


Preview text:
I, Khái niệm, bản chất của quan hệ pháp luật (tr 79, Giáo trình)
- Quan hệ pháp luật là quan hệ giữa người với người (quan hệ xã hội) do một
quy phạm pháp luật điều chỉnh, biểu hiện thành quyền và nghĩa vụ pháp lý
cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước.
- Có thể nói, việc xác lập các quan hệ pháp luật là biểu hiện kết quả của việc
thực hiện pháp luật trong đời sống. Pháp luật đi vào thực tế đời sống thông
qua việc xác lập các quan hệ pháp luật cụ thể.
- Cũng như pháp luật, quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội thuộc kiến
trúc thượng tầng, được xây dựng trên một cơ sở kinh tế nhất định, do cơ sở
kinh tế quyết định, nhưng nó cũng tác động trở lại mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế. II, Đặc điểm:
- Là những căn cứ, dấu hiệu phân biệt quan hệ pháp luật với các quan hệ xã hội khác.
- Là quan hệ xã hội có ý chí: xuất hiện trên cơ sở ý chí nhà nước và ý chí của
các bên tham gia quan hệ => các bên tham gia QHPL khác với các bên tham gia QHXH
- Xuất hiện trên cơ sở các QPPL, tức là trên cơ sở ý chí của nhà nước =>
QPPL mang tính giai cấp sâu sắc.
- Nội dung của QPPL được cấu thành bởi các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể
và việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước.
III, Cấu tạo của QHPL: gồm chủ thể; nội dung; khách thể 1. Chủ thể:
- Là những cá nhân, tổ chức dựa trên cơ sở của các quy phạm pháp luật mà có
đủ năng lực chủ thể tham gia vào các QHPL để thực hiện quyền và nhiệm vụ pháp lý nhất định.
- Có hai loại năng lực chủ thể: năng lực pháp luật và năng lực hành vi Năng lực pháp luật Năng lực hành vi
Khả năng có quyền và nghĩa vụ
Khả năng thực tế để thực hiện quyền và nghĩa vụ
Do nhà nước quyết định (phụ thuộc Do điều kiện chủ quan của cá nhân
vào ý chí của Nhà nước) quyết định
Tồn tại từ khi sinh ra đến lúc mất đi
Tồn tại trong điều kiện nhất định về độ tuổi, nhận thức
- Ví dụ các loại năng lực hành vi dân sự:
- Mất năng lực hành vi: bị tâm thân, bệnh khác không làm chủ được hành vi
- Hạn chế năng lực hành vi: do nghiện ma túy, nghiện chất kích thích khác
- - Năng lực hành vi không đầy đủ: từ 6-18t Chủ thể là cá nhân Chủ thể là tổ chức
Khi là chủ thể của quan hệ pháp
Một tổ chức khi tham gia vào quan
luật, một cá nhân có thể là chủ thể
hệ pháp luật, nếu thỏa mãn những
trực tiếp hoặc chủ thể không trực
điều kiện do pháp luật quy định có tiếp.
thể được công nhận có tư cách pháp
“Chủ thể trực tiếp” trong một quan nhân, là một pháp nhân
hệ pháp luật là một chủ thể luôn
luôn có đủ cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
“Năng lực pháp luật” là khả năng
của một chủ thể được hưởng quyền
và làm nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật nhất định.
“Năng lực hành vi” là khả năng của
một chủ thể có thể bằng hành vi của
mình mà tham gia và một quan hệ
pháp luật để hưởng quyền và làm
nghĩa vụ. Người có năng lực hành vi
là người hiểu rõ ý nghĩa và kết quả
của hành vi mà mình thực hiện.
Đối với người có năng lực pháp luật -
nhưng không có năng lực hành vi
như người tâm thần thì trong trường
hợp cần thiết cần tham gia vào một
quan hệ pháp luật nào đó, họ sẽ
thông qua “chủ thể không trực tiếp”
(hay gặp trong các quan hệ pháp luật dân sự)
Trong các chế độ xã hội khác nhau, -
giữa các quốc gia khác nhau thì
năng lực pháp luật và năng lực hành
vi của con người cũng được pháp luật quy định khác nhau
2. Nội dung của quan hệ pháp luật:
- Nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể
- Quyền là mức độ, phạm vi được phép xử sự của các chủ thể được Nhà nước
bảo vệ. Đó có thể là một khả năng của một chủ thể được có những cách xử
sự nhất định đối với mình.
- Nghĩa vụ là mức độ phạm vi xử lí cần phải có của các chủ thể, được đảm bảo
bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.
3. Khách thể của quan hệ pháp luật:
- Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích mà các chủ thể mong
muốn đạt được đó là lợi ích về vật chất hoặc tinh thần, khi tham gia vào quan hệ pháp luật.
- Khách thể trong quan hệ pháp mà các bên hướng đến có thể là tài sản vật
chất, lợi ích phi vật chất hay hành vi xử sự của con người. Ví dụ:
- Vàng, trang sức, đá quý, tiền. xe, nhà, đất… (tài sản vật chất)
Khám chữa bệnh, vận chuyển hàng hóa, chăm soc sắc đẹp, tham gia bầu cử… (hành vi xử sự)
Quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, học hàm học vị,…(Lợi ích phi vật chất) 4. Sự kiện pháp lý:
- Sự kiện pháp lý là những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của
chúng được pháp luật gắn liền với việc hình thành, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật.
- Sự kiến pháp lý bao gồm sự biến và hành vi Sự biến Hành vi
Là những sự việc xảy ra ngoài ý chí Là những việc xảy ra do ý chí của chủ quan của con người con người
VD: sinh – tử con người; cháy chợ
VD: hành vi buôn bán ma túy trái Quảng Ngãi phép…
Nếu có một quy phạm pháp luật là điều kiện cần thì sự kiện pháp lý là điều
kiện đủ để áp dụng quy phạm pháp luật cho một quan hệ xã hội để có một
quan hệ pháp luật cụ thể. Dựa vào nội dung của sự kiện pháp lý, người ta
chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng, từ đó có một quan hệ pháp
luật cụ thể với những chủ thể, khách thể và nội dung cụ thể.
Sự kiện pháp lý chính là yếu tố khởi đầu của cơ chế thực hiện pháp luật.
Trong thực tế, 1 skpl có thể làm phát sinh 1 hoặc nhiều quan hệ pháp luật,
ngược lại, 1 qhpl đôi khi chỉ phát sinh 1 skpl
VD: Sự kiện 1 đứa trẻ sinh ra => QH thừa kế + QH gđ + QH hành chính
https://luathoangphi.vn/quan-he-phap-luat-la-gi-yeu-to-cau-thanh-quan-he- phap-luat/