phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, kết hợp hội nhập kinh tế với hội nhập toàn diện, lấy kinh tế làm trọng tâm.