


Preview text:
* Khái niệm chức năng xã hội của GD:
- GD theo nghĩa rộng được hiểu là hệ thống tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) trong các cơ sở GD chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách.
- Chức năng XH của GD là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các lĩnh vực XH và tạo ra sự phát triển cho XH
- Giáo dục thực hiện các chức năng cơ bản thhoong qua con người.
* Chức năngg kinh tế - sản xuất
- Đề cập đến vai trò và tác động tích cực của giáo dục đối với kinh tế - sản xuất
+ KTSX là điều kiện không thể thiếu, có tính quyết định đến sự tồn tại, phát triển của XH
+ KTSX là tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển XH của 1 quốc gia
- Vai trò của kinnh tế sản xuất đối với sự tồn tại và phát triển xã hội
+ Tạo ra sản phẩm hàng hóa, lương thực thực phẩm, dịch vụ,... đáp ứng nhu cầu con người
Ví dụ: Một công ty sản xuất thực phẩm cung cấp thực phẩm cần thiết cho đời sống hàng ngày của con người, đồng thời cung cấp cơ hội việc làm và tạo ra thu nhập cho cộng đồng.
+ Tạo ra cơ hội việc làm và thu nhập, đảm bảo cuốcj sống cho người dân
Ví dụ: Một nhà máy sản xuất ô tô tạo ra hàng nghìn việc làm cho cộng đồng địa phương và mang lại thu nhập ổn định cho các nhân viên
+ Ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, chính trị,...
VÍ dụ: Nhờ kinh tế sản xuất phát triển, nhà nước có nguồn lực đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, công nghệ giáo dục.
- Vai trò của GD đối vói sự phát triển KTSX:
Các nguồn lực phát triển kinh tế sản xuất là:
- Nguồn nhân lực dồi dào, được đào tạo đồng bộ và có chất lượng cao
- Khoa học công nghệ hiện đại (máy móc, kĩ thuật và thông tin)
- Nguồn vốn đủ mạnh
- Thị trường rộng mở, ổn định
- Tài nguyên phong phú (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn)
Vai trò của GD: GD tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn lực nói trên. Thông qua các quá trình giáo dục và dạy học:
+ Trực tiếp đào taoj ra đội ngũ lao động có đầy đủ phẩm chất và năng lực, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao, một mặt để thay thế cho những lực lượng LĐ đã mất hay hết tuổi LĐ; mặt khác, để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng và phát triển SX (mở rộng các khu vực SX và chuyển dịch cơ cấu SX, CNH, HĐH,...)
+ trực tiêps đào tạo ra chủ thể của khoa học công nghệ, từ đó khoa học công nghệ trực tiếp tham gia vào sản xuất vì nó trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo, chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng khoa học công nghệ
Ví dụ: Các trường đại học và viện nghiên cứu thường là nơi sinh ra những ý tưởng và công nghệ mới, đồng thời cũng là nơi đào tạo và phát triển các nhà khoa học và kỹ sư tài năng để thúc đẩy tiến bộ trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Các kỹ sư nông nghiệp được đào tạo áp dụng công nghệ sinh học, thủy canh, IoT vào sản xuất, giúp tăng năng suất và chất lượng nông sản.
+ Trang bị cho con người về mặt kiến thức và làm thay đổi nhu cầu thị hiếu tiêu dùng, làm tăng sức mua, sức tiêu thụ sản phẩm XH từ đó các nhà máy àm ra nhiều sản phẩm hơn ( thúc đẩy sản xuất)
Ví dụ: Một người được giáo dục về dinh dưỡng sẽ ưu tiên mua thực phẩm hữu cơ, an toàn, dẫn đến các công ty sản xuất thực phẩm hữu cơ mở rộng quy mô, phát triển thêm nhiều sản phẩm mới.
+ Ngoài ra, GD còn gián tiếp tác động tới và làm phát triển các nguồn lực khác trên những phương diện nào đó. Chẳng hạn, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, việc tìm kiếm khai thác và phát triển thị trường, việc khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng phát triển bền vững
Ví dụ: Kỹ sư môi trường và nông nghiệp được đào tạo áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, sản xuất nông nghiệp hữu cơ, giảm ô nhiễm và duy trì cân bằng sinh thái.
Như vậy, GD đã thực sự trở thành một nguồn lực cơ bản để tạo ra sự phát triển cho các nền kinh tế. Do đó, muốn phát triển KT thì trước hết phải tập trung mọi nỗ lực để phát triển GD, dựa vào GD và lấy GD làm động lực
* Liên hệ thực tiễn GDVN hiện này
Giáo dục Việt Nam đã thực hiện rất tốt chức năng kinh tế sản xuất, điều đó được thể hiện như sau:
- Giáo dục Việt Nam trực tiếp đào tạo ra hàng loạt lao động tại các trường đại học, học viện, cao đẳng phù hợp với nhu cầu thị trường LĐ.
Ví dụ: Các trường đại học và cao đẳng tạo ra các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, như kỹ thuật và công nghệ thông tin, để cung cấp cho doanh nghiệp nguồn nhân lực chất lượng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
- Nền giáo dục Việt Nam có nhiều hoạt động, chương trình đào tạo ra chủ thể của khoa học công nghệ thông qua các cuộc thi sáng tạo khoa học - kĩ thuật câos trườngm, thành phố, quốc gia,..
- GDVN cũng đang phát triển các chương trình hợp tác giữa trường học và doanh nghiệp, nhằm cung cấp cho sinh viên cơ hội thực tập và làm việc trực tiếp trong môi trường công nghiệp từ khi còn đang học.
VÍ dụ: Truòng đại học sư phạm liên kết với các trường học trên điiaj bàn nhằm cung cấp cho sinh viên cơ hội thực tập và làm việc trực tiếp trong môi trường sư phạm ngay khi còn đi học
- Thêm vào đó, GDVN cũng đang tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp nước ngoài để phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao và có chương trình ứng dụng cao.
Ví dụ: Một trường đại học kinh doanh hợp tác với một tập đoàn đa quốc gia để phát triển chương trình đào tạo về quản lý quốc tế, trong đó sinh viên có cơ hội học và thực hành trực tiếp tại các công ty thành viên của tập đoàn này.