a. Khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN Miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế
giữ gìn lực lượng sang thế tấn công. (1954-1960)
Phạm vi
Thuận lợi
Khó khăn
Trong nước
phóng, tạo sở vững chắc
cho cách mạng.
Nền kinh tế miền Bắc non
trẻ, nghèo nàn, chịu hậu quả
nặng nề từ chiến tranh.
Thế lực cách mạng lớn
mạnh hơn sau 9 năm kháng
Đất nước bị chia cắt thành
hai miền với hai chế độ
chiến chống Pháp.
chính trị đối lập.
Ý chí kháng chiến giành độc
lập, thống nhất đất nước của
nhân dân mạnh mẽ.
Miền Nam bị chính quyền
Ngô Đình Diệm đàn áp, vi
phạm Hiệp định Genève.
Quốc tế
Hệ thống hội chủ nghĩa
phát triển mạnh, được Liên
Xô, Trung Quốc ủng hộ.
Chiến tranh Lạnh gây căng
thẳng, đối đầu giữa Mỹ
Liên Xô.
Phong trào giải phóng dân
tộc trên thế giới dâng cao,
tạo động lực
Trung Quốc làm suy yếu sự
đoàn kết trong phe XHCN.
Mâu thuẫn Liên - Phong
trào hòa bình quốc tế ngày
càng ủng hộ Việt Nam
Mỹ hậu thuẫn chính quyền
Sài Gòn, biến miền Nam
thành thuộc địa kiểu mới.
Về chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên CNXH
Sau khi Hiệp định Genève được kết, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục xây dựng
chủ nghĩa hội. Tháng 9/1954, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ trọng tâm khắc phục hậu quả
chiến tranh phục hồi kinh tế miền Bắc. Đến ngày 16/5/1955, toàn bộ quân viễn chinh
Pháp đã rút khỏi miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc tái thiết.
Công tác khôi phục sản xuất nông nghiệp được triển khai mạnh mẽ thông qua cải cách ruộng
đất vận động đổi công. Đến tháng 7/1956, cải cách ruộng đất bản hoàn thành
những sai lầm cần được sửa chữa trong các năm 1956-1957. Cùng thời gian này, các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giao thông vận tải cũng được khôi phục.
Giai đoạn 1958-1960 đánh dấu bước phát triển mới với kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế -
văn hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 16 (4/1959) về hợp tác hóa nông nghiệp đã tạo nền
tảng vững chắc cho con đường hội chủ nghĩa, biến miền Bắc thành hậu phương vững
mạnh cho cách mạng cả nước.
Tình hình miền Nam sự can thiệp của Mỹ
Trong khi đó tại miền Nam, Mỹ nhanh chóng thay chân Pháp, với ý đồ chia cắt lâu dài đất
nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ chống phe XHCN thuộc địa kiểu mới của
Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên đã thi hành chính sách "tố cộng, diệt
cộng" tàn bạo, lập các "khu trù mật" sử dụng Luật 10/59 để đàn áp phong trào yêu nước.
Đứng trước tình hình đó, Đảng đã điều chỉnh phương thức đấu tranh từ quân sự sang chính
trị. Hội nghị Trung ương 6 (7/1954) xác định Mỹ kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông
Dương. Tháng 8/1956, đồng chí Duẩn - thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo văn kiện quan
trọng "Đề cương đường lối cách mạng Việt Nam miền Nam” chỉ con đường cứu nước
duy nhất đúng đắn con đường cách mạng, được xem con đường cách mạng đúng đắn lúc
đó.
Bước ngoặt Đồng Khởi thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (1/1959) xác định nhiệm vụ bản giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ phong kiến tay sai, thực hiện độc lập dân tộc
người cày ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam. Nghị
quyết nhấn mạnh: Cách mạng miền Nam phải dựa vào sức mình chính (tự lực tự cường)
Phương hướng phát triển bản khởi nghĩa giành chính quyền bằng con đường đấu tranh
chính trị kết hợp với đấu tranh trang.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng sự chỉ đạo sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Bắc
đã tích cực chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Với vai trò hậu phương
lớn, miền Bắc không ngừng củng cố tiềm lực kinh tế - quốc phòng, đồng thời mở các tuyến
đường vận chuyển khí, lương thực cán bộ vào chiến trường miền Nam.
Trên chiến trường miền Nam, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng. Nhân dân miền
Nam đã tiến hành hàng loạt cuộc khởi nghĩa trang, đỉnh cao phong trào "Đồng
khởi" bùng nổ vào năm 1959-1960. Hình thức đấu tranh chủ yếu hình thức khởi nghĩa
đồng loạt (đồng khởi) bắt đầu bùng nổ huyện Mỏ Cày, Bến Tre sau đó lan ra các huyện
khác. Hệ thống kìm kẹp của địch xã, ấp bị liệt tan vỡ từng mảng lớn.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hậu phương miền Bắc tiền tuyến miền Nam đã tạo nên sức
mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế chủ động
tiến công, mở ra giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi:
Phong trào đã giáng một đòn rất nặng vào chính sách tân thuộc địa của Mỹ, làm lung lay
chính quyền Ngô Đình Diệm.Đồng thời cũng đánh dấu bước phát triển của Cách mạng miền
Nam từ thế bảo toàn lực lượng sang thế tiến công.
Từ tinh thần của phong trào Đồng khởi, ngày , Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền 20/12/1960
Nam Việt Nam ra đời với Chương trình hành động 10 điểm, tập hợp lực lượng đấu tranh cho
một miền Nam độc lập, dân chủ, tiến tới thống nhất đất nước, tổ chức đoàn kết rộng rãi các
tầng lớp nhân dân yêu nước miền Nam, từ nông dân, công nhân đến trí thức các thành
phần hội khác.
Mặt trận đã xác định mục tiêu đánh đổ chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ chính quyền
tay sai Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, đồng thời
hướng tới thống nhất đất nước.
Sự ra đời của Mặt trận đánh dấu bước chuyển biến quan trọng từ đấu tranh tự phát sang tổ
chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho những thắng lợi quyết
định sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự kiện này đã đánh dấu bước
phát triển mới của cách mạng miền Nam.
B. Xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc, phát triển thế tiến công của cách mạng miền
Nam (1961-1965)
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Nội. Trong
diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này Đại hội xây dựng chủ
nghĩa hội miền Bắc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà” . Về đường lối chung
của cách mạng Việt Nam, Đại hội xác định phải tiến hành đồng hai nhiệm vụ chiến lược
thời:
Đẩy mạnh cách mạng hội chủ nghĩa miền Bắc.
Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam, thực hiện thống nhất
nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước.
Trên sở miền Bắc vừa hoàn thành kế hoạch ba năm cải tạo hội chủ nghĩa (1958-1960),
Đại hội lần thứ III đã đề ra , nhằm: kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961-1965)
1. , đưa miền Bắc từ kinh tế thể tiến Hoàn thiện quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa
lên kinh tế tập thể, kết hợp với quốc doanh,
2. thực hiện Xây dựng bước đầu sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa hội
một bước công nghiệp hóa,
3. , Cải thiện đời sống nhân dân
4. , làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước Bảo đảm an ninh quốc phòng
nhà .
Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), nhiều cuộc vận động
phong trào thi đua được triển khai sâu rộng trên các lĩnh vực:
Nông nghiệp phong trào thi đua “Đại Phong” (Quảng Bình).
Công nghiệp phong trào thi đua “Duyên Hải” (Hải Phòng).
Tiểu thủ công nghiệp phong trào thi đua với Hợp tác thủ công nghiệp Thành
Công (Thanh Hóa).
Giáo dục phong trào thi đua học tập Trường cấp II Bắc (Hà Nam).
Quân đội phong trào “Ba nhất”.
Đặc biệt, phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền
Nam ruột thịt” theo Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh (tại Hội nghị chính trị đặc biệt, tháng
3-1964) đã tạo nên không khí phấn khởi, hăng hái thi đua hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch .
Kế hoạch 5 năm này dẫu mới thực hiện hơn bốn năm (tính đến tháng 8-1964) thì phải chuyển
hướng để đối phó với việc Mỹ bắt đầu phá hoại miền Bắc, nhưng những mục tiêu chủ yếu đã
bản hoàn thành. Qua 10 năm khôi phục, cải tạo bước đầu xây dựng nền móng hội
chủ nghĩa (1955-1965), “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng trong lịch sử
dân tộc. Đất nước, hội, con người đều đổi mới” . Miền Bắc trở thành hậu phương lớn của
cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, lực lượng kinh tế quốc phòng được củng cố mạnh
mẽ.
Song song với việc xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc, thế tiến công cách mạng miền
Nam cũng không ngừng phát triển:
Đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) hình thành tuyến giao thông chiến
lược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam, mặc cho địa hình hiểm trở
sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, trở thành “mạch máu” nối liền hậu phương với tiền
tuyến.
Đường vận tải trên biển (các chuyến “tàu không số”) đã vận chuyển hàng chục tấn
khí từ miền Bắc vào tận các căn cứ ven biển Phú Yên, Rịa, Mau… cung cấp
kịp thời cho quân dân miền Nam. Nhờ vậy, “năm 1965 số bộ đội từ miền Bắc được
đưa vào miền Nam tăng 9 lần, số vật chất tiếp tế tăng 10 lần so với năm 1961” .
Trên thực tế, đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” từ năm 1961, trực
tiếp can thiệp âm mưu “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng, dựng “ấp chiến lược”
làm quốc sách, sử dụng các thủ đoạn “trực thăng vận”, “thiết xa vận” hòng dồn dân, cắt đứt
phong trào cách mạng. Để tăng cường chỉ đạo thống nhất lực lượng, Trung ương Cục miền
Nam được thành lập (tháng 10-1961), Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
(15-2-1961). Từ thắng lợi Ấp Bắc (Mỹ Tho) đến phong trào phá “ấp chiến lược”, khủng
hoảng chính trị nội bộ chính quyền Sài Gòn cao trào đấu tranh của quần chúng đã đẩy Mỹ
- ngụy lún sâu vào bế tắc. Đến đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ căn
bản bị phá sản, tạo điều kiện để đưa cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên giành thắng lợi to
lớn hơn.
Trong giai đoạn 1961-1965, lịch sử cách mạng của Việt Nam đã ghi dấu ấn bước ngoặt sâu
sắc trong việc chuyển đổi phát triển đất nước. Phía miền Bắc, sau gần một thập kỷ khôi
phục, cải tạo xây dựng nền tảng hội chủ nghĩa, giai đoạn này đã tạo ra một bước chuyển
mình mạnh mẽ: từ kinh tế thể sang kinh tế tập thể kết hợp với quốc doanh, từ đó hình
thành sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho cuộc công nghiệp hóa quy quốc gia. Thành
quả từ các phong trào thi đua như “Đại Phong”, “Duyên Hải”, “Mỗi người làm việc bằng hai”
phong trào thi đua “Ba nhất” trong quân đội đã cho thấy sức mạnh tập thể, khát vọng đổi
mới lòng yêu nước sâu sắc của toàn hội. Qua đó, không chỉ nâng cao năng suất sản xuất
đời sống nhân dân, còn củng cố quốc phòng, biến miền Bắc thành hậu phương vững
mạnh cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
Phía miền Nam, đối mặt với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, thế tiến
công cách mạng vẫn không ngừng phát triển nhờ vào sự chỉ đạo đồng bộ của Trung ương
tinh thần quật cường của quần chúng nhân dân. Các tuyến đường chiến lược như Đường
Trường Sơn các chuyến “tàu không số” đã khẳng định vai trò sống còn trong việc tiếp tế,
củng cố lực lượng chiến đấu tiền tuyến. Những nỗ lực ấy không chỉ giữ vững mở rộng
phong trào cách mạng, còn tạo tiền đề quan trọng cho những thắng lợi quyết định về sau.
Về mặt ý nghĩa lịch sử, giai đoạn này không chỉ thời kỳ “đổi mới” cả về phương thức sản
xuất quản kinh tế, còn lúc quần chúng nhân dân được huy động đồng lòng, đồng
sức vượt qua nghịch cảnh, khắc phục những khó khăn do chiến tranh gián đoạn phát triển
gây ra. Nhìn lại quá trình đó, Việt Nam chúng ta đã rút ra nhiều bài học quý giá.
Một trong những bài học đắt giá của giai đoạn này về khả năng lãnh đạo tập trung
thống nhất của Đảng ta. Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, miền Bắc miền Nam tuy
hai một, cùng nằm trong chiến lược cách mạng tổng thể do Trung ương Đảng hoạch định
chỉ đạo. Đảng ta đã thể hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo cao nhất, điều phối nhịp nhàng
giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc với cuộc đấu tranh cách mạng miền
Nam. Sự gắn kết này không chỉ mang tính chiến lược còn thể hiện tính chủ động linh
hoạt trong cách ứng phó với tình hình phức tạp của thời cuộc. Chính sự đồng bộ đó đã tạo ra
một sức mạnh tổng hợp to lớn, làm nên thế trận vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần, đảm
bảo cho tiền tuyến miền Nam đủ hậu thuẫn để phát triển thế tiến công cách mạng, đồng
thời giúp miền Bắc đứng vững trước mọi âm mưu phá hoại của đế quốc Mỹ.
Bên cạnh sự lãnh đạo chặt chẽ, giai đoạn này còn ghi dấu ấn sâu sắc bởi tinh thần thi đua
yêu nước được phát động rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực. Những phong trào như “Đại
Phong”, “Duyên Hải”, “Ba Nhất”, hay phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai” không đơn
thuần các khẩu hiệu mang tính phong trào, thực sự những cuộc vận động lớn đã khơi
dậy tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt khó sự sáng tạo của từng nhân, từng tập thể. Từ
nông thôn đến thành thị, từ nhà máy đến chiến hào, mọi người dân đều coi việc lao động, sản
xuất, học tập chiến đấu cách để góp phần vào sự nghiệp chung. Nhiều sáng kiến,
hình sản xuất mới đã ra đời từ chính các phong trào thi đua này, không chỉ nâng cao hiệu quả
công việc còn tạo nên sự gắn bó, đồng lòng trong toàn hội. Chính sự thi đua sôi nổi ấy
đã giúp miền Bắc, trong điều kiện còn nghèo khó, vẫn vươn lên trở thành hậu phương
vững chắc, chỗ dựa không thể thay thế cho cuộc kháng chiến của cả dân tộc.
Ngoài ra mấu chốt dẫn tới sự thành công của giai đoạn này còn khả năng linh hoạt, chủ
động trong điều chỉnh chiến lược phát triển. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961–1965)
vốn được xây dựng với mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, hội trong điều kiện hòa bình.
Tuy nhiên, khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, đặc biệt từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm
1964, tình hình đã thay đổi nhanh chóng hết sức nghiêm trọng. Trước biến động ấy, Đảng
đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo: từ ưu tiên phát triển kinh tế sang kết hợp chặt chẽ giữa sản
xuất chiến đấu, vừa củng cố hậu phương, vừa sẵn sàng đối phó với chiến tranh phá hoại
của Mỹ. Miền Bắc từ đó chuyển sang thế trận vừa "cái nôi" của xây dựng chủ nghĩa hội,
vừa “pháo đài” phòng thủ vững chắc “bàn đạp” để chi viện cho miền Nam. Khả năng
linh hoạt ấy không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong lãnh đạo, còn cho thấy tính đúng đắn
thực tiễn cao của đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầy cam go này.
Tổng kết lại, giai đoạn 1961-1965 không chỉ một chặng đường phát triển kinh tế, chính trị
quân sự còn biểu hiện nét của sự chuyển mình trong tinh thần cách mạng của dân
tộc. Qua đó, đất nước đã "đổi mới" toàn diện từ sở vật chất đến duy cách mạng, mở ra
một trang sử hào hùng, thể hiện tầm vóc dấu ấn lịch sử sâu sắc, tiền đề vững chắc cho
những thắng lợi quyết định sau này.
Bảng: Một số phong trào thi đua tiêu biểu miền Bắc (1961-1965)
Tên phong trào
Thời gian &
địa điểm
Nội dung chính
Ý nghĩa
Phong trào
“Đại Phong”
Bắt đầu
khoảng năm
1961, tại Hợp
tác Đại
Phong (Quảng
Bình)
Khởi đầu phong trào thi
đua giữa các tổ đội sản xuất,
nâng cao năng suất lúa
hoa màu, với mục tiêu hợp
tác - tương trợ.
Góp phần thúc đẩy toàn
miền Bắc noi gương, tăng
năng suất nông nghiệp, xây
dựng hình hợp tác
kiểu mẫu, cổ sản xuất
nông nghiệp lên quy
lớn.
Phong trào
“Duyên Hải”
1961, Nhà máy
khí Duyên
Hải (Hải
Phòng)
Thi đua phát huy sáng kiến,
cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại
sản xuất để nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm
công nghiệp.
Thúc đẩy công nghiệp, cải
tiến máy móc quy trình,
nâng cao ý thức lao động
tập thể, trở thành điển hình
cải tiến kỹ thuật khu vực
công nghiệp.
“Mỗi người
làm việc bằng
hai để đền đáp
đồng bào miền
Nam ruột thịt”
Từ năm 1964,
lan rộng toàn
miền Bắc
Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong bối cảnh đế
quốc Mỹ leo thang miền
Nam. Phong trào nêu cao
tinh thần “tay búa, tay
súng”, vừa sản xuất, vừa sẵn
sàng chiến đấu.
Khơi dậy nhiệt huyết yêu
nước, nâng cao hiệu quả
sản xuất, tăng sức chi viện
cho miền Nam về lực
lượng, vật chất, góp phần
đánh bại chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt”.
Phong trào “Ba
Nhất” (trong
Quân đội)
Khoảng 1962 -
1965
Thi đua “Nhất trong học tập
chính trị, Nhất trong huấn
luyện quân sự, Nhất trong
chấp hành kỷ luật, sẵn sàng
chiến đấu”.
Nâng cao tinh thần chiến
đấu, trình độ chính trị kỹ
- chiến thuật của bộ đội, tạo
điều kiện bảo vệ vững chắc
miền Bắc, làm hậu phương
lớn cho miền Nam.
Hình ảnh liệu:
1. Phong trào gió đại phong
2. phong trào thi đua “Hai tốt” ngành giáo dục năm 1961
3. Phong trào thi đua sóng duyên hải
4. Phong trào thi đua cờ ba nhất
2. Đảng lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975)
a. Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên cả nước (mục a,b trong
sách tr47-50)
Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng.
+ : Trung ương khẳng định chúng ta đủ điều kiện sức mạnh Quyết tâm chiến lược
để đánh Mỹ thắng Mỹ. Với tinh thần "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược",
Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc,
cọi chống Mỹ, cứu nước nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc.
+ : kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Mục tiêu chiến lược
trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình
thống nhất nước nhà.
+ : đánh lâu dài, dựa vào sức mình chính, từng bước đánh Phương châm chiến lược
mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng, mở rộng cả hai miền để
mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời giành thắng lợi quyết định trong thời
gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
+ : giữ vững phát triển thế tiến công, kiên tưởng chỉ đạo đối với miền Nam
quyết tiến công liên tục tiến công, đánh trên cả ba vùng chiến lược. Trong giai
đoạn này, trận địa quân sự tác dụng quyết định trực tiếp giữ một vị trí ngày càng
quan trọng.
+ : chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc
tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế quốc phòng trong thời kỳ chiến
tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ, bảo vệ miền Bắc XHCN, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền
Nam.
+ : miền Nam tiền tuyến lớn Về mối quan hệ nhiệm vụ cách mạng của cả nước
chống Mỹ, miền Bắc hậu phương lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau,
mật thiết gắn nhau. Khẩu hiệu chung của cách mạng cả nước lúc này "Tất cả
để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".
+ Nghị quyết HNTW lần thứ 11 lần thứ 12 năm 1965 với Ý nghĩa của đường lối:
nội dung như trên thể hiện tưởng mới mẻ, sự trưởng thành của cách mạng độc lập
dân tộc CNXH, tiếp tục thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng của Đảng
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
của dân tộc ta. Đó đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, toàn dân, toàn diện,
lâu dài, dựa vào sức mình chính trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, sở để
Đảng lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng lợi vẻ vang.
Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ miền Bắc; giữ
vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ (1965 1968)
- miền Bắc, từ ngày 5-8-1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ
dùng không quân hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Từ đó, miền Bắc trở về
thời kỳ đói, Mỹ đã huy động lực lượng lớn không quân hải quân, trút hàng triệu tấn
bom đạn, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta.
- Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết HNTW lần thứ 11 lần thứ 12,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương:
+ kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình chiến Một là,
tranh phá hoại;
+ , tăng cường lực lượng quốc phòng cho miền Nam phát triển tình hình cả Hai
nước chiến tranh;
+ , ra sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch chiến Ba
trường chính miền Nam;
+ , phải kịp thời chuyển hướng tưởng tổ chức cho phù hợp với tình hình Bốn
mới.
- Thực hiện chủ trương của Đảng, quân dân miền Bắc đã đẩy lên cao phong trào thi
đua chiến đấu, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, với các phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba
đảm đang", "Tay cày tay súng", "Tay búa, tay súng", "Tay bút, tay súng", "Nhằm
thẳng quân thù bắn", trong chi viện tiền tuyến với khẩu hiệu "Thóc không thiếu
một cân, quân không thiếu một người", trong bảo đảm giao thông "Sống bám cầu,
bám đường, chết kiên cường, dũng cảm", "Xe chưa qua, nhà không tiếc".
+ Mỹ liên tiếp ném bom, bắn phá miền Bắc, tháng 3-1968, đế quốc Mỹ buộc phải
ngừng ném cả hai miền Nam - Bắc, tháng 11-1968, Mỹ buộc phải tuyên bố chấm
dứt hẳn việc ném bom phá miền Bắc bằng không quân hải quân. Đây thắng lợi
của miền Bắc trên mặt trận chống chiến tranh phá hoại.
+ Sau Đông - Xuân 1965-1966, ta đã chuyển hướng xây dựng phát triển lực lượng
trang, đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" giành thế chủ động trên các mặt
trận miền Nam.
+ Ngày 28-1-1967, HNTW13 (khóa III) đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm
tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, bạn, mở ra cục diện vừa đánh,vừa đàm. Tháng
1-1968, Nghị quyết HNTW14 đã chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang
thời kỳ mới.
+ Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, phát động tiến công nổi dậy đợt 1. Trong các đợt
tiến công tiếp theo vào tháng 5 tháng 8-1968, quân dân ta đã tiêu diệt loại
khỏi vòng chiến đấu hàng chục vạn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh,
giải phóng thêm hàng triệu đồng bào.
+ Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 một chủ trương táo bạo sáng tạo
của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ. Chiến lược "Chiến
tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ phá sản, phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam từ
ngày 13-5-1968 tại Pari.
Bên cạnh đó, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động quân sự năm 1968,
chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa
sát với thực tế. Cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ khó khăn nghiêm trọng do bị
tổn thất lớn về lực lượng thế trận.
=> Điểm nổi bật nhất của cuộc kháng chiến giai đoạn này là:
Sự lãnh đạo đúng đắn, linh hoạt sáng tạo của Đảng
Chiến thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
Tiến công Mậu Thân 1968 làm thay đổi cục diện chiến tranh
Phối hợp giữa đấu tranh quân sự ngoại giao hiệu quả.
Sự đúng đắn linh hoạt trong đường lối được thể hiện:
Cuối năm 1974 đầu năm 1975, nhận thấy so sánh lực lượng miền Nam
thay đổi lợi cho cách mạng, Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạch
giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 1976.
Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì
lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.
Bộ Chính trị cũng phân tích sự cần thiết tranh thủ thời đánh nhanh thắng
nhanh để đỡ thiệt hại về người của cho nhân dân, giữ gìn tốt sở kinh tế,
công trình văn hóa,… giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.
Liên hệ quốc tế khu vực liên quan:
Bối cảnh:
- Chiến tranh lạnh giữa hai phe: bản chủ nghĩa (do Mỹ đứng đầu) hội chủ
nghĩa (do Liên dẫn đầu) đang giai đoạn căng thẳng.
- Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" Việt Phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc phát triển mạnh châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh.
- Mâu thuẫn Trung ngày càng gay gắt, ảnh hưởng trực tiếp đến viện trợ quan
hệ quốc tế của Việt Nam.
- Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam lan rộng Mỹ nhiều nước trên thế giới.
Ảnh hưởng đến đường lối kháng chiến của Việt Nam:
Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã xác định đường lối kháng chiến rất ràng:
a. Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình chính:
- nhận viện trợ, Việt Nam xác định không phụ thuộc, luôn giữ vững lập trường tự
lực tự cường.
- Điều này thể hiện trong việc chủ động mở chiến dịch, quyết định thời chiến lược
không chờ đợi các nước lớn.
b. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại:
- Biết tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc, phong trào cộng sản công nhân
quốc tế.
- Đồng thời tận dụng sự phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ, các tổ chức tiến bộ toàn
cầu để gây sức ép buộc Mỹ rút quân.
c. Chủ động đối phó với thay đổi quốc tế:
b. Khi mâu thuẫn Trung tăng cao, Việt Nam vẫn giữ thế cân bằng, không để chia rẽ
nội bộ phe hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến kháng chiến.
c. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất tổ quốc (1969-1975) (mục c trong sách, tr50-52)
Miền Bắc: Vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa tiếp tục công cuộc xây
dựng CNXH tăng cường lực lượng cho miền Nam.
- Từ tháng 11/1968, tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh
phá hoại miền Bắc lần 1, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế
hoạch ngắn hạn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộc xây
dựng miền Bắc tăng cường lực lượng cho miền Nam.
- Ngày 02/09/1969, chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi, người để
lại một bản Di chúc lịch sử chứa đựng những tưởng lớn về những vấn đề căn
bản cốt lõi về Cách mạng Việt Nam.
- Sau 3 năm (1969-1972), tình hình nhiều chuyển biến tốt đẹp trên nhiều mặt.
Trong nông nghiệp, năm 1969, diện tích các loại cây trồng đều vượt năm
1968, riêng diện tích sản lượng lúa tăng khá nhanh, lúa xuân tăng hai
lần so với năm 1968, chăn nuôi cũng phát triển mạnh.
Trong công nghiệp, hầu hết các nghiệp bị địch đánh phá được khôi
phục sửa chữa, hệ thống giao thông, cầu phà, bến bãi được khẩn
trương khôi phục xây dựng thêm.
Trong lĩnh vực giáo dục, y tế bước phát triển tốt so với trước, nhất
hệ thống giáo dục đại học, tăng lên 36 trường phân hiệu với hơn 8
vạn sinh viên.
=> Tiềm lực về mọi mặt của hậu phương miền Bắc được tăng cường, cải thiện đời
sống nhân dân, cho phép miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến ngày
càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến thắng to lớn trên chiến trường miền Nam.
- Từ tháng 04/1972, Đế quốc Mỹ đã
cho máy bay, tàu chiến tiến hành
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc
lần thứ hai hết sức ác liệt, nhất
cuộc rải thảm bom 12 ngày đêm
bằng pháo đài bay B.52 tại Nội,
Hải Phòng một số địa phương
khác (Mỹ gọi cuộc nh quân
Lainebacker II).
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân
dân miền Bắc đã bình tĩnh, sáng
tạo, vừa sản xuất vừa chiến đấu trong 12 ngày đêm đó (từ 18-30/12/1972) lập
nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá
hoại của Mỹ.
Bắn rơi 81 máy bay, trong đó 34 máy bay B.52, 5 máy bay F-111, 42
máy bay chiến thuật các loại…
Tiêu diệt bắt sống gần 100 phi công
- Ngày 15/01/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố dừng mọi hoạt động phá hoại
miền Bắc nước ta.
- Ngày 27/01/1973, sau chiến
thắng “Điện Biên Phủ trên không”,
đế quốc Mỹ buộc phải trở lại bàn
đàm phán kết Hiệp định Paris,
công nhận độc lập chủ quyền, thống
nhất của nước Việt Nam, chấm dứt
chiến tranh phá hoại miền Bắc.
- Sau ngày Hiệp định Paris được
kết, miền Bắc hòa bình, Trung
ương Đảng đã đề ra kế hoạch hai
năm khôi phục phát triển kinh
tế 1974-1975
- Miền Bắc hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ hậu phương lớn đối với
tiền tuyến lớn miền Nam, hoàn
thành nghĩa vụ quốc tế đối với
cách mạng Lào Campuchia.
Đảm bảo tiếp nhận hàng
viện trợ từ bên ngoài chi viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam,
cả Lào Campuchia.
Từ năm 1969-1971, hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ, 60% vào miền
Nam, Lào Campuchia.
Năm 1972, 22 vạn thanh niên nhập ngũ vào chiến trường Đông Dương.
Viện trợ khối lượng vật chất tăng 1,6 lần trước kia (năm 1972 tăng 1,7
lần so với năm 1971)
Tính tổng thể, hậu phương miền Bắc XHCN đã đảm bảo 80% bộ đội
chủ lực, 70% khí lương thực, 65% thực phẩm cho chiến trường
miền Nam, nhất giai đoạn cuối.
Miền Nam: Đẩy mạnh cuộc chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
- Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, để tiếp tục cuộc chiến tranh
thực dân mới của Mỹ miền Nam, từ đầu năm 1969, Mỹ đã thực hiện chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhằm “dùng người Việt Nam đánh người
Việt Nam”.
- Đảng ta đề ra quyết tâm chủ trương chiến lược, thể hiện trong Thư chúc
mừng năm mới (01/01/1969) của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì độc lập, tự do,
đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
- Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (01/1970) Hội nghị
Bộ Chính trị (06/1970) đã đề ra chủ trương mới nhằm chống lại chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, tập
trung ngăn chặn đẩy lùi chương trình “bình định” của địch.
- Năm 1971, quân dân Việt Nam phối hợp với quân dân Lào chủ động
đánh bại cuộc hành quân quy lớn “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy đánh vào
Đường 9 - Nam Lào; cũng quân dân Campuchia đập tan cuộc hành quân “Toàn
thắng 01/1971” của Mỹ - ngụy đánh vào các hậu cứ kháng chiến tại Đông - Bắc
Campuchia.
- Mùa xuân năm 1972, quân ta mở cuộc tiến công chiến lược với quy lớn
Trị - Thiên, đánh thẳng vào tuyến phòng ngự của địch Đường 9.
- Cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris đã kéo dài tận 4 năm 8 tháng
14 ngày, với 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp
báo, 1000 cuộc phỏng vấn, đàm phán kết thúc vào ngày 27/01/1973 với việc
kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình Việt Nam”.
=> Nhân dân ta đã đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu đè bẹp ý chí xâm lược
của đế quốc Mỹ, hội lớn cho sự nghiệp cách mạng từ “đánh cho Mỹ cút” tiến lên
“đánh cho ngụy nhào”.
- Mặc phải Hiệp định Paris, rút quân khỏi Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ
vẫn ngoan cố, không chịu từ bỏ tâm xâm lược Việt Nam âm mưu tiếp tục
tiến hành chiến tranh để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới chia cắt lâu dài đất
nước ta. Một trong những mục tiêu chiến tranh Mỹ - ngụy đề ra trong kế
hoạch 3 năm (1973-1976) chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng của ta, xóa bỏ
hình thái “da báo” miền Nam, nhằm biến miền Nam thành một quốc gia riêng
biệt lệ thuộc Mỹ.
- Theo âm mưu đó, ngay sau khi Hiệp định Paris được kết, dưới sự chỉ đạo
của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ngang ngược phá hoại hiệp định,
liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
- Trước tình hình đó, tháng 07/1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa III) đã nêu rõ:
Con đường cách mạng miền Nam: con đường bạo lực cách mạng
Nhiệm vụ: giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách
mạng yêu cầu vừa bức thiết vừa bản
tưởng chỉ đạo: tích cực phản công, chuẩn bị tiến lên hoàn toàn giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
- Thực hiện Nghị quyết của Đảng, từ cuối năm 1973 cả năm 1974, quân
dân ta miền Nam đã liên tiếp giành được thắng lợi to lớn trên khắp các chiến
trường, từ Trị - Thiên đến Tây Nam Bộ vùng ven Sài Gòn.
=> Phá vỡ từng mảng lớn kế hoạch “bình định” của địch, mở rộng thêm nhiều
vùng giải phóng, tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm, chỉ khu, quận lỵ, bức rút nhiều
đồn bốt, dồn địch vào thế đối phó lúng túng, bị động.
- Cuối 1974 - đầu 1975, quân ta
đánh chiếm thị Phước Long
(06/01/1975), giải phóng hoàn
toàn tỉnh Phước Long, địch
không khả năng đánh chiếm
trở lại.
=> Chiến thắng Phước Long
ý nghĩa như một đòn thăm
chiến thắng tạo nên sở để
Hội nghị Bộ Chính trị đi tới
nhận định: Chưa bao giờ ta
điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị, thời chiến lược to lớn như hiện
nay.
- Hội nghị Bộ Chính trị đợt 1 (30/09 đến 08/10/1974) đợt 2 (08/12/1974 đến
07/01/1975) đã bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính
trị đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.
- Cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã diễn ra trên toàn miền
Nam, bắt đầu bằng Chiến dịch Tây Nguyên, tiến công vào thị Buôn
Thuột ngày 10/03/1975 giành thắng lợi.
- Cuộc họp Bộ chính trị ngày 18/03/1975 đã quyết định: giải phóng miền Nam
trong năm 1975.
- 26/03/1975, thành phố Huế được giải phóng.
- 29/03/1795, Đà Nẵng được giải phóng.
- Ngày 25/03/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền
Nam trước mùa mưa.
- Ngày 26/04/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt
đầu.
- Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/04/1975, cờ chiến thắng đã được cắm trên
Dinh Độc Lập, Sài Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân
1975 của quân dân ta đã toàn thắng.
(Hình ảnh chiến đầu tiên cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975)
3. Ý nghĩa, kinh nghim.
a) Ý nghĩa
Ý nghĩa lch s đi vi Vit Nam
- Thng lợi vĩ đi ca cuc kháng chiến chng M, gii phóng min Nam đã kết
thúc thng lợi 21 năm chiến đu chng đế quc M xâm lưc, 30 năm chiến tranh
cách mng, 117 năm chng đế quc xâm c, quét sch quân xâm c, đưa lại
đc lập, thng nht, toàn vn lãnh th cho đt nưc.
- Cùng vi chiến thng Bch Đng, Chi Lăng, Đng Đa, Đin Biên Ph, đi thng
mùa xuân 1975 đã cm thêm mt mc vinh quang chói lọi trong quá trình đi n
ca lịch s Vit Nam. tm quan trng quc tế, có tính thi đi sâu sc.
- M ra k nguyên mi cho dân tc ta, k nguyên c nưc hòa bình, thng nht,
cùng chung mt nhim v chiến lưc, đi lên ch nghĩa xã hi. Làm tăng thêm sc
mnh vt cht tinh thn, thế và lc cho cách mng và dân tc Vit Nam, nâng cao
uy tín ca Đng và dân tc trên trưng quc tế; nâng cao khí phách, nim t hào
và đ nhng kinh nghim quý cho s nghip dng nưc và gi nưc.
- Làm tht bi âm mưu và th đon ca ch nghĩa đế quc tiến công vào ch
nghĩa xã hi và cách mng thế gii; đánh bi cuc chiến tranh xâm c quy mô
lớn nht, dài ngày nht ca ch nghĩa đế quc kể t sau Chiến tranh thế gii th

Preview text:

a. Khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN ở Miền Bắc, chuyển cách mạng miền Nam từ thế
giữ gìn lực lượng sang thế tấn công. (1954-1960) Phạm vi Thuận lợi Khó khăn
Miền Bắc hoàn toàn giải
Nền kinh tế miền Bắc non
phóng, tạo cơ sở vững chắc
trẻ, nghèo nàn, chịu hậu quả Trong nước cho cách mạng.
nặng nề từ chiến tranh.
Thế và lực cách mạng lớn
Đất nước bị chia cắt thành mạnh hơn sau 9 năm kháng
hai miền với hai chế độ chiến chống Pháp. chính trị đối lập.
Ý chí kháng chiến giành độc Miền Nam bị chính quyền
lập, thống nhất đất nước của Ngô Đình Diệm đàn áp, vi nhân dân mạnh mẽ.
phạm Hiệp định Genève.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa
Chiến tranh Lạnh gây căng
phát triển mạnh, được Liên
thẳng, đối đầu giữa Mỹ và Quốc tế Xô, Trung Quốc ủng hộ. Liên Xô.
Phong trào giải phóng dân
Trung Quốc làm suy yếu sự
tộc trên thế giới dâng cao, đoàn kết trong phe XHCN. tạo động lực
Mâu thuẫn Liên Xô - Phong Mỹ hậu thuẫn chính quyền
trào hòa bình quốc tế ngày Sài Gòn, biến miền Nam càng ủng hộ Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới.
Về chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên CNXH
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Tháng 9/1954, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả
chiến tranh và phục hồi kinh tế ở miền Bắc. Đến ngày 16/5/1955, toàn bộ quân viễn chinh
Pháp đã rút khỏi miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc tái thiết.
Công tác khôi phục sản xuất nông nghiệp được triển khai mạnh mẽ thông qua cải cách ruộng
đất và vận động đổi công. Đến tháng 7/1956, cải cách ruộng đất cơ bản hoàn thành dù có
những sai lầm cần được sửa chữa trong các năm 1956-1957. Cùng thời gian này, các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giao thông vận tải cũng được khôi phục.
Giai đoạn 1958-1960 đánh dấu bước phát triển mới với kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế -
văn hóa. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 16 (4/1959) về hợp tác hóa nông nghiệp đã tạo nền
tảng vững chắc cho con đường xã hội chủ nghĩa, biến miền Bắc thành hậu phương vững
mạnh cho cách mạng cả nước.
Tình hình miền Nam và sự can thiệp của Mỹ
Trong khi đó tại miền Nam, Mỹ nhanh chóng thay chân Pháp, với ý đồ chia cắt lâu dài đất
nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ chống phe XHCN và là thuộc địa kiểu mới của
Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên đã thi hành chính sách "tố cộng, diệt
cộng" tàn bạo, lập các "khu trù mật" và sử dụng Luật 10/59 để đàn áp phong trào yêu nước.
Đứng trước tình hình đó, Đảng đã điều chỉnh phương thức đấu tranh từ quân sự sang chính
trị. Hội nghị Trung ương 6 (7/1954) xác định Mỹ là kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông
Dương. Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đã soạn thảo văn kiện quan
trọng "Đề cương đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam” chỉ rõ con đường cứu nước
duy nhất đúng đắn là con đường cách mạng, được xem là con đường cách mạng đúng đắn lúc đó.
Bước ngoặt Đồng Khởi và thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (1/1959) xác định nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền
Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và phong kiến tay sai, thực hiện độc lập dân tộc và
người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Nghị
quyết nhấn mạnh: Cách mạng miền Nam phải dựa vào sức mình là chính (tự lực tự cường)
Phương hướng phát triển cơ bản là khởi nghĩa giành chính quyền bằng con đường đấu tranh
chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng và sự chỉ đạo sát sao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Bắc
đã tích cực chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam. Với vai trò là hậu phương
lớn, miền Bắc không ngừng củng cố tiềm lực kinh tế - quốc phòng, đồng thời mở các tuyến
đường vận chuyển vũ khí, lương thực và cán bộ vào chiến trường miền Nam.
Trên chiến trường miền Nam, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng. Nhân dân miền
Nam đã tiến hành hàng loạt cuộc khởi nghĩa vũ trang, mà đỉnh cao là phong trào "Đồng
khởi" bùng nổ vào năm 1959-1960. Hình thức đấu tranh chủ yếu là hình thức là khởi nghĩa
đồng loạt (đồng khởi) bắt đầu bùng nổ ở huyện Mỏ Cày, Bến Tre sau đó lan ra các huyện
khác. Hệ thống kìm kẹp của địch ở xã, ấp bị tê liệt và tan vỡ từng mảng lớn.
Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hậu phương miền Bắc và tiền tuyến miền Nam đã tạo nên sức
mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng chuyển sang thế chủ động
tiến công, mở ra giai đoạn mới trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.
Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi:
Phong trào đã giáng một đòn rất nặng vào chính sách tân thuộc địa của Mỹ, làm lung lay
chính quyền Ngô Đình Diệm.Đồng thời cũng đánh dấu bước phát triển của Cách mạng miền
Nam từ thế bảo toàn lực lượng sang thế tiến công.
Từ tinh thần của phong trào Đồng khởi, ngày
, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền 20/12/1960
Nam Việt Nam ra đời với Chương trình hành động 10 điểm, tập hợp lực lượng đấu tranh cho
một miền Nam độc lập, dân chủ, tiến tới thống nhất đất nước, tổ chức đoàn kết rộng rãi các
tầng lớp nhân dân yêu nước ở miền Nam, từ nông dân, công nhân đến trí thức và các thành phần xã hội khác.
Mặt trận đã xác định rõ mục tiêu đánh đổ chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ và chính quyền
tay sai Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, đồng thời
hướng tới thống nhất đất nước.
Sự ra đời của Mặt trận đánh dấu bước chuyển biến quan trọng từ đấu tranh tự phát sang tổ
chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo nền tảng vững chắc cho những thắng lợi quyết
định sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự kiện này đã đánh dấu bước
phát triển mới của cách mạng miền Nam.
B. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phát triển thế tiến công của cách mạng miền Nam (1961-1965)
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội. Trong
diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà” . Về đường lối chung
của cách mạng Việt Nam, Đại hội xác định hai nhiệm vụ chiến lược phải tiến hành đồng thời:
● Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
● Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất
nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.
Trên cơ sở miền Bắc vừa hoàn thành kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960),
Đại hội lần thứ III đã đề ra kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961-1965), nhằm:
1. Hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc từ kinh tế cá thể tiến
lên kinh tế tập thể, kết hợp với quốc doanh,
2. Xây dựng bước đầu cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và thực hiện
một bước công nghiệp hóa,
3. Cải thiện đời sống nhân dân,
4. Bảo đảm an ninh quốc phòng, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà .
Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), nhiều cuộc vận động và
phong trào thi đua được triển khai sâu rộng trên các lĩnh vực:
● Nông nghiệp có phong trào thi đua “Đại Phong” (Quảng Bình).
● Công nghiệp có phong trào thi đua “Duyên Hải” (Hải Phòng).
● Tiểu thủ công nghiệp có phong trào thi đua với Hợp tác xã thủ công nghiệp Thành Công (Thanh Hóa).
● Giáo dục có phong trào thi đua học tập Trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam).
● Quân đội có phong trào “Ba nhất”.
Đặc biệt, phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền
Nam ruột thịt” theo Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh (tại Hội nghị chính trị đặc biệt, tháng
3-1964) đã tạo nên không khí phấn khởi, hăng hái thi đua hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch .
Kế hoạch 5 năm này dẫu mới thực hiện hơn bốn năm (tính đến tháng 8-1964) thì phải chuyển
hướng để đối phó với việc Mỹ bắt đầu phá hoại miền Bắc, nhưng những mục tiêu chủ yếu đã
cơ bản hoàn thành. Qua 10 năm khôi phục, cải tạo và bước đầu xây dựng nền móng xã hội
chủ nghĩa (1955-1965), “miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử
dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới” . Miền Bắc trở thành hậu phương lớn của
cả nước, với chế độ chính trị ưu việt, lực lượng kinh tế và quốc phòng được củng cố mạnh mẽ.
Song song với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thế tiến công cách mạng ở miền
Nam cũng không ngừng phát triển:
● Đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) hình thành tuyến giao thông chiến
lược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam, mặc cho địa hình hiểm trở và
sự đánh phá ác liệt của kẻ thù, trở thành “mạch máu” nối liền hậu phương với tiền tuyến.
● Đường vận tải trên biển (các chuyến “tàu không số”) đã vận chuyển hàng chục tấn
vũ khí từ miền Bắc vào tận các căn cứ ven biển Phú Yên, Bà Rịa, Cà Mau… cung cấp
kịp thời cho quân dân miền Nam. Nhờ vậy, “năm 1965 số bộ đội từ miền Bắc được
đưa vào miền Nam tăng 9 lần, số vật chất tiếp tế tăng 10 lần so với năm 1961” .
Trên thực tế, đế quốc Mỹ đã chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” từ năm 1961, trực
tiếp can thiệp và âm mưu “bình định” miền Nam trong vòng 18 tháng, dựng “ấp chiến lược”
làm quốc sách, sử dụng các thủ đoạn “trực thăng vận”, “thiết xa vận” hòng dồn dân, cắt đứt
phong trào cách mạng. Để tăng cường chỉ đạo và thống nhất lực lượng, Trung ương Cục miền
Nam được thành lập (tháng 10-1961), Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
(15-2-1961). Từ thắng lợi Ấp Bắc (Mỹ Tho) đến phong trào phá “ấp chiến lược”, khủng
hoảng chính trị nội bộ chính quyền Sài Gòn và cao trào đấu tranh của quần chúng đã đẩy Mỹ
- ngụy lún sâu vào bế tắc. Đến đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ căn
bản bị phá sản, tạo điều kiện để đưa cách mạng miền Nam tiếp tục tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn.
Trong giai đoạn 1961-1965, lịch sử cách mạng của Việt Nam đã ghi dấu ấn bước ngoặt sâu
sắc trong việc chuyển đổi và phát triển đất nước. Phía miền Bắc, sau gần một thập kỷ khôi
phục, cải tạo và xây dựng nền tảng xã hội chủ nghĩa, giai đoạn này đã tạo ra một bước chuyển
mình mạnh mẽ: từ kinh tế cá thể sang kinh tế tập thể và kết hợp với quốc doanh, từ đó hình
thành cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho cuộc công nghiệp hóa quy mô quốc gia. Thành
quả từ các phong trào thi đua như “Đại Phong”, “Duyên Hải”, “Mỗi người làm việc bằng hai”
và phong trào thi đua “Ba nhất” trong quân đội đã cho thấy sức mạnh tập thể, khát vọng đổi
mới và lòng yêu nước sâu sắc của toàn xã hội. Qua đó, không chỉ nâng cao năng suất sản xuất
và đời sống nhân dân, mà còn củng cố quốc phòng, biến miền Bắc thành hậu phương vững
mạnh cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.
Phía miền Nam, dù đối mặt với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, thế tiến
công cách mạng vẫn không ngừng phát triển nhờ vào sự chỉ đạo đồng bộ của Trung ương và
tinh thần quật cường của quần chúng nhân dân. Các tuyến đường chiến lược như Đường
Trường Sơn và các chuyến “tàu không số” đã khẳng định vai trò sống còn trong việc tiếp tế,
củng cố lực lượng chiến đấu ở tiền tuyến. Những nỗ lực ấy không chỉ giữ vững và mở rộng
phong trào cách mạng, mà còn tạo tiền đề quan trọng cho những thắng lợi quyết định về sau.
Về mặt ý nghĩa lịch sử, giai đoạn này không chỉ là thời kỳ “đổi mới” cả về phương thức sản
xuất và quản lý kinh tế, mà còn là lúc quần chúng nhân dân được huy động đồng lòng, đồng
sức vượt qua nghịch cảnh, khắc phục những khó khăn do chiến tranh và gián đoạn phát triển
gây ra. Nhìn lại quá trình đó, Việt Nam chúng ta đã rút ra nhiều bài học quý giá.
Một trong những bài học đắt giá của giai đoạn này là về khả năng lãnh đạo tập trung và
thống nhất của Đảng ta. Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, miền Bắc và miền Nam tuy
hai mà một, cùng nằm trong chiến lược cách mạng tổng thể do Trung ương Đảng hoạch định
và chỉ đạo. Đảng ta đã thể hiện rõ vai trò là hạt nhân lãnh đạo cao nhất, điều phối nhịp nhàng
giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc với cuộc đấu tranh cách mạng ở miền
Nam. Sự gắn kết này không chỉ mang tính chiến lược mà còn thể hiện tính chủ động và linh
hoạt trong cách ứng phó với tình hình phức tạp của thời cuộc. Chính sự đồng bộ đó đã tạo ra
một sức mạnh tổng hợp to lớn, làm nên thế trận vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần, đảm
bảo cho tiền tuyến miền Nam có đủ hậu thuẫn để phát triển thế tiến công cách mạng, đồng
thời giúp miền Bắc đứng vững trước mọi âm mưu phá hoại của đế quốc Mỹ.
Bên cạnh sự lãnh đạo chặt chẽ, giai đoạn này còn ghi dấu ấn sâu sắc bởi tinh thần thi đua
yêu nước được phát động rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực. Những phong trào như “Đại
Phong”, “Duyên Hải”, “Ba Nhất”, hay phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai” không đơn
thuần là các khẩu hiệu mang tính phong trào, mà thực sự là những cuộc vận động lớn đã khơi
dậy tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt khó và sự sáng tạo của từng cá nhân, từng tập thể. Từ
nông thôn đến thành thị, từ nhà máy đến chiến hào, mọi người dân đều coi việc lao động, sản
xuất, học tập và chiến đấu là cách để góp phần vào sự nghiệp chung. Nhiều sáng kiến, mô
hình sản xuất mới đã ra đời từ chính các phong trào thi đua này, không chỉ nâng cao hiệu quả
công việc mà còn tạo nên sự gắn bó, đồng lòng trong toàn xã hội. Chính sự thi đua sôi nổi ấy
đã giúp miền Bắc, dù trong điều kiện còn nghèo khó, vẫn vươn lên trở thành hậu phương
vững chắc, là chỗ dựa không thể thay thế cho cuộc kháng chiến của cả dân tộc.
Ngoài ra mấu chốt dẫn tới sự thành công của giai đoạn này còn có khả năng linh hoạt, chủ
động trong điều chỉnh chiến lược phát triển. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961–1965)
vốn được xây dựng với mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong điều kiện hòa bình.
Tuy nhiên, khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, đặc biệt từ sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm
1964, tình hình đã thay đổi nhanh chóng và hết sức nghiêm trọng. Trước biến động ấy, Đảng
đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo: từ ưu tiên phát triển kinh tế sang kết hợp chặt chẽ giữa sản
xuất và chiến đấu, vừa củng cố hậu phương, vừa sẵn sàng đối phó với chiến tranh phá hoại
của Mỹ. Miền Bắc từ đó chuyển sang thế trận vừa là "cái nôi" của xây dựng chủ nghĩa xã hội,
vừa là “pháo đài” phòng thủ vững chắc và là “bàn đạp” để chi viện cho miền Nam. Khả năng
linh hoạt ấy không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong lãnh đạo, mà còn cho thấy tính đúng đắn và
thực tiễn cao của đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầy cam go này.
Tổng kết lại, giai đoạn 1961-1965 không chỉ là một chặng đường phát triển kinh tế, chính trị
và quân sự mà còn là biểu hiện rõ nét của sự chuyển mình trong tinh thần cách mạng của dân
tộc. Qua đó, đất nước đã "đổi mới" toàn diện từ cơ sở vật chất đến tư duy cách mạng, mở ra
một trang sử hào hùng, thể hiện tầm vóc và dấu ấn lịch sử sâu sắc, là tiền đề vững chắc cho
những thắng lợi quyết định sau này.
Bảng: Một số phong trào thi đua tiêu biểu ở miền Bắc (1961-1965)
Tên phong trào Thời gian & Nội dung chính Ý nghĩa địa điểm Phong trào Bắt đầu
Khởi đầu là phong trào thi Góp phần thúc đẩy toàn “Đại Phong” khoảng năm
đua giữa các tổ đội sản xuất, miền Bắc noi gương, tăng
1961, tại Hợp nâng cao năng suất lúa và năng suất nông nghiệp, xây tác xã Đại
hoa màu, với mục tiêu hợp dựng mô hình hợp tác xã
Phong (Quảng tác - tương trợ.
kiểu mẫu, cổ vũ sản xuất Bình) nông nghiệp lên quy mô lớn. Phong trào
1961, Nhà máy Thi đua phát huy sáng kiến, Thúc đẩy công nghiệp, cải “Duyên Hải”
Cơ khí Duyên cải tiến kỹ thuật, tổ chức lại tiến máy móc và quy trình, Hải (Hải
sản xuất để nâng cao năng nâng cao ý thức lao động Phòng)
suất, chất lượng sản phẩm tập thể, trở thành điển hình công nghiệp.
cải tiến kỹ thuật ở khu vực công nghiệp. “Mỗi người
Từ năm 1964, Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Khơi dậy nhiệt huyết yêu
làm việc bằng lan rộng toàn Chí Minh trong bối cảnh đế nước, nâng cao hiệu quả
hai để đền đáp miền Bắc
quốc Mỹ leo thang ở miền sản xuất, tăng sức chi viện đồng bào miền Nam. Phong trào nêu cao cho miền Nam về lực Nam ruột thịt” tinh thần “tay búa, tay
lượng, vật chất, góp phần
súng”, vừa sản xuất, vừa sẵn đánh bại chiến lược “Chiến sàng chiến đấu. tranh đặc biệt”.
Phong trào “Ba Khoảng 1962 - Thi đua “Nhất trong học tập Nâng cao tinh thần chiến Nhất” (trong 1965
chính trị, Nhất trong huấn đấu, trình độ chính trị và kỹ Quân đội)
luyện quân sự, Nhất trong - chiến thuật của bộ đội, tạo
chấp hành kỷ luật, sẵn sàng điều kiện bảo vệ vững chắc chiến đấu”.
miền Bắc, làm hậu phương lớn cho miền Nam. Hình ảnh tư liệu:
1. Phong trào gió đại phong 2.
phong trào thi đua “Hai tốt” ngành giáo dục năm 1961 3.
Phong trào thi đua sóng duyên hải 4.
Phong trào thi đua cờ ba nhất
2. Đảng lãnh đạo cách mạng cả nước (1965-1975)
a. Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên cả nước (mục a,b trong sách tr47-50)
Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng.
+ Quyết tâm chiến lược: Trung ương khẳng định chúng ta có đủ điều kiện và sức mạnh
để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Với tinh thần "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược",
Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong toàn quốc,
cọi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc. + Mục tiêu chiến
: kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ lược trong bất kỳ tình
huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. + Phương châm chiến :
lược đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, từng bước đánh
mạnh; cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng, mở rộng cả hai miền để
mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời
gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam.
+ Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: giữ vững và phát triển thế tiến công, kiên
quyết tiến công và liên tục tiến công, đánh trên cả ba vùng chiến lược. Trong giai
đoạn này, trận địa quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng.
+ Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo đảm tiếp tục xây dựng miền
Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong thời kỳ chiến
tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền
Bắc XHCN, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
+ Về mối quan hệ và nhiệm vụ cách mạng của cả :
nước miền Nam là tiền tuyến lớn
chống Mỹ, miền Bắc là hậu phương lớn. Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau,
mà mật thiết gắn bó nhau. Khẩu hiệu chung của cách mạng cả nước lúc này là "Tất cả
để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược".
+ Ý nghĩa của đường lối: Nghị quyết HNTW lần thứ 11 và lần thứ 12 năm 1965 với
nội dung như trên thể hiện tư tưởng mới mẻ, sự trưởng thành của cách mạng độc lập
dân tộc và CNXH, tiếp tục thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng của Đảng và
quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
của dân tộc ta. Đó là đường lối chiến lược cách mạng đúng đắn, toàn dân, toàn diện,
lâu dài, dựa vào sức mình là chính trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nó cơ sở để
Đảng lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi tới thắng lợi vẻ vang.
Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc; giữ
vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965 – 1968)
- Ở miền Bắc, từ ngày 5-8-1964, Mỹ dựng lên “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” nhằm lấy cớ
dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Từ đó, miền Bắc trở về
thời kỳ đói, Mỹ đã huy động lực lượng lớn không quân và hải quân, trút hàng triệu tấn
bom đạn, gây nên những tội ác tày trời với nhân dân ta.
- Trước tình hình đó, theo tinh thần của Nghị quyết HNTW lần thứ 11 và lần thứ 12,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời xác định chủ trương:
+ Một là, kịp thời chuyển hướng xây dựng kinh tế cho phù hợp với tình hình có chiến tranh phá hoại;
+ Hai là, tăng cường lực lượng quốc phòng cho miền Nam và phát triển tình hình cả nước có chiến tranh; + Ba là , ra
sức chi viện cho miền Nam với mức cao nhất để đánh bại địch ở chiến trường chính miền Nam;
+ Bốn là, phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình mới.
- Thực hiện chủ trương của Đảng, quân và dân miền Bắc đã đẩy lên cao phong trào thi
đua chiến đấu, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, với các phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Tay cày tay súng", "Tay búa,
tay súng", "Tay bút, tay súng", "Nhằm
thẳng quân thù mà bắn", trong chi viện tiền tuyến với khẩu hiệu "Thóc không thiếu
một cân, quân không thiếu một người", trong bảo đảm giao thông có "Sống bám cầu,
bám đường, chết kiên cường, dũng cảm", và "Xe chưa qua, nhà không tiếc". + Mỹ liên tiếp ném bom, bắn phá miền Bắc, tháng
3-1968, đế quốc Mỹ buộc phải
ngừng ném ở cả hai miền Nam - Bắc, tháng 11-1968, Mỹ buộc phải tuyên bố chấm
dứt hẳn việc ném bom phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Đây là thắng lợi
của miền Bắc trên mặt trận chống chiến tranh phá hoại.
+ Sau Đông - Xuân 1965-1966, ta đã chuyển hướng xây dựng và phát triển lực lượng vũ
trang, đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và giành thế chủ động trên các mặt trận ở miền Nam. +
Ngày 28-1-1967, HNTW13 (khóa III) đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm
tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, bè bạn, mở ra cục diện vừa đánh,vừa đàm. Tháng
1-1968, Nghị quyết HNTW14 đã chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới.
+ Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, phát động tiến công và nổi dậy đợt 1. Trong các đợt
tiến công tiếp theo vào tháng 5 và tháng 8-1968, quân và dân ta đã tiêu diệt và loại
khỏi vòng chiến đấu hàng chục vạn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh,
giải phóng thêm hàng triệu đồng bào.
+ Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là một chủ trương táo bạo và sáng tạo
của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ. Chiến lược "Chiến
tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ phá sản, phải chấp nhận đàm phán với Việt Nam từ ngày 13-5-1968 tại Pari. Bên cạnh
đó, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động quân sự năm 1968,
chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan trong việc đánh giá tình hình, đề ra yêu cầu chưa
sát với thực tế. Cách mạng miền Nam lâm vào thời kỳ khó khăn nghiêm trọng do bị
tổn thất lớn về lực lượng và thế trận.
=> Điểm nổi bật nhất của cuộc kháng chiến giai đoạn này là:
● Sự lãnh đạo đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo của Đảng
● Chiến thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
● Tiến công Mậu Thân 1968 làm thay đổi cục diện chiến tranh
● Phối hợp giữa đấu tranh quân sự và ngoại giao hiệu quả.
Sự đúng đắn và linh hoạt trong đường lối được thể hiện:
● Cuối năm 1974 – đầu năm 1975, nhận thấy so sánh lực lượng ở miền Nam
thay đổi có lợi cho cách mạng, Bộ chính trị Trung ương Đảng đề ra kế hoạch
giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 và 1976.
● Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì
lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.
● Bộ Chính trị cũng phân tích rõ sự cần thiết tranh thủ thời cơ đánh nhanh thắng
nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế,
công trình văn hóa,… giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.
Liên hệ quốc tế và khu vực liên quan: Bối cảnh:
- Chiến tranh lạnh giữa hai phe: Tư bản chủ nghĩa (do Mỹ đứng đầu) và Xã hội chủ
nghĩa (do Liên Xô dẫn đầu) đang ở giai đoạn căng thẳng.
- Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc phát triển mạnh ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh.
- Mâu thuẫn Xô – Trung ngày càng gay gắt, ảnh hưởng trực tiếp đến viện trợ và quan
hệ quốc tế của Việt Nam.
- Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam lan rộng ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới.
Ảnh hưởng đến đường lối kháng chiến của Việt Nam:
Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã xác định đường lối kháng chiến rất rõ ràng:
a. Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính:
- Dù nhận viện trợ, Việt Nam xác định không phụ thuộc, luôn giữ vững lập trường tự lực tự cường.
- Điều này thể hiện rõ trong việc chủ động mở chiến dịch, quyết định thời cơ chiến lược
mà không chờ đợi các nước lớn.
b. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại:
- Biết tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
- Đồng thời tận dụng sự phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ, các tổ chức tiến bộ toàn
cầu để gây sức ép buộc Mỹ rút quân.
c. Chủ động đối phó với thay đổi quốc tế:
b. Khi mâu thuẫn Xô – Trung tăng cao, Việt Nam vẫn giữ thế cân bằng, không để chia rẽ
nội bộ phe xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến kháng chiến.
c. Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng
miền Nam, thống nhất tổ quốc (1969-1975) (mục c trong sách, tr50-52)
Miền Bắc: Vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa tiếp tục công cuộc xây
dựng CNXH và tăng cường lực lượng cho miền Nam.
- Từ tháng 11/1968, tranh thủ những thuận lợi mới do Mỹ chấm dứt chiến tranh
phá hoại miền Bắc lần 1, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện các kế
hoạch ngắn hạn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, tiếp tục công cuộc xây
dựng miền Bắc và tăng cường lực lượng cho miền Nam.
- Ngày 02/09/1969, chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hưởng thọ 79 tuổi, người để
lại một bản Di chúc lịch sử chứa đựng những tư tưởng lớn về những vấn đề căn
bản và cốt lõi về Cách mạng Việt Nam.
- Sau 3 năm (1969-1972), tình hình có nhiều chuyển biến tốt đẹp trên nhiều mặt.
● Trong nông nghiệp, năm 1969, diện tích các loại cây trồng đều vượt năm
1968, riêng diện tích và sản lượng lúa tăng khá nhanh, lúa xuân tăng hai
lần so với năm 1968, chăn nuôi cũng phát triển mạnh.
● Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp bị địch đánh phá được khôi phục và sửa
chữa, hệ thống giao thông, cầu phà, bến bãi được khẩn
trương khôi phục và xây dựng thêm.
● Trong lĩnh vực giáo dục, y tế có bước phát triển tốt so với trước, nhất là
hệ thống giáo dục đại học, tăng lên 36 trường và phân hiệu với hơn 8 vạn sinh viên.
=> Tiềm lực về mọi mặt của hậu phương miền Bắc được tăng cường, cải thiện đời
sống nhân dân, cho phép miền Bắc chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến ngày
càng cao, góp phần quyết định tạo nên chiến thắng to lớn trên chiến trường miền Nam.
- Từ tháng 04/1972, Đế quốc Mỹ đã cho máy bay , tàu chiến tiến hành
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai hết sức ác liệt, nhất là
cuộc rải thảm bom 12 ngày đêm
bằng pháo đài bay B.52 tại Hà Nội,
Hải Phòng và một số địa phương
khác (Mỹ gọi là cuộc hành quân Lainebacker II).
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân
và dân miền Bắc đã bình tĩnh, sáng
tạo, vừa sản xuất vừa chiến đấu trong 12 ngày đêm đó (từ 18-30/12/1972) lập
nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ.
● Bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B.52, 5 máy bay F-111, 42
máy bay chiến thuật các loại…
● Tiêu diệt và bắt sống gần 100 phi công
- Ngày 15/01/1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố dừng mọi hoạt động phá hoại miền Bắc nước ta.
- Ngày 27/01/1973, sau chiến
thắng “Điện Biên Phủ trên không”,
đế quốc Mỹ buộc phải trở lại bàn
đàm phán và ký kết Hiệp định Paris,
công nhận độc lập chủ quyền, thống
nhất của nước Việt Nam, chấm dứt
chiến tranh phá hoại miền Bắc.
- Sau ngày Hiệp định Paris được ký
kết, miền Bắc có hòa bình, Trung
ương Đảng đã đề ra kế hoạch hai
năm khôi phục và phát triển kinh tế 1974-1975 - Miền
Bắc hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ hậu phương lớn đối với
tiền tuyến lớn miền Nam, và hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đối với
cách mạng Lào và Campuchia.
● Đảm bảo tiếp nhận hàng
viện trợ từ bên ngoài và chi viện theo yêu cầu của tiền tuyến miền Nam, cả Lào và Campuchia.
● Từ năm 1969-1971, hàng chục vạn thanh niên nhập ngũ, 60% vào miền Nam, Lào và Campuchia.
● Năm 1972, 22 vạn thanh niên nhập ngũ vào chiến trường Đông Dương.
● Viện trợ khối lượng vật chất tăng 1,6 lần trước kia (năm 1972 tăng 1,7 lần so với năm 1971)
● Tính tổng thể, hậu phương miền Bắc XHCN đã đảm bảo 80% bộ đội
chủ lực, 70% vũ khí và lương thực, 65% thực phẩm cho chiến trường
miền Nam, nhất là giai đoạn cuối.
Miền Nam: Đẩy mạnh cuộc chiến đấu, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
- Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, để tiếp tục cuộc chiến tranh
thực dân mới của Mỹ ở miền Nam, từ đầu năm 1969, Mỹ đã thực hiện chiến
lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, nhằm “dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam”.
- Đảng ta đề ra quyết tâm và chủ trương chiến lược, thể hiện trong Thư chúc
mừng năm mới (01/01/1969) của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì độc lập, vì tự do,
đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
- Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (01/1970) và Hội nghị
Bộ Chính trị (06/1970) đã đề ra chủ trương mới nhằm chống lại chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, tập
trung ngăn chặn và đẩy lùi chương trình “bình định” của địch. - Năm
1971, quân và dân Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào chủ động
đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn “Lam Sơn 719” của Mỹ - ngụy đánh vào
Đường 9 - Nam Lào; cũng quân dân Campuchia đập tan cuộc hành quân “Toàn
thắng 01/1971” của Mỹ - ngụy đánh vào các hậu cứ kháng chiến tại Đông - Bắc Campuchia.
- Mùa xuân hè năm 1972, quân ta mở cuộc tiến công chiến lược với quy mô lớn
ở Trị - Thiên, đánh thẳng vào tuyến phòng ngự của địch ở Đường 9.
- Cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris đã kéo dài tận 4 năm 8 tháng
14 ngày, với 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng cấp cao, 500 cuộc họp
báo, 1000 cuộc phỏng vấn, đàm phán kết thúc vào ngày 27/01/1973 với việc ký
kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
=> Nhân dân ta đã đạt được mục tiêu quan trọng hàng đầu là đè bẹp ý chí xâm lược
của đế quốc Mỹ, là cơ hội lớn cho sự nghiệp cách mạng từ “đánh cho Mỹ cút” tiến lên
“đánh cho ngụy nhào”.
- Mặc dù phải ký Hiệp định Paris, rút quân khỏi Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ
vẫn ngoan cố, không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược Việt Nam mà âm mưu tiếp tục
tiến hành chiến tranh để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới và chia cắt lâu dài đất
nước ta. Một trong những mục tiêu chiến tranh mà Mỹ - ngụy đề ra trong kế
hoạch 3 năm (1973-1976) là chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng của ta, xóa bỏ
hình thái “da báo” ở miền Nam, nhằm biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt lệ thuộc Mỹ.
- Theo âm mưu đó, ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết, dưới sự chỉ đạo
của Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ngang ngược phá hoại hiệp định,
liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
- Trước tình hình đó, tháng 07/1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa III) đã nêu rõ:
● Con đường cách mạng ở miền Nam: con đường bạo lực cách mạng
● Nhiệm vụ: giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách
mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản
● Tư tưởng chỉ đạo: tích cực phản công, chuẩn bị tiến lên hoàn toàn giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
- Thực hiện Nghị quyết của Đảng, từ cuối năm 1973 và cả năm 1974, quân và
dân ta ở miền Nam đã liên tiếp giành được thắng lợi to lớn trên khắp các chiến
trường, từ Trị - Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng ven Sài Gòn.
=> Phá vỡ từng mảng lớn kế hoạch “bình định” của địch, mở rộng thêm nhiều
vùng giải phóng, tiêu diệt nhiều cụm cứ điểm, chỉ khu, quận lỵ, bức rút nhiều
đồn bốt, dồn địch vào thế đối phó lúng túng, bị động.
- Cuối 1974 - đầu 1975, quân ta
đánh chiếm thị xã Phước Long
(06/01/1975), giải phóng hoàn
toàn tỉnh Phước Long, địch
không có khả năng đánh chiếm trở lại.
=> Chiến thắng Phước Long có
ý nghĩa như một đòn thăm dò chiến thắng tạo nên cơ sở để
Hội nghị Bộ Chính trị đi tới
nhận định: Chưa bao giờ ta có
điều kiện đầy đủ về quân sự, chính trị, có thời có chiến lược to lớn như hiện nay.
- Hội nghị Bộ Chính trị đợt 1 (30/09 đến 08/10/1974) và đợt 2 (08/12/1974 đến
07/01/1975) đã bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính
trị đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.
- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã diễn ra trên toàn miền
Nam, bắt đầu bằng Chiến dịch
Tây Nguyên, tiến công vào thị xã Buôn Mê
Thuột ngày 10/03/1975 và giành thắng lợi.
- Cuộc họp Bộ chính trị ngày 18/03/1975 đã quyết định: giải phóng miền Nam trong năm 1975.
- 26/03/1975, thành phố Huế được giải phóng.
- 29/03/1795, Đà Nẵng được giải phóng.
- Ngày 25/03/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm chiến lược: giải phóng miền Nam trước mùa mưa.
- Ngày 26/04/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định bắt đầu.
- Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/04/1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên
Dinh Độc Lập, Sài Gòn được giải phóng, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân
1975 của quân và dân ta đã toàn thắng.
(Hình ảnh chiến sĩ đầu tiên cắm lá cờ trên nóc Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975) 3. Ý nghĩa, kinh nghiệm. a) Ý nghĩa
Ý nghĩa lịch sử đối với Việt Nam
- Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam đã kết
thúc thắng lợi 21 năm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược, 30 năm chiến tranh
cách mạng, 117 năm chống đế quốc xâm lược, quét sạch quân xâm lược, đưa lại
độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước.
- Cùng với chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ, đại thắng
mùa xuân 1975 đã cắm thêm một mốc vinh quang chói lọi trong quá trình đi lên
của lịch sử Việt Nam. Có tầm quan trọng quốc tế, có tính thời đại sâu sắc.
- Mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất,
cùng chung một nhiệm vụ chiến lược, đi lên chủ nghĩa xã hội. Làm tăng thêm sức
mạnh vật chất tinh thần, thế và lực cho cách mạng và dân tộc Việt Nam, nâng cao
uy tín của Đảng và dân tộc trên trường quốc tế; nâng cao khí phách, niềm tự hào
và để những kinh nghiệm quý cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
- Làm thất bại âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc tiến công vào chủ
nghĩa xã hội và cách mạng thế giới; đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô
lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ