










Preview text:
CHƯƠNG I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
I. Nguồn gốc, bản chất NN
- Khái niệm NN: Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một
lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lý
xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội. 1. Nguồn gốc của NN.
Nguồn gốc của NN: LLSX phát triển đã dẫn đến sự ra đời chế độ tư hữu và từ đó xã hội
phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa
được xuất hiện. Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà
còn tiêu diệt luôn cả xh. Để thảm họa đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là NN
a. Quan điểm Phi Mác-xít: có 4 thuyết
*Thuyết thần học (thần quyền): Theo thuyết này NN là một lực lượng siêu tự nhiên, do
thượng đế tạo ra để duy trì và ổn định trật tự XH, quyền lực của NN là bất biến, NN tồn
tại vĩnh cửu. Mọi sự vật hiện tượng trong xã hội đều bị ảnh hưởng bởi tư tưởng tôn giáo thần bí
*Thuyết gia trưởng: cho rằng NN xuất hiện chính là kết quả của sự phát triển của gia
đình và quyền gia trưởng, thực chất NN chính là mô hình của một gia tộc mở rộng và
quyền lực NN chính là từ quyền gia trường được nâng cao lên hình thức tổ chức tự nhiên của XH loài người.
+ NN là kế tục sự phát triển tự nhiên của tổ chức gia đình trên bình diện xã hội. Quyền
lực nhà nước giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình (tham khảo)
*Thuyết bạo lực: cho rằng NN xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến tranh xâm lược, là
việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với các thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến
thắng đặt ra một hệ thống cơ quan đặc biệt là nhà nước để nô dịch kẻ chiến bại.
+ NN xuất hiện từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác -> thị tộc
chiến thắng lập ra một hệ thống cơ quan đặc biệt -> nô dịch kẻ chiến thắng (tham khảo)
*Thuyết khế ước xã hội: NN là kết quả của khế ước (hợp đồng) xã hội, được lập ra từ sự
thỏa thuận giữa nhân dân trong xã hội với tổ chức được giao quyền lực công để thay mặt
họ quản lý xã hội. Quyền lực NN thuộc về nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Trong
trường hợp NN không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên như quyền được
sống, tự do, bình đẳng, sở hữu tài sản,… bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân
dân có quyền lật đổ NN này và ký kết khế ước mới, một NN mới ra đời.
=> Các học thuyết này khi luận giải về nguồn gốc ra đời của NN và chúng có nhược
điểm chung là: các học thuyết bị chi phối bởi lợi ích giai cấp nên lí giải theo nhu cầu của
giai cấp và che đậy bản chất thật. Các học thuyết này khi xem xét sự ra đời của NN tách
rời ra khỏi điều kiện tự nhiên, KT, XH và các quá trình lịch sử để CM NN không thuộc
giai cấp nào và tồn tại trong mọi xã hội
b. Quan điểm của CNMLN: Các nhà kinh điển (C.Mác, Ăng-ghen, Lenin) đã sử dụng 2
phương pháp nghiên cứu khoa học là CNDVBC và CNDVLS để lý giải về nguồn gốc NN.
- Theo quan điểm của CNMLN, sự xuất hiện của NN là hiện tượng xã hội mang tính chất
lịch sử, NN không phải bất biến mà có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và diệt
vong. Trong quá trình lịch sử, đã có thời gian chưa tồn tại NN. Và NN chỉ ra đời khi xã
hội loài người đạt đến một trình độ nhất định.
- Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, nó chỉ xuất
hiện khi đã hình thành chế độ tư hữu về tài sản (tiền đề kinh tế); xuất hiện sư phân chia
xã hội thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp gay gắt đến mức
không thể điều hòa được (tiền đề xã hội).
+ Đầu tiên, Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa có sự phân chia giai cấp và không
có đấu tranh giai cấp -> Xã hội này đã xuất hiện sự quản lý ở mức thấp dưới dạng quyền
lực công cộng mang tính xã hội do thị tộc, bộ lạc tổ chức ra.
+ Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất làm cho hoạt động sản xuất của xã
hội liên tục mở rộng và chuyên môn hóa dẫn tới ba lần phân công lao động xã hội: chăn
nuôi tách khỏi trồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và thương nghiệp ra đời
-> Năng suất lao động tăng, của cải dư thừa ngày càng nhiều đã dẫn đến sự gia tăng tích
lũy tài sản, góp phần hình thành và phát triển chế độ tư hữu. Về xã hội, chế độ tư hữu
cùng với sự xuất hiện gia đình làm cho tổ chức thị tộc - bộ lạc dần dần tan rã, dẫn đến sự
phân hóa giàu nghèo và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gia tăng. Xã hội dần dần hình
thành các tập đoàn người có địa vị kinh tế - xã hội khác nhau về nhiều phương diện. Mâu
thuẫn giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt -> Đề điều hành và quản
lý xã hội mới, đòi hỏi phải có một tổ chức mới -> Tổ chức đó do giai cấp nắm ưu thế về
kinh tế lập ra, là công cụ quyền lực của giai cấp đó nhằm tổ chức thực hiện sự thống trị
giai cấp, dập tắt các xung đột công khai giữa các giai cấp và giữ cho các xung đột ấy
trong vòng “trật tự”. Tổ chức ấy gọi là NN -> Như vậy, sự ra đời của nhà nước là tất yếu
dựa trên những tiền đề về kinh tế và xã hội, đó là chế độ tư hữu về tài sản và sự phân chia
xã hội thành các giai cấp đối kháng.
-> Như vậy, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy
chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy
trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội ->
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, nhà nước là bộ máy trấn áp của giai cấp này đối với
giai cấp khác. Tuy nhiên, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền thì nhà
nước cũng phải chú ý quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội. Bởi vì, nếu nhà nước
không chú trọng chức năng xã hội thì giai cấp thống trị sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá
trình cai trị và quản lý xã hội, thậm chí sẽ mất đi địa vị thống trị. CÂU HỎI CÓ THỂ HỎI:
*PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI VỀ CÁC ĐK KINH TẾ XH TỪ HTKTXH CHƯA CÓ
NN SANG HTKTXH ĐÃ TỒN TẠI NN
*ĐIỂM TIẾN BỘ CỦA HTMLN SO VỚI CÁC HT PHI-MACXIT VỀ NGUỒN GỐC NN 2. Bản chất của NN
- KN: Bản chất của NN là tổng thể những phương diện, mối liên hệ, những thuộc tính tất
nhiên bên trong của nhà nước, quy định sự tồn tại, phát triển của NN. NN trước hết là
một bộ máy trấn áp giai cấp và sau đó là một bộ máy phục vụ xã hội, đó chính là bản chất của NN.
- BC NN phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 2 yếu tố chính là cơ sở kinh tế và cơ sở xã
hội của NN. Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy,
nó chỉ xuất hiện khi đã hình thành chế độ tư hữu về tài sản (tiền đề kinh tế); xuất hiện sự
phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giữa các giai cấp gay gắt đến
mức không thể điều hòa được (tiền đề xã hội). -> Bản chất NN thể hiện ở tính giai cấp và tính xã hội của NN. + Tính giai cấp của NN:
-> Nhà nước có tính giai cấp vì sự ra đời của nhà nước là do đấu tranh giai cấp.
-> Nhà nước luôn thuộc về một giai cấp nhất định, nhà nước tồn tại để phục vụ cho mục
đích của giai cấp thống trị.
-> Nhà nước là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp thống trị, là công cụ
sắc bén nhất mà giai cấp thống trị sử dụng để bảo vệ lợi ích của mình và trấn áp giai cấp
bị trị (thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng).
-> Tính giai cấp tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nước nhưng mức độ biểu hiện ở mỗi
kiểu nhà nước lại cũng khác nhau. Tuy nhiên, sự biểu hiệu đậm nét hay mờ nhạt phụ
thuộc vào các đk chủ quan và khách quan là khác nhau.
VD: Đk chủ quan: ý chí của giai cấp thống trị, của lực lượng cầm quyền. Nếu gc thống
trị (vua) là minh quân thì bc giai cấp sẽ mờ nhạt, vua sẽ thực hiện các hoạt động quan
tâm chăm lo hơn đến hoạt động đời sống của người dân, bảo đảm phúc lợi an sinh xã
hội,... Ngược lại, nếu người đứng đầu quyền lực đó mà là hôn quân thì NN này trong bản
chất thể hiện sự áp bức, bóc lột, đặt ra quy định và những hình phạt dã man, hà khắc. + Tính xã hội của NN:
-> Nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không
bảo vệ lợi ích, đáp ứng nguyện vọng và ý chí của các giai, tầng khác trong xã hội.
-> Xét về mặt lợi ích xã hội, ngoài những lợi ích riêng của từng giai cấp, bao giờ cũng
tồn tại những lợi ích chung của tất cà các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, trong đó có
những lợi ích thuộc về nhân loại. Vì vậy, nhà nước bảo vệ lợi ích chung của xã hội cũng
là bảo vệ lợi ích của chính giai cấp thống trị.
-> Tính xã hội của nhà nước tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nước nhưng mức độ biểu
hiện ở các kiểu nhà nước khác nhau cũng nhau.
=> MQH giữa 2 bản chất này là hai mặt cơ bản trong 1 chỉnh thể thống nhất, bất kỳ một
nhà nước nào trong bản chất cũng luôn chứa đựng hai thuộc tính này. Mối tương quan
giữa hai thuộc tính này khác nhau phụ thuộc vào đk chủ quan ( ý chí của gc thống trị),
các đk khách quan như đk kinh tế - xã hội (ở những nhà nước khác nhau và tùy thuộc
từng giai đoạn lịch sử cụ thể.)
CH: CM BẢN CHẤT CỦA NN PHỤ THUỘC VÀO ĐK KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN (có thể hỏi) - KN.
*Xuất phát từ nghiên cứu nguồn gốc của NN, các nhà kinh điển của CNMLN đi đến kết
luận: NN là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa
được -> NN chỉ sinh ra và tồn tại trong XH có giai cấp và bao giờ cũng thể hiện bản chất giai cấp gc sâu sắc
*Nhà nước là một tổ chức bộ máy đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên
làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự
xã hội thực hiện những mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, nhà
nước ra đời không chi nhằm thực hiện quyền lực của giai cấp thống trị mà nó phải đáp
ứng được yêu cầu nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, tức là của toàn xã hội. Do
vậy, bản chất của nhà nước không chỉ mang tính giai cấp mà còn mang tính xã hội.
*Nhà nước mang bản chất giai cấp: Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp. Bản
chất giai cấp của nhà nước thể hiện: Nhà nước đó là nhà nước của ai? Do ai lập nên? Bảo
vệ và phục vụ lợi ích của ai trong xã hội?
- Thứ nhất: Lý do nhà nước có tính giai cấp:
+ Nhà nước xuất hiện do nhu cầu bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị của giai cấp thống trị
hoặc lực lượng cầm quyền.
+ Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp - tức là xã hội có sự phân chia giai cấp,
mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp.
+ Nhà nước là một hình thức tổ chức của xã hội có giai cấp, bởi vì sau khi trong xã hội
đã xuất hiện giai cấp, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp thì không thể tổ chức theo
hình thức thị tộc, bộ lạc mà phải tổ chức thành nhà nước, với sức mạnh và bộ máy cưỡng
chế thì mới đủ khả năng làm dịu xung đột giai cấp trong xã hội hoặc giữ cho xung đột đó
trong vòng một "trật tự" nhất định, có như vậy xã hội mới tồn tại và phát triển được.
- Thứ hai: Biểu hiện tính giai cấp của nhà nước: Nhà nước là bộ máy chuyên chính giai
cấp, tức là công cụ để thực hiện, củng cố và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị của lực lượng
hoặc giai cấp cầm quyền trong xã hội. Sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác
thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị và quyền lực tư
tưởng, trong đó quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở đảm bảo sự thống trị của giai cấp:
+ Sự thống trị về kinh tế:
-> Quyền lực kinh tế này cơ sở và có tính quyết định đến sự thống trị giai cấp. Khi giai
cấp hoặc lực lượng nắm quyền sở hữu phần lớn những tư liệu sản xuất hoặc tài sản của
xã hội sẽ trở thành lực lượng thống trị về kinh tế hay chủ thể của quyền lực kinh tế, nó
đảm bảo cho chủ sở hữu buộc những người khác phải lệ thuộc vào mình về mặt kinh tế
hoặc bóc lột các lực lượng khác.
-> Bản thân quyền lực kinh tế chưa đảm bảo cho sự thống trị của giai cấp này đối với giai
cấp khác vì giai cấp bị trị luôn tìm cách phản kháng, chống lại -> Vì thế để bảo vệ lợi ích
kinh tế của mình, giai cấp thống trị phải sử dụng bộ máy nhà nước để trấn trấn áp sự
phản kháng, sự chống đối của các giai cấp, lực lượng khác và nhà nước trở thành bộ máy
cưỡng chế đặc biệt, trở thành công cụ để bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp thống trị.
+ Sự thống trị về chính trị:
-> Nhà nước bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền bằng cách dùng bộ máy bạo
lực như quân đội, cảnh sát, tòa án... để trấn áp sự phản kháng, chống đối của các lực lượng khác.
-> Nhà nước thể hiện ý chí của mình, thực chất là ý chí của lực lượng cầm quyền thành
pháp luật, thành các quy định có giá trị bắt buộc mọi người phải tôn trọng và thực hiện
trong xã hội, bắt cả xã hội phải phục tùng ý chí của nó -> Nhà nước chính là công cụ nằm
trong tay lực lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế và thực hiện sự thống trị về chính
trị của giai cấp thống trị trong xã hội.
+ Sự thống trị về tư tưởng: Để thực hiện sự thống trị đối với các giai cấp khác trong xã
hội, giai cấp thống trị còn phải cần đến sự tác động, chi phối về tư tưởng. Giai cấp thống
trị thông qua Nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình trở thành hệ tư tưởng
thống trị trong xã hội, buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư tưởng. Giai
cấp thống trị thông qua nhà nước, tổ chức, quản lý và sử dụng các phương tiện thông tin
đại chúng, các cơ sở văn hóa, giáo dục, dùng các phương tiện và cơ sở đó tác động đến
đời sống tinh thần của toàn xã hội, nhằm làm cho hệ tư tưởng của giai cấp thống trị giữ
địa vị thông trị trong xã hội... Ví dụ, trong các nhà nước phong kiến phương Đông, hệ tư
tưởng chính trị Nho giáo với nguyên tắc “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” đã được
sử dụng để khẳng định sự trung thành tuyệt đối của bề tôi với nhà vua, góp phần duy trì
trật tự và củng cố quyền lực tuyệt đối của vua trong xã hội.
- Thứ ba: Biểu hiện chung của các nhà nước trong lịch sử đều như vậy, song xem xét
những biểu hiện cụ thể thì tính giai cấp của nhà nước có sự thay đổi qua các nhà nước.
Các nhà nước bóc lột đều có chung bản chất là bộ máy để thực hiện nền chuyên chính
của giai cấp bóc lột: Nhà nước chủ nô là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô, nhà
nước phong kiến là công cụ chuyên chính của giai cấp địa chủ phong kiến, nhà nước tư
sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản. Khác với điều đó, nhà nước XHCN với
bản chất là chuyên chính vô sản, là bộ máy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội, nhà nước này đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trấn áp những lực lượng thống trị cũ đã bị lật đổ và
những phần tử phản động chống đối CM
=> Như vậy, nhà nước là một bộ máy đặc biệt để đảm bảo sự thống trị kinh tế, để thực
hiện quyền lực về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng đối với quần chúng.
Ngoài việc thực hiện các chức năng trên, nhà nước còn phải giải quyết tất cả các vấn đề
khác nảy sinh trong xã hội. Điều đó nói lên rằng, nhà nước là một hiện tượng phức tạp và
đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp, vừa mang bản chất xã hội.
Ví dụ: +Trong thời kỳ phong kiến, một ông vua sáng suốt, biết chăm lo đời sống nhân
dân (minh quân) sẽ xây dựng nhà nước với nhiều chính sách an dân, giúp làm mờ nhạt
tính giai cấp. + Ngược lại, một hôn quân chỉ quan tâm đến quyền lực, đàn áp dân chúng
sẽ khiến bản chất giai cấp của nhà nước trở nên rõ nét, hà khắc.(nếu phải cm đk chủ quan)
* Bản chất xã hội: Cùng với tính giai cấp thì tính xã hội cũng là thuộc tính cơ bản, khách
quan và không thể thiếu của tất cả các nhà nước trong lịch sử.
- Thứ nhất: Lý do để nhà nước có tính xã hội là:
+ Nhà nước xuất hiện là do nhu cầu điều hành và quản lý xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn
trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội.
+ Nhà nước là sản phẩm có điều kiện của xã hội loài người, là một tổ chức trong xã hội,
nó chỉ ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng xã hội loài người ở những giai đoạn lịch sử
nhất định và có sứ mệnh điều hành, quản lý xã hội.
+ Nhà nước là một hình thức tổ chức của xã hội nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội.
- Thứ hai: Biểu hiện tính xã hội của nhà nước: Nhà nước là bộ máy để tổ chức và quản lý
xã hội, nhằm thiết lập, giữ gìn trật tự và sự ổn định của xã hội, bảo vệ lợi ích chung của
cả cộng đồng, vì sự phát triển của xã hội.
+ Bất kì xã hội nào cũng phải có trật tự và sự ổn định tương đối, tức là phải được tổ chức
và quản lý chặt chẽ, nếu không thì xã hội sẽ hỗn loạn. Xã hội nào cũng có hàng loạt vấn
đề chung mà mỗi cá nhân không thể giải quyết được: sản xuất, thiên tai, trật tự an toàn xã
hội... -> Để giải quyết vấn đề chung đó cần có một tổ chức thay mặt xã hội, nhân danh xã
hội để tổ chức, quản lý toàn xã hội -> Tổ chức đó (nhà nước) phải thiết lập quyền lực chung của toàn xã hội.
+ Nhà nước phải thay mặt xã hội, đứng ra tổ chức dân cư, giải quyết các vấn đề chung vì
sự ổn định, sống còn của xã hội mà không phải là của riêng giai cấp, cá nhân nào.
+ Nhà nước là đại diện chính thức của toàn xã hội nên nó phải có trách nhiệm xác lập,
thực hiện và bảo vệ các lợi ích cơ bản, lâu dài của quốc gia, dân tộc và công dân của
mình, phải huy động mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực hiện các nhiệm vụ chung để
bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, duy trì trật tự xã hội...
+ Nhà nước có nhiều hoạt động vì lợi ích của các giai cấp, lực lượng khác nhau trong xã
hội, của cả cộng đồng như phát triển giáo dục, y tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, tổ chức,
điều hành và quản lý các dịch vụ công…
+ Nhà nước là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lý, công bằng xã hội, bảo vệ trật tự
chung như bảo vệ trật tự an ninh, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sống...
+ Nhà nước thay mặt xã hội thực thi chủ quyền quốc gia, phòng, chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc...
Ví dụ: +Trong chế độ phong kiến Việt Nam thời Lê sơ, khi đất nước mới giành lại độc
lập, kinh tế đang được khôi phục và phát triển, nhà nước ban hành nhiều chính sách
khuyến nông, trọng nhân tài, ổn định dân sinh → tuy có bản chất giai cấp phong kiến
nhưng tính xã hội thể hiện rõ để đảm bảo ổn định xã hội. +Ngược lại, dưới thời vua Tự
Đức, trong bối cảnh đất nước bị chia cắt, xã hội khủng hoảng, giai cấp thống trị bảo thủ
thì nhà nước thể hiện rõ bản chất áp bức, trì trệ, kìm hãm sự phát triển xã hội.(nếu cm đk khách quan) => KL: ở trên
CH: LH VỚI BC CỦA NN CHXHCN VN HIỆN NAY.
*Sau khi hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (1975), cả
nước đi lên xây dựng CNXH. Đảng và Nhà nước ta xác định là Nhà nước ta là Nhà nước
xã hội chủ nghĩa. Trong các Nghị quyết của Đảng từ đổi mới đến nay đã nêu ra nhiều vấn
đề, đưa ra nhiều quan điểm, kết luận quan trọng về dân chủ XHCN và quyền làm chủ của
nhân dân lao động, xác định bản chất của Nhà nước ta...
*Bản chất của Nhà nước Cộng hòà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ
bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không
ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
*Có thể khái quát bản chất và mục tiêu của Nhà nước Cộng hòà chủ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, Nhà nước ta là nhà nước chủ xã hội chủ nghĩa, lấy liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, thực hiện chính sách
đại đoàn kết dân tộc và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và
xã hội là nguyên tắc hiến định. Đây là đặc điểm thể hiện tính giai cấp của Nhà nước và
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính giai cấp với tính dân tộc và tính nhân dân.
- Thứ hai, Nhà nước Cộng hòa chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước:
Quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân tổ chức ra và vì lợi ích của nhân
dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc tổ
chức và thực thị quyền lực nhà nước phải theo Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý
xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
- Thứ ba, dân chủ là thuộc tính của Nhà nước Cộng hòà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân,
tạo điều kiện để nhân dân tham gia đông đảo vào các công việc của Nhà nước và xã hội.
- Thứ tư, Nhà nước Cộng hòa chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của
các dân tộc Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng và đoàn kết giữa các
dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kì thị, chia rẽ dân tộc.
- Thứ năm, mục tiêu của Nhà nước Cộng hòà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng
một nước Việt Nam hòà bình, thống nhất, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của
Tổ quốc và nhân dân. Nhà nước thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghi, mở rộng giao
lưu và hợp tác với tất cả các nước. 3. Đặc điểm của NN.
- KN: Đặc điểm cơ bản của NN là các yếu tố để phân biệt NN với các tổ chức khác trong
XH. Đặc trưng NN thể hiện vai trò, vị trí trung tâm của NN trong hệ thống chính trị (5đặc trưng)
*Thứ nhất: Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt.
- Nhà nước xây dựng hệ thống cơ quan quản lý và cưỡng chế gồm các cơ quan lập pháp,
hành pháp, tư pháp; thực hiện quản lý mọi mặt của đời sống xã hội...
- Nhà nước xây dựng một đội ngũ quản lý hành chính, xây dựng quân đội, cảnh sát để
bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
- Nhà nước xây dựng và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm duy trì xã hội theo
những khuôn mẫu được vạch ra trên cơ sở ý chí của giai cấp thống trị, bắt giai cấp khác
phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị.
Vd: Ở Việt Nam, công an có quyền xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với người vi phạm pháp luật để duy trì trật tự xã hội.
*Thứ hai: Nhà nước có chủ quyền quốc gia.
- Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý thể hiện ở quyền tự quyết của nhà
nước về chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc yếu tố bên ngoài.
- Hiến pháp của đa số các quốc gia trên thế giới đều tuyên bố chủ quyền quốc gia thuộc
về nhân dân nhưng nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện nên nhà nước là đại diện
chính thức cho toàn quốc gia, dân tộc trong quan các quan hệ đối nội, đối ngoại.
+ Trong quan hệ đối nội thì quy định của nhà nước có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc
thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan …
+ Trong quan hệ đối ngoại, nhà nước có toàn quyền xác định và thực hiện các đường lối,
chính sách đối ngoại của mình, các tổ chức khác chỉ được tham gia vào những quan hệ
đối ngoại mà NN cho phép..
- Chủ quyền quốc gia có tính tối cao, không tách rời nhà nước. Quyền lực nhà nước có
hiệu lực trên toàn đất nước, đối với tất cả dân cư và tổ chức xã hội, không trừ một ai.
Điều 1, Hiến pháp 2013 ghi nhận: "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo,
vùng biển và vùng trời”.
Liên hệ: Hiện nay, do sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, con người tham gia giao
dịch trên môi trường ảo, môi trường số nên việc nhận thức về vấn đề bảo vệ chủ quyền
quốc gia, có những hành động bảo vệ chủ quyền quốc gia, tức là không chia sẻ những
thông tin sai phạm về chủ quyền quốc gia ( không chia sẻ đường lười bò hoặc bản đồ
nhà nước VN mà không có sự xuất hiện của các quần đảo HS, TS…). Trong thời gian
vừa qua, có một số tổ chức có hành vi sai phạm trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả hoạt
động kinh doanh, như H&M. Nhận thức được vấn đề này, cần có những hành động,
trước hết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, sau là bảo vệ chủ quyền quốc gia. (nếu có CH liên quan)
*Thứ ba: Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư theo lãnh thổ.
- Nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ không phụ thuộc vào
chính kiến, nghề nghiệp, huyết thống, giới tính... Người dân không phân biệt huyết
thống, dân tộc, giới tính... cư trú trên một khu vực lãnh thổ nhất định thì chịu sự quản lý
của một NN nhất điịnh và do vậy, họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với NN ở nơi mà họ cư trú.
- Nhà nước thực hiện việc quản lý dân cư trong phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình cũng
theo địa bàn cư trú của họ hay theo đơn vị hành chính - lãnh thổ. Điều 23, Hiến pháp
2013, "công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và
từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định".
- Nhà nước phân chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính và quản lý dân cư của mình
theo từng khu vực đó, vì thế nhà nước là tổ chức có cơ sở xã hội và phạm vi tác động
rộng lớn nhất trong quốc gia.
Vd: Người dân Việt Nam sinh sống tại bất kỳ tỉnh thành nào đều phải đăng ký hộ khẩu,
tạm trú, thường trú theo quy định của pháp luật.
* Thứ tư: Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân.
- Nhà nước ban hành pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện bằng nhiều biện
pháp: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, tổ chức thực hiện, động viên, áp
dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, do đó, pháp luật được triển khai và thực hiện
một cách rộng rãi trong toàn xã hội.
- Nhà nước dùng pháp luật để quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục
đích của nhà nước và pháp luật là một trong những phương tiện quản lý có hiệu quả nhất của nhà nước.
Vd: Luật Giao thông đường bộ quy định người điều khiển xe máy phải đội mũ bảo hiểm,
nếu không thực hiện sẽ bị xử phạt.
*Thứ năm: Nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc
- Quyết định và thực hiện thu thuế để bổ sung nguồn ngân sách nhà nước, làm kinh phí
xây dựng và duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật, trả lương cho đội ngũ cán bộ công chức.
Dưới góc độ thuế, nhà nước gắn chặt với xã hội và công dân.
- Sự khác biệt giữa các nhà nước không nằm ở chỗ nhà nước có thu thuế hay không mà là
ở mục đích thu thuế, phương thức quản lý và khả năng của chính quyền trong việc đảm
bảo sử dụng hiệu quả nguồn thu từ xã hội để phục vụ cho những lợi ích công cộng.
Vd: Mỗi công dân có thu nhập từ 11 triệu đồng/ tháng đều phải nộp thuế thu nhập cá
nhân theo luật định; doanh nghiệp phải đóng thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,…
CH: PHÂN BIỆT NN VỚI CÁC TỔ CHỨC XH KHÁC.
3.1 Vị trí của NN: XEM XÉT VỊ TRÍ VÀ MQH GIỮA NN VỚI XH, NN VỚI CÁC TỔ
CHỨC TRONG XH, VỚI CÁC YẾU TỐ KTTT 4. Chức năng của NN
- KN: Là những hoạt động cơ bản của NN phù hợp với bản chất, mục đích, nhiệm vụ của
NN và được xác định bởi điều kiện kinh tế - XH của đất nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.
- Bất kì nhà nước nào cũng đều có những hoạt động cơ bản, chẳng hạn, nhà nước tư sản,
một trong những hoạt động cơ bản là bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, bảo vệ cơ
sở hạ tầng, bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản. Còn nhà nước XHCN, trong đó có Nhà
nước ta, một trong những hoạt động cơ bản là bảo vệ chế độ công hữu và các hình thức
sở hữu khác về tư liệu sản xuất, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…
- Những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước còn gọi là các chức năng của nhà
nước. Thông qua các phương diện hoạt động cơ bản này, người ta có thể thấy rõ bản chất
và vai trò của nhà nước. Ví dụ các nhà nước bóc lột, với bản chất của nó là công cụ của
giai cấp bóc lột nên chức năng của nhà nước đó là bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động, duy trì chế độ người áp bức, bóc lột
người... Ngược lại, nhà nước ta với bản chất là nhà nước của giai cấp công nhân, nhà
nước của dân, do dân, vì dân, nhà nước đó là công cụ của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động..., đồng thời là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, do
đó, một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước ta là tổ chức và quản lý kinh tế, văn
hóa, xã hội, đó là nhà nước không còn nguyên nghĩa, là "nửa nhà nước".
-> Như vậy, chức năng của nhà nước là những phương diện (hay là những mặt) hoạt
đông cơ bản của nhà nước thể hiện bản chất và vai trò của nhà nước.
*Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, các chức năng của nhà nước được chia
thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
- Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước diễn ra ở trong nước.
Ở Việt Nam, Nhà nước ta có các chức năng đối nội như tổ chức và quản lý kinh tế, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; trấn áp sự phân kháng của giai cấp bóc lột
đã bị đánh đổ nhưng vẫn chống phá; tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục và khoa học;
bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân -> Các chức năng đối
nội thể hiện vai trò của nhà nước ở trong nội bộ đất nước. Các chủ trương chính sách đối
nội của Nhà nước ta đều sẽ được Quốc hội (đại diện cho nhân dân), nhà nước ban hành
thông qua sự tham khảo ý kiến của toàn thể nhân dân; các chính sách đối nội này sẽ
nhanh chóng được luật hóa thành những văn bản cụ thể; các văn bản này sẽ được ban
hành rộng rãi đến nhân dân về các quy định, pháp lý, trong trường hợp nào thì các chủ
thể sẽ bị cưỡng chế; tất cả các trường hợp không tuân thủ hay bất cứ ai nếu có hành vi
chống đối sẽ bị xử lý theo quy định của luật.
- Chức năng đối ngoại là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước thể hiện trong mối
quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác như các quan hệ ngoại giao, hợp tác phát triển
về kinh tế, giáo dục... Ví dụ: Ở Nhà nước ta trong chức năng đối ngoại, Đảng và Nhà
nước quan tâm đến hoạt động phòng thủ đất nước, chống sự áp đặt, xâm lược của nước
khác; hợp tác với các quốc gia khác về kinh tế, văn hóa, giáo dục... trên nguyên tắc cùng
có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.
- Để thực hiện các chức năng trên, nhà nước cần sử dụng nhiều hình thức và phương
pháp hoạt động khác nhau. Trong đó, có 3 hình thức hoạt động chính là ban hành pháp
luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Trong mỗi nhà nước, việc sử dụng
3 hình thức hoạt động này cũng có những điểm khác nhau, tùy thuộc vào tình hình cụ thể
của mỗi nước. Các phương pháp hoạt động để thực hiện các chức năng của nhà nước
cũng đa dạng, nhưng nhìn chung các nhà nước đều sử dụng hai phương pháp chủ yếu là
phương pháp thuyết phục và phương pháp cưỡng chế.
- MQH: Các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Việc thực hiện chức năng đối ngoại phải xuất phát từ tình hình thực hiện các chức
năng đối nội và phải phục vụ cho việc thực hiện các chức năng đối nội. Đồng thời việc
thưc hiện các chức năng đối nội lại có tác dụng trở lai đối với việc thực hiện các chức
năng đối ngoại. So với các chức năng đối ngoại thì các chức năng đối nội giữ vai trò
quyết định. Bởi vì thực hiện các chức năng đối nội là việc giải quyết mối quan hệ bên
trong, thực hiện các chức năng đối ngoại là việc giải quyết mối quan hệ bên ngoài. Giải
quyết mối quan hệ bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với việc giải quyết
các mối quan hệ bên ngoài.
vd 1: trong tình hình dịch bệnh covid 19 năm 2019, ở giai đoạn đầu của tình hình dịch
bệnh diễn ra để ngăn ngừa tình hình dịch bệnh lây lan NN VN đã thực hiện tổ chức giãn
cách xã hội để ngăn ngừa tình hình dịch bệnh lây lan, đây là tính thế tạm thời, vậy nên
nhằm nâng cao sức đề kháng cho người dân nhà nước bắt đầu thực hiện việc tiêm phòng
vắc xin cho người dân, nhưng trong giai đoạn đầu vẫn chưa sản xuất ra được vắc xin.
Dựa vào tình hình đối nội trong nước, muốn giải quyết được vấn đề này, NN VN đã thực
hiện biện pháp đối ngoại vận động ngoại giao vắc xin.
vd 2: vấn đề dân số và lao động việc làm, với đặc điểm dân số của VN hiện nay đang
trong thời kỳ dân số “vàng”, dân số trẻ nhưng đang có xu hướng già hóa và số người
trong độ tuổi lao động lớn, từ đặc điểm này dẫn đến hệ quả thừa lao động thiếu việc làm,
để giải quyết vấn đề này NN đã đưa người lao động đi làm việc ở ngoài, một mặt giải
quyết được vấn đề công ăn việc làm cho người dân trong nước, mặt khác là tăng cường
thiết lập quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế.
CH: PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI CN CỦA NN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA.