lOMoARcPSD| 61630929
TỘI PHẠM HỌC
Nguyễn Việt Khánh Hoà
SĐT: 0915. 408.289
Email: nguyenvietkhanhhoa2020@gmail.com
VẤN ĐỀ 1: KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC
I. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
1. Khái niệm tội phạm học
Crimen = Tội Phạm
Logos = Học thuyết
Có nhiều quan điểm khách nhau về Tội phạm học:
Theo giáo trình đại học luật cũ: Tội phạm học ngành khoa học nghiên cứu tình hình tội
phạm các nguyên nhân của tội phạm, nhân thân người phạm tội phương hướng cũng như
các biện pháp phòng người tội phạm trong xã hội.
Theo giáo trình Tội phạm học: Tội phạm học nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm
nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục
đích phòng ngừa tội phạm.
1.2. Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học
Đa số các tài liệu ở nước ta đều xác định, đối tượng nghiên cứu cơ bản của tội phạm học bao
gồm:
- Tình hình tội phạm;
- Nguyên nhân của tội phạm; Đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của - Nhân thân
người phạm tội; Tội phạm học ???
-
Phòng ngừa tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu khác:
- Nghiên cứu luận thực tiễn đấu tranh chống phòng ngừa tội phạm các nước
khác trên thế giới tìm hiểu hiểu các kinh nghiệm quý báu của họ;
- Sự ra đời và phát triển của tội phạm học trong lịch sử;
- Nạn nhân học;
- Nghiên cứu vấn đề hợp tác quốc tế trong việc đấu tranh với tình hình tội phạm…vv
II. Phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học
II.1. Nhóm phương pháp thống kê
- Thường theo số liệu về tội phạm rõ thường về số vụ phạm tội và số người phạm tội;
lOMoARcPSD| 61630929
- Sử dụng các phương pháp như: Phương pháp số tuyệt đối; số tương đối; số trung bình;
số trung vị.
Phương pháp số tuyệt đối: Thực trạng về mức độ của tội phạm; không phải thông qua
công thức.
Phương pháp số tương đối: Trong nghên cứu tình hình tội phạm phương pháp số tương
đối sử dụng để làm sáng tỏ: Diễn biến (động thái) của tội phạm, cấu của tội phạm,
hệ số tội phạm (chỉ số tội phạm)
+ Công thức số tương đối động thái gốc xác định diễn biến (động thái) của tội phạm:
Mi: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm
+ Công thức số tương đối xác định cơ cấu của tội phạm:
Mbp Mbp: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng
Ycc= ×100%
M nhóm, loại tội phạm.
Mo: Tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội.
Sd số tương đối để xác định hệ số tội phạm (Chỉ số tội phạm): mức độ phổ biến của tội
phạm trong dân cư, được xác định trong 10.000 hoặc 100.000 dân.
VD: Năm 2022 A xảy ra 478 vụ phạm tội, dân số là 1 triệu 400 nghìn người. Hỏi HSPT ĐP A
2022?
Phương pháp số trung bình, số trung vị:
Năm
Số vụ phm ti
2019
189
2020
190
2021
142
2022
153
2023
300
Hiểu đơn giản:
Thì số trung bình là: Tổng cộng các năm lại rồi
chia 5.
Còn số trung vị sẽ là: trong VD trên thì là 142.
II.2. Nhóm phương pháp xã hội học
- Phương pháp chọn mẫu;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp thực nghiệm;
xác định.
Mo
:
Số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc.
hoặc
hoặc
lOMoARcPSD| 61630929
- Phương pháp quan sát…
VẤN ĐỀ 2: LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI PHẠM HỌC
1. Trường phái tội phạm học cổ điển (1700s – 1880)
Nhà tội phạm học tiêu biểu: Cesare Beccaric; Jeremy Bentham Nôi
của tội phạm học là Italya (ý)
- Khoảng thế kỷ 18 châu Âu xuất hiện thời kỳ khai sángđây là giai đoạn triết học
phát triển rực rỡ và chi phối mọi vấn đề của đời sống khoa học.
- Theo chủ nghĩa triết học duy (duy tâm) hành vi của con người được quyết định bởi
tự do ý trí suy nghĩ trí, sự tự lựa chọn của từng nhân. Ảnh hưởng quan điểm
này Beccaria đã cho rằng tội phạm hành vi của con người cho nên tội phạm cũng bị
quyết định bới tự do ý trí suy nghĩ trí, sự tự lựa chọn của từng nhân. Hay nói
cách khác nguyên nhân của tội phạm là do Cá nhân người phạm tội quyết định.
- Năm 1764 Cesare Beccaric xuất bản quyển sách tội phạm và hình phạt trong đó đề cao
vai trò phòng ngừa tội phạm của hình phạt.
Một số luận điểm đọc thêm:
- Luật pháp cần phải được sử dụng để duy trì khế ước xã hội;
- Hình phạt phải được cắn cứ hành động chứ không phải người hành động;
- Hình phạt phải dựa trên nguyên tắc phù hợp giữa niềm vui thích và sự đâu khổ;
- Hình phạt cần phải quyết định bởi chính tội phạm;
Jeremy Bentham (1748 – 1832) được gắn liền với thuyết vị lợi (thuyết thực dụng).
2. Trường phái tội phạm học thực chứng
- Trường phái tội phạm học thực chứng là giai đoạn ảnh hưởng bới chủ nghĩa thực chứng
chủ nghĩa thực chứng luôn quan điểm cho rằng muốn tìm hiểu một sự vật hiện
tượng, tìm ra quy luật cần sử dụng phương pháp khoa học.
a) Các thuyết sinh học Cesare Lombroso
Chủ nghĩa thực chứng và nghiên cứu về nguồn gốc loài người – là loài vượn người
lOMoARcPSD| 61630929
Trường phái kiểu thể
Thuyết phạm tội do thừa kế
b) Thuyết tâm lý (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)
Thuyết phân tâm học: Từ 1920 đến nay
Sigmund Freud (1856 – 1939), Áo
Ông đã đưa ra nhiều khái niệm mới bản năng, bản ngã, siêu bản ngã để giải hành vi phạm
tội của cá nhân.
Thuyết bắt chước: Từ 1890 đến nay
Gabriel Tarde (1843 – 1904), Pháp
Ông cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do cá nhân đã bắt chước hành vi của cá nhân khác
mà người đó có cơ hội quan sát.
c) Các thuyết xã hội
Thuyết rối loạn tổ chức xã hội: Émile Durkheim (1858 – 1917)
VẤN ĐỀ 3: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
I. Khái niệm
Tình hình tội phạm thực trạng diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian
và thời gian xác định.
Các đặc điểm của tình hình tội phạm
- Đặc điểm về phạm vi;
- Đặc điểm về nội dung;
- Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lý và tính vận động; - Đặc điểm về tính tương đối.
II. Các thông số cơ cản của tình hình tội phạm
lOMoARcPSD| 61630929
1. Thông số về thực trạng của tội phạm
Định nghĩa thực trạng của tội phạm: Thực trạng của tội phạm tình trạng thực tế của TP
đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất.
1.1. Thực trạng về mức độ
Tổng số các TP đã xảy ra và những người phạm tội xác định trong phạm vi về không gian
và thời gian. Bao gồm: TP rõ và TP ẩn a) Tội phạm
- toàn bộ số tội phạm số lượng người phạm tội đã bị phát hiện, đã được xử về
hình sự và được đưa vào thống kê TP.
- nước ta thường sử dụng số liệu thống xét xử hình sthẩm của Tán để xác
định TP rõ, kết hợp với số liệu của VKS.
b) Tội phạm ẩn
- Là toàn bộ số tội phạm và số người phạm tội đã xảy ra trên thực tế nhưng không có trong
thống tội phạm không được phát hiện không được xlý hoặc không được đưa vào
thống kê tội phạm.
* Tiêu chí phân biệt TP ẩn và TP rõ là có hay không có đưa vào thống kê tội phạm
c) Chỉ số tội phạm (Hệ số tội phạm)
- Là mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư, thường xác định trong 10.000 hoặc
trong 100.000 dân. - Công thức:
Bên cạnh đó còn có thể nghiên cứu thông số về nạn nhân của tội phạm
1.2. Thực trạng về tính chất của Tội phạm
- Nghiên cứu về cấu của tội phạm theo những tiêu chí khác nhau thể rút ra được
những đặc điểm về tính chất tương ứng của tội phạm.
Công thức xác định cơ cấu của TP:
Mbp Mbp: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng
Ycc=
M
×100%
nhóm, loại tội
phạm.
Mtt: Tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội.
2. Thông số về diễn biến của Tội phạm
3. Mi: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm
Mi
4. Ydb=Mo ×100% xác định.
hoặc 100.000
Trong đó:
M1:
là số vụ hoặc số người phạm tội
M2:
là số dân
lOMoARcPSD| 61630929
5.
Mo: Số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc.
VẤN ĐỀ 4: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM
Khoa pháp luật hình sự
TS. Gvc. Lý Văn Quyền
I. Khái niệm và phân loại nguyên nhân của tội phạm 1.
Định nghĩa:
- Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà stác động qua lại giữa chúng
đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội.
- Quan điểm này khác với quan điểm phổ biến hiện nay của hầu hết các tác giả nghiên
cứu về tội phạm học ở Việt Nam. Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì những nhân tố
tác động thuộc về bên trong người phạm tội được coi là nguyên nhân của tội phạm
còn những nhân tố tác động bên ngoài được coi điều kiện của tội phạm (Xem Viện
nghiên cứu Nhà nước pháp luật tội phạm học Việt Nam- Một số vấn đề luận
thực tiễn, Nxb. Công an nhân dân, 2000, tr 197 xem Nguyễn Xuân Yem, Tội phạm
học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, 2021, tr 165).
Trong giáo trình đại học Luật Hà Nội không phân biệt NGUYÊN NHÂNĐIỀU KIỆN
Nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm cần xác định các nhân tố đó chế tác động của
những nhân tố này. Khi tìm hiểu tại sao con người lại thực hiện tội phạm cố gắng tìm ra
câu trả lời cho thấy không bỗng chốc một người thực hiện tội phạm việc thực hiện tội phạm
của người đó là kết quả của một quá trình tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường.
Quá trình hình thành hành vi phạm tội sự tác động lẫn nhau của các nhân tố nhân bên
trong và các nhân tố của môi trường bên ngoài làm phát sinh hành vi phạm tội.
Quá trình này gắn cá nhân với môi trường trong sự tác động lẫn nhau và trong trạng thái động
gồm 3 giai đoạn như sau:
- Hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân là kết quả của quá trình xã hội hoá dưới s
ảnh hưởng của các nhân tố môi trường xấu sự tiếp nhận những tác động của môi
trường để hình thành nhân cách lệch lạc quá trình từ thụ động đến chủ động tức vai
trò của các đặc điểm sinh học của nhân giảm dần thay vào đó là sự gia tăng vai t
đặc điểm xã hội của chủ thể;
- Hình thành ý định phạm tội (sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân nhân cách lệch lạc
với các tình huống cụ thể làm nảy sinh ý định phạm tội);
- Thực hiện tội phạm bao gồm toàn bộ quá trình chủ thể thực hiện hành vi khách quan
cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra (stác động qua lại
giữa cá nhân và hoàn cảnh nơi phạm tội xảy ra).
thể tả những điều đã trình bày trên thông qua sơ đồ (Xem trong giáo trình TPH, Tr 129)
lOMoARcPSD| 61630929
2. Phân loại nguyên nhân của tội phạm
Căn cứ vào mức độ tác động:
- Nguyên nhân chủ yếu: những nhân tố đóng vai trò quyết định hay chủ chốt trong
việc phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiến tỷ trọng lớn trong tổng số các nhân
tố làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân thứ yếu: những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc phát sinh
tội phạm những nhân tố này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số các nhân tlàm phát
sinh tội phạm.
Căn cứ vào lĩnh vực hình thành:
- Nguyên nhân về kinh tế - hội: những nhân tố hạn chế trong lĩnh vực kinh tế -
hội thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất nghiệp; tình trạng đói
nghèo,…
- Nguyên nhân về văn hoá – giáo dục: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vự văn hoá
giáo dục thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất học, bỏ học; nhà
trường chưa chú trọng giáo dục về đạo đức, về giới tính, về kỹ năng sống,…
- Nguyên nhân về tổ chức – quản lý: là những nhân tố hạn chế trong hoạt động của các tổ
chức, cá nhân có chức năng, thẩm quyền trong quản lý kinh tế, quản lý cán bộ, quản lý
hành chính nhà nước ở các kĩnh vực của đời sống xã hội như thiếu trách nhiệm hay đùn
đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,…
- Nguyên nhân về chính sách pháp luật: những “kẽ hở”, những bất cập của chính
sách, pháp luật có thể tác động làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ về nguồn gốc xuất hiện:
- Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống: là những nhân tố tiêu cực của môi trường
sống đã tác động ảnh hưởng đến cá nhân có thể làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân bắt nguồn từ người phạm tội: những nhân tố tiêu cực thuộc về người
phạm tội có thể làm phát sinh tội phạm. II. Nguyên nhân từ môi trường sống
những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống tác động đến sự hình thành nhân cách
lệch lạc của cá nhân.
Cụ thể môi trường hội vi (các tiểu môi trường nhân đang sống, giao tiếp thường
xuyên) và môi trường xã hội vĩ mô.
1. Môi trường xã hội vi mô
Tác động tiêu cực từ môi trường gia đình có thể kể đến như:
- Cha, mẹ buông lỏng quản lý, giám sát con cái;
- Cha, mẹ nuông chiều hay quá hà khắc trong giáo dục con cái;
- Cha, mẹ thiếu tôn trọng nhau, hay mâu thuẫn, đánh chửi nhau, bầu không khí căng
thẳng;
- Các thành viên gia đình có tiền án, tiền sự hoặc có những hành vi lệch lạc chuẩn mực…
Tác động tiêu cực từ môi trường nhà trường như:
- Việc học sinh có học lực yếu kém chán học trốn học, bỏ học;
lOMoARcPSD| 61630929
- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với học sinh trong trường còn nhiều điều bất cập
(không hợp lý, không cân bằng)
- Quản lý học sinh của nhà trường lỏng lẻo thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát nên không có
biện pháp uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai trái của học sinh;
- Một số ít cán bộ, giáo viên trong nhà trường lỗi sống không lành mạnh, hành vi
lệch lạc…
Tác động tiêu cực từ môi trường nơi cá nhân làm việc
Tác động tiêu cực của mặt trái của nền kinh tế thị trường thể kể đến do tác
động của sự phân hoá giầu nghèo; sự bất bình đẳng xã hội…
Tác động tiêu cực của chính sách, pháp luật có thể là do chính sách, pháp luật của
Nhà nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều “kẽ hở” nhưng chậm được
sửa đổi, bổ sung;
Tác động tiêu cực do những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản của các tổ
chức, nhân thẩm quyền, trách nhiệm quản hành chính nhàn nước trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội
Tác động tiêu cực của các phong tục tập quán lạc hậu hoặc của phim, truyện, báo
chí, các phương tiện truyền thống khác. III. Nguyên nhân từ phía người phạm
tội
( các tội người dưới 18 tuổi thường gặp: Trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, tội phạm về ma
tuý)
- Nhóm dầu hiệu sinh học của người phạm tội có thể ảnh hưởng đến việc phạm tội như:
tuổi, giới tính, sức khỏe...
- Nhóm dấu hiệu tâm lí của người phạm tội thể ảnh hưởng đến việc phạm tội n: tính
hận thù hạy tính hung hăng, tỉnh bốc đồng; tính ích kỉ, đố kị, tính tham lam hay hám lợi;
tính ham chơi, lười lao động và học tập, nhiều sở thích thói quen xấu khác (lạm dụng
rượu, lạm dụng ma túy, ham mê cờ bạc, thích xem phim khiêu dâm trẻ em...)
- Nhóm dấu hiệu văn hóa - hội của người phạm tội thể ảnh hưởng đến việc phạm
tội như: trình độ văn hóa, trình độ nghiệp vụ thấp; nghề nghiệp không có, việc làm
không ổn định hoặc tuy ôn định nhưng lao động giản đơn thu nhập thấp: tình trạng
hôn nhân...
IV. Tình huống phạm tội 1.
Định nghĩa:
hội hoặc hoàn cảnh cụ thđã trực tiếp ảnh hưởng đến việc phát sinh tội phạm của người
phạm tôi vào thời điểm nhất định.
2. Phân loại tình huống
Căn cứ vào mức độ phức tạp của tình huống và khá năng giải quyết của chủ thể thể
phân chia thành ba nhóm sau:
+ Tình huống căng thẳng, phức tạp, kéo dài làm chủ thể cảm thấy bế tắc, không lối thoát.
Ví dụ: Tình huống người chồng thường xuyên đánh đập người vợ đến thời điểm nào đó
người vợ không kiểm chế được đã thực hiện hành giết chết người chồng. + Tình
lOMoARcPSD| 61630929
huống dễ dàng thuận lợi để tài sản có giá trị trong những điều kiện bất lợi hay không
sự bảo vệ.
Ví dụ: A tình cờ đi ngang qua nhà cổng nhà không khỏa, trong sân để xe máy SH, chìa
khóa vẫn cắm ở khóa nên A đã nảy sinh ý định trộm cắp và đã vào sân dắt chiếc xe SH
ra khỏi cổng nhà nổ máy phóng xe đi.
+ Tình huống diễn ra nhanh chóng, chớp nhoáng.
Ví dụ: A đi công tác về bất ngờ chứng kiến cảnh vợ và B hàng xóm đang ngoại tỉnh
trong nhà đã không kiểm chế được và thực hiện hành vi giết B.
Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện của tình huống có thể phân thành hai nhóm sau:
+ Tình huống do thảm họa tự nhiên như do bão, lũ lụt, động đất;
+ Tình huống do con người tạo ra nthành lập công ty ma để lừa đảo chiếm đoạt tài
sản.
3. Vai trò của tình huống
Trong một số trường hợp tình huống cụ thể là nguyên nhân chủ yếu của tội phạm và đã tác
động chi phối đến chủ thể làm nảy sinh động cơ, ý định phạm tội thực hiện hành vi phạm
tội cụ thể:
- Trong những trường hợp khác tình huống tác động đến chủ thể đã có sẵn động cơ, ý định
phạm tội tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể thực hiện tội phạm dễ dàng nhanh chóng.
Trường hợp này nhân tố tiêu cực thuộc về nhân cách lệch lạc của người phạm tội là
nguyên nhân chủ yếu còn tình huống hay hoàn cảnh chỉ thứ yếu đóng vai trò như
cơ hội phạm tội.
V. Vai trò của nạn nhân trong cơ chế của hành vi phạm tội
Vai tcủa nạn nhân của tội phạm được thể hiện qua xxự của họ trong từng tình huống cụ
thể, quá trình người phạm tội đánh giá tình huống cũng như cân nhắc đặc điểm nhân thân
của nạn nhân trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội.
Những nhân tố thuộc về nạn nhân làm phát sinh hoặc thúc đây tội phạm được thực hiện
như:
- Sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế;
- Khả năng tự vệ kém;
- Tính phô trương tài sản hoặc không cần thận, sơ hở trong bảo v tài sản; -
Tỉnh hám lợi hoặc bội bạc:
- Sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an toàn của bản thân; - Thói quen ăn mặc
khêu gợi...
Nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong cơ chế của hành vi phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt vai trò của các nhân, tổ chức thể hạn chế
loại trừ các nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Đó là các nhân, nhóm người trong
hội nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường khả năng tự bảo vệ tài sản và bảo vệ tính mạng. sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của bản thân.
lOMoARcPSD| 61630929
VẤN ĐỀ 5: DỰ BÁO TỘI PHẠM VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
Khoa pháp luật hình sự
TS. Gvc. Lý Văn Quyền
I. Dự báo tội phạm
1. Khái niệm dự báo tội phạm
- Là toàn bộ các hoạt động phân tích, đánh giá để phán đoán tội phạm có thể xảy ra trong
tương lai, trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định.
- Dự báo tội phạm thực chất dự báo xu hướng vận động mức độ vận động của tội
phạm trong tương lai; thay đổi về cơ cấu tính chất đặc trưng của tội phạm; thay đổi
những nhân tố tác động đến việc hình thành và phát sinh tội phạm.
2. Các căn cứ dự báo tội phạm
- Số liệu về tình hình tội phạm trong đơn vị không gian đơn vị thời gian nhất định. Với
khoảng thời gian ít nhất là 5 năm thì mới có thể xác định được quy luật, khuynh hướng
phát triển của tội phạm, hạn chế sai sót trong dự báo;
- Những kết quả nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm;
- Sự thay đổi về chính sách kinh tế, xã hội và sự thay đổi về pháp luật;
- Kết quả hoạt động phòng chống tội phạm của các cơ quan chức năng trong những năm
qua;
- Thông tin vvăn hoá, ý thức pháp luật mức độ tự giác chấp hành pháp luật của người
dân;
- Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội tác động ảnh hưởng đến tình hình tội phạm như sự
phân hóa giầu nghèo trong xã hội; tình trạng thất nghiệp, thất học; tệ nạn mại dâm, ma
túy, cờ bạc; sự gia tăng dân số...
- Các nhân tố khác bên ngoài nước ta tác động ảnh hưởng đến tội phạm như khủng
hoảng suy thoái kinh tế thế giới;
- Sự hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm đang nghiên cứu như tội phạm ma tuý,
mua bán người
3. Các loại dự báo
Theo thời gian dự báo:
- Dự báo ngắn hạn (vào dịp các ngày nghỉ tết nguyên đán, mùa lễ hội chùa Hương, ngh
hè của học sinh,…)
- Dự báo trung hạn (3 – 5 năm)
- Dự báo dài hạn (10 – 20 năm) Theo đối tượng dự báo:
- Dự báo tình hình tội phạm của nhóm tội phạm cụ thể hoặc của tội phạm cụ thể thể
xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định.
- Dự báo tội phạm cả biệt dự bảo khả năng thực hiện tội phạm của nhân hoặc nhóm
người trong tương lai những địa điểm, thời gian nạn nhân nhất định để chủ động
ngăn chặn tội phạm kịp thời.
4. Các phương pháp dự báo 4.1.
Phương pháp ngoại suy:
lOMoARcPSD| 61630929
- dựa trên những số liệu đã vẻ một đối tượng được quan tâm để đưa ra suy đoán
hoặc dự báo về hàn vi của đối tượng đó trong tương lai.
- Phương pháp này chỉ nên sử dụng để dự báo tội phạm ngắn hạn đối với những đối
tượng dự báo tương đối ổn định bởi phương pháp này dựa trên giá định trong tương
lai tình huống sẽ vẫn diễn ra như trong quá khứ hoặc khi các phương pháp khác có thể
bị ảnh hưởng sai lệch của người dự báo.
4.2. Phương pháp mô tả hình h
- Nghiên cứu về hiện tương tôi phạm trong tương lai thông qua việc xây dựng các
hình hoạt động của nó.
- Các hình được xây dựng để tả tôi phạm trong tương lai các hình vật
hoặc mô hình logic.
Các bước xây dựng mô hình được thực hiện như sau:
- Nghiên cứu về tỉnh hình tội phạm;
- Phân tích tính chất của tội phạm được dự báo;
- Phán đoán tội phạm trong tương lai trên cơ sở phân tich đánh giá các nhân tố tác động
ảnh hưởng đến tội phạm trong tương lai để đưa ra kết quả dự báo.
4.3. Phương pháp chuyên gia
- Là phương pháp dự bảo đưa ra những dự bảo về một hiện tượng nào đó dựa trên việc
xử lý tổng hợp hệ thống các đánh giá (ý kiến) của các chuyên gia được mời.
Phương pháp này được tiến hành như sau:
- Thành lập nhóm nghiên cứu dự báo tội phạm thường là các điều tra viên, kiểm sát viên,
thẩm phán, các nhà hình sự học và các nhà tội phạm học;
- Trưng cầu ý kiến của các chuyên gia;
- Xử lý ý kiến của các chuyên gia để đưa ra kết quả dự báo.
II. Phòng ngừa tội phạm
1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm
1.1. Định nghĩa:
Xét về ngôn ngữ được hiểu là hoạt động nhằm không cho tội phạm xảy ra. Để thực hiện mục
đích này đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tội phạm phải loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm
qua việc loại trừ hoặc làm thay đổi hoặc hiệu hóa tác động của những thành tố tạo thành
nguyên nhân của tội phạm. Hoạt động này đòi hỏi phải là hoạt động có tính chủ động và tổng
hợp của Nhà nước, của cả xã hội và của mọi công dân.
Như vậy, có thể định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm hoạt động tính chủ động tổng hợp
của Nhà nước, của hội của mọi công dân hướng tới việc hạn chế, ngăn ngừa shình
thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tổ này không
phát huy được tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xảy
ra”.
Đặc điểm:
lOMoARcPSD| 61630929
- Mang tính chủ động
- Mang tính tổng hợp
- Do hệ thống các chủ thể thực hiện
- Mục đích: Ngăn không cho tội phạm xảy ra, 1.2. Mục đích nội dung của phòng
ngừa tội phạm Mục đích:
Mục đích của phòng ngừa tội phạm các mức độ khác nhau từ kìm chế sự gia tăng của tội
phạm, hạn chế dần mức độ, tính chất nghiêm trọng của tội phạm đến ngăn ngừa tội phạm xảy
ra.
Để có thể đạt được mục đích này đòi hỏi phải đưa ra được hệ thống các biện pháp phòng ngừa
trên sở xác định đúng nguyên nhân của tội phạm phù hợp với kiện thực tế cho phép đồng
thời phải triển khai thực hiện các biện pháp này một cách đồng bộ và hợp lí.
Nội dung:
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm là các biện pháp hướng tới các thành tố có thể tạo thành
nguyên nhân của tội phạm. Do vậy, các biện pháp phòng ngừa tội phạm cần hướng tới những
người có nguy cơ phạm tội; những người hoặc tổ chức có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội
phạm và các biện pháp hướng tới khả năng phát sinh tình huống tiêu cực của môi trường.
1.3. Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm
1.3.1. Xét vtính chất tác động thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm
thành 2 nhóm sau:
Các biện pháp cơ bản - gián tiếp như:
- Phát triển kinh tế, ổn định xã hội, khắc phục những hạn như thất nghiệp, thất học, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp dân cư.
- Các biện pháp lành mạnh hóa môi trường giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao
ý thức tôn trọng pháp luật...
Các biện pháp phòng ngừa trực tiếp:
- các biện pháp hướng tới các “nguy cơ phạm tội”, tác động đến các thành tố tạo thành
nguyên nhân của tội phạm với nội dung cụ thể là hạn chế, triệt tiêu hoặc hiệu hóa các
thành tố này. Bao gồm:
+ Các biện pháp tăng cường hiệu quả quản hành chính nhà nước trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội;
+ Các biện pháp tăng cường quản giám sát các đối tượng nguy phạm tội hay
phạm tội lại;
+ Các biện pháp cảnh báo, hướng dẫn tránh trở thành nạn nhân của tội phạm.
1.3.2. Xét về nội dung tác động các biện pháp phòng ngừa có thể phân thành:
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về kinh tế - xã hội;
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về văn hóa giáo dục; - Các biện pháp
phòng ngừa tội phạm thuộc về tổ chức quản lí; - Các biện pháp phòng ngừa tội phạm
thuộc về pháp luật.
lOMoARcPSD| 61630929
1.3.3. Xét về phạm vi tác động các biện pháp phòng ngừa tội phạm phân thành:
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung;
- Các biện pháp phòng ngừa nhóm tội phạm cụ thể;
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm do từng nhóm chủ thể thực hiện; - Các biện
pháp phòng ngừa loại tội cụ thể.
2. Phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm
- Phòng ngừa tội phạm là các hoạt động nhằm không để cho tội phạm xảy ra.
- Đấu tranh chống tội phạm là các hoạt động phát hiện và xử lí tội phạm để bảo vệ xã hội
và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm. Hoạt động này bao gồm: phát hiện điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
- Hai hoạt động này không phải độc lập hoàn toàn với nhau mà có mối quan hệ nhất định.
Phòng tội phạm chống tội phạm là hai mặt không thể tách rời của một thể thống nhất.
- Do vậy, chúng ta thể nói ghép hai hoạt động này với phòng, chống tội phạm. 3.
Phòng ngừa tội phạm và kiểm soát tội phạm
- Kiểm soát tội phạm là bộ phận của kiểm soát xã hội hay còn gọi kiểm soát hội theo
pháp luật hình sự.
- Kiểm soát xã hội được hiểu là cơ chế điều chỉnh hành vi con người theo chuẩn mực đã
được xã hội xác lập để thiết lập và duy trì trật tự xã hội.
- Chuẩn mực hội tạo ra “khuôn mẫu” cho hành vi con người đòi hỏi mỗi thành viên
xã hội phải tuân theo.
- Để đảm bảo sự tuân theo chuẩn mực xã hội cần phải sử dụng các biện pháp kiểm soát
khác nhau. Trong đó có biện pháp kiểm soát theo hướng tạo điều kiện cho hành vi phù
hợp chuẩn mực biện pháp kiểm soát theo hướng khuyến khích hành vi phù hợp chuẩn
mực và biện pháp kìm chế hành vi lệch chuẩn (kiểm soát phản ứng tiêu cực).
- Kiểm soát tội phạm là bộ phận kiểm soát phản ứng tiêu cực, có mục đích khuôn hành vi
theo các chuẩn mực xã hội trong lĩnh vực chuẩn mực hội được pháp luật hình sự bảo
vệ. Kiểm soát tội phạm được thực hiện thông qua việc quy định những hành vi vi phạm
pháp luật là tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi phạm tội buộc chủ thể
chấp hành chế tài hình sự.
- Kiểm soát tội phạm tuy nội dung khác với phòng ngừa tội phạm nhưng quan hệ
chặt chẽ với hoạt động này. Kiểm soát tội phạm không chỉ trực tiếp ngăn chặn không
cho người phạm tội tiếp tục phạm tội cũng như nhằm điều chỉnh hành vi họ trong tương
lai cho phù hợp với các chuẩn mực pháp luật mà còn tác động răn đe, giáo dục đối với
những người nguy phạm tội đối với các thành viên khác trong hội nói chung.
4. Các định hướng phòng ngừa tội phạm
4.1. Giáo dục con người, xây dựng môi trường xã hội có tính giáo dục.
- Phẩm chất tâm tiêu cực của con người là một trong hai thành tố tương tác tạo thành
nguyên nhân của tội phạm.
- Các biện pháp phòng ngừa thuộc định hướng này nhằm phục những hạn chế trong hoạt
động giáo dục trong các môi trường khác nhau và khắc phục những khiếm khuyết ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả của giáo dục hội cũng như hạn chế việc tu dưỡng của
nhân.
lOMoARcPSD| 61630929
4.2. Phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục mặt trái của quá trình này.
- Đề xuất ưu tiên thực hiện một số nhiệm vụ kinh tế - hội liên quan trực tiếp đến
nguyên nhân của tội phạm;
- Đề xuất các biện pháp hạn chế những ảnh hưởng xấu - “kẽ hở” của các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
4.3. Chống tội phạm, xử lí phạm.
- Các biện pháp ở định hướng này nhằm nâng cao hiệu quả chống tội phạm và vi phạm.
- Khắc phục các yếu kém trong quản lí nhà nước ở các lĩnh vực.
- Cụ thể các biện pháp hoàn thiện pháp luật; hoàn thiện bộ máy tổ chức, nâng cao năng
lực và đạo đức cán bộ, công chức; hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra...
4.4. Phòng ngừa tội phạm từ phía nạn nhân và công dân nói chung.
- Các biện pháp này nhằm khắc phục tình trạng vô tạo điều kiện cho việc phạm tội của
người khác đối với chính mình như loại bthói quen ăn mặc khiêu gợi, hành vi thể hiện
sự dễ dãi hoặc khiêu khích.
- Tăng cường các biện pháp làm khó hơn cho việc thực hiện tội phạm để tự bảo vệ trước
các hành vi phạm tội như khi đi ra khỏi nhà nhớ đóng, chốt tất cả các cửa sổ đóng
khóa của ra vào cẩn thận bằng khóa tốt chống trộm.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm trong đấu tranh với tội phạm vi phạm cho mọi công dân.
5. Các chủ thể phòng ngừa tội phạm
5.1. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các hoạt động quản lí hành chính nhà
nước trong các lĩnh vực của đời sống hội nhằm không làm phát sinh vi phạm và
tội phạm.
5.2. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong đấu tranh chống tội phạm.
5.3. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc kiểm tra giám sát.
5.4. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc chỉ đạo chống những nhóm tội nhất
định.
5.5. Các tổ chức, nhân trách nhiệm trong việc phát triển kinh tế - hội, trong đó
có nhiêm vụ khắc phục những “kẽ hở” của các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
5.6. Các tổ chức, nhân trách nhiệm trong công tác giáo dục, trong xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh.
5.7. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật và
5.8. Các tổ chức, nhân trách nhiệm tbảo vệ mình trước nguy trở thành nạn
nhân của tội phạm.
THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 1
Câu 1. Phân tích khái niệm Tội phạm học theo quan điểm của trường ta.
Việt Nam, trong các giáo trình hoăc sách về Tội phạm học, định nghĩa về TPH được đưa ra
tương đối thống nhất, trong đó nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu của TPH tội phạm người
phạm tội; nguyên nhân của tội phạm và biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Theo đó thì có nhiều quan điểm khách nhau về Tội phạm học:
lOMoARcPSD| 61630929
- Theo giáo trình đại học luật cũ: Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tình hình
tội phạm các nguyên nhân của tội phạm, nhân thân người phạm tội phương hướng
cũng như các biện pháp phòng người tội phạm trong xã hội.
- Theo giáo trình Tội phạm học của trường ta: Tội phạm học nghàn khoa học liên
ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm,
kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
Trong tất cả các định nghĩa khách nhau về TPH đều khảng định TPH là đối tượng nghiên cứu
của TPH. TP ở đây đều có nghĩa là những hành vi bị coi là TP đã được thực hiện trên thực tế,
vậy cũng thể gọi tội phạm hiện thực. Tội phạm hiên thực được nghiên cứu từ góc độ
xã hội học như một hiện tượng hội số lớn và được xem như một bộ phận hiện thực là để có
thẻ đánh giá được trạng thái của bộ phận hiện thực là đthể đánh giá được trạng thái của
bộ phận thực tại xã hội này mà tìm cách thay đổi theo hướng tích cực.
Các tác giả đã những cách thể hiện khác nhau đề cập một đối tượng nghiên của tôi phạm
học kiểm soát tội phạm. Các nội dung được đề cập sau đây đều thuộc nội dung của kiểm
soát tội phạm: "... các khía cạnh pháp sự kiểm soát ...";"... c biện pháp cách thức
các Luật quan nhà nước phản ứng trước sự xảy ra của các hành vi phạm tội"; "... sự
kiểm soát của các tác động hội bao gồm cả c khả năng xử đối với người phạm tội
tác dụng của hình phạt..."; “... việc ngăn chặn hành vi phạm tội cũng như việc xử lí những thì
người phạm tội...”. “Biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm" được đề cập nhiều trong
các tài liệu Việt Nam như đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng nội dung rất
gần với kiểm soát tội phạm vì chúng cũng bao gồm những biện pháp phản ứng của Nhà nước
đối với tội phạm hiện thực. Đó những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mang tính phòng
ngừa, như biện pháp - đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm bằng pháp luật hình sự và thông
qua các hoạt động của các quan tiến hành tố tụng hình sự và quan thi hành án (gọi chung
là các cơ quan kiểm soát tội phạm).
Những phân tích trên cho thấy đã có đủ cơ sở thực tiễn khoa học để khẳng định tội phạm học
có đối tượng nghiên cứu độc lập, đó là tội phạm hiện thực với ý nghĩa là hiện tượng xã hội số
lớn các hiện tượng, quá trình liên quan trực tiếp đến tội phạm hiện thực thuộc về nguyên
nhân của tội phạm hiện thực kiểm soát tội phạm thể hiện sự phản ứng hội đối với tội
phạm hiện thực. Tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực kiểm soát tội
phạm hiện thực cũng có thể được coi như đối tượng nghiên cứu cụ thể hay bộ phận của tổng
thể đối tượng nghiên cứu của tội phạm học mà tiên thuộc về nó là hiện thực xã hội bao quanh
các hiện tượng xã hội là tội phạm. Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một số định nghĩa về tội phạm học đã nêu đã đề cập đến tính mục đích của tội phạm
học. Tội phạm học nghiên cứu tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực
kiểm soát tội phạm hiện thực là nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm. Lịch sử hình thành và
phát triển tội phạm học đã cho thấy, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng
nghiên cứu của tội phạm học luôn hướng tới và phục vụ cho mục đích phòng ngừa tội phạm.
lOMoARcPSD| 61630929
Những viện dẫn và phân tích nêu trên cũng đã làm rõ những đặc điểm khoa học của tội phạm
học. Tội phạm học không phải là khoa học đơn ngành khoa học liên ngành khoa
học thực nghiệm. Những tri thức khoa học hợp thành tội phạm học được đúc kết từ các kết
quả nghiên cứu - là những kinh nghiệm từ quan sát, tìm hiểu về tội phạm trong thực tế như là
hiện tượng hội, nguyên nhân của tội phạm kiểm soát tội phạm - không thể không dựa
vào các ngành khoa học thực nghiệm liên quan đến con người xã hội, đặc biệt tâm lí học
hội học. Đúng như một học giả đã khẳng định: Tội phạm học không thể xuất hiện
không có các khoa học liên quan.
Tóm lại, định nghĩa nêu trên đã bao quát các đặc điểm bản của tội phạm học. Thứ nhất
đặc điểm về đối tượng nghiên cứu độc lập của tội phạm học, bao gồm tội phạm hiện thực,
nguyên 7 nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm hiện thực; Thứ hai đặc điểm
về khoa học liên ngành của tội phạm học; Thba đặc điểm về khoa học thực nghiệm hay
cũng có thể gọi đặc điểm về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của tội phạm học. Thứ
đặc điểm về mục đích phòng ngừa tội phạm của tội phạm học. Đây những đặc điểm để
phân biệt tội phạm học với các ngành khoa học khác, đặc biệt các khoa học liên quan
đến tội phạm.
Câu 2. Trình bày các phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học. Trang 82 giáo trình
Có nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
1. Phương pháp tiếp cận để thu thập dữ liệu
- Tiếp cận định lượng và tiếp cận định tính
- Tiếp cận thực nghiệm và tiếp cận quan sát - Tiếp cận tổng thể
tiếp cận bộ phận.
2. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản - Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Chọn mẫu thuận tiện
- Chọn mẫu phán đoán
- Chọn mẫu tự nguyện
3. Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu tội phạm học thường áp dụng các phương pháp thu thập dữ liệu chính sau:
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp quan sát có tham gia
- Phương pháp điều tra bằng hỏi – trả lời(gồm: Điều tra bằng bảng hỏi; phỏng vấn điều
tra tự thuật)
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu
- Phương pháp phỏng vấn
- Điều tra tự thuật
4. Phương pháp xử lý dữ liệu
5. Phương pháp kiểm chứng giả thuyết
lOMoARcPSD| 61630929
Câu 3. Theo em đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của Tội phạm học đối tượng
nào. (theo trường là phòng ngừa tội phạm)
Nguyên nhân của Tội phạm là đối tượng quan trọng nhất. Bởi vì:
Quá trình nghiên cứu Tội phạm luôn gắn liền với quá trình tìm tòi phát hiện ra nguyên nhân
phạm tội. Tình hình tội phạm là hiện tượng hội tiêu cực, tồn tại trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống hội. Do vậy mối quan hệ tác động qua lại với các hiện tượng
quá trình hội khác mang tính chất tiêu cực cả những hiện tượng hội tích cực. Để
phòng ngừa tội phạm, tội phạm học nghiên cứu làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình
hội làm nảy sinh và quy định tội phạm như là hậu quả của các hiện tượng, quá trình đó.
Nếu không xác định được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thì không thể đưa
ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm, trong tội phạm học, nguyên nhân của tỉnh hình phạm
tội được hiểu là tổng hợp các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội, tổ
chức tiêu cực trong tác động qua lại thâm nhập lẫn nhau, làm phát sinh, quyết định tình
hình tội phạm. Các hiện tượng hội này phổ biến sự lặp đi, lặp lại nhiều lần trong
các mối quan hệ hội luôn luôn thay đổi. Còn điều kiện của tình hình tội phạm những
thiếu sót cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa... tự nó không làm phát
sinh ra tội phạm mà chỉ có tác dụng thúc đẩy quá trình phát sinh tình hình tội phạm.
Những nguyên nhân của tình hình tội phạm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tưởng, chính
trị, văn hóa, giáo dục... dẫn đến sự hình thành các quan điểm cá nhân mang tính chống đối xã
hội tquan điểm nhân này sẽ dẫn đến hành vi phạm tội. Tội phạm hc còn tìm ra các
điều kiện, các hiện tượng vai tngăn ngừa sự ảnh hưởng của các nguyên nhân điều
kiện của tội phạm và khám phá ra cơ chế tác động qua lại giữa nguyên nhân và điều kiện với
nhau dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.
Giữa tội phạm các hành vi tiêu cực khác không phải tội phạm mối quan hệ qua lại
khăng khít với nhau. Vì Vậy, tội phạm học cần phải nghiên cứu các hiện tượng chống đối xã
hội có ảnh hưởng đến tội phạm và đưa ra các biện pháp, phòng ngừa chúng.
Có hai quan điểm
Giữa các đối tượng nghiên cứu của TPH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Phòng ngừa tội phạm đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của TPH Câu 4.
Khảng định đúng sai? Giải thích.
1. Tội phạm nghiên cứu trong Tội phạm học với cách là một hiện tượng mang tính
chất cá nhân và xã hội.
Nhận định: Đúng
Giải thích: Tội phạm học là nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm
(hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội
phạm.
lOMoARcPSD| 61630929
Với quan điểm cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do tự do ý chí, sự lựa chọn của từng cá
nhân, tội phạm học cổ điển vẫn chưa làm vai tcủa môi trường đối với người phạm tội,
mỗi quan hệ giữa người phạm tội với môi trường sống, những trường hợp cụ thể dẫn đến việc
một người phạm tội. Hay nói cách khác, tội phạm học cổ điển mới chỉ nghiên cứu tội phạm
với tư cách là hiện tượng cá nhân mà chưa nghiên cứu một cách đầy đủ tội phạm như là hiện
tượng cá nhân và xã hội.
2. Tội phạm khoa học thực nghiệm, vì vậy sử dụng phương pháp thực nghiệm
chủ yếu.
Nhận định: Sai
Giải thích: Tội phạm học là nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm
(hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội
phạm.
Không tuyệt đối hoá phương pháp thực nghiệm mà có thể kết hợp một số phương pháp khác
như: Phương pháp chọn mẫu; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp phỏng vấn;
Phương pháp quan sát…
3. Tội phạm học có mối quan hệ mật thiết nhất với Luật hình sự.
Nhận định: Sai
Giải thích: Cả TPH KHLHS đều cùng nghiên cứu về tội phạm, tuy nhiên 2 ngành khoa
học này độc lập với nhau vì có đối tượng nghiên cứu khác nhau và có mối quan hệ tương tác,
liên kết chặt chẽ với nhau. Do đó, TPH không phải là một bộ phận của KH LHS. Vi:
- KH LHS nghiên cứu tội phạm hình phạt bao gồm các vấn đề bản như đặc điểm
chung của các hành vi bị coi tội phạm, các dấu hiệu của từng tội phạm cụ thể, hệ
thống hình phạt và hình phạt quy định cho từng tội phạm cụ thể cũng như kỹ thuật quy
định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự, phục vụ cho việc quy định của luật hình
sự, giải thích và nhận thức đúng quy định của luật để áp dụng.
- TPH cũng khoa học nghiên cứu về tội phạm nhưng lại nghiên cứu về tội phạm như
hiện tượng hội số lớn, nguyên nhân của tội phạm kiểm soát tội phạm hiện
tượng này đã được LHS quy định tội phạm. Đồng thời TPH cũng nghiên cứu hiệu
quả thực tế của LHS với ý nghĩa công cụ kiểm soát tội phạm, hiệu quả, tác động
phòng ngừa riêng phòng ngừa chung của hình phạt với nghĩa là những biện pháp
phản ứng đối với tội phạm.
4. Quá trình nghiên cứu thực nghiệm luôn bắt đầu bằng sự so sánh.
Nhận định: Sai
Giải thích: Đầu tiên phải xác định đối tượng, ta chỉ so sánh sau khi xác định được các đối
tượng.
THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 4
Câu 1: Trình bày khái niệm nguyên nhân của tội phạm?
lOMoARcPSD| 61630929
Định nghĩa: Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa
chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội.
Đặc điểm:
- Mang tích chất tổ hợp cả môi trường và người phạm tội
- Mang tính tương tác
- Mang tính lâu dài
Trong giáo trình đại học Luật Hà Nội không phân biệt NGUYÊN NHÂN và ĐIỀU KIỆN
Quá trình này gắn cá nhân với môi trường trong sự tác động lẫn nhau và trong trạng thái động
gồm 3 giai đoạn như sau:
- Hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân là kết quả của quá trình xã hội hoá dưới s
ảnh hưởng của các nhân tố môi trường xấu sự tiếp nhận những tác động của môi
trường để hình thành nhân cách lệch lạc quá trình từ thụ động đến chủ động tức vai
trò của các đặc điểm sinh học của nhân giảm dần thay vào đó là sự gia tăng vai t
đặc điểm xã hội của chủ thể;
- Hình thành ý định phạm tội (sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân nhân cách lệch lạc
với các tình huống cụ thể làm nảy sinh ý định phạm tội);
- Thực hiện tội phạm bao gồm toàn bộ quá trình chủ thể thực hiện hành vi khách quan
cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra (stác động qua lại
giữa cá nhân và hoàn cảnh nơi phạm tội xảy ra).
Câu 2: Phân loại nguyên nhân của tội phạm?
Căn cứ vào mức độ tác động:
- Nguyên nhân chủ yếu: những nhân tố đóng vai trò quyết định hay chủ chốt trong
việc phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiến tỷ trọng lớn trong tổng số các nhân
tố làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân thứ yếu: những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc phát sinh
tội phạm những nhân tố này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số các nhân tlàm phát
sinh tội phạm.
Căn cứ vào lĩnh vực hình thành:
- Nguyên nhân về kinh tế - hội: những nhân tố hạn chế trong lĩnh vực kinh tế -
hội thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất nghiệp; tình trạng đói
nghèo,…
- Nguyên nhân về văn hoá – giáo dục: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vự văn hoá
giáo dục thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất học, bỏ học; nhà
trường chưa chú trọng giáo dục về đạo đức, về giới tính, về kỹ năng sống,…
- Nguyên nhân về tổ chức – quản lý: là những nhân tố hạn chế trong hoạt động của các tổ
chức, cá nhân có chức năng, thẩm quyền trong quản lý kinh tế, quản lý cán bộ, quản lý
hành chính nhà nước ở các kĩnh vực của đời sống xã hội như thiếu trách nhiệm hay đùn
đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,…
lOMoARcPSD| 61630929
- Nguyên nhân về chính sách pháp luật: những “kẽ hở”, những bất cập của chính
sách, pháp luật có thể tác động làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ về nguồn gốc xuất hiện:
- Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống: là những nhân tố tiêu cực của môi trường
sống đã tác động ảnh hưởng đến cá nhân có thể làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân bắt nguồn từ người phạm tội: những nhân tố tiêu cực thuộc về người
phạm tội có thể làm phát sinh tội phạm.
Câu 3: Phân tích nguyên nhân từ môi trường sống?
những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống tác động đến sự hình thành nhân cách
lệch lạc của cá nhân.
Cụ thể môi trường hội vi (các tiểu môi trường nhân đang sống, giao tiếp thường
xuyên) và môi trường xã hội vĩ mô.
5. Môi trường xã hội vi mô
Tác động tiêu cực từ môi trường gia đình có thể kể đến như:
- Cha, mẹ buông lỏng quản lý, giám sát con cái;
- Cha, mẹ nuông chiều hay quá hà khắc trong giáo dục con cái;
- Cha, mẹ thiếu tôn trọng nhau, hay mâu thuẫn, đánh chửi nhau, bầu không khí căng
thẳng;
- Các thành viên gia đình có tiền án, tiền sự hoặc có những hành vi lệch lạc chuẩn mực…
Tác động tiêu cực từ môi trường nhà trường như:
- Việc học sinh có học lực yếu kém chán học trốn học, bỏ học;
- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với học sinh trong trường còn nhiều điều bất cập
(không hợp lý, không cân bằng)
- Quản lý học sinh của nhà trường lỏng lẻo thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát nên không có
biện pháp uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai trái của học sinh;
- Một số ít cán bộ, giáo viên trong nhà trường lỗi sống không lành mạnh, hành vi
lệch lạc…
Tác động tiêu cực từ môi trường nơi cá nhân làm việc
Tác động tiêu cực của mặt trái của nền kinh tế thị trường thể kể đến do tác
động của sự phân hoá giầu nghèo; sự bất bình đẳng xã hội…
Tác động tiêu cực của chính sách, pháp luật có thể là do chính sách, pháp luật của
Nhà nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều “kẽ hở” nhưng chậm được
sửa đổi, bổ sung;
Tác động tiêu cực do những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản của các tổ
chức, nhân thẩm quyền, trách nhiệm quản hành chính nhàn nước trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội
Tác động tiêu cực của các phong tục tập quán lạc hậu hoặc của phim, truyện, báo
chí, các phương tiện truyền thống khác.
6. Môi trường xã hội vĩ mô

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61630929 TỘI PHẠM HỌC Nguyễn Việt Khánh Hoà SĐT: 0915. 408.289
Email: nguyenvietkhanhhoa2020@gmail.com
VẤN ĐỀ 1: KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU CỦA TỘI PHẠM HỌC I.
Khái niệm, đối tượng nghiên cứu của tội phạm học
1. Khái niệm tội phạm học Crimen = Tội Phạm Logos = Học thuyết
 Có nhiều quan điểm khách nhau về Tội phạm học:
Theo giáo trình đại học luật cũ: Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tình hình tội
phạm các nguyên nhân của tội phạm, nhân thân người phạm tội và phương hướng cũng như
các biện pháp phòng người tội phạm trong xã hội.
Theo giáo trình Tội phạm học: Tội phạm học là nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm
nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục
đích phòng ngừa tội phạm.

1.2. Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học
Đa số các tài liệu ở nước ta đều xác định, đối tượng nghiên cứu cơ bản của tội phạm học bao gồm: - Tình hình tội phạm;
- Nguyên nhân của tội phạm; Đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của - Nhân thân
người phạm tội; Tội phạm học ??? - Phòng ngừa tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu khác:
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở các nước
khác trên thế giới tìm hiểu hiểu các kinh nghiệm quý báu của họ;
- Sự ra đời và phát triển của tội phạm học trong lịch sử; - Nạn nhân học;
- Nghiên cứu vấn đề hợp tác quốc tế trong việc đấu tranh với tình hình tội phạm…vv II.
Phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học
II.1. Nhóm phương pháp thống kê
- Thường theo số liệu về tội phạm rõ thường về số vụ phạm tội và số người phạm tội; lOMoAR cPSD| 61630929
- Sử dụng các phương pháp như: Phương pháp số tuyệt đối; số tương đối; số trung bình; số trung vị.
Phương pháp số tuyệt đối: Thực trạng về mức độ của tội phạm; không phải thông qua công thức.
Phương pháp số tương đối: Trong nghên cứu tình hình tội phạm phương pháp số tương
đối sử dụng để làm sáng tỏ: Diễn biến (động thái) của tội phạm, cơ cấu của tội phạm,
hệ số tội phạm (chỉ số tội phạm)
+ Công thức số tương đối động thái gốc xác định diễn biến (động thái) của tội phạm: xác định.
Mo : Số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc.
Mi: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm
+ Công thức số tương đối xác định cơ cấu của tội phạm: Mbp
Mbp: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng Ycc= ×100% Mtt nhóm, loại tội phạm.
Mo: Tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội.
Sd số tương đối để xác định hệ số tội phạm (Chỉ số tội phạm): Là mức độ phổ biến của tội
phạm trong dân cư, được xác định trong 10.000 hoặc 100.000 dân. hoặc hoặc
VD: Năm 2022 A xảy ra 478 vụ phạm tội, dân số là 1 triệu 400 nghìn người. Hỏi HSPT ĐP A 2022?
Phương pháp số trung bình, số trung vị: Năm Số vụ phạm tội Hiểu đơn giản: 2019 189
Thì số trung bình là: Tổng cộng các năm lại rồi 2020 190 chia 5. 2021 142 2022 153
Còn số trung vị sẽ là: trong VD trên thì là 142. 2023 300
II.2. Nhóm phương pháp xã hội học
- Phương pháp chọn mẫu;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp thực nghiệm; lOMoAR cPSD| 61630929 - Phương pháp quan sát…
VẤN ĐỀ 2: LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI PHẠM HỌC
1. Trường phái tội phạm học cổ điển (1700s – 1880)
Nhà tội phạm học tiêu biểu: Cesare Beccaric; Jeremy Bentham Nôi
của tội phạm học là Italya (ý)
- Khoảng thế kỷ 18 ở châu Âu xuất hiện “thời kỳ khai sáng” đây là giai đoạn triết học
phát triển rực rỡ và chi phối mọi vấn đề của đời sống khoa học.
- Theo chủ nghĩa triết học duy lý (duy tâm) hành vi của con người được quyết định bởi
tự do ý trí và suy nghĩ lý trí, sự tự lựa chọn của từng cá nhân. Ảnh hưởng quan điểm
này Beccaria đã cho rằng tội phạm là hành vi của con người cho nên tội phạm cũng bị
quyết định bới tự do ý trí và suy nghĩ lý trí, sự tự lựa chọn của từng cá nhân. Hay nói
cách khác nguyên nhân của tội phạm là do Cá nhân người phạm tội quyết định.
- Năm 1764 Cesare Beccaric xuất bản quyển sách tội phạm và hình phạt trong đó đề cao
vai trò phòng ngừa tội phạm của hình phạt.
Một số luận điểm đọc thêm:
- Luật pháp cần phải được sử dụng để duy trì khế ước xã hội;
- Hình phạt phải được cắn cứ hành động chứ không phải người hành động;
- Hình phạt phải dựa trên nguyên tắc phù hợp giữa niềm vui thích và sự đâu khổ;
- Hình phạt cần phải quyết định bởi chính tội phạm;
Jeremy Bentham (1748 – 1832) được gắn liền với thuyết vị lợi (thuyết thực dụng).
2. Trường phái tội phạm học thực chứng
- Trường phái tội phạm học thực chứng là giai đoạn ảnh hưởng bới chủ nghĩa thực chứng
– chủ nghĩa thực chứng là luôn quan điểm cho rằng muốn tìm hiểu một sự vật hiện
tượng, tìm ra quy luật cần sử dụng phương pháp khoa học.
a) Các thuyết sinh học Cesare Lombroso
Chủ nghĩa thực chứng và nghiên cứu về nguồn gốc loài người – là loài vượn người lOMoAR cPSD| 61630929
 Trường phái kiểu cơ thể 
Thuyết phạm tội do thừa kế
b) Thuyết tâm lý (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)
Thuyết phân tâm học: Từ 1920 đến nay
Sigmund Freud (1856 – 1939), Áo
Ông đã đưa ra nhiều khái niệm mới bản năng, bản ngã, siêu bản ngã để lý giải hành vi phạm tội của cá nhân.
Thuyết bắt chước: Từ 1890 đến nay
Gabriel Tarde (1843 – 1904), Pháp
Ông cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do cá nhân đã bắt chước hành vi của cá nhân khác
mà người đó có cơ hội quan sát.
c) Các thuyết xã hội
Thuyết rối loạn tổ chức xã hội: Émile Durkheim (1858 – 1917)
VẤN ĐỀ 3: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM I. Khái niệm
Tình hình tội phạm là thực trạng và diễn biến của tội phạm đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian xác định.
Các đặc điểm của tình hình tội phạm
- Đặc điểm về phạm vi;
- Đặc điểm về nội dung;
- Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lý và tính vận động; - Đặc điểm về tính tương đối. II.
Các thông số cơ cản của tình hình tội phạm lOMoAR cPSD| 61630929
1. Thông số về thực trạng của tội phạm
Định nghĩa thực trạng của tội phạm: Thực trạng của tội phạm là tình trạng thực tế của TP
đã xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định xét về mức độ và về tính chất.
1.1. Thực trạng về mức độ
 Tổng số các TP đã xảy ra và những người phạm tội xác định trong phạm vi về không gian
và thời gian.  Bao gồm: TP rõ và TP ẩn a) Tội phạm rõ
- Là toàn bộ số tội phạm và số lượng người phạm tội đã bị phát hiện, đã được xử lý về
hình sự và được đưa vào thống kê TP.
- Ở nước ta thường sử dụng số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Toà án để xác
định TP rõ, kết hợp với số liệu của VKS.
b) Tội phạm ẩn
- Là toàn bộ số tội phạm và số người phạm tội đã xảy ra trên thực tế nhưng không có trong
thống kê tội phạm vì không được phát hiện không được xử lý hoặc không được đưa vào thống kê tội phạm.
* Tiêu chí phân biệt TP ẩn và TP rõ là có hay không có đưa vào thống kê tội phạm
c) Chỉ số tội phạm (Hệ số tội phạm)
- Là mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư, thường xác định trong 10.000 hoặc
trong 100.000 dân. - Công thức: Trong đó:
M1: là số vụ hoặc số người phạm tội hoặc 100.000 M2: là số dân
Bên cạnh đó còn có thể nghiên cứu thông số về nạn nhân của tội phạm
1.2. Thực trạng về tính chất của Tội phạm
- Nghiên cứu về cơ cấu của tội phạm theo những tiêu chí khác nhau có thể rút ra được
những đặc điểm về tính chất tương ứng của tội phạm.
Công thức xác định cơ cấu của TP:
Mbp Mbp: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng  Ycc= Mtt ×100% nhóm, loại tội phạm. 
Mtt: Tổng số vụ hoặc tổng số người phạm tội. 2.
Thông số về diễn biến của Tội phạm 3.
Mi: Số vụ hoặc số người phạm tội trong từng năm Mi 4. Ydb=Mo ×100% xác định. lOMoAR cPSD| 61630929 5.
Mo: Số vụ hoặc số người phạm tội trong năm gốc.
VẤN ĐỀ 4: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM
Khoa pháp luật hình sự
TS. Gvc. Lý Văn Quyền
I. Khái niệm và phân loại nguyên nhân của tội phạm 1. Định nghĩa:
- Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa chúng
đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội.
- Quan điểm này khác với quan điểm phổ biến hiện nay của hầu hết các tác giả nghiên
cứu về tội phạm học ở Việt Nam. Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì những nhân tố
tác động thuộc về bên trong người phạm tội được coi là nguyên nhân của tội phạm
còn những nhân tố tác động bên ngoài được coi là điều kiện của tội phạm (Xem Viện
nghiên cứu Nhà nước và pháp luật tội phạm học Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nxb. Công an nhân dân, 2000, tr 197 và xem Nguyễn Xuân Yem, Tội phạm
học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, 2021, tr 165).

Trong giáo trình đại học Luật Hà Nội không phân biệt NGUYÊN NHÂNĐIỀU KIỆN
Nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm cần xác định các nhân tố đó và cơ chế tác động của
những nhân tố này. Khi tìm hiểu tại sao con người lại thực hiện tội phạm và cố gắng tìm ra
câu trả lời cho thấy không bỗng chốc một người thực hiện tội phạm mà việc thực hiện tội phạm
của người đó là kết quả của một quá trình tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường.
Quá trình hình thành hành vi phạm tội là sự tác động lẫn nhau của các nhân tố cá nhân bên
trong và các nhân tố của môi trường bên ngoài làm phát sinh hành vi phạm tội.
Quá trình này gắn cá nhân với môi trường trong sự tác động lẫn nhau và trong trạng thái động
gồm 3 giai đoạn như sau:
- Hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân là kết quả của quá trình xã hội hoá dưới sự
ảnh hưởng của các nhân tố môi trường xấu và sự tiếp nhận những tác động của môi
trường để hình thành nhân cách lệch lạc là quá trình từ thụ động đến chủ động tức là vai
trò của các đặc điểm sinh học của cá nhân giảm dần và thay vào đó là sự gia tăng vai trò
đặc điểm xã hội của chủ thể;
- Hình thành ý định phạm tội (sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân có nhân cách lệch lạc
với các tình huống cụ thể làm nảy sinh ý định phạm tội);
- Thực hiện tội phạm bao gồm toàn bộ quá trình chủ thể thực hiện hành vi khách quan
cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra (sự tác động qua lại
giữa cá nhân và hoàn cảnh nơi phạm tội xảy ra).
Có thể mô tả những điều đã trình bày trên thông qua sơ đồ (Xem trong giáo trình TPH, Tr 129) lOMoAR cPSD| 61630929
2. Phân loại nguyên nhân của tội phạm
Căn cứ vào mức độ tác động:
- Nguyên nhân chủ yếu: Là những nhân tố đóng vai trò quyết định hay chủ chốt trong
việc phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiến tỷ trọng lớn trong tổng số các nhân
tố làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân thứ yếu: Là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc phát sinh
tội phạm và những nhân tố này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ vào lĩnh vực hình thành:
- Nguyên nhân về kinh tế - xã hội: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vực kinh tế - xã
hội có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất nghiệp; tình trạng đói nghèo,…
- Nguyên nhân về văn hoá – giáo dục: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vự văn hoá –
giáo dục có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất học, bỏ học; nhà
trường chưa chú trọng giáo dục về đạo đức, về giới tính, về kỹ năng sống,…
- Nguyên nhân về tổ chức – quản lý: là những nhân tố hạn chế trong hoạt động của các tổ
chức, cá nhân có chức năng, thẩm quyền trong quản lý kinh tế, quản lý cán bộ, quản lý
hành chính nhà nước ở các kĩnh vực của đời sống xã hội như thiếu trách nhiệm hay đùn
đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,…
- Nguyên nhân về chính sách – pháp luật: là những “kẽ hở”, những bất cập của chính
sách, pháp luật có thể tác động làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ về nguồn gốc xuất hiện:
- Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống: là những nhân tố tiêu cực của môi trường
sống đã tác động ảnh hưởng đến cá nhân có thể làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân bắt nguồn từ người phạm tội: là những nhân tố tiêu cực thuộc về người
phạm tội có thể làm phát sinh tội phạm. II. Nguyên nhân từ môi trường sống
Là những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống tác động đến sự hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân.
Cụ thể là môi trường xã hội vi mô (các tiểu môi trường mà cá nhân đang sống, giao tiếp thường
xuyên) và môi trường xã hội vĩ mô.
1. Môi trường xã hội vi mô
Tác động tiêu cực từ môi trường gia đình có thể kể đến như:
- Cha, mẹ buông lỏng quản lý, giám sát con cái;
- Cha, mẹ nuông chiều hay quá hà khắc trong giáo dục con cái;
- Cha, mẹ thiếu tôn trọng nhau, hay mâu thuẫn, đánh chửi nhau, bầu không khí căng thẳng;
- Các thành viên gia đình có tiền án, tiền sự hoặc có những hành vi lệch lạc chuẩn mực…
Tác động tiêu cực từ môi trường nhà trường như:
- Việc học sinh có học lực yếu kém chán học trốn học, bỏ học; lOMoAR cPSD| 61630929
- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với học sinh trong trường còn nhiều điều bất cập
(không hợp lý, không cân bằng)
- Quản lý học sinh của nhà trường lỏng lẻo thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát nên không có
biện pháp uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai trái của học sinh;
- Một số ít cán bộ, giáo viên trong nhà trường có lỗi sống không lành mạnh, có hành vi lệch lạc…
Tác động tiêu cực từ môi trường nơi cá nhân làm việc
Tác động tiêu cực của mặt trái của nền kinh tế thị trường có thể kể đến là do tác
động của sự phân hoá giầu nghèo; sự bất bình đẳng xã hội…
Tác động tiêu cực của chính sách, pháp luật có thể là do chính sách, pháp luật của
Nhà nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều “kẽ hở” nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung;
Tác động tiêu cực do những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý của các tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý hành chính nhàn nước trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội

Tác động tiêu cực của các phong tục tập quán lạc hậu hoặc của phim, truyện, báo
chí, các phương tiện truyền thống khác. III.
Nguyên nhân từ phía người phạm tội
( các tội người dưới 18 tuổi thường gặp: Trộm cắp, gây rối trật tự công cộng, tội phạm về ma tuý)
- Nhóm dầu hiệu sinh học của người phạm tội có thể ảnh hưởng đến việc phạm tội như:
tuổi, giới tính, sức khỏe...
- Nhóm dấu hiệu tâm lí của người phạm tội có thể ảnh hưởng đến việc phạm tội như: tính
hận thù hạy tính hung hăng, tỉnh bốc đồng; tính ích kỉ, đố kị, tính tham lam hay hám lợi;
tính ham chơi, lười lao động và học tập, có nhiều sở thích thói quen xấu khác (lạm dụng
rượu, lạm dụng ma túy, ham mê cờ bạc, thích xem phim khiêu dâm trẻ em...)
- Nhóm dấu hiệu văn hóa - xã hội của người phạm tội có thể ảnh hưởng đến việc phạm
tội như: trình độ văn hóa, trình độ nghiệp vụ thấp; nghề nghiệp không có, việc làm
không ổn định hoặc tuy ôn định nhưng là lao động giản đơn thu nhập thấp: tình trạng hôn nhân...
IV. Tình huống phạm tội 1. Định nghĩa:
Là cơ hội hoặc hoàn cảnh cụ thể đã trực tiếp ảnh hưởng đến việc phát sinh tội phạm của người
phạm tôi vào thời điểm nhất định.
2. Phân loại tình huống
Căn cứ vào mức độ phức tạp của tình huống và khá năng giải quyết của chủ thể có thể
phân chia thành ba nhóm sau:
+ Tình huống căng thẳng, phức tạp, kéo dài làm chủ thể cảm thấy bế tắc, không lối thoát.
Ví dụ: Tình huống người chồng thường xuyên đánh đập người vợ đến thời điểm nào đó
người vợ không kiểm chế được đã thực hiện hành vì giết chết người chồng. + Tình lOMoAR cPSD| 61630929
huống dễ dàng thuận lợi để tài sản có giá trị trong những điều kiện bất lợi hay không có sự bảo vệ.
Ví dụ: A tình cờ đi ngang qua nhà cổng nhà không khỏa, trong sân để xe máy SH, chìa
khóa vẫn cắm ở khóa nên A đã nảy sinh ý định trộm cắp và đã vào sân dắt chiếc xe SH
ra khỏi cổng nhà nổ máy phóng xe đi.
+ Tình huống diễn ra nhanh chóng, chớp nhoáng.
Ví dụ: A đi công tác về bất ngờ chứng kiến cảnh vợ và B là hàng xóm đang ngoại tỉnh
trong nhà đã không kiểm chế được và thực hiện hành vi giết B.
Căn cứ vào nguồn gốc xuất hiện của tình huống có thể phân thành hai nhóm sau:
+ Tình huống do thảm họa tự nhiên như do bão, lũ lụt, động đất;
+ Tình huống do con người tạo ra như thành lập công ty ma để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
3. Vai trò của tình huống
Trong một số trường hợp tình huống cụ thể là nguyên nhân chủ yếu của tội phạm và đã tác
động chi phối đến chủ thể làm nảy sinh động cơ, ý định phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội cụ thể:
- Trong những trường hợp khác tình huống tác động đến chủ thể đã có sẵn động cơ, ý định
phạm tội tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể thực hiện tội phạm dễ dàng và nhanh chóng.
Trường hợp này nhân tố tiêu cực thuộc về nhân cách lệch lạc của người phạm tội là
nguyên nhân chủ yếu còn tình huống hay hoàn cảnh chỉ là thứ yếu đóng vai trò như là cơ hội phạm tội. V.
Vai trò của nạn nhân trong cơ chế của hành vi phạm tội
Vai trò của nạn nhân của tội phạm được thể hiện qua xử xự của họ trong từng tình huống cụ
thể, ở quá trình người phạm tội đánh giá tình huống cũng như cân nhắc đặc điểm nhân thân
của nạn nhân trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội.
Những nhân tố thuộc về nạn nhân làm phát sinh hoặc thúc đây tội phạm được thực hiện như:
- Sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế; - Khả năng tự vệ kém;
- Tính phô trương tài sản hoặc không cần thận, sơ hở trong bảo vệ tài sản; -
Tỉnh hám lợi hoặc bội bạc:
- Sự dễ dãi hoặc quá tự tin với an toàn của bản thân; - Thói quen ăn mặc khêu gợi...
Nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong cơ chế của hành vi phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt là vai trò của các cá nhân, tổ chức có thể hạn chế
loại trừ các nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Đó là các cá nhân, nhóm người trong xã
hội nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường khả năng tự bảo vệ tài sản và bảo vệ tính mạng. sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của bản thân. lOMoAR cPSD| 61630929
VẤN ĐỀ 5: DỰ BÁO TỘI PHẠM VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM
Khoa pháp luật hình sự
TS. Gvc. Lý Văn Quyền I. Dự báo tội phạm
1. Khái niệm dự báo tội phạm
- Là toàn bộ các hoạt động phân tích, đánh giá để phán đoán tội phạm có thể xảy ra trong
tương lai, trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định.
- Dự báo tội phạm thực chất là dự báo xu hướng vận động và mức độ vận động của tội
phạm trong tương lai; thay đổi về cơ cấu và tính chất đặc trưng của tội phạm; thay đổi
những nhân tố tác động đến việc hình thành và phát sinh tội phạm.
2. Các căn cứ dự báo tội phạm
- Số liệu về tình hình tội phạm trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định. Với
khoảng thời gian ít nhất là 5 năm thì mới có thể xác định được quy luật, khuynh hướng
phát triển của tội phạm, hạn chế sai sót trong dự báo;
- Những kết quả nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm;
- Sự thay đổi về chính sách kinh tế, xã hội và sự thay đổi về pháp luật;
- Kết quả hoạt động phòng chống tội phạm của các cơ quan chức năng trong những năm qua;
- Thông tin về văn hoá, ý thức pháp luật và mức độ tự giác chấp hành pháp luật của người dân;
- Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội tác động ảnh hưởng đến tình hình tội phạm như sự
phân hóa giầu nghèo trong xã hội; tình trạng thất nghiệp, thất học; tệ nạn mại dâm, ma
túy, cờ bạc; sự gia tăng dân số...
- Các nhân tố khác ở bên ngoài nước ta tác động ảnh hưởng đến tội phạm như khủng
hoảng suy thoái kinh tế thế giới;
- Sự hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm đang nghiên cứu như tội phạm ma tuý, mua bán người…
3. Các loại dự báo
Theo thời gian dự báo:
- Dự báo ngắn hạn (vào dịp các ngày nghỉ tết nguyên đán, mùa lễ hội chùa Hương, nghỉ hè của học sinh,…)
- Dự báo trung hạn (3 – 5 năm)
- Dự báo dài hạn (10 – 20 năm) Theo đối tượng dự báo:
- Dự báo tình hình tội phạm của nhóm tội phạm cụ thể hoặc của tội phạm cụ thể có thể
xảy ra trong đơn vị không gian và thời gian nhất định.
- Dự báo tội phạm cả biệt dự bảo khả năng thực hiện tội phạm của cá nhân hoặc nhóm
người trong tương lai ở những địa điểm, thời gian và nạn nhân nhất định để chủ động
ngăn chặn tội phạm kịp thời.
4. Các phương pháp dự báo 4.1.
Phương pháp ngoại suy: lOMoAR cPSD| 61630929
- Là dựa trên những số liệu đã có vẻ một đối tượng được quan tâm để đưa ra suy đoán
hoặc dự báo về hàn vi của đối tượng đó trong tương lai.
- Phương pháp này chỉ nên sử dụng để dự báo tội phạm ngắn hạn và đối với những đối
tượng dự báo tương đối ổn định bởi vì phương pháp này dựa trên giá định là trong tương
lai tình huống sẽ vẫn diễn ra như trong quá khứ hoặc khi các phương pháp khác có thể
bị ảnh hưởng sai lệch của người dự báo.
4.2. Phương pháp mô tả hình hoá
- Nghiên cứu về hiện tương tôi phạm trong tương lai thông qua việc xây dựng các mô
hình hoạt động của nó.
- Các mô hình được xây dựng để mô tả tôi phạm trong tương lai là các mô hình vật lý hoặc mô hình logic.
Các bước xây dựng mô hình được thực hiện như sau:
- Nghiên cứu về tỉnh hình tội phạm;
- Phân tích tính chất của tội phạm được dự báo;
- Phán đoán tội phạm trong tương lai trên cơ sở phân tich đánh giá các nhân tố tác động
ảnh hưởng đến tội phạm trong tương lai để đưa ra kết quả dự báo.
4.3. Phương pháp chuyên gia
- Là phương pháp dự bảo đưa ra những dự bảo về một hiện tượng nào đó dựa trên việc
xử lý tổng hợp hệ thống các đánh giá (ý kiến) của các chuyên gia được mời.
Phương pháp này được tiến hành như sau:
- Thành lập nhóm nghiên cứu dự báo tội phạm thường là các điều tra viên, kiểm sát viên,
thẩm phán, các nhà hình sự học và các nhà tội phạm học;
- Trưng cầu ý kiến của các chuyên gia;
- Xử lý ý kiến của các chuyên gia để đưa ra kết quả dự báo. II.
Phòng ngừa tội phạm
1. Khái niệm phòng ngừa tội phạm 1.1. Định nghĩa:
Xét về ngôn ngữ được hiểu là hoạt động nhằm không cho tội phạm xảy ra. Để thực hiện mục
đích này đòi hỏi hoạt động phòng ngừa tội phạm phải loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm
qua việc loại trừ hoặc làm thay đổi hoặc vô hiệu hóa tác động của những thành tố tạo thành
nguyên nhân của tội phạm. Hoạt động này đòi hỏi phải là hoạt động có tính chủ động và tổng
hợp của Nhà nước, của cả xã hội và của mọi công dân.
Như vậy, có thể định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có tính chủ động và tổng hợp
của Nhà nước, của xã hội và của mọi công dân hướng tới việc hạn chế, ngăn ngừa sự hình
thành các thành tố tạo thành nguyên nhân của tội phạm hoặc làm cho các thành tổ này không
phát huy được tác dụng để loại trừ dần nguyên nhân của tội phạm, ngăn ngừa tội phạm xảy ra”.
Đặc điểm: lOMoAR cPSD| 61630929 - Mang tính chủ động - Mang tính tổng hợp
- Do hệ thống các chủ thể thực hiện
- Mục đích: Ngăn không cho tội phạm xảy ra, 1.2. Mục đích và nội dung của phòng
ngừa tội phạm Mục đích:
Mục đích của phòng ngừa tội phạm có các mức độ khác nhau từ kìm chế sự gia tăng của tội
phạm, hạn chế dần mức độ, tính chất nghiêm trọng của tội phạm đến ngăn ngừa tội phạm xảy ra.
Để có thể đạt được mục đích này đòi hỏi phải đưa ra được hệ thống các biện pháp phòng ngừa
trên cơ sở xác định đúng nguyên nhân của tội phạm và phù hợp với kiện thực tế cho phép đồng
thời phải triển khai thực hiện các biện pháp này một cách đồng bộ và hợp lí.  Nội dung:
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm là các biện pháp hướng tới các thành tố có thể tạo thành
nguyên nhân của tội phạm. Do vậy, các biện pháp phòng ngừa tội phạm cần hướng tới những
người có nguy cơ phạm tội; những người hoặc tổ chức có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội
phạm và các biện pháp hướng tới khả năng phát sinh tình huống tiêu cực của môi trường.
1.3. Phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm
1.3.1. Xét về tính chất tác động có thể phân loại các biện pháp phòng ngừa tội phạm thành 2 nhóm sau:
Các biện pháp cơ bản - gián tiếp như:
- Phát triển kinh tế, ổn định xã hội, khắc phục những hạn như thất nghiệp, thất học, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp dân cư.
- Các biện pháp lành mạnh hóa môi trường giáo dục, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao
ý thức tôn trọng pháp luật...
Các biện pháp phòng ngừa trực tiếp:
- Là các biện pháp hướng tới các “nguy cơ phạm tội”, tác động đến các thành tố tạo thành
nguyên nhân của tội phạm với nội dung cụ thể là hạn chế, triệt tiêu hoặc vô hiệu hóa các thành tố này. Bao gồm:
+ Các biện pháp tăng cường hiệu quả quản lí hành chính nhà nước trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội;
+ Các biện pháp tăng cường quản lí giám sát các đối tượng có nguy cơ phạm tội hay phạm tội lại;
+ Các biện pháp cảnh báo, hướng dẫn tránh trở thành nạn nhân của tội phạm.
1.3.2. Xét về nội dung tác động các biện pháp phòng ngừa có thể phân thành:
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về kinh tế - xã hội;
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về văn hóa giáo dục; - Các biện pháp
phòng ngừa tội phạm thuộc về tổ chức quản lí; -
Các biện pháp phòng ngừa tội phạm thuộc về pháp luật. lOMoAR cPSD| 61630929
1.3.3. Xét về phạm vi tác động các biện pháp phòng ngừa tội phạm phân thành:
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung;
- Các biện pháp phòng ngừa nhóm tội phạm cụ thể;
- Các biện pháp phòng ngừa tội phạm do từng nhóm chủ thể thực hiện; - Các biện
pháp phòng ngừa loại tội cụ thể.
2. Phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm
- Phòng ngừa tội phạm là các hoạt động nhằm không để cho tội phạm xảy ra.
- Đấu tranh chống tội phạm là các hoạt động phát hiện và xử lí tội phạm để bảo vệ xã hội
và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm. Hoạt động này bao gồm: phát hiện điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
- Hai hoạt động này không phải độc lập hoàn toàn với nhau mà có mối quan hệ nhất định.
Phòng tội phạm và chống tội phạm là hai mặt không thể tách rời của một thể thống nhất.
- Do vậy, chúng ta có thể nói ghép hai hoạt động này với là phòng, chống tội phạm. 3.
Phòng ngừa tội phạm và kiểm soát tội phạm
- Kiểm soát tội phạm là bộ phận của kiểm soát xã hội hay còn gọi kiểm soát xã hội theo pháp luật hình sự.
- Kiểm soát xã hội được hiểu là cơ chế điều chỉnh hành vi con người theo chuẩn mực đã
được xã hội xác lập để thiết lập và duy trì trật tự xã hội.
- Chuẩn mực xã hội tạo ra “khuôn mẫu” cho hành vi con người và đòi hỏi mỗi thành viên xã hội phải tuân theo.
- Để đảm bảo sự tuân theo chuẩn mực xã hội cần phải sử dụng các biện pháp kiểm soát
khác nhau. Trong đó có biện pháp kiểm soát theo hướng tạo điều kiện cho hành vi phù
hợp chuẩn mực và biện pháp kiểm soát theo hướng khuyến khích hành vi phù hợp chuẩn
mực và biện pháp kìm chế hành vi lệch chuẩn (kiểm soát phản ứng tiêu cực).
- Kiểm soát tội phạm là bộ phận kiểm soát phản ứng tiêu cực, có mục đích khuôn hành vi
theo các chuẩn mực xã hội trong lĩnh vực chuẩn mực xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ. Kiểm soát tội phạm được thực hiện thông qua việc quy định những hành vi vi phạm
pháp luật là tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi phạm tội buộc chủ thể
chấp hành chế tài hình sự.
- Kiểm soát tội phạm tuy có nội dung khác với phòng ngừa tội phạm nhưng có quan hệ
chặt chẽ với hoạt động này. Kiểm soát tội phạm không chỉ trực tiếp ngăn chặn không
cho người phạm tội tiếp tục phạm tội cũng như nhằm điều chỉnh hành vi họ trong tương
lai cho phù hợp với các chuẩn mực pháp luật mà còn tác động răn đe, giáo dục đối với
những người có nguy cơ phạm tội và đối với các thành viên khác trong xã hội nói chung.
4. Các định hướng phòng ngừa tội phạm
4.1. Giáo dục con người, xây dựng môi trường xã hội có tính giáo dục.
- Phẩm chất tâm lí tiêu cực của con người là một trong hai thành tố tương tác tạo thành
nguyên nhân của tội phạm.
- Các biện pháp phòng ngừa thuộc định hướng này nhằm phục những hạn chế trong hoạt
động giáo dục trong các môi trường khác nhau và khắc phục những khiếm khuyết ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả của giáo dục xã hội cũng như hạn chế việc tu dưỡng của cá nhân. lOMoAR cPSD| 61630929
4.2. Phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục mặt trái của quá trình này.
- Đề xuất ưu tiên thực hiện một số nhiệm vụ kinh tế - xã hội có liên quan trực tiếp đến
nguyên nhân của tội phạm;
- Đề xuất các biện pháp hạn chế những ảnh hưởng xấu - “kẽ hở” của các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
4.3. Chống tội phạm, xử lí phạm.
- Các biện pháp ở định hướng này nhằm nâng cao hiệu quả chống tội phạm và vi phạm.
- Khắc phục các yếu kém trong quản lí nhà nước ở các lĩnh vực.
- Cụ thể là các biện pháp hoàn thiện pháp luật; hoàn thiện bộ máy tổ chức, nâng cao năng
lực và đạo đức cán bộ, công chức; hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra...
4.4. Phòng ngừa tội phạm từ phía nạn nhân và công dân nói chung.
- Các biện pháp này nhằm khắc phục tình trạng vô tạo điều kiện cho việc phạm tội của
người khác đối với chính mình như loại bỏ thói quen ăn mặc khiêu gợi, hành vi thể hiện
sự dễ dãi hoặc khiêu khích.
- Tăng cường các biện pháp làm khó hơn cho việc thực hiện tội phạm để tự bảo vệ trước
các hành vi phạm tội như khi đi ra khỏi nhà nhớ đóng, chốt tất cả các cửa sổ và đóng
khóa của ra vào cẩn thận bằng khóa tốt chống trộm.
- Giáo dục ý thức trách nhiệm trong đấu tranh với tội phạm và vi phạm cho mọi công dân.
5. Các chủ thể phòng ngừa tội phạm
5.1. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các hoạt động quản lí hành chính nhà
nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm không làm phát sinh vi phạm và tội phạm.
5.2. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong đấu tranh chống tội phạm.
5.3. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc kiểm tra giám sát.
5.4. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc chỉ đạo chống những nhóm tội nhất định.
5.5. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc phát triển kinh tế - xã hội, trong đó
có nhiêm vụ khắc phục những “kẽ hở” của các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
5.6. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong công tác giáo dục, trong xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh.
5.7. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm trong việc tuyên truyền phổ biến pháp luật và
5.8. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tự bảo vệ mình trước nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm.
THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 1
Câu 1. Phân tích khái niệm Tội phạm học theo quan điểm của trường ta.
Ở Việt Nam, trong các giáo trình hoăc sách về Tội phạm học, định nghĩa về TPH được đưa ra
tương đối thống nhất, trong đó nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu của TPH là tội phạm và người
phạm tội; nguyên nhân của tội phạm và biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Theo đó thì có nhiều quan điểm khách nhau về Tội phạm học: lOMoAR cPSD| 61630929
- Theo giáo trình đại học luật cũ: Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu tình hình
tội phạm các nguyên nhân của tội phạm, nhân thân người phạm tội và phương hướng
cũng như các biện pháp phòng người tội phạm trong xã hội.
- Theo giáo trình Tội phạm học của trường ta: Tội phạm học là nghàn khoa học liên
ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm (hiện thực), nguyên nhân của tội phạm,
kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
Trong tất cả các định nghĩa khách nhau về TPH đều khảng định TPH là đối tượng nghiên cứu
của TPH. TP ở đây đều có nghĩa là những hành vi bị coi là TP đã được thực hiện trên thực tế,
vì vậy cũng có thể gọi là tội phạm hiện thực. Tội phạm hiên thực được nghiên cứu từ góc độ
xã hội học như một hiện tượng xã hội số lớn và được xem như một bộ phận hiện thực là để có
thẻ đánh giá được trạng thái của bộ phận hiện thực là để có thể đánh giá được trạng thái của
bộ phận thực tại xã hội này mà tìm cách thay đổi theo hướng tích cực.
Các tác giả đã có những cách thể hiện khác nhau đề cập một đối tượng nghiên của tôi phạm
học là kiểm soát tội phạm. Các nội dung được đề cập sau đây đều thuộc nội dung của kiểm
soát tội phạm: "... các khía cạnh pháp lí và sự kiểm soát ...";"... các biện pháp và cách thức
mà các Luật cơ quan nhà nước phản ứng trước sự xảy ra của các hành vi phạm tội"; "... sự
kiểm soát của các tác động xã hội bao gồm cả các khả năng xử lí đối với người phạm tội và
tác dụng của hình phạt..."; “... việc ngăn chặn hành vi phạm tội cũng như việc xử lí những thì
người phạm tội...”. “Biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm"
được đề cập nhiều trong
các tài liệu ở Việt Nam như là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học cũng có nội dung rất
gần với kiểm soát tội phạm vì chúng cũng bao gồm những biện pháp phản ứng của Nhà nước
đối với tội phạm hiện thực. Đó là những biện pháp đấu tranh chống tội phạm mang tính phòng
ngừa, như biện pháp - đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm bằng pháp luật hình sự và thông
qua các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và cơ quan thi hành án (gọi chung
là các cơ quan kiểm soát tội phạm).
Những phân tích trên cho thấy đã có đủ cơ sở thực tiễn khoa học để khẳng định tội phạm học
có đối tượng nghiên cứu độc lập, đó là tội phạm hiện thực với ý nghĩa là hiện tượng xã hội số
lớn và các hiện tượng, quá trình liên quan trực tiếp đến tội phạm hiện thực thuộc về nguyên
nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm thể hiện sự phản ứng xã hội đối với tội
phạm hiện thực. Tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội
phạm hiện thực cũng có thể được coi như đối tượng nghiên cứu cụ thể hay bộ phận của tổng
thể đối tượng nghiên cứu của tội phạm học mà tiên thuộc về nó là hiện thực xã hội bao quanh
các hiện tượng xã hội là tội phạm. Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một số định nghĩa về tội phạm học đã nêu đã đề cập đến tính mục đích của tội phạm
học. Tội phạm học nghiên cứu tội phạm hiện thực, nguyên nhân của tội phạm hiện thực và
kiểm soát tội phạm hiện thực là nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm. Lịch sử hình thành và
phát triển tội phạm học đã cho thấy, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các đối tượng
nghiên cứu của tội phạm học luôn hướng tới và phục vụ cho mục đích phòng ngừa tội phạm. lOMoAR cPSD| 61630929
Những viện dẫn và phân tích nêu trên cũng đã làm rõ những đặc điểm khoa học của tội phạm
học. Tội phạm học không phải là khoa học đơn ngành mà là khoa học liên ngành và là khoa
học thực nghiệm. Những tri thức khoa học hợp thành tội phạm học được đúc kết từ các kết
quả nghiên cứu - là những kinh nghiệm từ quan sát, tìm hiểu về tội phạm trong thực tế như là
hiện tượng xã hội, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm - không thể không dựa
vào các ngành khoa học thực nghiệm liên quan đến con người và xã hội, đặc biệt là tâm lí học
và xã hội học. Đúng như một học giả đã khẳng định: Tội phạm học không thể xuất hiện mà
không có các khoa học liên quan.
Tóm lại, định nghĩa nêu trên đã bao quát các đặc điểm cơ bản của tội phạm học. Thứ nhất
đặc điểm về đối tượng nghiên cứu độc lập của tội phạm học, bao gồm tội phạm hiện thực,
nguyên 7 nhân của tội phạm hiện thực và kiểm soát tội phạm hiện thực; Thứ hai là đặc điểm
về khoa học liên ngành của tội phạm học; Thứ ba là đặc điểm về khoa học thực nghiệm hay
cũng có thể gọi là đặc điểm về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của tội phạm học. Thứ
là đặc điểm về mục đích phòng ngừa tội phạm của tội phạm học. Đây là những đặc điểm để
phân biệt tội phạm học với các ngành khoa học khác, đặc biệt là các khoa học có liên quan đến tội phạm.
Câu 2. Trình bày các phương pháp nghiên cứu của Tội phạm học. Trang 82 giáo trình
Có nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
1. Phương pháp tiếp cận để thu thập dữ liệu
- Tiếp cận định lượng và tiếp cận định tính
- Tiếp cận thực nghiệm và tiếp cận quan sát - Tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận.
2. Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản -
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống - Chọn mẫu thuận tiện - Chọn mẫu phán đoán - Chọn mẫu tự nguyện
3. Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu tội phạm học thường áp dụng các phương pháp thu thập dữ liệu chính sau:
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp quan sát có tham gia
- Phương pháp điều tra bằng hỏi – trả lời(gồm: Điều tra bằng bảng hỏi; phỏng vấn và điều tra tự thuật)
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp
- Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu
- Phương pháp phỏng vấn - Điều tra tự thuật
4. Phương pháp xử lý dữ liệu
5. Phương pháp kiểm chứng giả thuyết lOMoAR cPSD| 61630929
Câu 3. Theo em đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của Tội phạm học là đối tượng
nào. (theo trường là phòng ngừa tội phạm)
Nguyên nhân của Tội phạm là đối tượng quan trọng nhất. Bởi vì:
Quá trình nghiên cứu Tội phạm luôn gắn liền với quá trình tìm tòi phát hiện ra nguyên nhân
phạm tội. Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại trên nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Do vậy nó có mối quan hệ và tác động qua lại với các hiện tượng
quá trình xã hội khác mang tính chất tiêu cực và cả những hiện tượng xã hội tích cực. Để
phòng ngừa tội phạm, tội phạm học nghiên cứu làm sáng tỏ những hiện tượng, quá trình xã
hội làm nảy sinh và quy định tội phạm như là hậu quả của các hiện tượng, quá trình đó.
Nếu không xác định được nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm thì không thể đưa
ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm, trong tội phạm học, nguyên nhân của tỉnh hình phạm
tội được hiểu là tổng hợp các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội, tổ
chức tiêu cực trong tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau, làm phát sinh, quyết định tình
hình tội phạm. Các hiện tượng xã hội này là phổ biến và có sự lặp đi, lặp lại nhiều lần trong
các mối quan hệ xã hội luôn luôn thay đổi. Còn điều kiện của tình hình tội phạm là những
thiếu sót cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa... tự nó không làm phát
sinh ra tội phạm mà chỉ có tác dụng thúc đẩy quá trình phát sinh tình hình tội phạm.
Những nguyên nhân của tình hình tội phạm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tư tưởng, chính
trị, văn hóa, giáo dục... dẫn đến sự hình thành các quan điểm cá nhân mang tính chống đối xã
hội và từ quan điểm cá nhân này sẽ dẫn đến hành vi phạm tội. Tội phạm học còn tìm ra các
điều kiện, các hiện tượng có vai trò ngăn ngừa sự ảnh hưởng của các nguyên nhân và điều
kiện của tội phạm và khám phá ra cơ chế tác động qua lại giữa nguyên nhân và điều kiện với
nhau dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.
Giữa tội phạm và các hành vi tiêu cực khác không phải là tội phạm có mối quan hệ qua lại
khăng khít với nhau. Vì Vậy, tội phạm học cần phải nghiên cứu các hiện tượng chống đối xã
hội có ảnh hưởng đến tội phạm và đưa ra các biện pháp, phòng ngừa chúng. Có hai quan điểm
• Giữa các đối tượng nghiên cứu của TPH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
• Phòng ngừa tội phạm là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của TPH Câu 4.
Khảng định đúng sai? Giải thích.
1. Tội phạm nghiên cứu trong Tội phạm học với tư cách là một hiện tượng mang tính
chất cá nhân và xã hội. Nhận định: Đúng
Giải thích: Tội phạm học là nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm
(hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm. lOMoAR cPSD| 61630929
Với quan điểm cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do tự do ý chí, sự lựa chọn của từng cá
nhân, tội phạm học cổ điển vẫn chưa làm rõ vai trò của môi trường đối với người phạm tội,
mỗi quan hệ giữa người phạm tội với môi trường sống, những trường hợp cụ thể dẫn đến việc
một người phạm tội. Hay nói cách khác, tội phạm học cổ điển mới chỉ nghiên cứu tội phạm
với tư cách là hiện tượng cá nhân mà chưa nghiên cứu một cách đầy đủ tội phạm như là hiện
tượng cá nhân và xã hội.
2. Tội phạm là khoa học thực nghiệm, vì vậy sử dụng phương pháp thực nghiệm là chủ yếu. Nhận định: Sai
Giải thích: Tội phạm học là nghàn khoa học liên ngành, thực nghiệm nghiên cứu về tội phạm
(hiện thực), nguyên nhân của tội phạm, kiểm soát tội phạm nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
Không tuyệt đối hoá phương pháp thực nghiệm mà có thể kết hợp một số phương pháp khác
như: Phương pháp chọn mẫu; Phương pháp điều tra xã hội học; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp quan sát…
3. Tội phạm học có mối quan hệ mật thiết nhất với Luật hình sự. Nhận định: Sai
Giải thích: Cả TPH và KHLHS đều cùng nghiên cứu về tội phạm, tuy nhiên 2 ngành khoa
học này độc lập với nhau vì có đối tượng nghiên cứu khác nhau và có mối quan hệ tương tác,
liên kết chặt chẽ với nhau. Do đó, TPH không phải là một bộ phận của KH LHS. Vi:
- KH LHS nghiên cứu tội phạm và hình phạt bao gồm các vấn đề cơ bản như đặc điểm
chung của các hành vi bị coi là tội phạm, các dấu hiệu của từng tội phạm cụ thể, hệ
thống hình phạt và hình phạt quy định cho từng tội phạm cụ thể cũng như kỹ thuật quy
định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự, phục vụ cho việc quy định của luật hình
sự, giải thích và nhận thức đúng quy định của luật để áp dụng.
- TPH cũng là khoa học nghiên cứu về tội phạm nhưng lại nghiên cứu về tội phạm như
hiện tượng xã hội số lớn, nguyên nhân của tội phạm và kiểm soát tội phạm mà hiện
tượng này đã được LHS quy định là tội phạm. Đồng thời TPH cũng nghiên cứu hiệu
quả thực tế của LHS với ý nghĩa là công cụ kiểm soát tội phạm, hiệu quả, tác động
phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hình phạt với nghĩa là những biện pháp
phản ứng đối với tội phạm.
4. Quá trình nghiên cứu thực nghiệm luôn bắt đầu bằng sự so sánh. Nhận định: Sai
Giải thích: Đầu tiên phải xác định đối tượng, ta chỉ so sánh sau khi xác định được các đối tượng.
THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 4
Câu 1: Trình bày khái niệm nguyên nhân của tội phạm? lOMoAR cPSD| 61630929
Định nghĩa: Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa
chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội. Đặc điểm:
- Mang tích chất tổ hợp cả môi trường và người phạm tội - Mang tính tương tác - Mang tính lâu dài
Trong giáo trình đại học Luật Hà Nội không phân biệt NGUYÊN NHÂN và ĐIỀU KIỆN
Quá trình này gắn cá nhân với môi trường trong sự tác động lẫn nhau và trong trạng thái động
gồm 3 giai đoạn như sau:
- Hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân là kết quả của quá trình xã hội hoá dưới sự
ảnh hưởng của các nhân tố môi trường xấu và sự tiếp nhận những tác động của môi
trường để hình thành nhân cách lệch lạc là quá trình từ thụ động đến chủ động tức là vai
trò của các đặc điểm sinh học của cá nhân giảm dần và thay vào đó là sự gia tăng vai trò
đặc điểm xã hội của chủ thể;
- Hình thành ý định phạm tội (sự tác động lẫn nhau giữa cá nhân có nhân cách lệch lạc
với các tình huống cụ thể làm nảy sinh ý định phạm tội);
- Thực hiện tội phạm bao gồm toàn bộ quá trình chủ thể thực hiện hành vi khách quan
cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra (sự tác động qua lại
giữa cá nhân và hoàn cảnh nơi phạm tội xảy ra).
Câu 2: Phân loại nguyên nhân của tội phạm?
Căn cứ vào mức độ tác động:
- Nguyên nhân chủ yếu: Là những nhân tố đóng vai trò quyết định hay chủ chốt trong
việc phát sinh tội phạm và những nhân tố này chiến tỷ trọng lớn trong tổng số các nhân
tố làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân thứ yếu: Là những nhân tố chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc phát sinh
tội phạm và những nhân tố này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số các nhân tố làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ vào lĩnh vực hình thành:
- Nguyên nhân về kinh tế - xã hội: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vực kinh tế - xã
hội có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất nghiệp; tình trạng đói nghèo,…
- Nguyên nhân về văn hoá – giáo dục: là những nhân tố hạn chế trong lĩnh vự văn hoá –
giáo dục có thể tác động làm phát sinh tội phạm như tình trạng thất học, bỏ học; nhà
trường chưa chú trọng giáo dục về đạo đức, về giới tính, về kỹ năng sống,…
- Nguyên nhân về tổ chức – quản lý: là những nhân tố hạn chế trong hoạt động của các tổ
chức, cá nhân có chức năng, thẩm quyền trong quản lý kinh tế, quản lý cán bộ, quản lý
hành chính nhà nước ở các kĩnh vực của đời sống xã hội như thiếu trách nhiệm hay đùn
đẩy trách nhiệm, không hợp tác trong giải quyết vụ việc,… lOMoAR cPSD| 61630929
- Nguyên nhân về chính sách – pháp luật: là những “kẽ hở”, những bất cập của chính
sách, pháp luật có thể tác động làm phát sinh tội phạm.
Căn cứ về nguồn gốc xuất hiện:
- Nguyên nhân bắt nguồn từ môi trường sống: là những nhân tố tiêu cực của môi trường
sống đã tác động ảnh hưởng đến cá nhân có thể làm phát sinh tội phạm.
- Nguyên nhân bắt nguồn từ người phạm tội: là những nhân tố tiêu cực thuộc về người
phạm tội có thể làm phát sinh tội phạm.
Câu 3: Phân tích nguyên nhân từ môi trường sống?
Là những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống tác động đến sự hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân.
Cụ thể là môi trường xã hội vi mô (các tiểu môi trường mà cá nhân đang sống, giao tiếp thường
xuyên) và môi trường xã hội vĩ mô.
5. Môi trường xã hội vi mô
Tác động tiêu cực từ môi trường gia đình có thể kể đến như:
- Cha, mẹ buông lỏng quản lý, giám sát con cái;
- Cha, mẹ nuông chiều hay quá hà khắc trong giáo dục con cái;
- Cha, mẹ thiếu tôn trọng nhau, hay mâu thuẫn, đánh chửi nhau, bầu không khí căng thẳng;
- Các thành viên gia đình có tiền án, tiền sự hoặc có những hành vi lệch lạc chuẩn mực…
Tác động tiêu cực từ môi trường nhà trường như:
- Việc học sinh có học lực yếu kém chán học trốn học, bỏ học;
- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật đối với học sinh trong trường còn nhiều điều bất cập
(không hợp lý, không cân bằng)
- Quản lý học sinh của nhà trường lỏng lẻo thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát nên không có
biện pháp uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai trái của học sinh;
- Một số ít cán bộ, giáo viên trong nhà trường có lỗi sống không lành mạnh, có hành vi lệch lạc…
Tác động tiêu cực từ môi trường nơi cá nhân làm việc
Tác động tiêu cực của mặt trái của nền kinh tế thị trường có thể kể đến là do tác
động của sự phân hoá giầu nghèo; sự bất bình đẳng xã hội…
Tác động tiêu cực của chính sách, pháp luật có thể là do chính sách, pháp luật của
Nhà nước ta chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn nhiều “kẽ hở” nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung;
Tác động tiêu cực do những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý của các tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền, trách nhiệm quản lý hành chính nhàn nước trong
các lĩnh vực của đời sống xã hội

Tác động tiêu cực của các phong tục tập quán lạc hậu hoặc của phim, truyện, báo
chí, các phương tiện truyền thống khác.
6. Môi trường xã hội vĩ mô